Chuyên đề số 45 Đường lối đổi mới của Đảng và cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1991) Sự phát triển lý luận và thực tiễn I Đường lối đổi mới của Đảng C[.]
Trang 1Chuyên đề số 45
Đường lối đổi mới của Đảng và cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1991) - Sự phát triển lý luận và thực
tiễn
I- Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam
1- Yêu cầu khách quan phải đổi mới
Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất và các nước bước vàoxây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1976) Từ cuối những năm 70 của thế kỷ
XX, Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội Khủng hoảng có nguyênnhân khách quan và chủ quan Về khách quan: đó là hậu quả nặng nề của 30 nămchiến tranh, nhất là hậu quả của chế độ thực dân mới ở miền Nam; điểm xuất phátcủa nền kinh tế cả nước ở trình độ rất thấp, về cơ bản vẫn là sản xuất nhỏ, lạc hậu;chủ nghĩa đế quốc tăng cường bao vây, cấm vận và chiến tranh bảo vệ Tổ quốcdiễn ra ác liệt ở biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc Về chủ quan: do duy trìquá lâu cơ chế quản lý cũ tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp không thúc đẩyđược sản xuất phát triển; cải tạo xã hội chủ nghĩa ít có hiệu quả, nóng vội xóa bỏcác thành phần kinh tế, năng lực quản lý kinh tế bộc lộ nhiều yếu kém Trong hoàncảnh đó, cuộc sống đòi hỏi phải đổi mới để đưa đất nước vượt qua khó khăn
Trong tư duy lý luận, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và về thời kỳ quá độ cónhiều nội dung chưa phù hợp, cần phải nhận thức và hành động theo quy luậtkhách quan, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan, nóng vội, duy ý chí Quy luật về
sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đãchưa được nhận thức và hành động đúng, thậm chí làm trái quy luật, do đó đã tiếnhành cải tạo xã hội chủ nghĩa ồ ạt, đưa quan hệ sản xuất phát triển quá nhanh, quá
Trang 2xa, trong khi lực lượng sản xuất còn lạc hậu, trình độ tổ chức quản lý còn thấpkém Các đặc trưng của thời kỳ quá độ cũng như những quy luật vận động trongthời kỳ đó đã không có sự nhận thức đúng đắn dẫn tới xóa bỏ ngay các thành phầnkinh tế gắn với sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, không chú ý đến vai trò của thịtrường, của kinh tế thị trường và lợi ích kinh tế chính đáng của người lao động,duy trì quá lâu nền kinh tế bao cấp và quản lý bằng những biện pháp hành chính.
Khủng hoảng kinh tế - xã hội và những khó khăn thách thức khác làm chođời sống nhân dân có nhiều khó khăn Từ trong khó khăn, thách thức đã xuất hiệnnhững sáng kiến, cách thức quản lý mới năng động có hiệu quả từ các địa phương,
cơ sở, từ những người lao động Hiện tượng "khoán chui" trong hợp tác xã nôngnghiệp ở Hải Phòng và một số địa phương khác, cách quản lý "phá rào" ở một sốđơn vị kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác như là những khởiđộng thu hút sự chú ý của những người lãnh đạo, quản lý Đảng và Nhà nước đãkịp thời tổng kết, lắng nghe các sáng kiến, nguyện vọng của nhân dân, của các địaphương, cơ sở để từng bước điều chỉnh quan điểm, chính sách và cơ chế quản lýcho thích hợp
Cũng từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế - xã hội củacác nước bộc lộ sự phát triển trì trệ, khó khăn và hiệu quả thấp Nền kinh tế và nhucầu đời sống của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa cũng đứng trước những đòihỏi phải cải cách, cải tổ để phát triển Trung Quốc bắt đầu chủ trương cải cách, mởcửa từ Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản TrungQuốc khóa XI (12-1978) với chính sách cải cách kinh tế trong nước, mở cửa, hợptác thu hút nước ngoài đầu tư, thực hiện 4 hiện đại hóa: hiện đại hóa công nghiệp,hiện đại hóa nông nghiệp, hiện đại hóa khoa học, công nghệ và hiện đại hóa quốcphòng Một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu như Bungari, Hungari, Cộng hòadân chủ Đức cũng có những bước đi quan trọng trong cải tổ kinh tế Liên Xô từcuối năm 1982 đã khởi động bước đầu và đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung
Trang 3ương Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 4-1985 bắt đầu thực hiện đường lối cải tổ.Quá trình cải cách, cải tổ ở các nước xã hội chủ nghĩa có mốc thành công, có mốcsai lầm dẫn đến đổ vỡ, nhưng đều phản ánh xu thế chung là cải cách, cải tổ trướchết là nhận thức cho đúng về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội.
