1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chuyên đề số 74 vai trò của nhà nước trong giáo dục, an sinh xã hội và phát triển nguồn lực con người

23 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề số 74 Vai Trò Của Nhà Nước Trong Giáo Dục, An Sinh Xã Hội Và Phát Triển Nguồn Lực Con Người
Trường học Đại học Tổng hợp Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Chuyên đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 53,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề số 74 vai trò của nhà nước trong giáo dục, an sinh xã hội và phát triển nguồn lực con người I Vai trò của nhà nước trong phát triển giáo dục 1 Vai trò của nhà nước trong lịch sử giáo dục thế[.]

Trang 1

Chuyên đề số 74

vai trò của nhà nước trong giáo dục, an sinh xã hội và phát triển nguồn

lực con người

I- Vai trò của nhà nước trong phát triển giáo dục

1- Vai trò của nhà nước trong lịch sử giáo dục thế giới

Mỗi thời đại và từng quốc gia có chính sách quản lý, phát triển giáo dụcriêng của mình, nhưng nét xuyên suốt lịch sử giáo dục thế giới là nhà nước luônluôn giữ vai trò chủ thể trực tiếp của nền giáo dục quốc gia

Trước thời kỳ Phục hưng, nhà nước và nhà thờ là hai thế lực vương quyền

và thần quyền cùng nhau thống trị xã hội Như một sự phân chia quyền lực, nhàthờ độc quyền trên lĩnh vực giáo dục phổ thông; nhà nước chỉ có hỗ trợ nhất địnhtrong các chương trình xóa nạn mù chữ Ngay trong bối cảnh bị nhà thờ cạnh tranhquyền lực khốc liệt như vậy, nhà nước vẫn giữ quyền can thiệp và trở thành chủthể số một của giáo dục đại học Vai trò này của nhà nước được chính nhà thờ thừanhận, vì cả nhà nước và nhà thờ đều ý thức rất rõ rằng, các trường đại học là nguồncung cấp nhân sự duy trì chế độ xã hội dựa trên vương quyền và thần quyền

Từ thế kỷ XV- XVI trở đi, tư duy chính trị, tư duy về nhà nước và tư duy vềquyền con người có nhiều bước vận động mạnh mẽ, quan trọng, làm thay đổi sâusắc nền giáo dục thế giới, trước hết là ở châu Âu Chính trị tách khỏi tôn giáo; nhànước độc lập với nhà thờ; quyền lực nhà nước được tổ chức theo cách thức tamquyền phân lập, kiểm soát, chế ước lẫn nhau; các quyền tự nhiên của con người,trong đó có quyền được học tập, được khẳng định, v.v Đó là những thành tựu tưduy tiến bộ được nêu ra trong các luận thuyết của Hobbes, Locke, Montesquieu,Diderot, Rousseau và các nhà tư tưởng khác của các thời kỳ Phục hưng và Khai

Trang 2

sáng Đó cũng là nền tảng tư tưởng cho sự sinh thành một nền giáo dục tiến bộ,

giáo dục cho mọi người, giáo dục do nhà nước đảm nhiệm mà Đại Cách mạng

Pháp tạo ra

Cuộc Đại Cách mạng Pháp là sự phê phán triệt để nhất đối với cả vươngquyền phong kiến và thần quyền giáo hội Tháng 11 năm 1789, toàn bộ tài sản củanhà thờ Pháp bị quốc hữu hóa, trong đó có hệ thống các cơ sở cứu tế xã hội và giáodục Quốc hội Pháp đã ban hành luật phá tan bộ máy quản lý giáo dục tăng lữ,chấm dứt nền giáo dục của nhà thờ và giao toàn quyền quản lý, phát triển giáo dục

quốc gia cho nhà nước Bắt đầu từ đây, giáo dục trở thành một trong những dịch vụ công do bộ máy công quyền các cấp đảm nhiệm Hiến pháp 1791 của Cộng hòa

