1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận quy hoạch QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Thực trạng nguồn lực và phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện Nho Quan giai đoạn 20212025 tầm nhìn 2030 XÃ HỘI

39 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Nho Quan giai đoạn 2021-2025 tầm nhìn 2030 xã hội
Tác giả Nguyễn Cẩm Vân
Người hướng dẫn Trần Xuân Miễn
Trường học Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Chuyên ngành Quản lý đất đai, Địa chất, Địa lý
Thể loại Tiểu luận quy hoạch
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 778,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1 Thực trạng nguồn lực (5)
    • I.1/ Đánh giá các yếu tố điều kiện nội sinh (6)
    • I.2/ Về dân số dân cư (10)
    • I.3/ Thực trạng phát triển kinh tế (11)
    • I.4/ Đánh giá chung phát triển KTXH huyện Nho Quan (0)
  • PHẦN 2 Phương án quy hoạch (17)
    • 2.1/ Quan điểm và mục tiêu phát triển (17)
    • 2.2/ Phương hướng phát triển các ngành lĩnh vực (21)
    • 2.3/ Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng (27)
    • 2.4 Định hướng phát truển ko gian lãnh thổ (0)
    • 2.5 Định hướng phát triển đô thị (30)
  • PHẦN 3 giải pháp thực hiện (33)
    • 3.1 giải pháp về đầu tư (33)
    • 3.2/ giải pháp huy động vốn đầu tư (34)
    • 3.3/ Giải pháp về nguồn lực (36)
    • 3.4/ giải pháp về khoa học công nghệ môi trường (37)
    • 3.5/ Giải pháp nâng cao năng lực quản lý hành chính (37)
    • 3.6/ Giải pháp hợp tác vs các địa phương (0)
    • 3.7/ Tổ chức chỉ đạo điều hành và thực hiện quy hoạch (37)
  • Phần 4 Liên hệ bản thân (37)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT KHOA TRẮC ĐỊA BẢN ĐỒ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI BÀI TIỂU LUẬN QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI ĐỀ TÀI Thực trạng nguồn lực và phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh. Thực trạng nguồn lực và phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của huyện Nho Quan giai đoạn 20212025 tầm nhìn 2030

Thực trạng nguồn lực

Đánh giá các yếu tố điều kiện nội sinh

Nho Quan nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình khoảng 31km, với tọa độ địa lý từ 22°10'00'' đến 22°27'30'' vĩ độ Bắc và từ 105°32'30'' đến 105°51'20'' kinh độ Đông Diện tích tự nhiên của Nho Quan là 450,53 km², lớn nhất trong các huyện của tỉnh Ninh Bình, chiếm khoảng 32,5% tổng diện tích toàn tỉnh.

+ Phía Bắc giáp tỉnh Hòa Bình;

+ Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Gia Viễn và huyện Hoa Lư;

+ Phía Nam giáp thành phố Tam Điệp;

+ Phía Tây giáp tỉnh Thanh Hóa.

Nho Quan đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhờ vị trí chiến lược là cửa ngõ kết nối các vùng Tây Bắc, đồng bằng Bắc Bộ và khu IV cũ Huyện có hệ thống giao thông đa dạng gồm các tuyến quốc lộ như Quốc lộ 12B dài khoảng 24 km từ cầu Lập Cập đến cầu Vĩnh Khương, Quốc lộ 45 dài 9 km từ ngã ba Rịa tới dốc Giang đi Thanh Hóa, và Quốc lộ 38B từ Ngã ba Anh Trỗi đến QL1A Ngoài ra, các tuyến đường tỉnh như ĐT477, ĐT477C, ĐT478D, ĐT479 cùng hệ thống các xã trong huyện đều có cơ sở hạ tầng giao thông phát triển Địa bàn huyện còn sở hữu mạng lưới sông ngòi phong phú như sông Đập (sông Na), sông Bôi, sông Lạng, sông Rịa, sông Bến Đang và sông Hoàng Long, tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển đường thủy và phát triển các hoạt động kho bãi, đặc biệt phục vụ các mặt hàng như đá xây dựng, xi măng, than, phân bón, góp phần nâng cao năng lực logistics của địa phương.

