Tài liệu tham khảo kinh tế thương mại: Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu
Trang 1ĐỀ TÀI:
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU
TƯ THEO CHIỀU SÂU Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Từ Quang Phương
TS Phạm Văn Hùng Nhóm 14 :Đầu tư 49a
Ngô Đức Tâm Nguyễn Anh Hùng Nguyễn Tường Anh Nguyễn Tuấn Anh
Vũ Đức Tuyến
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG
VÀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU, MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU -4
I- Nội dung đầu tư theo chiều rộng : - 4
II- Nội dung đầu tư theo chiều sâu : - 6 III-Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu
1. ĐTCR và ĐTCS có mối uan hệ mật thiết với nhau , đan xen với
nhau trong sự tác động của thị trường -9
2. Sự tác động 2 chiều giữa hai hinh thức đầu tư này -12
3. Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu là hai hình thức
theo cơ cấu tái sản xuất -16
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG,ĐẦU TƯ
CHIỀU SÂU VÀ VIỆC KẾT HỢP CHÚNG TẠI VIỆT NAM
I- Đầu tư chiều rộng
1. Thành tựu -19
2. Hạn chế -27 II- Đầu tư chiều sâu
1. Thực trạng đầu tư nguồn nhân lực
- Thành tựu -30
Trang 32 Đầu tư Khoa học công nghệ
- Thành tựu -36
- Hạn chế - 40
III- Thực trạng kết hợp đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu ở Việt Nam -43
CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT HÀI HOÀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU
I GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG
1. Hoàn thiện chính sách năng lực quản lý nhà nước -49
2. Huy động vốn -49
II GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ THEO CHIẾU SÂU
1. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực -53
2 Giải pháp về phát triển khoa học công nghệ -60
Trang 4CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG VÀ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU VÀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA CHÚNG
I- Nội dung đầu tư theo chiều rộng:
a, Khái niệm:
+Theo quan điểm tái sản xuất của Mác: Đầu tư theo chiều rộng là đầu tư nhằm
mở rộng quy mô sản xuất nhưng không làm tăng năng suất lao động Đầu tư theo chiều rộng cũng chính là đầu tư mới
+ Theo quan điểm ngày nay thì đầu tư theo chiều rộng là đầu tư trên cơ sở cải tạo và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có,xây dựng mới các cơ sở vật chất với những kỹ thuật công nghệ cơ bản như cũ
b, Nội dung của đầu tư theo chiều rộng:
+ Đầu tư theo chiều rộng là mở rộng quy mô sản xuất mà không làm tăng năng suất lao động Đó là đầu tư cho cả 4 yếu tố của đầu vào là lao động,vốn,công nghệ
và tài nguyên một cách tương xứng như nhau,theo 1 tỷ lệ như cũ để sản xuất theo công nghệ hiện đại
+ Đầu tư theo chiều rộng là hoạt động mua sắm máy móc thiết bị để đổi mới thay thế cho những thiết bị cũ theo 1 dây chuyền công nghệ đã có từ trước
+ Đầu tư theo chiều rộng là đầu tư xây dựng mới nhà cửa ,cấu trúc hạ tầng theo thiết kế được phê duyệt lần đầu làm tăng thêm lượng tài sản vật chất tham gia vào
Trang 5quá trình sản xuất kinh doanh Tuy vậy tính kỹ thuật của công trình đó vẫn dựa trên những thiết kế có sẵn chưa được cải tạovà hiên đại hoá.
Như vậy thực chất của đầu tư theo chiều rộng là để mở rộng quy mô sản xuất nhằm sản xuất 1 khối lượng sản phẩm lớn hơn nữa trên cơ sở xây dựng mới thêm các hạng mục công trình như nhà xưởng sản xuất,thuê thêm nhiều nhân công để đáp ứng khối lượng yêu cầu tăng thêm của sản xuất đào tạo cơ bản cho họ có thể đáp ứng được công việc
c, Ưu điểm và nhược điểm
- Đầu tư theo chiều rộng không dẫn đến tiết kiệm nguyên liệu và không làm tăng năng suất lao động Đầu tư theo chiều rộng có hạn chế trong việc đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực áp dụng công nghệ và kỹ thuật
- Đầu tư theo chiều rộng đòi hỏi lượng vốn lớn và vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư Do đó đòi hỏi các nhà đầu tư cần có sự lụa chọn
kỹ càng để lực chọn được cơ hội đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất ,tức là phải có
1 quá trình nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố thị trường,các điều kiện tự nhiên và các yếu tố kinh tế xã hội trước khi đưa ra quyết định đầu tư nhằm bảo đảm thu hồi vốn
Trang 6và có lãi Cũng do lượng vốn lớn nên việc huy động vốn thường gặp khó khăn và tốn nhiều thời gian.
- Đầu tư theo chiều rộng có tính chất phức tạp và độ mạo hiểm cao Tính chất phức tạp do phải xây dựng và lắp ghép nhiều hạng mục công trình.Trong quá trình thực hiện đầu tư cũng do quá trình xây dựng phức tạp cộng với vốn lớn và tác động tiêu cực của các yếu tố khách quan và chủ quan cho nên đầu tư theo chiều rộng có
độ mạo hiểm cao hơn
d, Vai trò:
+ Đối với nền kinh tế:
Đầu tư theo chiều rộng là nhân tố làm tăng quy mô của nền kinh tế tạo đà cho nền kinh tế tăng trưởng với quy mô lớn hơn trước trên cơ sở xây dựng mới và mở rộng nhiều vùng kinh tế,nhiều khu cụm công nghiệp trên khắp cả nước Do đó nó còn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế,thúc đẩy tạo điều kiện và
hỗ trợ các vùng kinh tế chậm phát triển,vùng sâu vùng xa được tham gia vào quá trình phát triển kinh tế của đất nước 1 cách tích cực hơn mạnh mẽ hơn
+ Đối với doanh nghiệp:
Đầu tư theo chiều rộng đi cùng với việc có thêm nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh được xây dựng thêm khiến cho quy mô sản xuất của các doanh nghiệp được
mở rộng đưa năng suất tăng thêm cho phép khai thác hiệu quả theo quy mô Nó còn góp phần tạo ra nhiều việc làm mới,giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở các địa phương,làm tăng doanh thu của các doanh nghiệp,góp phần làm tăng ngân sách của nhà nước đóng góp vào đà tăng trưởng chung của nền kinh tế Đầu tư theo chiều rộng có hiệu quả càng nhiều thì doanh nghiệp càng có nhiều điều kiện về vốn, lao động tài nguyên để phát triển sản xuất
II- Nội dung đầu tư theo chiều sâu
a, Khái niệm
- Theo quan điểm tái sản xuất của Mác, đầu tư theo chiều sâu là đầu tư nhằm
Trang 7- Theo quan điểm ngày nay, đầu tư theo chiều sâu là hoạt động đầu tư được thực hiện trên cơ sở cải tạo nâng cao, đồng bộ hoá, hiện đại hoá, cơ sở vật chất kĩ thuật hiện có, hoặc xây dựng lại hoặc đầu tư mới một dây chuyền công nghệ, xây dựng một nhà máy mới nhưng kĩ thuật công nghệ phải hiện đại hơn kĩ thuật công nghệ hiện có hoặc kĩ thuật trung bình của ngành, vùng nhằm duy trì năng lực đã có
b, Nội dung của đầu tư theo chiều sâu
- Xây dựng thêm hoặc mua sắm thêm những tài sản mới nằm trong thành phần tài sản cố định có sẵn nhằm tăng cường khối lượng sản xuất
- Đầu tư bố trí lại toàn bộ hoặc một bộ phận các dây chuyền sản xuất ở cơ sở cho phù hợp với dây chuyền sản xuất mới
- Hiện đại hoá là thực hiện tổng thể các biện pháp kĩ thuật nhằm cơ khí hoá, tự động hoá các bộ phận sản xuất đang hoạt động, thay thế những thiết bị cũ đã hao mòn hoặc lạc hậu bằng những thiết bị mới có năng suất, hiệu quả cao hơn
- Duy trì năng lực đã có của các cơ sở đang hoạt động là thực hiện các biện pháp nhằm bù đắp các tài sản cố định đã bị loại bỏ do hao mòn hoặc lạc hậu bằng các thiết bị mới có năng suất hoạt động và hiệu quả cao hơn
c, Ưu điểm và nhược điểm
- Thời gian thực hiện đầu tư theo chiều sâu tương đối ngắn hơn so với đầu tư theo chiều rộng do khối lượng công việc ít đa dạng hơn Do đó hình thức đầu tư theo chiều sâu ít mạo hiểm hơn và có độ rủi ro thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng Ngoài ra đầu tư theo chiều sâu còn thuận lợi hơn cho việc quản lí
Trang 8- Thông thường trong quá trình thực hiện đầu tư việc sản xuất vẫn có thể song song, thêm vào đó do khối lượng vốn đầu tư tương đối nhỏ khiến cho việc thu hồi vốn diễn ra nhanh chóng.
