1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp mở rộng hoạt động huy động vốn tại Cty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18

55 514 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp mở rộng hoạt động huy động vốn tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18
Tác giả Đào Hải Lĩnh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 291,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo kinh tế thương mại: Giải pháp mở rộng hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 3

1.1 Nguồn vốn của doanh nghiệp 3

1.1.1 Khái niệm về vốn 3

1.1.2 Phân loại vốn 4

1.1.2.1 Phân loại vốn theo nguồn hình thành 4

1.1.2.2: Phân loại vốn theo hình thức chu chuyển 7

1.2.Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp 11

1.2.1 Sự cần thiết của hoạt động huy động vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp 11

1.2.2 Cơ cấu vốn và các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp 13

1.2.2.1 Vai trò của VCSH và các phương thức huy động VCSH 13

1.2.2.2.Vai trò của nợ và các phương thức huy động nợ 17

1.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp 23

1.3.1 Yếu tố chủ quan 23

1.3.2 Yếu tố khách quan 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 18 26

2.1 Tổng quan về công ty LICOGI 18 26

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty LICOGI 18 26

2.1.2 Đặc điểm chức năng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty 26

2.1.3 Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty 27

2.1.3.1 Mô hình quản lý công ty 27

2.1.3.2 Tổ chức phân công trong quản lý 29

2.1.3.3 Tổ chức công tác kế toán tài chính công ty 31

2.2 Thực trạng hoạt động huy động vốn tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18 32

2.2.1 Đặc điểm nguồn vốn của công ty 32

2.2.2 Thực trạng công tác huy động vốn của công ty 33

2.2.2.1 Huy động vốn chủ sở hữu 33

2.2.2.2.Huy động nợ 35

Trang 2

2.2.3.Đánh giá hoạt động huy động vốn tại công ty 36

2.2.3.1.Kết quả 36

2.2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 37

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 18 39

3.1 Nhu cầu vốn của công ty 39

3.1.1 Kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2010-2012 39

3.1.2 Nhu cầu vốn và kế hoạch huy động vốn của công ty 41

3.2 Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động huy động vốn tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18 41

3.2.1 Khai thác tối đa vốn chủ sở hữu 41

3.2.1.1 Xây dựng phương án bổ xung lợi nhuận vào vốn 41

3.2.1.2 Đẩy mạnh hoạt động tăng vốn bằng pháp hành cổ phiếu 42

3.2.2 Tăng cường huy động vốn nợ từ các thành phần kinh tế 42

3.2.2.1 Duy trì và mở rộng nguồn vốn tín dụng ngân hàng ngày một phù hợp 42

3.2.2.2 Tăng cường tín dụng thương mại 43

3.2.2.3.Phát hành trái phiếu công ty 43

3.3 Một số kiến nghị 44

3.3.1 Kiến nghị với các tổ chức tín dụng 44

3.3.2 Kiến nghị với cơ quan quản lý cấp trên 44

3.3.3 Kiến nghị với các cổ đông 45

KẾT LUẬN 46

PHỤ LỤC 47

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂUBảng 1:Tình hình nguồn vốn của công ty 32Bảng 2: Bảng tổng hợp số liệu cổ đông và cơ cấu vốn góp tính đến thời điểm

chốt danh sách ngày 25/02/2010 34Bảng 3: Lợi nhuận sau thuế và lợi nhuận trước thuế 35Bảng 4: Bảng cân đối kế toán công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18 47Bảng 5: Kết quả hoạt động SXKD công ty cổ phân đầu tư và xây dựng số 18

qua một số năm 49Bảng 6: Các chỉ tiêu báo cáo tài chính phản ánh kết quả hoạt động của công ty

50

Trang 5

và cũng như tăng thêm sức cạnh tranh của doanh nghiêp trên thị trường đó là vốn.Mặt khác, để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đều phải tìmmọi cách để tăng cường nguồn vốn, do vậy nguồn vốn và nhu cầu về nguồn vốn đốivới các doanh nghiệp càng trở nên quan trọng.