Huyện Nho Quan là trung tâm vùng đồi núi của tỉnh Ninh Bình, đóng vai trò chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Với vị trí địa lý thuận lợi, huyện là điểm đầu mối giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Ninh Bình và các tỉnh miền núi Tây Bắc, Bắc Trung Bộ Quy mô lớn của huyện cũng góp phần làm nổi bật vai trò là trung tâm kết nối vùng, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của địa phương.

Nho Quan nằm ở trung tâm của hệ thống tự nhiên phía Tây Nam đồng bằng sông Hồng, giáp với đồng bằng sông Mã qua vùng núi Cúc Phương, là khu vực cuối cùng của vùng núi Tây Bắc trong vùng đệm Hòa Bình - Thanh Hóa Địa hình của huyện Nho Quan chủ yếu không bằng phẳng và được chia thành ba vùng rõ rệt, phản ánh đặc điểm tự nhiên đa dạng của khu vực Vị trí địa lý chiến lược của Nho Quan góp phần quan trọng vào vai trò trung chuyển của các hệ thống tự nhiên miền Bắc, miền Trung.

Vùng núi đá vôi chiếm đa số các xã trên địa bàn huyện, tập trung chủ yếu ở phía Tây dọc theo ranh giới giữa Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa, với nhiều núi cao trùng điệp và thung lũng hiểm trở Rừng nguyên sinh Vườn quốc gia Cúc Phương mang lại giá trị lớn về kinh tế và khoa học Ngoài ra, còn có một số núi đá vôi độc lập phân bố rải rác xen kẽ với đất canh tác, tạo tiềm năng phát triển kinh tế đồi rừng, chăn nuôi đại gia súc đặc sản như hươu, dê Các hoạt động du lịch và công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cũng có nhiều triển vọng trong khu vực.

Vùng bán sơn địa bắt đầu từ cửa rừng Cúc Phương đi theo hướng Đông Nam, gồm các giải núi đồi xen kẽ, đa dạng về hình dạng như đồi dài cao với độ dốc đến 45 độ tại các vùng Kỳ Phú, Quảng Lạc, Sơn Hà, Phú Lộc, cũng như đồi lượn sóng thấp ở Quỳnh Lưu Phía tiếp theo, vùng đồi núi bắt đầu từ Rịa chạy theo hướng Bắc đến xã Gia Tường, là vùng đồng bằng cao trước núi, tương đối bằng phẳng nhưng hơi nghiêng về phía Đông, bị chắn ở phía Tây Bắc bởi một dải núi đồi chạy từ Thạch Bình đến Xích Thổ, có hình dạng đồi dài, bát úp, đỉnh tròn và độ dốc thường lớn hơn 30 độ, đây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế theo mô hình VRC quy mô lớn.

Vùng đồng chiêm trũng nằm giữa các khu đồi núi, có địa hình lòng chảo, với độ cao trung bình từ 0,7 đến 0,9 mét so với mực nước biển, thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp như trồng lúa nước và nuôi thủy sản Đây là khu vực dễ bị tác động mạnh trong mùa mưa lũ, gây thiệt hại nặng nề cho mùa màng và đời sống người dân Điều kiện địa hình của huyện đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn mô hình phát triển phù hợp, hướng đến nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm thiểu thiệt hại khi thiên tai xảy ra.

Nho Quan có đặc điểm khí hậu của tiểu vùng đồng bằng Bắc Bộ, gồm khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với lượng mưa nhiều quanh năm Mùa hè tại đây thường nóng và mưa nhiều, trong khi mùa đông khô lạnh, ít mưa Điều này tạo nên một môi trường khí hậu đặc trưng, phù hợp cho phát triển nông nghiệp và các hoạt động sinh sống của cộng đồng địa phương.