+ Nhược điểm
- Với đầu tư chiều sâu thì tốc độ tăng vốn lớn hơn tốc độ tăng lao động Mà trong điều kiện nước ta cũng như các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới thì sức ép về lao động đang là vấn đề cấp bách
d, Vai trò của đầu tư theo chiều sâu
- Đối với nền kinh tế nói chung: Đầu tư theo chiều sâu là điều kiện không thể thiếu trong điều kiện hiện nay để thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế Không chỉ mở rộng quy mô của nền kinh tế về mặt lượng tức là đầu tư theo chiều rộng mà song song với nố phải tiến hành đầu tư theo chiều sâu để nâng cao mặt chất của nền kinh tế,tức là phải tăng năng suất lao động trên cơ sở cải tạo nâng cao trình độ của đội ngũ nhân công, sử dụng có hiệu quả các nguồn nhiên liệu khan hiếm trên cơ sở tìm các loại nguyên vật liệu mới có hiệu quả thay thế và tăng cường hàm lượng công nghệ trong các sản phẩm của nền kinh tế trên cơ sở đổi mới máy móc công nghệ
- Đầu tư theo chiều sâu có ảnh hưởng quan trọng không chỉ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hay thấp mà còn ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế Trên góc độ phân tích đa nhân tố,vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế thường được phân tich theo biểu thức sau:
g= Di + Dl + TFP
Trong đó: g là tốc độ tăng trưởng GDP
Di là phần đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởng GDP
Dl là phần đóng góp của lao động vào tăng trưởng GDP
TFP là phần đóng góp của tổng các yếu tố năng suất vào tăng trưởng
Trang 9Chỉ tiêu TFP có thể phản ánh được hiệu quả của đầu tư TFP là quan hệ giữa tổng đầu ra với đầu vào bao gồm cả các yếu tố không định lượng được như quản lí
và khoa học công nghệ TFP là tỉ số giữa số lượng tất cả các đầu ra với số lượng đầu vào Trong hàm sản xuất Cobb-Douglas thì Y=A*K^a*L^(1-a) thì A chính là TFP Hay TFP=Y/ K^a*L^(1-a) Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn hiệu quả sản xuất với cùng đầu vào Điều này rất quan trọng đối với doanh nghiệp và đối với toàn bộ nền kinh tế Đối với doanh nghiệp thì nâng cao TFP se giúp cho doanh nghiệp có khả năng mở rộng được tái sản xuất Còn đối với nền kinh tế thì sẽ nâng cao được sức cạnh tranh trên trường quốc tê,nâng cao phúc lợi xã hội
- Đối với doanh nghiệp đầu tư theo chiều sâu là chiến lược tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.Sau 1 thời gian mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm chiếm lĩnh 1 thị phần lớn hơn của sản phẩm trên thị trường hay sau nhiều chu kỳ kinh doanh máy moác thiết bị của các doanh nghiệp bị hao mòn thì doanh nghiiệp cần phải tiến hành đầu tư theo chiều sâu nhằm đổi mới lại thiết bị tăng cường hàm lượng kỹ thuật công nghệ cho các yếu tố đầu vào Có như thế sản phẩm của doanh nghiệp làm ra mới luôn được đổi mới và nâng cao về chất lượng qua đó mới cạnh tranh được với các đối thủ và có được chỗ đứng vững chắc trên thị trường Nhờ đầu tư theo chiều sâu mà doanh nghiệp có thể nâng cao được năng suất lao động nâng cao chất lượng sản phẩm,do đó có điều kiện giảm chi phí sản xuất,hạ giá thành sản phẩm nhờ đó nâng cao dược khả năng cạnh tranh trên thị trường
III/ Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu:
ĐTCR và ĐTCS là hai hình thức đầu tư hoàn toàn khác nhau nhưng lại có mối quan hệ trặt trẽ không tách rời Hai hình thức đó nối tiếp thúc đẩy lẫn nhau xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước cũng như mỗi doanh nghiệp Mỗi 1 hình thức sẽ thích ứng với từng thời kỳ phát triển kinh tế , từng loại hình đầu
tư kinh doanh khác nhau
1/ ĐTCR và ĐTCS có mối quan hệ mật thiết với nhau , đan xen với nhau trong sự tác động của thị trường :
Trang 10ĐTCR sẽ tạo ra cơ sở, nền tảng để tiến hành ĐTCS Bên cạnh đó ĐTCS thúc đẩy hoạt động ĐTCR Mặt khác nếu ĐTCR tạo ra một cơ sở vật chất không phù hợp và đồng bộ như nhà xưởng không đúng qui cách, dây chuyền máy móc nhập lúc đầu quá lạc hậu hoặc quá tiên tiến Sự chênh lệch về trình độ công nghệ quá lớn sẽ dẫn đén tình trạng lam ĐTCS không phát huy được hiêu quả, gây thất thoát, lãng phí ĐTCR tràn lan , không đồng bộ, không có trọng tâm, trọng điểm sẽ làm hạn chế vốn và nguồn lực của doanh nghiệp khi tiến hành ĐTCS Ngược lại ĐTCS không hiệu quả sẽ làm cho các doanh nghiệp không có đủ điều kiện để tiếp tục ĐTCR mở rộng sản xuất Nhiều trang thiết bị máy móc không phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu nước khi tiến hành ĐTCS Những trang thiết bị hiện đại nhập từ nước ngoài thì chi phí sẽ rất cao dẫn đén giá thành sản phẩm cao Hơawcj máy móc quá hiện đại tạo ra những sản phẩm cũng hiện đại không kém nhưng người tiêu dung thì không sử dụng hết các tính năng của nó Dù trong trường hợp nào thì sản phẩm của doanh nghiệp cũng khó tiêu thụ, do đó hiệu quả đầu tư là không có, không thu hồi được vốn, gây lãng phí vốn đầu tư.