Xuất phát từ thực tế và những vấn đề bức xúc đã đặt ra trên đây và mongmuốn tìm hiểu, làm sáng tỏ vấn đề này, tôi đã chọn đề tài:

“GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG SỐ 18”

Làm đề tài cho luận văn tốt nghệp của mình với hy vọng góp một phần nhỏ

bé vào việc phân tích, thảo luận và rút ra một số giải pháp, kiến nghị và phươnghướng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần đầu tư

và xây dựng số 18

Kết cấu của đề tài này bao gồm 3 chương:

Chương 1:Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn của công ty cổ phần đầu tư

Trang 6

Trần Tất Thành và các thầy cô trong khoa, cùng với sự giúp đỡ và tạo điều kiệnthuận lợi của các cô chú phòng kế toán của công ty nơi tôi thực tập Tuy nhiên,trong khuân khổ luận chuyên đề thực tập tôt nghiệp, với thời gian hạn hẹp và nhiềumặt hạn chế nên những vấn đề nghiên cứu trong khuân khổ này không thể tráchkhỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét của các thầy cô giáo

và bạn về vấn đề này

Trang 7

CHƯƠNG 1 CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Nguồn vốn của doanh nghiệp

Để tiến hành và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh thì đều cần có vốn.Vậy vốn là gì? Tại sao nó lại có vai trò quan trọng như thế đối với bất kỳ doanhnghiệp nào Với tầm quan trọng như vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu cần phải bắtđầu từ việc làm rõ khái niệm cơ bản vốn và vai trò của vốn đối với doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về vốn

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được hiểu và quan niệm là toàn

bộ những giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình tiếp theo của doanh nghiệp

Khái niệm này không những chỉ ra vốn là một yếu tố đầu vào quan trọng đốivới các doanh nghiệp sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn trong doanhnghiệp, trong cả quá trình sản xuất kinh doanh liên tục và trong suốt thời gian tồntại của doanh nghiệp

Như vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Cóvốn các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm các trang thiết

bị hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai Vậy yêu cầu đặt ra đối với cácdoanh nghiệp là không những dựa vào nguồn vốn đã có, doanh nghiệp cần phảinâng cao hoạt động huy động vốn có hiệu quả nhằm bảo toàn và phát triển vốn, đảmbảo cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển và vững mạnh

Các đặc trưng cơ bản của vốn

- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định Có nghĩa là vốn phảiđược biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp

- Vốn phải vận động và sinh lời, đạt được mục tiêu trong kinh doanh

- Vốn phải được tích tụ và tập trung một lượng nhất định thì mới có khả năngphát huy tác dụng khi đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực kinhdoanh

- Vốn có giá trị về mặt thời gian Điều này có thể có vai trò quan trọng khi bỏvốn vào đầu tư và tính hiệu quả khi sử dụng đồng vốn

- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, vốn sẽ không được đưa ra đểđầu tư khi mà người chủ của nó nghĩ về một sự đầu tư không có lợi nhuận

- Vốn được quan niệm như một thứ hàng hoá và có thể được coi là thứ hàng

Trang 8

hoá đặc biệt vì nó có khả năng được mua bán quyền sở hữu trên thị trường vốn, trênthị trường tài chính.

- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền hay các giá trị hiện vật, tài sản cố địnhcủa doanh nghiệp( máy móc, trang thiết bị vật tư dùng cho hoạt động quản lý ),

mà vốn còn được biểu hiện qua các tài sản hữu hình (các bí quyết trong kinh doanh,các phát minh sáng chế, )

1.1.2 Phân loại vốn

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều có một phươngthức và hình thức kinh doanh khác nhau Nhưng mục tiêu của họ vẫn là tạo ra đượclợi nhuận tối đa cho chủ sở hữu Nhưng điều đó chỉ đạt được khi nguồn vốn củadoanh nghiêp luôn dồi dào được quản lý và sử dụng một cách hợp lý

