1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài Liệu Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tiểu Học Giúp Học Sinh Lớp 3 Giải Toán Có Lời Văn Theo Hướng Tiếp Cận Năng Lực.pdf

25 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo hướng tiếp cận năng lực
Tác giả Vũ Thị Phương
Trường học Trường Tiểu học Võ Thị SÁu
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 649,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ BẮC GIANG TRƯỜNG TIỂU HỌC VÕ THỊ SÁU BIỆN PHÁP Giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo hướng tiếp cận năng lực Họ và tên Vũ Thị Phương Đơn vị Trường Tiểu học[.]

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TRƯỜNG TIỂU HỌC VÕ THỊ SÁU

BIỆN PHÁP Giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo hướng tiếp

Trang 2

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2

2

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1 Cơ sở lí luận 3

3.3 Giúp học sinh nắm được quy trình giải toán 7

3.4.Tổ chức cho học sinh chủ động trong học tập 7

3.5 Hướng dẫn học sinh kiểm tra, đánh giá kết quả 12

3.6 Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập 12

IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

1.1 Ý nghĩa

1.2 Bài học kinh nghiệm

13

13

14

Trang 3

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn biện pháp

Môn Toán là một môn khoa khọc gắn liền với thực tế đời sống hàng ngày cũng là môn khoa học phát triển và rèn luyện tư duy logic, suy luận, giải quyết vấn đề Giúp con người phát triển trí thông minh, độc lập, sáng tạo

và hình thành các phẩm chất của người lao động mới Giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng, hình dạng không gian của thế giới hiện thực

Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống

Giải toán có lời văn là những bài toán thực tế, nội dung bài toán được thông qua những câu văn nói về những quan hệ, liên quan tới cuộc sống thường ngày Trong bài toán có lời văn, các em phải nhận ra được yếu tố toán học và tìm ra lời giải cùng với phép tính thích hợp

Qua thực tế, Tôi giảng dạy ở lớp 3 một số năm Bằng kinh nghiệm của

bản thân và học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp, tôi đã rút ra được: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo hướng tiếp cận năng lực”

Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung và đối với học sinh lớp 3 nói riêng Trong quá trình nghiên cứu sẽ không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các đồng nghiệp để biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo hướng tiếp cận năng lực hiệu quả hơn

2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm góp phần nâng cao chất lượng học môn Toán lớp 3, học sinh biết vận dụng những kiến thức toán học vào thực tiễn, rèn luyện kỹ năng thực hành Phát triển năng lực lập luận, tư duy toán học, năng lực giao tiếp toán học, giải quyết vấn đề, hợp tác

Có ý thức giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động nhóm để hoàn thành nhiệm vụ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu yêu cầu cần đạt của việc dạy học giải toán lớp 3 ở

Trang 4

trường tiểu học, đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 3

- Tìm hiểu cơ sở khoa học “Giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo hướng tiếp cận năng lực”

- Tìm hiểu thực trạng việc dạy học giải toán có lời văn lớp 3 ở trường tiểu học

- Đề xuất một số giải pháp “Giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn theo hướng tiếp cận năng lực”

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Học sinh lớp 3A4 lớp tôi chủ nhiệm năm học 2021- 2022

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin: Dùng để thu thập các thông tin của từng học sinh, điều tra thực trạng

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp quan sát khoa học

- Phương pháp hỏi - đáp

- Phương pháp giải quyết vấn đề

II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lí luận

Trong quá trình hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, giáo viên thường gọi một, hai học sinh đọc đề bài sau đó hỏi học sinh bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Học sinh trả lời và làm bài vào vở, chấm chữa bài cho học sinh Như vậy mới chỉ có giáo viên tương tác với một vài học sinh Phần nhiều học sinh rơi vào thế tiếp thu kiến thức một cách thụ động, máy móc, luôn phụ thuộc vào người khác Học sinh chưa phát huy được hết các năng lực tự chủ khám phá của mình Chính vì thế mà nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc giải toán có lời văn

Nhằm mục đích nâng cao chất lượng giải toán có lời văn ở tiểu học cần

có một số đổi mới sau:

Trang 5

Trước hết giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành các kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng tính toán, vận dụng kiến thức và rèn luyện kĩ năng thực hành vào thực tiễn (học tập, đời sống)