2- Quá trình hình thành và hoạch định đường lối đổi mới
Những bước đi đầu tiên về đổi mới cách quản lý, đi vào khoán sản phẩm,hạch toán kinh tế ở các đơn vị kinh tế hợp tác xã và xí nghiệp quốc doanh ở HảiPhòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Nam - Đà Nẵng từ cuối những năm 70, lànhững tín hiệu tích cực thể hiện sự năng động, sáng tạo của địa phương, cơ sở.Những tín hiệu đó có ý nghĩa rất quan trọng đã được nắm bắt, tổng kết, tuy vẫn còntranh luận và có những ý kiến đánh giá khác nhau
Ngày 27-7-1978, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
IV đã nhấn mạnh việc kiện toàn tổ chức, cải tiến chế độ làm việc Phải cải tiến chế
độ làm việc nhằm tăng năng suất lao động, bảo đảm chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế Tháng 8-1978, Chính phủ đã bãi bỏ các trạm kiểm soát mang tính "ngăn sông cấm chợ", nhằm khuyến khích sản xuất và giao lưu
hàng hóa, nhất là sản phẩm nông nghiệp, cho phép lưu thông hàng hóa trên thịtrường tự do
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IV họp từ ngày 18
đến 27-8-1979 đã đề ra những chủ trương có tính đột phá nhằm tháo gỡ khó khăn
về kinh tế - xã hội, tìm lối thoát cho nền kinh tế đang lâm vào khủng hoảng Cácchủ trương và giải pháp đều nhằm "thúc đẩy sản xuất bung ra" "Phải lấy việc pháttriển sản xuất là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá tính chính xác của các chínhsách"1 Hội nghị Trung ương cho rằng: "Những khó khăn về kinh tế và đời sống
1 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập,.t 40, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2005, tr.345.
Trang 4một mặt do những nguyên nhân khách quan, mặt khác do những khuyết điểm chủquan, nhất là trong công tác kinh tế Việc xây dựng kế hoạch kinh tế vẫn tập trung
quan liêu, thiếu căn cứ thực tế và khoa học, chưa kết hợp chặt chẽ kế hoạch hóa với sử dụng thị trường, chưa chú ý đầy đủ tăng cường và phát huy kinh tế quốc
doanh, kinh tế tập thể, cũng chưa sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế cá thể
và tư sản dân tộc (ở miền Nam) Có những biểu hiện nóng vội, giản đơn trong côngtác cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam "Chậm khắc phục tình trạng trì trệ, bảo thủtrong việc xây dựng các chính sách cụ thể về kinh tế, tài chính để khuyến khíchphát triển sản xuất"2
Hội nghị Trung ương 6 khóa IV thật sự là sự đột phá trong tư duy, điềuchỉnh về nhận thức lý luận, đề ra nhiều chủ trương, chính sách phù hợp với thựctiễn, bước đầu khắc phục sự áp đặt chủ quan, nóng vội, duy ý chí Trung ương đãthấy rõ sự cần thiết phải đánh giá đúng vai trò và sử dụng có hiệu quả hơn cácthành phần kinh tế, nhận rõ hơn vai trò của thị trường, chú trọng thúc đẩy sản xuấtgắn với các chính sách lưu thông, phân phối, coi trọng lợi ích của người lao động;điều chỉnh và có bước đi vững chắc, và tính hiệu quả của cải tạo xã hội chủ nghĩa
Hội nghị Trung ương 6 khóa IV với những chủ trương, chính sách mới về kinh tế,
thật sự là sự khởi đầu của quá trình tìm đường đổi mới và cũng là bước phát triểnquan trọng về tư duy lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Ngày 23-6-1980, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 26-NQ/TW về cải tiến côngtác phân phối, lưu thông, tài chính, tiền tệ, giá cả, tiền lương, thương nghiệp vàquản lý thị trường Đó là những công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước, nhữngđòn bẩy kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất và lành mạnh hóa lĩnh vực lưuthông, phân phối
Các hình thức khoán sản phẩm và trả lương theo sản phẩm đã hướng người laođộng quan tâm đến kết quả cuối cùng của quá trình lao động sản xuất, quan tâm tới
2 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, đã dẫn, t.40, tr.358-359.