Hai hình thức đầu tư này quan hệ bổ sung lẫn nhau không tách rời tuy nhiên dưới
tác động của môi trường thì cần phải có sự lựa chọn hình thức đầu tư thích hợp để tạo được hiệu quả tối đa :
- Sự tác động từ yếu tố cung cầu thị trường :
Khi thị trường có nhu cầu ngày càng tăng về mặt số lượng của sản phẩm thì lựa chọn hợp lý cho doanh nghiệp là tiếp tục đầu tư theo chiều rộng để
mở rộng sản xuất cung ứng đầy đủ và kịp thời cho thị trường, nếu không, không những chúng ta bỏ lỡ cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp mà vô tình còn tạo điều kiện thuận lợi cho đối thủ cạnh tranh cùng sản xuất mặt hàng
đó Ngược lại, nếu thị trường yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm
mà doanh nghiệp không đầu tư theo chiều sâu để nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm thì sản phẩm của doanh nghiệp sẽ nhanh chóng lạc hậu và bị thị trường đào thải Chiến lược tốt cho doanh nghiệp là kết hợp đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu một cách hợp lý: ĐTCR trước sau đó khi tích luỹ đủ vốn và thị trường đã bão hoà thì DN thực hiện ĐTCS ĐTCS tạo được lợi thế canh tranh, xác định được tên tuổi trên thị
Trang 11trường, nhu cầu thị trường lại tăng lên về số lượng sản phẩm chất lượng đó, khi đó DN lại đầu tư chiều rộng Khi thị trường bão hoà DN lại đầu tư theo chiều sâu, và quá trình đó lại tiếp tục, lập lại và liên tục trong suốt quá trình hoạt động phát triển của DN
- Điều kiện cụ thể của doanh nghiệp :
+ Vốn : Đối với những doanh nghiệp mới thành lập lượng vốn ít chi cho cac
khoản cơ sở hạ tầng chiếm 1 phần lớn trong tổng vôn cua doanh nghiệp thi
việc lựa chọn hình thức đầu tư theo chiều rộng là hoàn toàn đúng đắn để tạo
nền tảng và tích lũy vốn cho mục tiêu phát triển về chiều sâu trong tương lai Ngươc lại đối với những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh , trường vốn thi họ hoàn toàn có thể kết hợp 2 hình thức đầu tư trên thực hiện song song bổ trợ lẫn nhau ĐTCS giúp tăng khả năng cạnh tranh tạo dựng
uy tín , khẳng định thương hiệu của doanh nghiệp kết hợp với đầu tư theo chiều rộng để thâu tóm thị trường tiêu thụ , vươn xa tầm ảnh hương của công
ty tren thị trường
+ Lao dộng: sở hữu nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng lao đọng thấp
thì bắt buộc doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức đầu tư theo chiều rộng , việc đầu tư theo chiều rộng sẽ tận dụng được tối ưu những ưu điểm của nguồn lao đọng này từ đó trong quá trình hoạt động sản xuất kết hợp đào tạo nâng cao tay nghề chuyên môn để đáp ứng việc vận hành các công nghệ cao hiện đại hơn , khi đó doanh nghiệp mới có thể ĐTCS Ngược lại nếu sở hữu nguồn lao động chất lượng cao , khi đó để phát huy mọi ưu diểm khả năng của nhân viên doanh nghiệp càn chú trọng đầu tư công nghệ cao , tạo dựng môi trường làm việc hiện đại để tạo cảm hứng và phát huy hết mọi tiềm năng của nguồn lao động chất lượng cao này
- Đặc tính của sản phẩm :
Đầu tư chiều rộng hay chiều sâu cũng phụ thuôc vào chu kỳ sống của từng loại sản phẩm Đối với những sản phẩm có nhu cầu lớn mà các tính năng của sản phẩm ít thay đổi theo thời gian thì cần phải dẩy mạnh mở rộng sản xuất trước tiên để đáp ứng đc lượng cầu lớn thâu tóm thị trường tiêu thụ sản phẩm từ đó tích lũy vốn để đầu tư công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm để giữ vững và
mở rộng thị phần đang có dem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp Ngược lại
Trang 12đối với nhưng sản phẩm có chu kỳ sống ngăn, tính năng và những yêu cầu về hiệu quả sử dụng luôn thay đổi , khi đó đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư theo chiều sâu, đầu tư nâng cao công nghệ , nâng cao chất lượng sản xuất để tạo ra những sản phẩm tốt nhất thỏa mãn mọi yêu cầu của khách hàng như vậy mới đảm bảo việc giữ vững thị phần , nâng cao được khả năng cạnh tranh trên thị trường từ đó tạo nền tảng thúc đẩy mở rộng sản xuất thâu tóm thị trường
Môi trường vĩ mô :Trong nền kinh tế việc đầu tư theo chiều rộng không thể kéo
dài quá lâu Bất kỳ nền kinh tế nào không thể tăng trưởng mãi theo chiều rộng bằng cách tăng vô hạn vốn đầu tư, đất đai, lao động, tài nguyên vì các nguồn này đều có giới hạn Hơn nữa nếu tiếp tục phát triển theo chiều rộng, thiếu chiều sâu thì nền kinh tế sẽ có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn vật chất và các yếu
tố bên ngoài Cho nên đầu tư theo chiều sâu là chiến lược lâu dài của quá trình phát triên kinh tế
2/ Sự tác động 2 chiều giữa hai hinh thức đầu tư này:
2.1/ ĐTCR là nền tảng , là cơ sở , là bước đi đầu tiên để ĐTCS :
ĐTCR tạo tiền đề làm nền tảng để có những bước đi đúng đắn để ĐTCS thể hiện ở
2 phạm vi :
* Đối với nền kinh tế :
Đầu tư theo chiều rộng la cơ sở, là nền tảng để phát triển kinh tế trong giai đoạn đầu của những nền kinh tế đang phát triển Trong giai đoạn đầu tính cạnh tranh của những thị trường này la ko cao, cơ sở hạ tầng cũng như máy móc khá đơn sơ, vốn để đầu tư chưa nhiều,do đó yêu cầu cần đầu tư theo chiều rộng trước mắt là để đáp ứng đc tốt nhất về mặt lượng trong nhu cầu của nền kinh tế trên cơơ
sở đó xây dựng một nền tảng cơ bản cho tiến trình thực hiện :công nghiệp hoá, hiện đại hóa Tuy nhiên phát triển nền kinh tế theo chiều rộng củng cần phải có tính quy hoạch và 1 mục tiêu rõ ràng đến một thời điểm nhất định sẽ taọ đc 1 nền tàng vưng chắc cho nền kinh tế ,không nên phát triển 1 cách tràn lan , tự phát điều
đó sẽ làm cho nên kinh tế trở nên lạc hạu chậm phát triển khi 1 nền kinh tế đã tạo