Qua các biểu hiện trên, giáo viên phát hiện được rõ hơn những gì học sinh đã lĩnh hội và nắm chắc những gì học sinh chưa hiểu bài để có biện pháp giúp học sinh phát huy hoặc khắc phục Từng bước phát triển năng lực, tư duy cho học sinh, rèn luyện phương pháp và kĩ năng suy luận, khêu gợi và tập dượt quan sát, phỏng đoán tìm tòi, độc lập sáng tạo trong suy nghĩ

Việc áp dụng phương pháp tiếp cận năng lực lấy người học làm trung tâm Người dạy chủ yếu đóng vai trò là người tổ chức, cố vấn, hỗ trợ người học chiếm lĩnh tri thức; chú trọng phát triển khả năng giải quyết vấn đề Người học được chủ động tham gia các hoạt động nhằm tìm tòi khám phá, tiếp nhận tri thức mới và có nhiều cơ hội được bày tỏ ý kiến, quan điểm và tham gia phản biện Học sinh nhanh chóng chiếm lĩnh được tri thức một cách chủ động và bộc lộ được rõ năng lực của bản thân Từ đó giáo viên nắm bắt

và hỗ trợ kịp thời từng học sinh, giúp nâng cao chất lượng giờ học

Chính vì vậy học sinh xác lập các yếu tố toán học trong bài toán và mối liên quan của các điều kiện cho biết và cái phải tìm chưa tốt Các em tiếp thu bài một cách thụ động, gò bó chưa linh hoạt khi sử dụng ngôn ngữ lời giải mặt khác các năng lực giao tiếp, độc lập, sáng tạo, giải quyết vấn đề còn nhiều hạn chế Một phần cũng do giáo viên trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập chưa thường xuyên khơi gợi, phát huy hết năng lực tự chủ của học sinh, nguyên nhân do giới hạn thời lượng của tiết học nên không chờ đợi

Trang 6

được học sinh, giáo viên lại làm hộ cả phần của học sinh,…Nên việc giải toán

có lời văn đối với học sinh lớp 3 theo hướng tiếp cận năng lực là điều rất cần thiết

2.1 Thuận lợi

- Ban lãnh đạo nhà trường nhiệt tình, sáng tạo luôn chỉ đạo sát sao việc dạy học của giáo viên và học sinh

- Đội ngũ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề mến trẻ

- Về học sinh: Các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập

- Cơ sở vật chất của nhà trường được trang bị khá đầy đủ, đáp ứng mọi điều kiện dạy học

- Các bậc phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình

- Khả năng phân tích đề toán, suy luận logic và xác định dạng toán của học sinh còn hạn chế

- Học sinh mắc lỗi nhiều ở phần câu trả lời của bài giải

2.3 Nguyên nhân

- Qua thực tế khảo sát, tôi nhận thấy:

- Nhiều học sinh chưa nghiên cứu kĩ đề toán đã lập tức làm bài giải luôn do tính hấp tấp vội vàng, nhiều học sinh vốn tiếng Việt còn hạn chế do đọc văn bản chưa thành thạo, nên việc xác lập mối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán còn gặp nhiều khó khăn

- Một số học sinh chưa nắm chắc hệ thống các bài toán đơn đã học, dẫn đến lúng túng trong việc phát hiện mối quan hệ logic giữa các bài toán này

- Một số học sinh còn thiếu tự tin trong việc tìm cách giải, bị hạn chế trong việc lựa chọn các phép giải

Trang 7

- Các em chưa chú ý đến khâu kiểm tra, thường khi cứ làm xong bài là xong và cho rằng bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số của bài

- Giáo viên còn áp đặt một số bước trong quá trình giải toán như: Tìm hiểu đề toán, cách giải toán Giáo viên chưa tạo điều kiện để học sinh chủ động trong học tập hoặc chưa khích lệ được học sinh kịp thời trong quá trình học hoặc giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc rèn kĩ năng giải toán cho học sinh

Từ thực trạng trên, để công việc dạy học đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các

em học sinh có hứng thú hơn trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp trong giảng dạy như sau:

3 Các biện pháp

3.1 Hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung

GV hướng dẫn HS nắm được 3 yếu tố cơ bản đó là:

- HS phải hiểu được dữ kiện là những cái đã cho đã biết trong đầu bài, những ẩn số là những cái chưa biết và cần tìm (các ẩn số được diễn đạt dưới dạng câu hỏi của bài toán) những điều kiện là quan hệ giữa các dữ kiện và ẩn

số Hiểu rõ đầu bài là chỉ ra và phân biệt rành mạch 3 yếu tố đó, từng bước thấy được chức năng của mỗi yếu tố trong việc giải bài toán

- Học sinh làm việc cá nhân: Đọc thật kĩ đề bài cho đến khi nào thật hiểu từng câu, từng chữ của đề nói gì

3.2 Hướng dẫn học sinh phân tích đề toán

HS làm việc cá nhân: Đọc thật kĩ đề bài cho đến khi nào thật hiểu từng câu, từng chữ của đề nói gì?