Pháp khẳng định mọi công dân có quyền được hưởng một nền giáo dục phổ thông

và hoàn toàn miễn phí Riêng giáo dục đại học thì người học phải đóng góp kinh

phí Sau đó, ngày 24- 6- 1793, chính quyền Giacôbanh công bố Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền mở rộng nền giáo dục miễn phí cho mọi công dân sang

cả bậc đại học Thực tế đã chứng minh quan điểm giáo dục của Hiến pháp 1791thắng thế trong suốt lịch sử giáo dục của thế kỷ XIX; còn quan điểm của phái tảGiacôbanh trở thành hiện thực khá phổ biến trong nền giáo dục thế giới thế kỷ XXvừa qua

Nhìn lại nền giáo dục thế giới thế kỷ XX, không thể không khẳng địnhnhững thành tựu vĩ đại và đóng góp nổi bật của nền giáo dục Xô viết nói riêng vànền giáo dục xã hội chủ nghĩa nói chung Lịch sử loài người là lịch sử đấu tranh xãhội vì những mục tiêu cao cả, trong đó có tiến bộ xã hội, được thể hiện trước hết ởquyền được học tập, chăm sóc sức khỏe, có việc làm…Trong nhiều thập kỷ, chế độ

xã hội chủ nghĩa đã thực hiện một nền giáo dục miễn phí cho mọi người dân, đánhdấu mốc hiện thực cho một trong những ưu việt xã hội mà loài người mơ ước

Trang 3

Ngay từ những năm đầu của chính quyền Xô viết, một nền giáo dục tiến bộ

do Nhà nước đảm nhiệm đã được xác lập cho toàn dân Đến năm học 1925-1926,Liên Xô đã xây dựng được hệ thống nhà trường phổ thông với trên 10 triệu họcsinh tiểu học và trung học; hệ thống các trường đại học được chú trọng thiết lập.Đến đầu thập kỷ 70, cứ 1000 công nhân Liên Xô có 550 người và hơn 50% sốngười sinh sống ở nông thôn có trình độ đại học và trung học; tổng cộng 3/4 dân số

có trình độ đại học và trung học, chiếm vị trí số 1 thế giới về trình độ học vấn củangười dân ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa khác từ châu âu, châu á và Mỹ Latinh, hàng trăn triệu người đã được xóa nạn mù chữ, được giáo dục, đào tạo, trởthành nguồn nhân lực khoa học, kỹ thuật, lãnh đạo và quản lý quý báu phục vụ sựnghiệp xây dựng đất nước

Chính tấm gương ưu việt này của chủ nghĩa xã hội đã trở thành một trongnhững nhân tố buộc chủ nghĩa tư bản phải điều chỉnh chính sách xã hội, trong đó

có chính sách duy trì, phát triển nền giáo dục công cộng cho mọi công dân, rõ rệtnhất là ở các nước tư bản Bắc Âu, Tây Âu theo mô hình dân chủ xã hội Cho đếngiữa thế kỷ XX, các nước công nghiệp đều thực thi giáo dục tiểu học bắt buộc; từgiữa thế kỷ XX, họ chuyển sang trung học bắt buộc Cũn đại học thỡ cho đếnnhững năm 70 thế kỷ trước, vẫn cũn dành riờng cho một thiểu số cú tài năng đểđào tạo thành tầng lớp chuyên gia cao cấp: kỹ sư, bác sĩ, giáo sư Sau đó, dần dần đạihọc mở rộng cửa, đón đông đảo thanh niên; và từ vài chục năm nay, đó chuyển sangđại học cho số đông, cho đại chúng, rồi gần đây đó trở thành phổ cập ở nhiều nướcphát triển Ngay những nước công nghiệp mới cũng đó thực hiện đại học cho sốđông và đang tiến tới phổ cập

Sở dĩ nhà nước phải đảm bảo vai trò chủ thể phát triển giáo dục như vậy, là

do giáo dục có chức năng quan trọng Một là, chức năng giải phóng con người.