Trang 5chất lượng và hiệu quả, làm cho kinh tế có những khởi sắc nhất định Trên cơ sởtổng kết kinh nghiệm khoán trong nông nghiệp ở Hải Phòng, ngày 21-10-1980 Ban
Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 22-TB/TW chủ trương tiếp tục thực hiện
và hoàn thiện cách khoán Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa IV ngày 10-12-1980 đã đi đến chủ trương: "Mở rộng việc thực hiện và hoànthiện các hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp", "mở rộng việc trả lươngtheo sản phẩm, lương khoán và cải tiến chế độ tiền thưởng trong các xí nghiệpquốc doanh"1 Đó là chủ trương rất quan trọng trong sự chuyển đổi cơ chế quản lýkinh tế, chú trọng lợi ích chính đáng của người lao động
Cụ thể hóa chủ trương của Hội nghị Trung ương 9, ngày 13-1-1981 Ban Bí
thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 100 CT/TW cải tiến công tác khoán, mở rộng "khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động" trong hợp tác xã nông nghiệp Đó là sự đổi mới quan trọng cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp tập thể trong các hợp tác xã nông nghiệp Mục đích của khoán sản phẩm là phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế "Phương hướng chủ yếu để cải tiến công tác khoán trong hợp tác xã nông nghiệp là: khuyến khích hơn nữa lợi ích chính đáng của người lao động và làm cho mọi người tham gia các khâu trong quá trình sản
xuất và quản lý của hợp tác xã đều thực sự gắn bó với sản phẩm cuối cùng"2
Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 21-1-1981 Chính phủ ban hành Quyết
định số 25-CP về một số chủ trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động sản xuất, kinh doanh và tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh.
Quyết định của Chính phủ nêu rõ kế hoạch sản xuất của xí nghiệp quốc doanh gồm ba
phần: Phần nhà nước giao có vật tư bảo đảm, phần xí nghiệp tự làm, phần sản phẩm phụ Cùng ngày Chính phủ còn ra Quyết định 26-CP về việc mở rộng hình
11 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, t.41, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2005, tr.567.
22 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, t.42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2005, tr.27.
Trang 6thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước
Chỉ thị số 100 của Ban Bí thư, Quyết định 25-CP và 26-CP của Chính phủ là
sự đổi mới căn bản cách quản lý từ quản lý hành chính sang quản lý bằng biệnpháp kinh tế, thực sự hạch toán kinh tế, chú trọng năng suất, chất lượng, hiệu quảlao động, sản xuất và kết hợp hài hòa 3 lợi ích: lợi ích của Nhà nước, lợi ích củatập thể (đơn vị kinh tế), lợi ích của người lao động, trong đó lợi ích của người laođộng thật sự là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển
Những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX trong tất cả các địa phương, cácngành kinh tế kỹ thuật, các đơn vị sản xuất kinh doanh đều sôi nổi đổi mới cơ chếquản lý, từng bước xóa bỏ cơ chế quản lý cũ trì trệ, kém hiệu quả, chuyển sanghạch toán kinh doanh, chú trọng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng Cộng sản Việt Namhọp từ ngày 27 đến 31-3-1982 đã chủ trương tiếp tục tổng kết thực tiễn, nhất là ởnhững địa phương và đơn vị kinh tế quản lý có chất lượng và hiệu quả để làm rõhơn cơ chế quản lý mới Đại hội quyết định điều chỉnh quy mô, tốc độ của côngcuộc công nghiệp hóa, tập trung đầu tư lớn cho nông nghiệp, đặt nông nghiệp lênmặt trận hàng đầu Đại hội đề ra "Chiến lược kinh tế - xã hội trong chặng đườngđầu tiên của quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa"1 Trước đây Đảng đã đưa
ra khái niệm bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ (1970), nhưng sau đó Đại hội IV
(12-1976) không đề cập khái niệm đó vì quan niệm chỉ 20 năm là kết thúc thời kỳquá độ nên không cần các bước đi như đã xác định Cuộc sống đã buộc Đảng ta
phải nhận thức lại và Đại hội V đã đề ra nhiệm vụ của chặng đường đầu tiên là
chuẩn bị những tiền đề cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa Đó là sự nhận thứclại một cách đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam Đại hội V
11 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, t.43, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2005, tr.63.