- Chia sẻ với bạn bên cạnh bằng cách đặt ra các câu hỏi và cùng nhau thảo luận nhóm, một bạn hỏi, một bạn trả lời, lặp đi lặp lại vài lần rồi thống nhất ý kiến Như vậy, học sinh đã được luyện tập kĩ trong bước phân tích đề, giúp học sinh hiểu bài và dễ dàng trong bước bài giải

- Đề bài cho ta biết điều gì? Hỏi gì?

- Muốn tìm điều này chúng ta cần biết được gì?

Trang 8

- Muốn tìm được điều đó ta cần thực hiện phép tính gì?

- Vì sao ta lại thực hiện được phép tính như vậy?

- HS dựa vào một số từ khóa như: Gấp lên thực hiện tính nhân; Giảm đi một số lần làm tính chia; Nhiều hơn làm tính cộng; Ít hơn làm tính trừ…

Sau khi phân tích xong ta xác định lời giải ở đó là gì? Bằng cách nào?

Ta dựa vào phần câu hỏi của đề bài Bỏ hoặc thay thế các từ để hỏi của câu hỏi đó Biến câu hỏi thành câu trả lời Như vậy nó đảm bảo tính chính xác, đầy đủ nhất của câu trả lời Ở bước này học sinh cũng gặp không ít khó khăn khi lập câu trả lời Vì vậy giáo viên cũng phải cho học sinh được luyện tập nhiều lần và thường xuyên thì các em mới thuần thục được Hướng dẫn học sinh trình bày sạch đẹp, khoa học và rõ ràng

3.3 Giúp học sinh nắm được quy trình giải toán

Quy trình này thường được tiến hành theo các bước như sau

- Tìm hiểu nội dung bài toán, phân tích đề toán

- Tìm cách giải bài toán

- Thực hiện cách giải bài toán

- Kiểm tra, đánh giá kết quả

3.4 Tổ chức cho học sinh chủ động trong học tập

- GV tổ chức cho học sinh chủ động tham gia các hoạt động học tập, tìm tòi khám phá, tiếp nhận tri thức mới Học sinh được tương tác nhiều trong giờ học giữa học sinh với học sinh dưới sự hỗ trợ của giáo viên (GV-HS) Giáo viên chỉ đóng vai trò hỗ trợ và hướng dẫn Như vậy học sinh nhanh chóng chiếm lĩnh được tri thức một cách chủ động và bộc lộ được rõ năng lực của bản thân Từ đó giáo viên nắm bắt và hỗ trợ kịp thời từng từng học sinh

Vì vậy việc tổ chức hoạt động nhóm là vô cùng quan trọng trong việc học tập của học sinh, giúp các em phát huy được các năng lực, phẩm chất cơ bản nhất tạo nên một thế hệ mới có đầy đủ những yếu tố của một công dân toàn cầu phát triển đất nước sau này Nâng cao chất lượng giờ học, nâng cao chất lượng con người trong tương lai

Trang 9

- Muốn học sinh thành thạo trong giải toán thì phải cho học sinh luyện tập đi, luyện tập lại hàng ngày Làm đi làm lại nhiều lần một dạng toán Hướng dẫn học sinh tự biết lập đề toán ở dạng đã học và tự giải bài toán đó để tạo thành thói quen,

kĩ năng và tự giác trong học tập GV thường xuyên giám sát, đôn đốc kiểm tra và động viên , khích lệ kịp thời để các em có thêm động lực và sáng tạo trong học tập

- Hình thức tổ chức: HS hoạt động cá nhân, nhóm, chia sẻ trước lớp

- Dưới đây là một số hình ảnh minh họa học sinh làm việc cá nhân và làm

việc nhóm Học sinh rất tích cực thảo luận nhóm đôi HS đã rất vui khi được

bạn giúp đỡ tìm ra cách giải bài toán

Học sinh hoạt động cá nhân tích cực, chăm chú và tư duy sâu

Trang 10

Học sinh chủ động giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn

Trang 11

Học sinh rất vui đón nhận sự giúp đỡ của bạn và giải quyết được vấn đề

Trang 12

VD minh họa: Bài 4 trang 120 bài Luyện tập chung

Một sân vận động hình chữ nhật có chiều rộng 95m và chiều dài gấp

3 lần chiều rộng Tính chu vi sân vận động đó

HS đọc đề bài, xác định vấn đề cần giải quyết trong bài toán này là gì?