Thông qua giáo dục, mỗi người đều có cơ hội thăng tiến xã hội, thực hiện bình

Trang 4

đẳng xã hội Hai là, chức năng xây dựng con người mới được hiểu theo nghĩa

rộng, gồm công dân mới, những người cộng hoà mới, thế hệ mới, nhân dân mới

Ba là, chức năng góp phần tạo lập liên kết chính trị, thông qua việc giáo dục ý thức

chính trị mới cho các thế hệ công dân và đào tạo đội ngũ viên chức nhà nước thống

nhất Bốn là, chức năng góp phần củng cố mối liên kết quốc gia nhờ vào việc giáo dục một hệ thống chuẩn giá trị cho mọi thành viên xã hội Năm là, chức năng tham

gia kiểm soát xã hội Giáo dục là một loại quyền lực mềm, rất hữu hiệu đối vối quátrình quản lý xã hội, trong đó có kiểm soát xã hội hiểu theo nghĩa rộng nhất củahoạt động này Các chức năng rất công cộng vừa nêu càng khẳng định vị trí củagiáo dục như một trong những dịch vụ công mà mọi nhà nước hiện đại, khôngphân biệt thể chế chính trị, nhất thiết phải coi việc quản lý, phát triển giáo dục làtrách nhiệm tự nhiên và quyền hạn tự thân của mình

2- Vai trò của nhà nước trong nền giáo dục của thời đại ngày nay

Những thập niên đầu thế kỷ XXI sẽ là thời kỳ tiếp tục bùng nổ của cuộccách mạng khoa học - công nghệ, đưa toàn bộ xã hội sang thời đại hậu côngnghiệp, kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế và cuộc sống số Những chuyển động đótác động mạnh mẽ và sâu sắc đến giáo dục và đào tạo, buộc chính phủ ở từng quốcgia và cộng đồng quốc tế phải đẩy mạnh đổi mới giáo dục Mỗi nước có mục tiêu,nhiệm vụ, yêu cầu, bước đi riêng trong quá trình đổi mới, cải cách giáo dục, nhưngchắc chắn mọi nhà nước, chính phủ, tổ chức quốc tế phải xuất phát từ những vấn

đề chung, những thách thức phổ biến và những mục tiêu mang tính toàn cầu củanền giáo dục thế kỷ XXI

Trong báo cáo tổng kết có tiêu đề Học tập: của cải nội sinh, ủy ban quốc tế

chuẩn bị giáo dục đi vào thế kỷ XXI của UNESCO đã nêu 7 vấn đề quan trọng mànền giáo dục phải giải quyết trong suốt thế kỷ này Nhà nước ở mỗi quốc gia cần

có chính sách phù hợp để giải quyết hài hòa từng mối quan hệ trong cả 7 vấn đề:

Trang 5

- Quan hệ giữa toàn cầu và địa phương Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập

quốc tế sẽ thu hẹp đáng kể khoảng cách về không gian, tạo điều kiện và đặt ra nhucầu tiếp biến văn hóa liên quốc gia và cũng đặt ra nhu cầu đảm bảo bản sắc vănhóa dân tộc Một trong hai nhu cầu ấy không được thỏa mãn đều gây ra trở ngạiđối với sự phát triển Trước tình hình đó, giáo dục phải chọn cho mình một hướng

đi thích hợp để hòa mình với cái chung, không bị cách biệt, biệt lập với dòng chảycủa văn minh nhân loại, đồng thời gìn giữ, phát huy ngày càng hiệu quả những giátrị truyền thống tốt đẹp của dân tộc

- Quan hệ giữa tổng thể và cá thể Đây là mối quan hệ, ảnh hưởng trực tiếp

đến cá nhân người Giáo dục phải làm thế nào để đào tạo mỗi con người thành mộtcon người, ở đó hội tụ hài hòa tính cách chung của con người trong thế giới hiệnđại và tính cách riêng của mỗi cá nhân người cụ thể Làm được như vậy, giáo dục

sẽ góp phần đắc lực vào ngăn ngừa, khắc phục nguy cơ đồng nhất, đồng hóa vănhóa

- Quan hệ giữa truyền thống và hiện đại Mỗi bước tiến của nền văn minh

mới, cả văn minh vật chất và văn minh tinh thần, đều kéo con người ra xa hơn đốivới những giá trị truyền thống Mặt khác, sự phát triển của văn minh nhân loại luônluôn đòi hỏi phải được duy trì như một dòng chảy lịch sử- tự nhiên, trong đó, cáihiện đại không đứt đoạn, không tách biệt và không đối lập siêu hình với quá khứ,với truyền thống Giáo dục hiện đại phải làm tốt chức năng xây dựng những chủthể có năng lực di truyền văn hóa, nối truyền thống với hiện đại và đến hiện đại từtruyền thống