Trang 13đc 1 nền tảng cơ bản vững chắc thì nền kinh tế tất yếu sẽ chuyền sang phát triển theo chiều sâu và việc đầu tư theo chiều sâu sau đó sẽ dễ dàng đạt hiệu quả cao
* Đối với phạm vi doanh nghiệp :
Doanh nghiệp mới thành lập thì phần lớn là chưa có được những điều kiện tốt
về cơ sở hạ tầng , trang thiết bị kỹ thuạt giây truyền công nghệ có thể thiếu thốn hoặc còn lạc hậu , thiếu vốn và đặc biệt việc tìm kiếm nguôn nhân lưc có trình độ cao là vô cùng khó khăn vì vậy việc đầu tư theo chiều rộng là lựa chọn tối ưu cho
sự phát triển của doanh nghiệp , phù hợp với định hướng phát triển của doanh nghiệp va đưa ra đuọc cách quản lý tốt nhât dựa trên khả năng và tiềm lực ban đầu của nhưng doanh nghiệp này đem lại được những hiệu quả nhất định trong việc khai thác thị trường và tìm ra lối đi riêng mang bản sắc của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt đông đó việc ĐTCR sẽ :
- Tạo điều kiện tích luỹ vốn để đầu tư theo chiều sâu :
Bước khởi đầu thường rất khó khăn , khi mới thành lập các doanh nghiệp muốn hoạt động được thì trước tiên phải có cơ sở hạ tầng ( máy móc ,nhà xưởng , trang thiết bị …) và luôn trong tình trạng khan hiếm vốn đầu tư để nâng cao chất lượng sản xuất Thời gian này chính những cơ sở hạ tầng ban đầu sẽ giúp cho việc sản xuất hoạt động được liên tục, trôi chảy, nhờ đó nhà sản xuất có thể tích luỹ được vốn để mở rộng kinh doanh hay đầu tư mới Đến 1 thời điểm khi nhà đầu tư đã tích luỹ đủ vốn cần thiết, bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng cũng như công nghệ trở nên lạc hậu, thị trường đã bão hoà, khách hàng trở nên khó tính, tất yếu phải đầu tư theo chiều sâu để tạo ra sp mới có tính ưu việt hơn sp trước đó , để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
-Tích luỹ được kinh nghiệm trong việc lựa chọn chiến lược và phương thức đầu
tư theo chiều sâu có hiệu quả:
Quá trình ĐTCR doanh nghiệp không chỉ tích lũy được lượng vốn cần thiết mà còn tích lũy được kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh Nắm bắt được các
Trang 14thông tin về nhu cầu cua thị trường qua việc khách hàng sử dụng và phản hồi , nắm bắt được những phương thức sxkd mới từ những doanh nghiệp đối thủ từ đó xác định được phương hướng sản xuất , cách thức tổ chức quản lý , đầu tư để đạt hiệu quả cao tạo ra những sản phẩm hoàn chỉnh cả về mẫu mã và chất lượng và đặc biệt
là phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong tương lai Nếu DN dự đoán đúng và ĐTCS hợp lý đúng lúc thì sẽ thu được siêu lợi nhuận do có lợi thế của người đi tiên phong
- Hiểu được trình độ công nghệ của ngành và doanh nghiệp khác từ đó lựa chọn
trình độ công nghệ đầu tư:
Trong quá trình ĐTCR doanh nghiệp quan sát tìm hiểu được những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp đối thủ đồng thời biết được vị thế và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình Học hỏi tiếp nhận được công nghệ mới hiện đại từ những doanh nghiệp đi trước phát triển hơn từ đó lựa chọn được công nghệ phù hợp với mục tiêu phát triển về chiều sâu của doanh nghiệp mình , tổ chức nghiên cứu triển khai các công nghệ hiện đại hơn hẳn mức trung bình của ngành, lựa chọn được những công nghệ làm ra được sản phẩm mới hẳn, độc đáo hơn hẳn những sản phẩm
đã có của ngành từ đó nâng cao vị thế, uy tín của doanh nghiệp mình và thu lợi nhuận cao nhất
=>> Như vậy : Khi doanh nghiệp đã có chỗ đứng nhất định trên thị trường thì đầu tư không thể chỉ bao gồm đầu tư theo chiều rộng mà thường phải kết hợp hai hình thức đầu tư trong đó cần nhấn mạnh đầu tư theo chiều sâu Đầu tư theo chiều rộng giúp doanh nghiệp duy trì năng lực kinh doanh, giữ được uy tín và thị phần của mình: thay thế máy móc, thiết bị đã quá cũ, tu sửa, cải tạo nhà xưởng, mở rộng hoạt động sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường như xây dựng thêm nhà máy mới, mua thêm dây chuyền sản xuất với trình độ công nghệ như cũ Tuy nhiên, trước tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt buộc doanh nghiệp phải lưu ý đầu tư theo chiều sâu để tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm của mình, như đổi mới công
Trang 15nghệ, đổi mới cơ chế quản lý, hay nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân Để
từ đó tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm Mặt khác, hoạt động đầu tư theo chiều rộng chỉ đem lại hiệu quả trong một giới hạn nhất định của công nghệ, trình độ sản xuất Nếu đầu tư theo chiều rộng quá mức sẽ làm cho doanh nghiệp cồng kềnh mà hoạt động không hiệu quả thậm chí còn giảm năng suất, nhanh chóng bị tụt hậu so với những doanh nghiệp cùng ngành
2.2/ Đầu tư theo chiều sâu là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng
sản xuất, lại tiếp tục đầu tư theo chiều rộng :
- ĐTCS tạo dựng uy tín thương hiệu cho doanh nghiệp tiếp tục ĐTCR :
Tạo dựng uy tín thương hiệu là mục tiêu phát triển vô cùng quan trong của bất kỳ 1 doanh nghiệp kinh doanh nào Nó là 1 trong những yếu tố quyết định về sự thành bại của mỗi doanh nghiệp đế gây dựng được uy tín trên thương trường thì mỗi doanh nghiệp cần phải có những chiến lược đúng đắn , có định hương đầu tư hợp
lý có trọng tâm để nâng cao chất lượng sản phẩm đem lại cho khách hàng sự hài lòng cao nhất trên mỗi sản phẩm của doanh nghiệp Để có được điều đó thì không