Khí hậu thích hợp để trồng nhiều loại cây như cây công nghiệp, cây ăn quả , cây rau màu và chăn thả các loại gia súc như bò , dê ,

Là huyện trung du miền núi, tuy nhiên hệ thống sông hồ của Nho Quan khá phong phú. Toàn huyện có 05 con sông lớn chảy qua:

Sông Bôi bắt nguồn từ Hòa Bình, dài 18,5 km, chảy qua bốn xã của huyện gồm Xích Thổ, Gia Sơn, Gia Thủy và Đức Long Đây là nguồn nước ngọt chính cung cấp cho các xã phía Đông và Đông Bắc của huyện, đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt và phát triển nông nghiệp của địa phương.

Sông Lạng xuất phát từ Hòa Bình và chảy qua Nho Quan, bắt đầu tại xã Thạch Bình trước khi đổ vào sông Hoàng Long tại ngã ba Kênh Gà, dài 12,5 km Đây là con sông lớn, có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước ngọt chủ yếu cho khu vực thị trấn Nho Quan và các xã lân cận.

- Sông Rịa: Bắt nguồn từ khu vực xã Phú Long, đi qua một số xã như Phú Lộc, Sơn Thành, Quỳnh Lưu, Sơn Lai.

Sông Bến Đang bắt nguồn từ sông Rịa tại xã Quỳnh Lưu, chảy qua xã Sơn Hà dài khoảng 8 km Đây là nguồn cung cấp nước chính cho xã Sơn Hà và một phần xã Quỳnh Lưu, đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt và sản xuất của địa phương.

- Sông Đập (Sông Na): Được bắt nguồn từ tỉnh Hòa Bình và đổ vào sông Bôi, cung cấp nước tưới cho xã Gia Tường và xã Gia Lâm.

Huyện có hệ thống khoảng 40 hồ chứa với diện tích gần 590ha, trong đó có các hồ tự nhiên lớn như hồ Đập Trời, hồ Đồng Liềm, hồ Đá Lải, hồ Đồng Chương, hồ Thường Sung, hồ Yên Quang và hồ Trổ Lưới Những hồ này là nguồn tài nguyên quý giá, không chỉ đảm bảo cung cấp nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt của người dân, mà còn mở ra tiềm năng phát triển thủy sản nước ngọt và du lịch nghỉ dưỡng, đặc biệt tại hồ Đồng Chương và hồ Thường Sung Hệ thống hồ chứa còn thuận lợi cho hoạt động giao thông đường thủy, phát triển cảng biển và góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Tổng hợp từ kết quả điều tra lập bản đồ đất tỉnh Ninh Bình năm 1998, thì đất đai huyện Nho Quan có các loại đất chính.

* Nhóm đất phù sa: Diện tích 16.657,13 ha chiếm 36,34% diện tích đất tự nhiên, được hình thành do sự bồi đắp của phù sa sông Hoàng Long, sông Bôi,

Nhóm đất than bùn điển hình (HSf - h) có diện tích 65,92 ha, chủ yếu phân bố tại xã Sơn Lai Loại đất này có thành phần cơ giới thịt nhẹ, tầng đất dày và địa hình tương đối bằng phẳng, phù hợp với các hoạt động nông nghiệp và bảo vệ môi trường.

Nhóm đất đen kết von nông (LV - fel) có diện tích 3.345,28 ha, tập trung chủ yếu tại các xã Thạch Bình, Cúc Phương, Kỳ Phú, Sơn Lai Loại đất này hiện đang được sử dụng để trồng 1 đến 2 vụ lúa mỗi năm, góp phần quan trọng vào sản xuất nông nghiệp của địa phương.

Nhóm đất tầng mỏng trung tính ít chua (Lpe - h) có diện tích 335,38 ha, chủ yếu trồng các loại cây màu và cây công nghiệp hàng năm Các khu vực chính phân bố chủ yếu tại các xã Thạch Bình, Kỳ Phú, Phú Long và Sơn Hà, nơi phù hợp với đặc điểm đất để phát triển các hoạt động nông nghiệp bền vững và hiệu quả.