Vốn được phân ra và sử dụng tuỳ thuộc vào mục đích và loại hình doanhnghiệp

1.1.2.1 Phân loại vốn theo nguồn hình thành

1.1.2.1.1 Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn liêndoanh, liên kết và thông qua đó doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Dovậy vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ

* Vốn pháp định

Vốn pháp định là số vốn tối thiểu mà doanh nghiệp phải có khi muốn hìnhthành doanh nghiệp và số vốn này được nhà nước quy định tuỳ thuộc vào từng loạihình kinh doanh can doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp Nhà Nước, số vốn nàyđược ngân sách nhà nước cấp

*Vốn tự bổ xung

Thực chất loại vốn này là số lợi nhuận chưa phân phối (lợi nhuận lưu trữ) vàcác khoản trích hàng năm của doanh nghiệp như các quỹ xí nghiệp (Quỹ phúc lợi,quỹ đầu tư phát triển )

*Vốn chủ sở hữu khác

Đây là loại vốn mà số lượng của nó luôn có sự thay đổi bởi vì do đánh giá lạitài sản, do chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, do được ngân sách cấp kinh phí, do các đơn vịthành viên nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng cơ bản

1.1.2.1.2 Vốn huy động của doanh nghiệp

Ngoài các hình thức vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp còn một loại vốn màvai trò của nó khá quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường đó là vốn huy

Trang 9

động Để đạt được số vốn cần thiết cho một dự án, công trình hay một nhu cầu thiếtyếu của doanh nghiệp mà đòi hỏi trong một thời gian ngắn nhất trong khi đó doanhnghiệp lại không đủ số vốn cần thiết đó thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự liêndoanh liên kết, phát hành trái phiếu hay huy động các nguồn vốn khác dưới hìnhthức vay nợ hay các hình thức khác.

-Vốn vay trên thị trường chứng khoán Tại các nền kinh tế có thị trườngchứng khoán phát triển, vay vốn trên thị trường chứng khoán là một hình thức huyđộng vốn rất có lợi cho doanh nghiệp Thông qua hình thức này thì doanh nghiệp cóthể phát hành trái phiếu, đây là một hình thức quan trọng để sử dụng vào mục đíchvay dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việcphát hành trái phiếu giúp cho doanh nghiệp có thể huy động số vốn nhàn rỗi trong

xã hội để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

* Vốn liên doanh liên kết

Doanh nghiệp có thể kinh doanh liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp khácnhằm huy động và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là hình thức huyđộng vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, liên kết gắn liền vớiviệc chuyển giao công nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi mới sản phẩm,tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm điều này cũng có nghĩa là uy tín của công ty

sẽ được thị trường chấp nhận Doanh nghiệp cũng có thể tiếp nhận máy móc và thiết

bị nếu như trong hợp đồng liên doanh chấp nhận việc góp vốn bằng hình thức này

* Vốn tín dụng thương mại

Tín dụng thương mại là khoản mua chịu từ người cung cấp hoặc ứng trướccủa khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng Tín dụng thương mại luôngắn với một lượng hàng hoá cụ thể, gắn với một hệ thống thanh toán cụ thể nên nóchịu tác động của hệ thống thanh toán, cuả chính sách tín dụng khác hàng mà doanhnghiệp được hưởng Đây là một phương thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt trong kinhdoanh và nó còn tạo khả năng mở rộng cơ hội hợp tác làm ăn của doanh nghiệp

Trang 10

trong tương lai Tuy nhiên khoản tín dụng thương mại thường có thời hạn ngắnnhưng nếu doanh nghiệp biết quản lý một cách có hiệu quả thì nó sẽ góp phần rấtlớn vào nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

* Vốn tín dụng thuê mua

Trong hoạt động kinh doanh, tín dụng thuê mua là một phương thức giúp chocác doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động sảnxuất kinh doanh của mình Đây là phương thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê giữangười cho thuê và doanh nghiệp Người thuê sử dụng tài sản và phải trả tiền thuêcho người thuê theo thời hạn mà hai bên đã thoả thuận, người cho thuê là người sởhữu tài sản

Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành vàthuê tài chính

+)Hình thức này hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động có tính chấtthời vụ và nó đem lại cho bên thuê lợi thế là không phải phản ánh loại tài sản nàyvào sổ sách kế toán

-Thuê tài chính

Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng thưong mại trung hạn vàdài hạn theo hợp đồng Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản,thiết bị mà người cần thuê và đã thương lượng từ truớc các điều kiện mua tài sản từngười cho thuê và đã thương lượng từ trước các điều kiện mua tài sản từ người chothuê Thuê tài chính có hai đặc trưng sau:

+)Thời hạn thuê tài sản của bên phải chiếm phần lớn hữu ích của tài sản vàhiện giá thuần của toàn bộ của các khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp những chi phímua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng

+)Ngoài khoản tiền thuê tài sản phải trả cho bên thuê, các loại chi phí bảodưỡng vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản, cũng như các rủi ro khác đối với tài sản

Trang 11

do bên thuê phải chịu cũng tương tự như tài sản của Công ty.

Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là tiền đề để chodoanh nghiệp có thể lựa chọn và sử dụng hợp lý nguồn tài trợ tuỳ theo loại hình sởhữu, nghành nghề kinh doanh, quy mô trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuậtcũng như chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh nghiệp Bên cạnh đó,việc quản lý vốn ở các doanh nghiệp trọng tâm cần đề cập đến là họat động luânchuyển vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thức khác nhau của tài sản và hiệuquả vay vòng vốn Vốn cần được nhìn nhận và xem xét dưới trạng thái động vớiquan điểm hiệu quả

1.1.2.2: Phân loại vốn theo hình thức chu chuyển

1.1.2.2.1: Vốn cố định

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của nguồn vốn cố địnhđược gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định Vì vậy, việcnghiên cứu về nguồn vốn cố định trước hết phải dựa trên cơ sở tìm hiểu về tài sản

cố định

* Tài sản cố định

Căn cứ vào tính chất và tác dụng trong khi tham gia vào quá trình sản xuất,

tư liệu sản xuất được chia thành hai bộ phận là đối tượng lao động và tư liệu laođộng Đặc điểm cơ bản của tư liệu lao động là chúng có thể tham gia một cách trựctiếp hoặc gián tiếp vào chu kỳ sản xuất Trong quá trình đó, mặc dù tư liệu lao độngsản xuất có thể bị hao mòn nhưng chúng vẫn giữ nguyên hình thái vất chất ban đầu

Tư liệu sản xuất chỉ có thể được đem ra thay thế hay sửa chữa lớn, thay thế khi màchúng bị hư hỏng hoàn toàn hoặc chúng không còn mang lại giá trị kinh tế chodoanh nghiệp

Tài sản cố định phải là những vật phẩm thuộc quyền sở hữu của doanhnghiệp, trong một quan hệ sản xuất nhất định Bản thân tính sử dụng lâu dài và chiphí cao vẫn chưa có thể là căn cứ duy nhất để xác định tài sản cố định nếu nó khônggắn liền với một quyền sở hữu thuộc về một doanh nghiệp, một cơ quan, hợp tácxã

Theo quy định hiện hành thì những tư liệu lao động nào đảm bảo đáp ứng đủhai điều kiện sau thì sẽ được coi là tài sản cố định:

+ Giá trị của chúng >= 10.000.000 đồng

+ Thời gian sử dụng >= 1 năm

Để tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý tài sản cố định cũng như vốn

Trang 12

cố định và nâng cao hiệu quả sử dụng chúng thì cần có các phương án tuyển chọn

và phân loại chúng:

* Phân loại tài sản cố định là việc chia tổng số tài sản cố định ra từng nhóm,

bộ phận khác nhau dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau:

- Tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh: loại này bao gồmtài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình:

- Tài sản cố định hữu hình: Là những tư liệu được biểu hiện bằng hình tháivất chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật kiếntrúc Những tài sản cố định này có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc

là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản có liên kết với nhau để thực hiện mộthay một số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh Nhằm mộtmục tiêu quan trọng nhất là đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp

- Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vậtchất nhưng xác định giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong hoạt độngsản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc là cho các đối tượng khác thuê phù hợpvới tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô hình ví dụ như: chi phí thành lập doanhnghiệp, chi phí về sử dụng đất, chi phí thu mua bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệuthương mại

+ Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốcphòng

+ Tài sản cố định mà doanh nghiệp bảo quản và cất giữ hộ Nhà nước

Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được vị trí quan trọng của tàisản cố định dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua đó doanh nghiệpđưa ra những chính sách hợp lý nhằm đầu tư vào tài sản một cách hợp lý

Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp mà chúngđược chia ra thành:

- Tài sản cố định đang sử dụng

- Tài sản cố định chưa cần dùng

- Tài sản cố định không cần dùng chờ thanh lý

Cách phân loại này phần nào giúp cho doanh nghiệp có thể hiểu và kiểm soát

dễ dàng các tài sản cuả mình

* Vốn cố định của doanh nghiệp

Việc đầu tư thành lập một doanh nghiệp bao gồm nhiều yếu tố cấu thànhnhư: xây dựng nhà phân xưởng, nhà làm việc và nhà quản lý, lắp đặt hệ thống máy

Trang 13

móc thiết bị chế tạo sản phẩm Doanh nghiệp chỉ có thể đưa vào hoạt động sản xuấtkinh doanh khi mà nó đã hoàn thành các công đoạn trên Thì lúc này vốn đầu tư đãđược chuyển sang vốn cố định của doanh nghiệp.

Như vậy, vốn đầu tư của doanh nghiệp là một bộ phận vốn đầu tư ứng trướccủa tài sản của doanh nghiệp, đặc điểm của nó được luân chuyển từng phần trongnhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và một vòng tuần hoàn của tàisản cố định chỉ kết thúc khi mà nó hết thời hạn sử dụng đồng thời nó sẽ mang lạimột phần lợi nhuận nhất định cho doanh nghiệp Việc đầu tư để mang lại lợi nhuậncho doanh nghiệp phần nào phụ thuộc vào quyết định đầu tư của doanh nghiệp,đồng nó cũng mang lại một thế mạnh cho sản phẩm của doanh nghiệp trên thịtrường

1.1.2.2.2 Vốn lưu động

* Tài sản lưu động

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn lưu động và cố định luôn songhành trong cả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên tài sảnlưu động nằm rải rác trong các khâu thuộc quá trình sản xuất kinh doanh Đối vớicác doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì tài sản lưu động thường chiếm một tỷ lệkhá cao thường chiếm khoảng 50% - 60% tổng tài sản của doanh nghiệp

Tài sản lưu động khi tham gia quá trình hoạt động sản xuất kinh doanhthường là không giữ được giá trị hình thái vật chất ban đầu Là bộ chủ thể tham giahoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua quá trình sản xuất tạo thành thực thểcủa sản phẩm, bộ phận khác cùng tham gia trong quá trình này bị biến đổi hay haophí theo thực thể được hình thành Đối tượng lao động chỉ tham gia vào một quátrình, chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do đó toàn bộ giá trị của chúngđược chuyển một lần vào sản phẩm và được thực hiện khi sản phẩm trở hành hànghoá

Đối tượng lao động trong các doanh nghiệp được chia thanh hai phần:

- Bộ phận hàng dự trữ: Đây là loại hàng dự trữ đảm bảo cho quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh nghiệp không bị gián đoạn

- Bộ phận vật tư đang trong quá trình chuyển đến cho quá trình chế biến; bánthành phẩm, sản phẩm dở dang, vật tư, nguyên vật liệu khác Chúng tạo thành cáctài sản lưu động nằm trong các khâu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Bên cạnh tài sản cố định nằm trong khâu sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp thì còn có một số loại tài sản khác được sử dụng trong một số khâu khác

Trang 14

trong cả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: khâu lưu thông, cáckhoản hàng gửi bán, các khoản phải thu Do vậy, trước khi tiến hành sản xuất kinhdoanh các doanh nghiệp bao giờ cũng để ra một khoản tiền nhất định dùng cho cáctrường hợp này, số tiền ứng trước cho tài sản người ta gọi là vốn lưu động củadoanh nghiệp.