Trang 7cũng đã thấy rõ sự cần thiết phải "xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu, baocấp"2.
Thực tiễn của những khởi động, đổi mới bước đầu đã mang lại kết quả đáng
kể Có thêm nhiều điển hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả từ cách thức, cơ chếquản lý mới Thành phố Hồ Chí Minh đã có tổng kết chặng đường 10 năm (1975-1985) với loạt bài của Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh Long An cũng mang lạinhững kết quả tích cực trong chủ trương bù giá vào lương, bước đầu thực hiện tiền
tệ hóa tiền lương Nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã cũng tổng kết, điềuchỉnh cho phù hợp khi thực hiện cơ chế quản lý mới Việc khoán sản phẩm đếnnhóm và người lao động trong hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp theoChỉ thị 100 cũng đã bộc lộ mặt hạn chế khi mức khoán quá cao khiến người laođộng thiếu hăng hái, có nơi xã viên đã trả lại ruộng khoán Chỉ thị số 67 CT/TW
của Ban Bí thư ngày 22-6-1985 đã có sự sửa đổi, điều chỉnh thích hợp "Để khuyến khích mọi người an tâm sản xuất và mạnh dạn đầu tư thêm công sức, vật tư, vốn để vượt khoán, cần ổn định mức khoán"3
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V họp tháng
6-1985 đã tổng kết những bước chuyển biến sôi động trên cả nước về cơ chế quản lýkinh tế bàn chuyên sâu về giá - lương - tiền và đi đến quan điểm: "Xóa bỏ quan
liêu, bao cấp trong giá và lương là yêu cầu hết sức cấp bách, là khâu đột phá có tính quyết định để chuyển hẳn nền kinh tế sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa"1.Phải tính đủ chi phí hợp lý trong giá thành sản phẩm, giá cả bảo đảm bù đắp chi phíthực tế hợp lý, người sản xuất có lợi nhuận thỏa đáng và Nhà nước từng bước có tích
lũy; xóa bỏ tình trạng Nhà nước mua thấp, bán thấp và bù lỗ bất hợp lý Thực hiện cơ chế một giá và quản lý giá Tiền lương thực tế phải thực sự bảo đảm cho người ăn
22 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, t.43, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
Trang 8lương sống chủ yếu bằng tiền lương, tái sản xuất được sức lao động và phù hợp vớikhả năng của nền kinh tế quốc dân Thống nhất chế độ tiền lương, thực hiện phân
phối theo lao động và trả lương bằng tiền Xác lập quyền tự chủ về tài chính của
các ngành kinh tế - kỹ thuật, các địa phương và đơn vị cơ sở gắn liền với sửa đổi
cơ chế kế hoạch hóa và quản lý: chuyển ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinhdoanh xã hội chủ nghĩa Đó là những quan điểm chỉ đạo đúng đắn về đổi mới cơchế quản lý Tuy nhiên, cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền tháng 9-1985 và chỉ
đạo thực hiện Nghị quyết 8 lại phạm một loạt sai lầm, khuyết điểm: sự mất đồng bộ
do xóa bỏ bao cấp không gắn liền với xóa bỏ tập trung quan liêu; bù giá vào lương
lẽ ra cần mở rộng và tổng kết trước khi có chính sách mới; đổi tiền trong thế bịđộng Vì vậy, tình hình kinh tế - xã hội cuối năm 1985 và năm 1986 khủng hoảngtrầm trọng Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (5-1986) đã kiểm điểm và khắc phụcnhững khuyết điểm của chỉ đạo thực hiện nghị quyết Trung ương 8 và cuộc tổngđiều chỉnh giá - lương - tiền cuối năm 1985
Bộ Chính trị trong phiên họp từ ngày 25 đến 30-8-1986 đã kết luận về một
số vấn đề thuộc quan điểm kinh tế: "Những kết luận của Bộ Chính trị ở Hội nghị
lần này mở ra một bước đổi mới rất quan trọng về tư duy kinh tế của Đảng ta"1.Kết luận về cơ cấu kinh tế, Bộ Chính trị nêu rõ: cùng với củng cố kinh tế quốcdoanh và kinh tế tập thể, cần phải: "thừa nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế tiểusản xuất hàng hóa và một bộ phận kinh tế tư bản tư nhân ở mức độ nhất định trongmột thời gian tương đối dài, coi đó là sự cần thiết khách quan để phát triển lựclượng sản xuất, tận dụng các tiềm năng, tạo thêm việc làm cho người lao động"2
Bộ Chính trị cũng kết luận phải điều chỉnh về phương án bố trí cơ cấu kinh tế, cơcấu đầu tư, thật sự lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, thực hiện ba chương trình
11 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, t 47, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006, tr.219.