Về dân số dân cư

1 Đặc điểm về dân số, dân cư

Theo niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2020, dân số Nho Quan đạt 152.577 người, đứng sau Kim Sơn về quy mô dân số Mật độ dân cư trung bình là 333 người/km², thấp nhất trong toàn tỉnh, phản ánh đặc điểm phân bố dân cư của địa phương Tỷ lệ sinh của Nho Quan là 15,65‰, trong khi tỷ lệ chết là 5,82‰, góp phần vào tỷ lệ tăng tự nhiên đạt 9,83‰, cho thấy sự phát triển dân số ổn định của khu vực.

Dân số khu vực thành thị chiếm tỷ lệ rất thấp, khoảng 6% trên tổng dân số của toàn huyện, cho thấy mức độ đô thị hóa diễn ra chậm Tốc độ đô thị hóa hàng năm chỉ đạt khoảng 5,0%, phản ánh quá trình phát triển đô thị còn nhiều hạn chế và cần được thúc đẩy để nâng cao năng lực phát triển kinh tế, xã hội địa phương.

Tỷ lệ giới tính nam/nữ khá cân bằng.

Trong năm 2020, tỷ lệ lao động đang làm việc của huyện chiếm khoảng 64,65% tổng dân số, thể hiện sự đóng góp lớn của lực lượng lao động địa phương vào nền kinh tế Phần lớn lao động tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp, với tỷ lệ lên đến 68,32% vào năm 2016, cho thấy đặc thù của cơ cấu lao động chủ yếu dựa vào ngành nông nghiệp truyền thống Việc này nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển kinh tế nông nghiệp và giảm tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực này để thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế bền vững.

Nguồn lao động của Nho Quan vẫn còn hạn chế về mặt chất lượng, chủ yếu chưa qua đào tạo hoặc chỉ đào tạo ngắn hạn Một phần nhỏ lao động đã qua đào tạo tập trung vào đội ngũ công chức cấp xã, huyện và viên chức các ngành giáo dục, y tế Trong năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 38%, cho thấy còn nhiều dư địa để nâng cao trình độ và chất lượng nguồn nhân lực địa phương.

Thực trạng phát triển kinh tế

Trong giai đoạn 2017-2021, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của huyện Nho Quan đạt 9,45%, thể hiện sự phát triển kinh tế ổn định và bền vững Tính đến hết năm 2021, tổng giá trị sản xuất (GTSX) theo giá so sánh 2016 đạt khoảng 5.689 tỷ đồng, phản ánh hiệu quả nỗ lực của địa phương trong các lĩnh vực kinh tế.

Ngành nông nghiệp và thủy sản: Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2017-2021

2,46%/năm Năm 2020 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 1.586 tỷ đồng, giảm so với năm

2016 là 5,4% do đợt lũ lịch sử tháng 10 Giá trị sản xuất ngành chiếm tỷ trọng 29,49% năm 2017.

Ngành công nghiệp – xây dựng: Năm 2020 ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong

Ngành công nghiệp – xây dựng góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế, với tỷ trọng chiếm đến 61,78% trong tổng tăng trưởng Bên cạnh tốc độ tăng trưởng cao, ngành này còn đóng vai trò là động lực chính thúc đẩy sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế quốc gia.

Trong năm 2020, ngành thương mại - dịch vụ ghi nhận giá trị sản xuất đạt 2.083 tỷ đồng, cao nhất trong 3 ngành với tỷ trọng 38,09% Ngành thương mại - dịch vụ có tốc độ tăng trưởng đứng thứ hai trong các lĩnh vực kinh tế, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế tổng thể của địa phương.

Tốc độ tăng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc doanh (KTQD) trung bình hàng năm từ 2017 đến 2021 đạt 1,3% Năm 2020, số lượng lao động được giải quyết việc làm mới là 2.800 người, tăng 3,1% so với năm trước, cho thấy xu hướng tạo việc làm có những chuyển biến tích cực và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế.