- Quan hệ giữa lâu dài và trước mắt Việc xác định dạy cái gì và dạy như thế

nào để đáp ứng cả yêu cầu trước mắt và yêu cầu lâu dài vốn là điều hết sức khókhăn đối với giáo dục từ xưa tới nay Ngày nay, điều đó càng trở nên khó khăn gấpbội, vì khối lượng tri thức nhân loại tăng lên rất nhanh; tuổi đời của mỗi công nghệngày càng ngắn ngủi; cơ cầu nghề nghiệp, việc làm biến động phức tạp; nhu cầu về

Trang 6

kiến thức của xã hội ngày càng đa dạng…Nhà nước của mỗi quốc gia phải nắmthật chắc mục tiêu, nhiệm vụ và định hướng phát triển đất nước làm căn cứ thựctiễn hàng đầu để hoạch định chính sách giáo dục, vừa đáp ứng cái cấp bách trướcmắt, vừa hướng tới cái cơ bản lâu dài của dân tộc và thời đại

- Quan hệ giữa cạnh tranh và công bằng Với tính cách một ngành sản xuất

ra một sản phẩm đặc biệt có khối óc biết tư duy và trái tim của những giá trị nhânvăn, giáo dục không tương dung với đồng nhất, nhất nguyên, cào bằng, bình quânchủ nghĩa…Nó rất cần sự đa dạng, sáng tạo, khác biệt lẫn nhau, cạnh tranh lẫnnhau trên các bình diện của toàn bộ nền giáo dục Mặt khác, với tính cách một lĩnhvực xã hội, một công cụ xây dựng tiến bộ xã hội, giáo dục tự nó đặt ra đòi hỏi về

sự công bằng - công bằng cho cả các chủ thể và mọi đối tượng giáo dục Côngbằng ở đây được hiểu là đảm bảo cơ hội như nhau cho mọi người, mọi chủ thểtrong quá trình giáo dục

- Quan hệ giữa khối lượng tri thức ngày càng tăng nhanh với khă năng tiếp thu của người học Tri thức nhân loại ngày càng khổng lồ, nhưng chương trình

giáo dục thì không thể kéo dài thêm thời gian, mở thêm nhiều ngành học, môn họcmới Mục tiêu giáo dục phải toàn diện, nhưng nội dung giáo dục thì không đượcquá tải, tràn lan Bởi vậy, nhà nước phải đảm bảo đổi mới thường xuyên nội dungchương trình và phương pháp giáo dục nhằm có một nền giáo dục với nội dung cơbản, hệ thống, hiện đại và với phương pháp tiên tiến, phù hợp

- Quan hệ giữa vật chất và tinh thần Giáo dục, đạo tạo là để góp phần tạo ra

của cải vật chất cho xã hội; mặt khác, cơ bản hơn, giáo dục, đào tạo là để xây dựngnhân cách, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần vững bền, tốt đẹp cho mỗi người,gia đình, cộng đồng và xã hội

Từ cuối thế kỷ XX đến nay, thế giới rất quan tâm đến câu hỏi: Học để làm gì

? Các thể chế văn hóa, giáo dục, khoa học…trên thế giới đã từng dày công nghiên

Trang 7

cứu và thống nhất vạch ra 4 trụ cột của nền giáo dục hiện đại là: học để biết, học đểlàm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định mình Rõ ràng là chính sáchgiáo dục của từng quốc gia không thể thoát ly 4 trụ cột nêu trên

Học để biết tức là người học phải được trang bị đầy đủ kiến thức, có năng

lực sử dụng kiến thức đã được học như công cụ để tiếp tục khám phá, tiếp nhậnkiến thức mới Muốn học để biết, người học phải được rèn luyện ngay từ mầm non

ba năng lực cơ bản là học tập, ghi nhớ và tư duy Bên cạnh đó, cần trang bị từngbước hệ thống các phương pháp, kỹ năng làm việc một cách hợp lý Từ bậc trunghọc và nhất là đến bậc cao đẳng, đại học, điều rất quan trọng là phải giảng dạyphương pháp nghiên cứu khoa học để người học có khả năng tự học, tự nghiêncứu, chuẩn bị cho việc học tập suốt đời