*Vốn lưu động

Có rất nhiều hình thái mà vốn lưu động có thể chuyển đổi như:

T-H-T/,H-T-H/ Tức là nó được chuyển hoá từ tiền sang hàng hoá sau đó nótrở về trạng thái ban đầu sau khi đã phát triển được một vòng tuần hoàn và qua đó

nó sẽ mang lại cho doanh nghiệp số lãi hay không có lời thì điều này còn phụ thuộcvào sự quyết đoán trong kinh doanh của chủ doanh nghiệp.Vậy thì, vốn của doanhnghiệp có thể hiểu là số tiền ứng trước về tài sản lưu động của doanh nghiệp nhằmđảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn

Vậy vốn cần được quản lý và sử dụng tốt điều này sẽ mang lại cho doanhnghiệp nhiều điều kiện trên thị trường Một doanh nghiệp được đánh giá là quản lývốn lưu động tốt, có hiệu quả khi mà doang nghiệp biết phân phối vốn một cách hợp

lý cho các quyết định đầu tư của mình và qua đó thì nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tếcho doanh nghiệp Nhưng để quản lý vốn đạt hiệu quả thì doanh nghiệp phải có sựnhận biết các bộ phận cấu thành của vốn lưu động, trên cơ sở đó ra các biện phápquản lý phù hợp với từng loại

Căn cứ vào vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinhdoanh vốn lưu động bao gồm:

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất

Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất như: sản phẩm dởdang, chi phí chờ phân bổ, bán thành phẩm tự gia công chế biến

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất

Là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế dự trữ vàchuẩn bị dùng cho hoạt động sản xuất

- Vốn lưu động dùng cho quá trình lưu thông: là bộ phận dùng cho quá trìnhlưu thông như: thành phẩm, vốn tiền mặt

Căn cứ vào hình thái biểu hiện vốn lưu động bao gồm:

- Vốn vật tư hàng hoá: là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật

cụ thể như nguyên vật liệu, sản phảm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm

- Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi

Trang 15

ngân hàng, các khoản thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn.

Các doanh nghiệp dù hoạt động theo mô hình nào, to hay nhỏ thì một nhucầu không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp đó là vốn Nó là tiền đề cho quátrình hình thành và phát triển của doanh nghiệp

Về mặt pháp lý: Mỗi doanh nghiệp khi muốn có giấy phép để hoạt động sảnxuất kinh doanh thì cần phải chứng minh được một trong các yếu tố cơ bản đó làvốn (điều này đã được nhà nước quy định cho từng loại hình doanh nghiệp) khi đóthì địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập Ngược lại, thì doanh nghiệp

sẽ không đủ điều kiện để hoạt động Tuy nhiên không phải khi đã có được giấyphép kinh doanh thì doanh nghiệp muốn kinh doanh như thế nào cũng được màtrong thời gian đó thì doanh nghiệp luôn phải đáp ứng được mọi nhu cầu về vốntheo quy định nếu không thì doanh nghiệp thu hồi giấy phép hay tuyên bố giải thể,phá sản, sát nhập Như vậy có thể coi vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong cácvấn đề của doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của doanhnghiệp trước pháp luật

Về mặt kinh tế: Khi các doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu về vốn thì doanhnghiệp đó có khả năng chủ động trong các hình thức kinh doanh, thay đổi côngnghệ, mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho kinh doanh, điều này khá quantrọng vì nó sẽ giúp doanh nghiệp hạ được giá thành sản phẩm, đáp ứng được nhucầu tiêu dùng trong xã hội