HS nêu được đó là: Tính chu vi sân vận động đó

Bước 1: Giáo viên đặt vấn đề:

Để tính được chu vi sân vận động đó ta phải làm thế nào?

GV tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm cộng tác, HS làm việc

cá nhân, gặp khó khăn vướng mắc học sinh sẽ hợp tác nhóm cùng nhau tìm cách giải quyết

Bước 2: Học sinh kết nối kiến thức đã được học và sách giáo khoa để giải quyết vấn đề

- Học sinh làm việc cá nhân: Đọc thật kĩ đề bài cho đến khi nào thật hiểu từng câu, từng chữ của đề nói gì?

- Chia sẻ với bạn bên cạnh bằng cách đặt ra các câu hỏi và cùng nhau thảo luận nhóm, thống nhất ý kiến

- Đề bài cho ta biết điều gì? Hỏi gì?

- Muốn tìm điều này chúng ta cần biết được gì?

- Muốn tìm được điều đó ta cần thực hiện phép tính gì?

- Vì sao ta lại thực hiện được phép tính như vậy?

Hướng đi bắt đầu từ công thức tính chu vi hình chữ nhật: (Dài + rộng) × 2 Bước 3: Giải bài toán:

HS sẽ phải xác định được cái đã biết: Chiều rộng 95m,

Đã biết chiều rộng cần phải tìm được chiều dài và bằng cách nào? Chiều dài được ẩn ở đâu? “Chiều dài gấp 3 lần chiều rộng” là yếu tố để dựa vào đó để tính chiều dài và từ khóa là “gấp 3” để xác định phép tính

Vậy chiều dài sân vận động hình chữ nhật đó là: 95 × 3 = 285 (m)

Chu vi sân vận động hình chữ nhật đó là: (285 + 95) × 2 = 760 (m )

Đáp số: 760 m

Trang 13

- Khi học sinh tìm được chiều dài thì học sinh chỉ áp dụng công thức vấn đề đã được giải quyết Bước 4: Học sinh trình bày bài trong nhóm và trước lớp HS sẽ chỉnh sửa, bổ sung kiến thức cho nhau

Bước 5: Giáo viên chỉnh sửa (nếu có) chốt kiến thức (Ghi nhận, khen) Vậy thông qua một bài học cụ thể này học sinh đã phát huy được năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề, hợp tác nhóm, giải quyết các mâu thuẫn, hòa hợp trong giao tiếp, biết suy luận, xác định vấn đề, thuyết trình

Phẩm chất: Học sinh tích cực học tập, mạnh dạn tự tin, cẩn trọng, xem xét đa chiều trước khi ra quyết định

Tóm lại: Khi áp dụng dạy học theo tiếp cận năng lực thông qua bài học cụ thể cần xác định HS nắm được kiến thức gì? Phát triển được năng lực, phẩm chất gì? Như vậy giờ học đã thành công

3.5 Hướng dẫn học sinh kiểm tra, đánh giá kết quả

Giáo viên cho học sinh dưới lớp đổi chéo vở kiểm tra lẫn nhau rồi đối chiếu với bài giải của giáo viên hoặc một bài của học sinh giải đúng trên bảng Chú ý từng bước cho học sinh thói quen soát lại và suy nghĩ về tính hợp lí của cách giải đã chọn, tìm ra những chưa hợp lí để tìm cách sửa đổi, đặc biệt tạo cho học sinh có thói quen tự hỏi: "Có thể giải bằng cách khác không?" Tìm được cách giải khác một mặt tạo điều kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh

3.6 Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập

Đối với những em chậm tiến bộ, thường rụt rè, tự ti, vì vậy tôi luôn luôn chú ý nhắc nhở, gọi các em trả lời hoặc lên bảng làm bài Chỉ cần các em có một “tiến bộ nhỏ” là tôi tuyên dương ngay, để từ đó các em sẽ cố gắng tiến

bộ và mạnh dạn, tự tin hơn Đối với những em học khá, giỏi phải có những biểu hiện vượt bậc, có tiến bộ rõ rệt tôi mới khen Rõ ràng việc khen học sinh là cần thiết tuy nhiên, nếu ta không biết kết hợp tâm lý từng học sinh

mà cứ quá khen sẽ không có tác dụng kích thích Chính sự khen, chê đúng

Ngày đăng: 05/03/2023, 01:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w