Học để làm là ứng dụng các tri thức đã học vào cuộc sống một cách sáng tạo

và có hiệu quả Đó cũng là học đi đôi với hành, gắn lý thuyết với thực tiễn; là thựchiện quan điểm thực tiễn trong giáo dục: nhà trường cung cấp những gì mà xã hộicần (chứ không chỉ những gì mà nhà trường có) Bước chuyển của xã hội từ nềnvăn minh công nghiệp sang nền văn minh mới hiện nay buộc con người phải làmviệc khác trước, toàn bộ nền giáo dục phải được tái cấu trúc lại, trước hết là về nộidung chương trình, mới đảm bảo được cột trụ học để làm

Học để cùng chung sống là giáo dục cho mọi người tinh thần khoan dung,

hòa bình, đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc, giữa các cộng đồng người, nhất làkhi giữa các cộng đồng ấy có khác biệt, mâu thuẫn, xung đột… Đó là một nền giáodục trang bị cho người học tâm thế và năng lực đối thoại, chấp nhận sự khác biệt,tôn trọng sự khác biệt và hội nhập với thế giới rộng mở

Học để tự khẳng định mình là học để làm người, là biến quá trình giáo dục

thành quá trình hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người Giáo dụcphải góp phần xứng đáng vào sự phát triển toàn diện của mỗi cá thể cả về trí tuệ,

Trang 8

đạo đức, tâm lý, tình cảm, tinh thần, phong cách, thể chất… Nền giáo dục của thế

kỷ XXI phải tạo điều kiện cho mỗi con người phát triển tài năng của mình, tăngcường tính chủ động, dám nghĩ, dám làm để tự khẳng định mình

Ngµy nay, khoa học-công nghệ tiến nhanh, một mặt, các ngành hoạt độngkinh tế ngày càng yêu cầu lực lượng lao động phải có trình độ cao mới đảm bảohiệu quả và năng suất; mặt khác, trình độ văn minh hiện đại cũng đòi hỏi mọithành viên trong cộng đồng phải có học thức cao mới hưởng thụ được đầy đủ cuộcsống của bản thân đồng thời đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng Rất rõràng, xã hội văn minh đang tiến đến chỗ trình độ học thức hai năm đầu của đại họctrở thành cần thiết cho mọi người, giống như trình độ học thức tiểu học cách đâymột thế kỷ Vì vậy, phải tiến tới mở cửa đại học cho số đông, rồi cho tất cả mọingười trong độ tuổi, đó là xu thế của giáo dục ở thế kỷ XXI, tất yếu sẽ đưa đếnnhững thay đổi lớn về quan niệm cũng như tổ chức, quản lý giáo dục đại học

Thế giới hiện đại có trong tay nguồn lực vật chất dồi dào, nếu được sử dụnghợp lý, hoàn toàn có thể tiếp tục triển khai ưu việt này trên phạm vi toàn cầu.Những năm vừa qua, cộng đồng quốc tế đã nhiều lần nhấn mạnh một trong những

phương hướng chiến lược là xây dựng một nền giáo dục cho mọi người Tại các

Hội nghị quốc tế Jomtien (Thái Lan, 3/1990) và Dakar (Senegal, 4/2000), giáo dụccho mọi người đã được xác định như một nguyên lý của nền giáo dục hiện đại vớinội dung giáo dục là một quyền cơ bản của mọi người, nam cũng như nữ, thuộcmọi lứa tuổi trên toàn thế giới Con người có quyền được học tập suốt đời Hộinghị Dakar vạch ra chương trình, mục tiêu cụ thể về giáo dục cho mọi người, trong

đó nhấn mạnh: đến năm 2015, đảm bảo tất cả trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái và trẻ

em trong hoàn cảnh khó khăn, trẻ em dân tộc thiểu số được đi học tiểu học bắtbuộc và hoàn toàn miễn phí với chất lượng tốt; tăng thêm 50% số người lớn đượcxóa mù chữ; đạt bình đẳng giới trong giáo dục; đảm bảo nhu cầu học tập của tất cảthanh niên và người lớn thông qua chương trình công dân, chương trình kỹ năng

Trang 9

sống, chương trình học tập tích hợp…Để tổ chức và quản lý một nền giáo dục nhưvậy, nhà nước cần có hàng loạt chính sách thích hợp, trong đó có các chính sáchhiện đại hóa, xã hội hóa và phi tập trung hóa giáo dục.