Thực trạng phát triển ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản

Giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản có sự gia tăng không cao trong giai đoạn 2017 -

2021, tăng từ 1.880.800 triệu đồng năm 2017 lên 2.071.466 triệu đồng năm 2021 Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ chỉ ở mức đạt 1,95%/năm.

Trong giai đoạn 2017-2021, ngành nông nghiệp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân ước đạt 1,95% mỗi năm, với tỷ trọng trồng trọt và chăn nuôi gần như không biến động, lần lượt là 63,58% và 36,42% năm 2017, và 62,98% và 37,02% năm 2021, thể hiện sự chuyển biến nhẹ về tỷ trọng chăn nuôi Diện tích gieo trồng đạt khoảng 26.700ha vào năm 2017, sản lượng lương thực có hạt quanh mức trên 80.000 tấn, vượt xa nhu cầu bảo đảm an ninh lương thực của quốc gia là 40.000 tấn, với giá trị trung bình đạt 90,12 triệu đồng/ha canh tác Chính sách tích tụ ruộng đất bắt đầu được thực hiện, thúc đẩy sản xuất theo mô hình canh tác tập trung và xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ các sản phẩm như cây dược liệu, rau, củ, quả Các diện tích lúa trong những năm gần đây duy trì trên 12.000ha, đạt năng suất cao với trên 60 tạ/ha cho vụ đông xuân và trên 40 tạ/ha cho vụ hè thu.

Diện tích (ha) Sản lượng (Tấn)

Diện tích sản lượng 1 số loại cây trồng chính trên địa bàn

Chăn nuôi – thủy sản đã chuyển đổi các loại đất nông nghiệp kém hiệu quả sang mô hình trang trại, gia trại nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế địa phương Người dân đã chuyển đổi phương thức chăn nuôi từ truyền thống sang bán công nghiệp và công nghiệp, tập trung phát triển các con nuôi có lợi thế như trâu, bò, dê và con nuôi có giá trị cao như hươu, nai, ong, lợn bản địa, đồng thời phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng hàng hóa như vịt siêu trứng và gà thả đồi Các mô hình trang trại, gia trại không ngừng mở rộng về quy mô và hình thức tổ chức sản xuất, giúp nâng cao doanh thu; hiện địa phương có hơn 50 trang trại và 186 gia trại, thu hút nhiều lao động nông thôn, tiêu biểu như trang trại trồng cây ăn quả xã Phú Long, nuôi chim bồ câu nhốt chuồng xã Lạng Phong, gà thả vườn, trồng cây ăn quả xã Đồng Phong, lúa cá xã Phú Lộc và nuôi gà Đông Tảo xã Gia Lâm Nhiều dự án về chăn nuôi đã được UBND tỉnh quyết định đầu tư và hoạt động hiệu quả, đóng góp vào ngân sách địa phương, như dự án xây dựng trang trại lợn giống và lợn thịt tại xã Xích Thổ của Công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi Trung ương, cùng dự án chăn nuôi bò thịt chất lượng cao của Công ty cổ phần giống bò thịt, sữa Yên Phú Diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn hiện đạt hơn 3.200ha, ngày càng tăng nhờ chuyển đổi từ cấy lúa kém hiệu quả sang mô hình lúa – cá, góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho lĩnh vực thủy sản.

Sản lượng 1 số loại hàng hóa thủy sản chủ yếu

Ngành xây dựng trên địa bàn huyện đã có sự phát triển mạnh mẽ nhờ hoạt động xây dựng gia tăng đáng kể Các xã thuộc Chương trình 135 và các thôn, bản đặc biệt khó khăn đều được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hàng năm, góp phần nâng cao đời sống nhân dân Việc tập trung thu hút đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư đã thúc đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình hạ tầng, cơ sở sản xuất, dịch vụ thương mại, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của huyện Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 9,07%, tạo nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.