có cách nào khác là doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư vào máy móc công nghệ , nâng cao chất lượng lao động , đầu tư có trọng điểm ( ĐTCS ) khi uy tin thương hiệu đã lên 1 tầm cao nhất định , nhu cầu của thị trường về sản phẩm của doanh nghiệp mình ngày càng tăng khi đó doanh nghiệp cần phải mở rộng sản xuất , mở rộng quy mô doanh nghiệp đầu tư theo chiều rộng để thâu tóm thị trường tăng khả năng cạnh tranh lam tăng lợi nhuận tối ưu cho doanh nghiệp
-ĐTCS tích lũy vốn nhanh chóng và tạo được nền tảng công nghệ hiện đại để ĐTCR
Trang 16đồng thời mở rộng thì phần cho DN Công nghệ sử dụng đang là hiện đại hơn công nghệ hiện có cho nên đầu tư theo chiều rộng với công nghệ đó mà không cần nghiên cứu triển khai công nghệ mới Như vậy kết quả của đầu tư chiều sâu là động lực thúc đẩy DN mở rộng sản xuất, dầu tư theo chiều rộng
-ĐTCS tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp thuận lợi để ĐTCR mở rộng sản xuất thâu tóm thị trường :
Đầu tư chiều sâu sử dụng công nghệ hiện đại hơn công nghệ hiện có Công nghệ là kết quả của hoạt động nghiên cứu – phát triển và sản phẩm đặc trưng của nó quy tụ dưới dạng hoặc là sản phẩm mới, hoặc là vật liệu mới, hoặc là phương pháp ( quy trình ) mới Công nghệ phải đảm bảo tính mới và khả thi
Công nghệ hiện đại hơn công nghệ hiện có tạo ra sức canh tranh cho Doanh nghiệp Trong khi công nghệ hiện thời sử dụng nhiều hơn, tốn nhiều chi phí hơn, thì công nghệ mới tạo ra sự thay đổi, nâng cao năng lực của con người, hoặc có thể tạo ra sảp phẩm chất lượng cao, mẫu mã tốt hơn Từ đó tạo ra sức mạnh canh tranh chiếm lĩnh thị trường
3/ Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu là hai hình thức theo cơ cấu tái sản xuất:
Tái sản xuất vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của hoạt động tăng trưởng và phát triển kinh tế Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu là hai hình thức của quá trình tái sản xuất Hai hình thức này tuy có những khác biệt tương đối song chúng luôn gắn liền với nhau , đi kèm thúc đẩy lẫn nhau.Đầu tư theo chiều rộng thường được tiến hành khi bắt đầu kinh doanh hoặc trong quá trình kinh doanh
Trang 17muốn mở rộng qui mô Đến một lúc nào đó dây chuyên công nghệ đã cũ , khó có thể duy trì năng suất hiện có, chubngs ta nên tiến hanh đầu tư theo chiều sâu.Không một doanh nghiệp nào có thể sử dụng một trong hai phương thức riêng
lẻ, mà kết hợp giữa đầu tư theo chiều sâu và chiều rộng để đạt được hiệu quả tối đa
3.1 / Tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng:
Đó là sự mở rộng quy mô sản xuất chủ yếu bằng cách tăng thêm các yếu tố đầu vào (vốn, tài nguyên, sức lao động )của sản xuất Do đó, số sản phẩm làm ra tăng lên Còn năng suất lao động và hiệu quả sử dụng các yếu đầu vào không thay đổi Căn cứ vào định nghĩa ĐTCR thì đây chính là ĐTCR
+ Tái sản xuất của cải vật chất: ĐTCR là tăng vốn để mua thêm máy móc thiết
bị cùng loại với những máy móc thiết bị mà DN đã có hoặc sửa chữa bảo trì các máy móc thiết bị của DN đã và đang dùng cùng với việc đó là xây dựng thêm nhà xưởng( với công nghệ dây truyền như cũ), tăng nguyên vật liệu đầu vào sau
đó đưa chúng vào vận hành tạo ra số lượng sản phẩm nhiều hơn trước nhưng chất lượng mẫu mã không thay đổi, công suất làm việc tính trung bình của từng thiết bị là không thay đổi
+ Tái sản xuất sức lao động: ĐTCR là thuê thêm lao động có cùng trình độ tay
nghề, kĩ năng với đội ngũ lao động trước đó, mức chi phí doanh nghiệp chi trả cho mỗi công nhân hầu như không thay đổi do giá trị thặng dư của lao động tạo
ra là không đổi thậm chí là thấp hơn trước
+ Tái sản xuất quan hệ sản xuất: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý sản xuất và
phân phối sản phẩm là hầu như không đổi
+ Tái sản xuất môi trường sinh thái: ĐTCR không chú trọng đến vịêc xử lý
chất thải các công nghệ sản xuất tiên tiến hơn để bảo vệ môi trường vì vậy môi trường thường có nguy cơ bị ô nhiễm.Hơn nữa ĐTCR sử dụng them nhiều
Trang 18nguyên vật liệu, năng lượng mà khong có biện pháp kĩ thuật để tiết kiệm và phục hồi do vậy còn dẫn tới nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.
3.2 / Tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu :
Đó là sự mở rộng quy mô sản xuất làm cho sản phẩm tăng lên chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất Còn các yếu tố đầu vào của sản xuất căn bản không thay đổi, giảm đi hoặc tăng lên nhưng mức tăng chậm hơn mức tăng năng suất lao động và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào Điều kiện chủ yếu để thực hiện tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu là ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến.Căn cứ vào dịnh nghĩa ĐTCS thì đây là ĐTCS
+ Tái sản xuất ra của cải vật chất: ĐTCS là việc sử dụng vốn để mua sắm them
các máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại hơn hẳn những cái đã có làm cho sản phẩm làm ra có tính độc đáo chất lượng cao và có thể giảm được cả giá thành
+ Tái sản xuất sức lao động: thuê lao động có trình độ cao hoặc đào tạo lại các
lao động đã có trong doanh nghiệp, chi trả đảm bảo mức sống cao hơn cho công nhân viên hiệu quả là làm tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm làm ra
+ Tái sản xuất quan hệ sx: thay đổi quan hệ sở hữu cũng như quan hệ quản lý
vì công nghệ thay đổi theo nhiều chiều hướng
+ Tái sản xuất môi trường sinh thái: ĐTCS chú trọng áp dụng những công
nghệ cao tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng, các công nghệ sản xuất sạch và bảo vệ môi trường
3.3/ Hai hình thức ĐTCR và ĐTCS của quá trình tái sản xuất tuy có những
khác biệt tương đối song chúng luôn gắn liền với nhau , đi kèm thúc đẩy lẫn nhau.