22 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, t 47, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006, tr.229-230.
Trang 9kinh tế lớn về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Về cơ chếquản lý, Bộ Chính trị khẳng định kiên quyết xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quanliêu, hành chính, bao cấp Những kết luận của Bộ Chính trị (8-1986) là bước chuẩn
bị căn bản để đi đến hoạch định đường lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng
3- Nội dung đường lối đổi mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại Thủ
đô Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986 Đại hội đã tổng kết 10 năm xây dựngchủ nghĩa xã hội trên cả nước và quá trình lãnh đạo cách mạng và nêu lên 4 bài học
chủ yếu trong sự lãnh đạo của Đảng Đại hội đã quyết định đường lối đổi mới với
những nội dung cơ bản, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội với chất lượng và hiệuquả cao hơn
- Phải xác định đúng cơ cấu thành phần kinh tế, đổi mới cơ cấu kinh tế Đại
hội nhấn mạnh phải có chính sách sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế, "coinền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ"1 Cácthành phần kinh tế đó là: kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể) cùng với
bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa(thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cáthể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức mà hìnhthức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phậnđồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác Đại hội VI điềuchỉnh lại vấn đề cải tạo xã hội chủ nghĩa, nhận thức đúng đắn hơn những đặc trưngcủa thời kỳ quá độ và quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất: "Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ: lực lượng sản xuất bịkìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệsản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát
11 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, đã dẫn, t.47, tr.389-390.
Trang 10triển của lực lượng sản xuất"2 Đại hội VI của Đảng cho rằng, trong cải tạo xã hộichủ nghĩa, xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế khác là nóng vội, làm trái quy luật,cần phải sửa lại cho phù hợp.
- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu,
hành chính, bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Đại hội
VI chỉ rõ, cơ chế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp có nhiều hạn chế, khôngtạo được động lực phát triển sản xuất, kìm hãm kinh tế phát triển và sinh ra bộ máyquản lý cồng kềnh, kém năng động Cơ chế cũ gắn liền với tư duy kinh tế dựa trênnhững quan niệm giản đơn, cứng nhắc về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chấtchủ quan duy ý chí; cơ chế quản lý mới dựa trên quan điểm vừa chú trọng tính kếhoạch đồng thời phải sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ Phải xuất phát
từ thị trường, kết hợp kế hoạch với thị trường Mọi hoạt động kinh tế phải tính đếnhiệu quả, phải thực hiện hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế được
quản lý bằng các phương pháp kinh tế là chủ yếu Phải sử dụng đúng đắn các đòn bẩy kinh tế Các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính Tính kế hoạch là đặc trưng số một của cơ chế quản
lý kinh tế ngay từ buổi đầu của thời kỳ quá độ Sự vận dụng đúng đắn quan hệhàng hóa - tiền tệ trong một thị trường thông suốt là đặc trưng thứ hai của cơ chếquản lý kinh tế mà chúng ta đang xây dựng Thực chất của cơ chế mới là cơ chế kếhoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa và phát triểnkinh tế thị trường
- Đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Đại
hội VI nhấn mạnh trong quan niệm, nhận thức và cả hành động phải "Phân biệt rõchức năng quản lý hành chính - kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh"1 Thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội, nghĩa là "quản lý đất nước
22 Đảng Cộng sản Việt Nam.Văn kiện Đảng toàn tập, đã dẫn t 47, tr.390.