Hiện đại hoá giáo dục là thay đổi tư duy giáo dục, xác định lại quan niệm về

mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường, từ đó thay đổi cung cách dạy, học vàphương phỏp, nội dung, tổ chức và quản lý giỏo dục, nhằm xõy dựng một nền giỏodục phự hợp hơn với yờu cầu của xó hội và cuộc sống trong kỷ nguyờn kinh tế tri

thức Xó hội húa giỏo dục cú ý nghĩa là nhà nước phải tạo ra không gian xó hội,

luật phỏp và chớnh trị cho việc hỡnh thành một khu vực giỏo dục mà ở đấy ai cũng

có quyền đóng góp vỡ sự nghiệp giỏo dục, thực hiện sự cạnh tranh về chất lượnggiáo dục, tức là giáo dục phải thuộc về xó hội Xó hội húa giỏo dục khụng chỉ là đadạng hóa hỡnh thức và cỏc nguồn đầu tư cho giáo dục- đào tạo, mà quan trọng nhất

là đa dạng hóa nội dung hay đa dạng hóa chương trỡnh giỏo dục thớch ứng với

những đũi hỏi của xó hội Phi tập trung hoỏ hệ thống tổ chức, quản lý giỏo dục là

trao quyền tự chủ rộng rói về nội dung chương trỡnh, tổ chức, kế hoạch giảng dạy,nghiờn cứu khoa học và cỏc hoạt động khác cho các cơ sở giáo dục

II- Vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo an sinh xã hội

1- Vai trò, vị trí của lĩnh vực xã hội đối với sự phát triển của xã hội

Lĩnh vực xã hội, hay cái xã hội, là một phạm trù thuộc triết học lịch sử, dùng

để chỉ đời sống của con người, bao gồm việc thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinhthần của con người Nhu cầu vật chất được hiểu như nhu cầu về lương thực, thựcphẩm, quần áo, nước sạch, tư liệu sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe, vệ sinh môitrường…Nhu cầu tinh thần rất đa dạng, gồm nhu cầu về hiểu biết, nhận thức (họctập); việc làm (lao động- xã hội) nhân đạo, nhân văn (chính sách với người cócông, công tác thương binh, liệt sĩ, trợ cấp xã hội…); quan hệ xã hội (dân chủ, tự

do, công bằng, bình đẳng…); sáng tạo (văn hóa, nghệ thuật…),v.v…Theo nghĩahẹp, cái xã hội là một trong những lĩnh vực cơ bản của đời sống con người, được

Trang 10

đặt trong vị trí tương quan với các lĩnh vực khác là kinh tế, chính trị và văn hóa.Lĩnh vực xã hội được biểu hiện rõ rệt nhất thông qua sự hiện diện của các vấn đề

xã hội và quá trình thực hiện chính sách xã hội

Quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lênin khẳng định vai tròquyết định cuối cùng của kinh tế đối với sự phát triển; đồng thời cũng khẳng định

sự biện chứng giữa cái kinh tế và cái xã hội, mà thông qua đó, cái xã hội thể hiệnvai trò, vị trí không thể thay thế đối với sự phát triển của toàn bộ xã hội Vai tròquyết định cuối cùng của cái kinh tế không tồn tại biệt lập, bên ngoài cái xã hội,

mà là thông qua sự tác động hữu cơ kinh tế- chính trị, kinh tế- xã hội, kinh tế- vănhóa…Hơn nữa, cái kinh tế không có mục đích tự thân, mà chỉ là phương tiện đểđáp ứng cái xã hội và thực hiện mục tiêu phát triển xã hội Đồng thời, cái xã hộicũng có nhiều khả năng tác động đến kinh tế, gây cản trở hoặc thúc đẩy sự pháttriển kinh tế