Trang 19Đầu tư theo chiều rộng thường được tiến hành khi bắt đầu kinh doanh hoặc trong quá trình kinh doanh muốn mở rộng qui mô Đến một lúc nào đó dây chuyên công nghệ đã cũ , khó có thể duy trì năng suất hiện có, chúng ta nên tiến hành đầu
tư theo chiều sâu Không một doanh nghiệp nào có thể sử dụng một trong hai phương thức riêng lẻ, mà kết hợp giữa đầu tư theo chiều sâu và chiều rộng thì mới đạt được hiệu quả tối đa
Vậy bước đi của các Doanh nghiệp luôn có cả đầu tư theo chiều rộng và đầu
tư theo chiều sâu, bao giờ cũng là ĐTCR trước, sau đó tiến hành ĐTCS, tiếp tục lại ĐTCR ở mức cao hơn… ĐTCR, ĐTCS luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau trong sự
phát triển, tồn tại của DN
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG,ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU VÀ VIỆC KẾT HỢP CHÚNG TẠI VIỆT NAM GIAI
Trang 20hoảng tài chính châu Á,khủng hoảng tài chính toàn cầu 2009 nhưng kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng ấn tượng: Giai đoạn 2000-2009 tốc độ tăng bình quân hàng năm hơn 7%
Năm 2009 dù nhiều nước bị suy thoái nhưng kinh tế Việt Nam vẫn tăng 5,32% ,GDP đạt mức 93,5 tỉ usd:
Bảng tổng sản phẩm trong nước giai đoạn 2005-2009
(Theo giá so sánh năm 1994,đơn vi tỉ đồng)Năm Tổng sản
phẩm(tốc độ
tăng so với năm ngoái)
Khu vực nông,lâm nghiệp và thủy sản
Khu vực công nghiệp
Trang 21Đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng ấn tượng trên là sự tăng trưởng không ngừng qua các năm của nguồn vốn đầu tư đặc biệt là đầu tư chiều rộng:
Qui mô vốn đầu tư giai đoạn 2005-2009
Có thể thấy tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn đầu tư luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 là 15,3% so với 5,32% Chủ yếu nguồn vốn đầu tư trong các năm gần đây là nguồn vốn lấy từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn huy động
từ trong dân(thường chiếm gần 75%) tuy nhiên 2 năm trở lại đây đánh dấu sự tăng trưởng đáng kể nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân ,khu vực này đã vươn lên trở thành khu vực có vốn đầu tư cao nhất, điều này cho thấy nguồn cung vốn cho phát triển từ nội bộ đất nước rất dồi dào Đây sẽ là nguồn vốn chiến lược của đât nước nếu chính phủ có những biện pháp khuyến khích phù hợp cho khu vực
Tổng số
Chia raKinh tếNhà nước
Kinh tế ngoài nhà nước
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 22kinh tế tư nhân Đặc biệt năm 2008 đánh dấu bước tăng đột biến của đầu tư nước ngoài(189,9 nghìn tỉ năm 2008 so với 74,1 tỉ năm 2009) điều này cho thấy Việt Nam là 1 địa điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tê Tuy nhiên năm 2009 FDI có giảm đi đôi chút do các nhà đầu tư quốc tế bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua Trong năm 2009 vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 100,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 15,8% tổng vốn đầu tư cả nước, bằng 102,8% kế hoạch năm Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do trung ương quản lý đạt 34,2 nghìn tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch, trong đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 2881,4 tỷ đồng, bằng 172,9%; Bộ Giao thông Vận tải đạt 6612,6 tỷ đồng, bằng 105,3%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đạt 451,1 tỷ đồng, bằng 102,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 1132,5 tỷ đồng, bằng 101,1%; Bộ Công Thương đạt 237,7 tỷ đồng, bằng 100,3%; Bộ Y tế đạt 932 tỷ đồng, bằng 100%; riêng Bộ Xây dựng chỉ đạt 219,9 tỷ đồng, bằng 62,6%.
Việc thi hành Luật doanh nghiệp mới từ năm 2000, đã tạo xung lực mới cho sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp ngoài nhà nước Số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước đăng ký hàng năm tăng lên nhanh chóng Nếu năm 2001, có 19773 doanh nghiệp đăng ký với số vốn 25.610 tỷ đồng, thì năm 2005, có 45.162 doanh nghiệp với số vốn lên tới 108.800 tỷ đồng Năm 1996, các doanh nghiệp công nghiệp ngoài nhà nước trong nước chiếm 23,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, đến năm 2005, tỷ trọng này có thể lên đến gần 28% Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế này đã thu hút được lượng vốn lớn sẵn có trong nước vào đầu tư phát triển và đóng góp vào xuất khẩu Nếu năm 2001, vốn đầu tư của dân cư và tư nhân (tính theo giá cố định năm 2000) mới là 37,8 ngàn tỷ đồng, chiếm 23,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thì năm 2005 vốn đầu tư của khu vực này đã lên tới 65,9 ngàn tỷ đồng, tăng 1,7 lần, chiếm 27,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Cùng với đó, khu vực tư nhân cũng tăng lên đáng kể về số lượng và quy mô của các doanh nghiệp Kể từ năm 2000, số lượng doanh nghiệp của tư nhân mới đăng
ký liên tục tăng nhanh Năm 2000, số doanh nghiệp được đăng ký là 14413, đến năm 2004, con số này là 36.795 Theo ước tính của bộ KH- ĐT, trong 5 năm (2001-2005) có 152.004 doanh nghiệp của tư nhân đăng ký kinh doanh, đưa tổng
Trang 23số doanh nghiệp tư nhân của nước ta đến năm 2005 lên khoảng 20 vạn Theo báo cáo của UBND các tỉnh, thành phố, có khoảng 80 – 85 % số doanh nghiệp đăng ký đang hoạt động
Cũng trong 5 năm từ năm 2001 -2005, cả nước đã tăng thêm được 65 khu công nghiệp với diện tích 10.005 ha Số khu công nghiệp được thành lập thời kỳ này đã chiếm tới 1/2 tổng số khu công nghiệp được thành lập từ 1991 đến nay Các khu công nghiệp được phát triển rộng rãi trên các vùng lãnh thổ của đất nước, trong đó miền bắc chiếm hơn 1/4, miền nam chiếm gần 1/2 tổng số các khu công nghiệp
Bảng 2.3: Tình hình phát triển các KCN thời kỳ 2001- 2005
Năm Số KCN được
cấp giấy phép
Tổng số KCNluỹ kế
Nhìn chung, tốc độ phát triển đầu tư và sản xuất công nghiệp trong khu công nghiệp đều cao hơn tốc độ phát triển chung của toàn bộ công nghiệp Cùng với sự hình thành các khu công nghiệp tập trung, nhiều địa phương đã xác định các khu công nghiệp vừa và nhỏ với diện tích từ 10 ha đến 30 ha để giải quyết khó khăn về mặt sản xuất, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt là phát triển các làng nghề truyền thống
Việc đâù tư mở rộng cơ sở sản xuất của các doanh nghiệp đều tăng qua các năm Điều này thể hiện ở kim nghạch nhập khẩu máy móc thiết bị hàng năm:
Trang 24+ Năm 2009: nhập khâu 20,3 tỉ usd tăng 48,2 %
+ Năm 2008 : nhập khẩu 3,7 tỉ usd tăng 31,2 %
+ Năm 2007 : nhập khẩu 10,4 tỉ usd tăng 56,5 %
+ Năm 2006 : nhập khẩu 6,84 tỉ usd tăng 25.,6%
+ Năm 2005: nhập khẩu 5,5 tỉ usd
Việc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng làm cho sản lượng công nghiệp tăng đáng kể
Bảng 2.4: Sản lượng của một số ngành công nghiệp
Tên sản
phẩm
Đơn vị 1995 2000 2005 2009
Than sạch triệu tấn 8.3 11.6 32.6 43,7
Dầu thô triệu tấn 7.6 16.3 18.5 16,4
Vải lụa triệu mét 263 356 499 1034,6Giấy bìa Nghìn
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Trang 25Bảng 2.5: Gía trị công nghiệp theo giá so sánh năm 1994 phân theo thành
Trang 26Trong khi đó với nguồn vốn khá ít ỏi nhưng nông nghiệp vẫn có mức tăng trưởng
tốt
Bảng 2.6: Vốn cho nông, lâm thủy sản
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Sơ bộ 2007Nông nghiệp và
lâm nghiệp 9227 8253 8504 9915 9323 11018 11939 13110Thủy sản 1725 955 928 1043 491 568 690 735
Bảng 2.7: Giá trị sản xuất nông nghiệp
Trang 27tư mở rộng sản xuât trong nông nghiệp vẫn có tác động to lớn đến sản lượng sản xuất.