Các ngành công nghiệp chế biến như sản xuất vật liệu xây dựng là thế mạnh nhờ nguồn nguyên liệu phong phú Ngoài ra, các lĩnh vực chế biến thực phẩm, gỗ, sản xuất đồ uống, da giày, dệt may cũng có lợi thế về nhân công và nguyên liệu, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế địa phương.

Ngành công nghiệp khai thác chủ yếu cung cấp các sản phẩm như đá vật liệu xây dựng, nước khoáng và khoáng sản khác, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Tuy nhiên, sự phát triển của ngành này có thể gây ra xung đột với ngành dịch vụ du lịch do ô nhiễm môi trường và phá vỡ cảnh quan tự nhiên Do đó, việc bố trí quy hoạch hợp lý trong những năm tới cần chú trọng đến bảo vệ môi trường và cảnh quan tự nhiên để đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển công nghiệp và du lịch bền vững.

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu

I.4/ Đánh giá chung phát triển kinh tế xã hội huyện Nho Quan Điểm mạnh

Huyện có lợi thế phát triển du lịch nhờ nhiều điểm đến nổi bật như Vườn quốc gia Cúc Phương, nước khoáng Cúc Phương, tuyến du lịch Bái Đính – Cúc Phương và khu Kênh Gà - Vân Trình trong khu không gian du lịch Vân Long - Kênh Gà - Vân Trình, đã trở thành thương hiệu được du khách trong và ngoài nước biết đến Đồng thời, huyện đang triển khai xây dựng 04 cụm công nghiệp, tạo cơ hội việc làm cho người lao động địa phương, thúc đẩy phát triển công nghiệp và ngành dịch vụ.

Hệ thống sông hồ dày đặc, có quy mô lớn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển vận tải thủy nội địa Các hệ thống này thúc đẩy việc xây dựng hệ thống cảng, bến hàng hóa và bến hành khách, góp phần nâng cao hiệu quả giao thương và vận chuyển hàng hóa trong nội địa.

Hệ thống hạ tầng giao thông tại huyện được xây dựng khá hoàn chỉnh về mặt hướng tuyến nhờ vào sự đầu tư tập trung từ tỉnh và Trung ương, tạo lợi thế lớn trong việc hình thành đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật.

Huyện có lịch sử phát triển lâu đời và truyền thống cách mạng vững chắc, cùng với quy mô diện tích rộng lớn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững Với tiềm năng phát triển kinh tế vùng đồi, đặc biệt là các lĩnh vực cây công nghiệp và chăn nuôi quy mô lớn, huyện đóng vai trò chiến lược quan trọng đối với tỉnh trong cả thời bình lẫn thời chiến Tuy nhiên, huyện vẫn còn gặp một số điểm yếu cần được khắc phục để thúc đẩy sự phát triển toàn diện.

Mặc dù nền kinh tế đã đạt được sự phát triển đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều bất cập như mất cân đối trong cân đối vốn đầu tư, chênh lệch giữa nhu cầu và tiềm năng tài nguyên, thừa lao động nhưng thiếu lao động kỹ thuật cao, và thiếu hụt thông tin Đây là những hạn chế cần phải khắc phục lâu dài và từng bước để đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Hệ thống hạ tầng của huyện đã được đầu tư nhưng còn chưa đồng bộ, làm hạn chế khả năng phát triển toàn diện của địa phương Trong đó, hạ tầng phục vụ các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch dịch vụ mới bắt đầu nhận được sự quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đủ các yêu cầu của nhà đầu tư Đầu tư vào hạ tầng đồng bộ là yếu tố then chốt để thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của huyện trên thị trường.

Trong công nghiệp, chi phí sản xuất vẫn còn cao, TTCN phát triển chậm, hàm lượng công nghệ trong các sản phẩm chế tác thấp.

Đánh giá chung phát triển KTXH huyện Nho Quan

Nho Quan gặp khó khăn trong phát triển công nghiệp tập trung do thiếu lợi thế so sánh, khi nhiều khu vực đã bị loại khỏi quy hoạch vì không thu hút được đầu tư Điều này đặt ra thách thức lớn cho huyện trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế địa phương.