Từ mấy thập kỷ nay, phát triển trở thành khái niệm quen thuộc và nó được

xem xét trên tất cả các bình diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường…Hàng loạt định nghĩa về phát triển đã được nêu ra, thể hiện quan niệm thống nhất

về định tính cơ bản của phát triển là lấy con người làm trung tâm, đảm bảo sự hài

hòa giữa thỏa mãn về vật chất và toại nguyện về tinh thần; giữa tăng trưởng kinh tế

và công bằng xã hội; giữa hiệu quả sản xuất kinh doanh và an toàn môi trường sinhthái; giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội; giữa tự do sáng tạo và chuẩn mựcgiá trị; giữa dân chủ hóa và trật tự, kỷ cương; giữa cá nhân và cộng đồng, gia đình

và xã hội, truyền thống và hiện đại… Với nội dung như vậy, phát triển là sự phảnánh cụ thể của tiến bộ xã hội trong thời đại ngày nay- thời đại bước ngoặt trongtiến trình con người hoàn thiện mối quan hệ với tự nhiên và xã hội

Trong các nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm xây dựng, hoàn thiện nhậnthức về phát triển, đóng góp của UNESCO là rất đáng ghi nhận với việc đưa ra

khái niệm phát triển xã hội (social development) Tháng 7 năm 1994, để chuẩn bị

Trang 11

cho Hội nghị thượng đỉnh quốc tế lần thứ nhất về phát triển xã hội, Tổng Giám đốcUNESCO đã công bố nội dung cơ bản của phát triển xã hội gồm: chú trọng giáodục- đào tạo; khai thác tốt nguồn lực con người; khắc phục đói nghèo; tôn trọngnhân quyền; thực hành văn hóa khoan dung; mở rộng dân chủ; đặt văn hóa vào cấutrúc phát triển; hiện đại hóa cách nhìn đối với lao động và việc làm; bảo vệ môitrường sinh thái; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, thông tin…

Tháng 3 năm 1995, Hội nghị thượng đỉnh quốc tế lần thứ nhất về phát triển

xã hội được tổ chức tại Copennhaghen (Đan Mạch) với sự tham dự của hơn 100nguyên thủ quốc gia trên thế giới Hội nghị chấp thuận nội dung nêu trên của pháttriển xã hội; đồng thời khẳng định mạnh mẽ một tư tuỏng lớn của thời đại là cácchính sách kinh tế, xã hội, văn hóa phải gắn bó hữu cơ với nhau trong một quátrình chung thực hiện sự phát triển lấy con người làm trung tâm Bản Tuyên bố củaHội nghị vạch rõ: các mục tiêu của phát triển xã hội đòi hỏi phải cố gắng liên tục

để giảm và xóa bỏ các nguồn gốc chủ yếu của cảnh khốn cùng và bất ổn định vềmặt xã hội; chú trọng và ưu tiên quan tâm đến cuộc đấu tranh nhằm loại bỏ nhữngđiều kiện gây ra mối de dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe, an toàn, hòa bình, anninh và phồn vinh của con người

Trước khi loài người bước vào thiên niên kỷ thứ ba, tháng 9 năm 2000, đạidiện của 189 thành viên Liên hợp quốc, trong đó có 147 nguyên thủ quốc gia và

người đứng đầu chính phủ, đã long trọng ra Tuyên bố Thiên niên kỷ, vạch ra 8 mục

tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG), cần được hoàn thành vào năm 2015 trên phạm

vi toàn cầu Các mục tiêu này bao gồm: khắc phục tình trạng nghèo đói nghiêmtrọng; phổ cập giáo dục tiểu học; xúc tiến bình đẳng giới; giảm tỷ lệ chết yểu củatrẻ sơ sinh; nâng cao đời sống vật chất; phòng chống HIV/AIDS và các dịch bệnhkhác; bảo đảm sự bền vững môi trường; xây dựng các đối tác toàn cầu về pháttriển Hệ thống 8 mục tiêu này chứa đựng 18 mục tiêu cụ thể, trong đó có 48 chỉ sốphát triển kinh tế, xã hội, môi trường, thông tin, giới…Như vậy là, phát triển xã hội

Ngày đăng: 05/03/2023, 01:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w