2 Hạn chế đầu tư theo chiều rộng
Mặc dù đầu tư theo chiều rộng của chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể nhưng vẫn còn có những hạn chế vốn có của nó:
- Điều dễ dàng nhận thấy nhất là chỉ số ICOR của Việt Nam luôn ở mức cao Năm 2009 dù đầu tư xã hội ở mức cao nhưng chỉ số ICOR của Việt Nam lại lên đến 8.trong giai đoạn 2000- 2007 ICOR của Việt Nam luôn dao động trong khoảng từ 5-6 chỉ số ICOR cao như vậy phản ánh điều gì Thứ nhât cần 8 đồng vốn đầu tư để tăng được một đồng GDP, cao gấp 2 đến 2,5 nhiều nước xung quanh trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá Các nước làm giỏi, ICOR của họ thời kỳ đầu CNH là trên dưới 3:
Trang 28Thái lan 1981-1995 8,1% 33,2% 4,1
Trung quốc 2001-2006 9,7% 38,8% 4,0
Việt nam 2001-2006 7,6% 39,1% 5,1
(Nguồn: World bank)
Điều này có thể nhận thấy rằng đầu tư trong nền kinh tế còn chưa hiệu quả Nền kinh tế còn tiềm ẩn nhiều rủi ro Chỉ số ICOR cao còn làm giảm cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài Đặt trong tương quan với việc Việt Nam tụt hạng về năng lực cạnh tranh theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, cũng như của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, việc hệ số ICOR tăng thể hiện rõ xu hướng đi xuống của nền kinh tế Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, có hai yếu tố cân nhắc: đầu tư đúng đối tượng, và môi trường kinh doanh liên tục được cải thiện (tính cạnh tranh) để tiền rót vào được sử dụng hiệu quả Đáng tiếc, soi vào thực tế Việt Nam, cả hai yếu tố
đó đều có vấn đề Việt Nam nói là kích cầu, nhưng thực chất lại dùng kích cung để thông qua đó hy vọng đẩy cầu lên Cầu có thật thì cung mới có thật Trong bối cảnh khủng hoảng, các DN co cụm, kích cung chỉ có thể mang lại hiệu quả giới hạn Rút cuộc, bỏ ra lượng vốn lớn, nhưng chúng ta không tăng được sự linh hoạt của thị trường, kéo theo đó là hiệu quả đầu tư giảm đi"
Đặc biệt, đối tượng thụ hưởng chính của các chính sách kích cầu của Chính phủ là khối các DNNN, khu vực vốn được nhiều ưu đãi và gây nhiều quan ngại cho các kinh tế gia Việt Nam
Chỉ riêng tám tháng đầu năm 2009, tổng số vốn rót ra cho đầu tư công đã tương đương với cả năm ngoái 2008 Theo báo cáo của Chính phủ gửi UBTV Quốc hội mới đây, tổng vốn đầu tư phát triển cho cả năm chiếm gần 43% GDP Trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đạt khoảng 161 ngàn tỉ đồng, tăng tới 63% so với thực hiện năm 2008 và tăng 42,7% so với kế hoạch năm
Trong khi đó, Báo cáo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia cho hay, doanh thu sản xuất thuần được tạo ra bởi 1 đồng vốn tại DNNN thấp Trong năm 2006 cứ 1 đồng vốn tại DNNN tạo ra được 0,61 VNĐ doanh thu, chưa bằng một nửa của DN tư nhân trong nước, chỉ bằng 2/3 DN có vốn đầu tư nước ngoài Lực lượng lao động do DNNN sử dụng chỉ bằng khoảng 28,4% tổng số lao động của các DN trong khi đó DN tư nhân thu hút 50%, DN có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 21,4%
Trang 29Đầu tư công cũng chính là khu vực mà cách đây một năm, Nhà nước quyết tâm siết chặt, rà soát lại, để tăng cường hiệu quả Nhưng chỉ trong vòng vài tháng, khu vực này lại được tái đầu tư với một số lượng tiền khổng lồ.