Phương án quy hoạch

Quan điểm và mục tiêu phát triển

Huyện tập trung phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Đồng thời, huy động mọi nguồn lực và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của địa phương.

Phát triển kinh tế nhanh chóng nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các địa phương trong tỉnh, đồng thời kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội Việc này góp phần xoá đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân, cùng giảm dần sự chênh lệch giữa các vùng trong huyện.

Giải quyết việc làm cần đi đôi với nâng cao năng suất lao động và mở rộng quy mô sản xuất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời cần chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nhằm đảm bảo phát triển bền vững Mục tiêu phát triển hướng tới tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới, nâng cao chất lượng người lao động và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của nền kinh tế đất nước.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

- Về cơ cấu kinh tế: Đảm bảo Nho Quan có một cơ cấu kinh tế hợp lý trong đó:

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Dòng vốn đầu tư vào mở rộng sản xuất kinh doanh trong các ngành dịch vụ và công nghiệp tăng nhanh, thúc đẩy tăng trưởng việc làm cho lao động trong những lĩnh vực này Điều này dẫn đến tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ lao động tham gia hoạt động kinh tế, và tỷ lệ lao động trong khu vực phi nông nghiệp đều tăng lên Trong giai đoạn 2021-2025, dự kiến tốc độ tăng lao động phi nông nghiệp sẽ đạt 1,46%, với cơ cấu lao động trong lĩnh vực này chiếm khoảng 64,0% Ngoài ra, tỷ lệ lao động qua đào tạo dự kiến sẽ đạt 40,5%, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm là 0,10% Tăng mức độ đô thị hoá lên 10,9% vào năm 2025.

Lao động làm việc trong nền kinh tế đến năm 2025 khoảng 88.600 lao động Đảm bảo khoảng 80% lao động trong độ tuổi có việc làm vào năm 2025

Huyện đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bền vững với mức độ giảm trung bình hàng năm là 1,7% Đồng thời, huyện hướng tới việc giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống dưới mức 13,0% vào năm 2025, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của cộng đồng.

Để nâng cao chất lượng giáo dục, chúng tôi sẽ duy trì và nâng cao phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2, và củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở Đến năm 2020, dự kiến huy động 60% trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và 99% trẻ trong độ tuổi mẫu giáo đến trường, đồng thời duy trì huy động 100% trẻ 5 tuổi đến lớp Về y tế, mục tiêu đến năm 2025 là có khoảng 15,5 giường bệnh và 8,0 bác sĩ trên 10.000 dân, cùng với nâng cấp các cơ sở khám chữa bệnh Hệ thống hạ tầng cũng được cải thiện đáng kể, bao gồm hệ thống thủy lợi, giao thông, lưới điện, và cấp nước sạch Đến năm 2025, đảm bảo 100% số hộ sử dụng điện và trên 95% hộ gia đình được cung cấp nước sạch hợp vệ sinh.

Giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030

TT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2025 2030

1 Tốc độ tăng giá trị gia tăng bình quân hàng năm

Giá trị gia tăng bình quân đầu người/ năm

3 Thu ngân sách Tỷ đồng 1.159 1.360

4 Tỷ trọng GTSX giữa ngành phi nông nghiệp và

TT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2025 2030 nông nghiệp

Tốc độ tăng lao động khu vực phi nông nghiệp

6 Cơ cấu lao động phi nông nghiệp % 62,1 70

7 Tỷ lệ lao động qua đào tạo % 60,0 64

Tốc độ tăng trung bình năm của NSLĐ (tính theo GTGT-giá cố định)

NSLĐ bình quân/năm (giá

Tổng nhu cầu đầu tư cuối kỳ

-Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm

-Tăng mức đô thị hóa

12 Lao động làm việc Người 92.700 95.500

TT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2025 2030

14 Tỷ lệ trẻ

Ngày đăng: 04/03/2023, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w