11 2 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, đã dẫn, t 47, tr.453, 455.
Trang 11bằng pháp luật chứ không chỉ bằng đạo lý"2 Coi trọng xây dựng hệ thống pháp luật
và hệ thống chính sách làm công cụ để Nhà nước quản lý, điều hành có hiệu lực,hiệu quả Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, bộ máy nhànước có nhiệm vụ thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật,chính sách cụ thể, xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội và cụ thể hóa chiến lược đóthành các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Từ chức năng quản lý của Nhà nước
đã được xác định mà từng bước đổi mới bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, khắcphục tình trạng bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng, nhiều nấc trung gian, khắc phụctình trạng quan liêu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm, nói không đi đôi với làm, ỷ lại,thiếu năng động trong tổ chức và quản lý
- Đổi mới, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Đại hội VI đánh
dấu bước đột phá về tư duy kinh tế đối ngoại, không chỉ tăng cường quan hệ kinh
tế trong khối các nước xã hội chủ nghĩa mà chú trọng mở rộng quan hệ hợp táckinh tế với các nước khác trên thế giới, kể cả các nước tư bản Đại hội VI chủtrương: "Công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dướinhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàngxuất khẩu Đi đôi với việc công bố luật đầu tư, cần có chính sách và biện pháp tạođiều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợp tác kinhdoanh"1 Đại hội VI cho rằng, nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong chặngđường đầu tiên, cũng như sự nghiệp phát triển khoa học - kỹ thuật và công nghiệphóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộc mộtphần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại
- Đổi mới tư duy, nội dung và phong cách lãnh đạo của Đảng Đổi mới tư
duy trên cơ sở nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin, kế thừa tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Trên cơ sở đổi mới
-tư duy lý luận, không ngừng hoàn thiện quan điểm, đường lối đổi mới, kiên định
11 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, t 47, đã dẫn, tr.419.
Trang 12con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng chú trọng giữ vững các nguyên tắc tổchức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường tậpthể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Đổi mới phong cách làm việc, khắc phục bệnhquan liêu, xa rời quần chúng, xa rời thực tế, nói không đi đôi với làm Tổng kếtnhững bài học của quá trình lịch sử cũng là đặt ra những vấn đề phải đổi mới trongnội dung và phong cách lãnh đạo của Đảng Đảng phải luôn luôn nắm vững quanđiểm "lấy dân làm gốc" "Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng vàhành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quyluật là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng"1 Đại hội VI xác định:
"Đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được,phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủnhận đường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại, chính là bổ sung và phát triểnnhững thành tựu ấy"2 Đảng coi trọng nâng cao trình độ nhận thức, trí tuệ của cán
bộ, đảng viên, đồng thời phải rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất chính trị và đạo đứccách mạng
Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành và khẳng
định trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa xã hội, vềnhững đặc trưng và quy luật khách quan đang vận động trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội Những đặc trưng về chính trị, kinh tế, xã hội và các giai đoạnphát triển của thời kỳ quá độ mà Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh đã nêu ra
đã được Đảng nhận thức rõ hơn và vận dụng đúng đắn vào hoàn cảnh thực tiễn củaViệt Nam Điểm nổi bật là nhận thức rõ sự tồn tại khách quan của nhiều thànhphần kinh tế, nhiều chế độ sở hữu, nhiều giai cấp là đặc trưng của cả thời kỳ quáđộ; nhận rõ hơn quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất và các quy luật khách quan khác; nhận thức về thời kỳ quá
độ diễn ra rất lâu dài bao gồm nhiều chặng đường, bước đi cụ thể mà nước ta mới
11 3 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng toàn tập, t 47, đã dẫn, tr.363, 460.