Hơn nữa, hệ thống ngân hàng của Việt Nam được xếp hạng sức khỏe thấp nhất châu Á, chỉ trên Pakistan, thế nhưng, trong điều kiện suy thoái, các ngân hàng đều báo cáo đạt mức lợi nhuận kỷ lục điều này làm chỉnh phủ cần phải cân nhắc lại gói kích cầu và phải có biện pháp rà soát kiểm soát chạt chẽ Tránh gây hậu quả lớn cho nền kinh tế
Chỉ số ICOr cao thể hiện sự lãng phí trong đầu tư Trong bối cảnh mà đầu tư công vẫn chiếm gần 40% tổng đầu tư toàn xã hội thì chính phủ nên có biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn nữa nguồn vốn từ ngân sách tránh gây thất thoát lãng phí
Sản phẩm nếu chỉ được đầu tư theo chiều rộng thì sẽ cho chất lượng không cao, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường, khả năng thu hồi vốn của các dự án đầu tư
theo chiều rộng thấp, độ mạo hiểm cao Khả năng cạnh tranh, của doanh nghiệp
trên thị trường dẫn tới lợi nhuận kém
Vốn đầu tư tổng xã hội chưa tập trung cho việc phát triển các ngành mũi nhọn, các ngành là thế mạnh là chủ lực cũng như hình thành các nguồn vốn và lĩnh vực tạo thế và lực cho sự phát triển lâu dài, bền vững và có hiệu quả
Cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu chuyển dịch theo chiều rộng Nhờ vào đó giá trị xuất khẩu tăng qua các năm Gia tăng xuất khẩu của cả nước ta trong thời gian qua chủ yếu nhờ vào gia tăng nhu cầu của thị trường thế giới hơn là do các yếu tố nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ nước ta
Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp Việt Nam thời kì đầy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Ngành dệt may hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát triển mạnh Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động và có điều kiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau Tuy vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế,, ngành dệt may đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, cạnh tranh ngang bằng với các cường quốc xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Pakixtan, Hàn Quốc…Việt Nam hiện có hơn 1000
Trang 30nhà máy dệt may thu hút trên 50 vạn lao động, chiếm đến 22% tổng số lao động trong toàn ngành công nghiệp Sản lượng sản xuất hàng năm tăng trên 10% nhưng quy mô còn nhỏ bé, thiết bị và công nghệ khâu kéo sợi và dệt vải lạc hậu, không cung cấp được vải cho khâu may xuất khẩu Những năm qua tuy bổ sung thay thế
1500 máy dệt không thoi hiện đại để nâng cấp mặt hàng dệt trên tổng số máy hiện
có là 10500 máy, thì cũng chỉ đáp ứng khoảng 15% công suất dệt Ngành may tuy liên tục đầu tư mở rộng sản xuất nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu ngày càng cao…
Nền kinh tế nước ta cũng như bất kì nền kinh tế nào khác, không thể tăng trưởng mãi theo chiều rộng bằng cách tăng vô hạn độ vốn đầu tư, đất đai, lao động, tài nguyên vì các nguồn lực này đều có hạn Để đạt được tăng trưởng bền vững và phát triển lên các nấc thang cao hơn, nền kinh tế phải vận hành theo những thước
đo và chính sách thích hợp để chuyển sang đầu tư phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất, hiệu quả, giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị tiền vốn, lao động, năng lượng
II ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU:
Năng suất tổng hợp (TFP) là yếu tố phản ảnh sự tăng trưởng theo chiều sâu Đặc trưng của đầu tư theo chiều sâu chính là đầu tư làm tăng yếu tố năng suất tổng hợp TFP Trong đó các yếu tố quyết định tới sự tăng trưởng của yếu tố TFP là sự thay đổi của chất lượng nguồn nhân lực và tiến bộ KHCN Để xem xét thực trạng đầu tư theo chiều sâu ở Việt Nam ta sẽ xem xét thực trạng đầu tư nguồn nhân lực
và đầu tư cho KHCN
1 Thực trạng đầu tư nguồn nhân lực:
- Thành tựu:
Trang 31Những năm gần đây việc đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta rất được coi trọng Các chương trình, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đã được thực hiện Rất nhiều trường đào tạo và trung tâm dạy nghề… được nhận nguồn vốn đầu tư từ ODA, FDI…Bên cạnh đó là các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực
Ngân sách chi cho giáo dục năm 2008 chiếm 20% , còn trong năm 2007, tiền đầu tư từ ngân sách nhà nước cho ngành giáo dục và đào tạo đạt 66.770 tỉ đồng, chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách, tăng gần 21% so với năm 2006
Bảng 2.8: Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục
2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tổng số 20624 22795 32730 41630 55300 66770Chi cho xây dựng
cơ bản 3008 3200 4900 6623 9705 11530Chi thường xuyên
GD-ĐT 16906 18625 27830 35007 45595 55204Kinh phí CTMT
GD-ĐT 710 970 1250 1770 2970 3380
(Nguồn: Tổng cục Thống Kê)
Trên thực tế, tính theo thu nhập trên đầu người, Việt Nam có lẽ là nước chi cho giáo dục cao nhất thế giới : trung bình hàng năm khoảng 8% GDP/năm, ở Mĩ mới chỉ là 6%, Trung Quốc là 2,7% ; nếu tính theo thu nhập hộ gia đình tỷ lệ chi cho giáo dục ở nước ta còn cao hơn nữa.Ví dụ Trung Quốc, họ chi trung bình cho một học sinh là 332 $US một năm, so với Việt Nam là 227 $US Tất nhiên so sánh này cũng còn khập khiễng vì thu nhập trên đầu người Trung Quốc gấp 3 Việt Nam (2
Trang 32055 $US so với 643 $US), và giá cả cao hơn Việt Nam khoảng 20% Nhưng như vậy cũng cho thấy là về con số tuyệt đối, sau khi điều chỉnh giá, Việt Nam không thấp hơn nhiều so với Trung Quốc.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, thu hút đầu tư
từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước Theo ước tính, từ năm 1990 đến nay, tổng giá trị đóng góp của các doanh nghiệp và nhà hảo tâm cho ngành giáo dục lên tới trên 1.200 tỉ đồng và khoảng 1,5 triệu m2 đất Nhờ vậy cơ sở vật chất cho ngành giáo dục ngày được cải thiện, nền giáo dục nước nhà được tiếp cận ngày càng nhiều với các phương pháp giảng dạy mới, hiệu quả với trang thiết bị hiện đạiTheo Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm 1998 đến nay, đã có 9 dự án được triển khai bằng nguồn vốn ODA với tổng vốn trên 825 triệu USD và 6 dự án được thực hiện bằng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại với tổng vốn trên 25 triệu USD Tỷ lệ giải ngân các dự án trong năm 2007 đạt trên 74,15% Theo con số vừa được công
bố tại Hội nghị Đối thoại thường niên lần thứ 2 giữa lãnh đạo Bộ GD-ĐT và nhóm các nhà tài trợ quốc tế cho giáo dục thì sẽ có 9 dự án giáo dục được sử dụng 850 triệu USD nguồn tiền vay và viện trợ từ các tổ chức nước ngoài trong giai đoạn 2008-2010
Theo số liệu của Viện Khoa học Lao động - Xã hội Bộ LĐTB&XH, đến cuối năm 2007, tổng số lao động trong lĩnh vực KH-CN của cả nước là gần 40.000 người Ngoài ra, còn một số lực lượng nhất định trong tổng số gần 48.541 giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng và các chuyên gia, kỹ sư làm việc trong các doanh nghiệp cũng được thu hút vào các hoạt động KH-CN
Nguồn nhân lực KH-CN chất lượng cao nước ta hiện nay có trình độ chuyên môn kỹ thuật đạt mức khá và cơ cấu ngành nghề đa dạng Theo kết quả khảo sát nhân lực KH-CN năm 2006 của Viện KHoa học - Lao động, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tỉ lệ cán bộ có trình độ đại học trở lên chiếm 94,7% tổng số lao động trong lĩnh vực KH-CN, trong đó thạc sĩ là 35,5%, tiến sĩ là 30,5% Xét về mặt học vị, Việt Nam ở mức cao so với mức trung bình của khu vực Về ngoại ngữ, tỉ
lệ cán bộ có trình độ ngoại ngữ bằng C trở lên là 66,1%, B là 25,7% vẫn còn đến