Có thể nhận thấy được vai trò quan trọng của vốn đối với các doanh nghiệp.Nhờ có nó mà các doanh nghiệp có thể thay đổi được trang thiết bị, mở rộng quy

mô sản xuất trong thời gian ngắn Nó mang lại cho doanh nghiệp được nhiều lợithế như; cải tiến được mẫu mã, giảm giá thành sản phẩm, giảm được sức lao độngcho nhân công mà vẫn đáp ứng được chất lượng của sản phẩm và nhu cầu của thịtrường điều mà các doanh nghiệp luôn mong muốn Nhờ đó mà các doanh nghiệp sẽđáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao uy tín của mình trên thương trường

mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cho các nhà đầu tư

1.2.Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp

1.2.1 Sự cần thiết của hoạt động huy động vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp

Mỗi doanh nghiệp khi mới thành lập đều có một số vốn ban đầu Số vốn này

sẽ giúp doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất, nguyên vật liệu và đưa sản xuất vàohoạt động Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động tiếp theo doanh nghiệp phải tiếp tục

Trang 16

huy động thêm những nguồn vốn mới và mở rộng nguồn vốn cũ bởi những nguyênnhân sau:

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ làm cho mỗidoanh nghiệp phải không ngừng đổi mới để ứng phó được trước sự cạnh tranh gaygắt của các doanh nghiệp trong nước và cả những doanh nghiệp nươc ngoài Điều

đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có quy mô vốn lớn để vượt lên trên các đối thủ vàgiành giật thị trường Quy mô vốn lớn sẽ cho phép doanh nghiệp có nhiều điều kiện

để đầu tư, áp dụng những công nghệ hiện đại vào sản xuất để nâng cao năng suấtlao động, tạo ra bước đột phá trong chất lượng, mẫu mã của sản phẩm truyền thônghay nghiên cứu và sản xuất sản phẩm mới Vốn lớn cũng giúp doanh nghiệp có khảnăng theo đuổi những dự án dài hạn có thể đem lại lợi nhuận lớn trong tương lai.Hơn nữa, một doanh nghiệp có thể đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, giúp doanhnghiệp hạn chế được những rủi ro mang tính đặc trưng của ngành Khi môi trườngkinh doanh của một ngành nghề, lĩnh vực nào đó có những biến động bất lợi thìnhững doanh nghiệp vốn lớn với ngành nghề đa dạng sẽ dễ dàng chuyển hướngsang lĩnh vực thuận lợi và đảm bảo cho doanh nghiệp vẫn hoạt động bình thường.Khi đó, doanh nghiệp có thể sử dụng lợi nhuận của ngành kinh doanh phát đạt để bùđắp cho lĩnh vực kinh doanh đang gặp khó khăn, từ đó tăng khả năng trụ vững củadoanh nghiêp trước những đối thủ có quy mô vốn nhỏ, phạm vi kinh doanh hẹphơn

Quy mô vốn lớn cũng giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín trên thương trườngbởi uy tín của doanh nghiệp trước tiên là khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn.Một doanh nghiệp có quy mô nhỏ dễ đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán

và có thể dẫn tới phá sản doanh nghiệp Chính vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ rất khó

có thể tiếp cận đến những nguồn vốn quy mô lớn từ phía các ngân hàng và các đốitác Trong khi đó doanh nghiệp vốn lớn có thể nợ nhiều hơn nhưng lại dễ dàng hơndoanh nghiệp nhỏ trong việc điều động các khoản vốn khác để chi trả nợ đến hạnbởi quan niệm những công ty lớn là những thực thể kinh doanh vững mạnh và đángtin cậy, không dễ dàng phá sản như những doanh nghiệp nhỏ

Như vậy quy mô vốn của doanh nghiệp có tác động rất lớn đến hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó mỗi doanh nghiệp đều luôn quan tâm đếncông tác huy động vốn nhằm không ngừng mở rộng nguồn vốn của doanh nghiệpmình để có thể đáp ứng được những đồi hỏi liên tục của thị trường

1.2.2 Cơ cấu vốn và các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp

Trang 17

1.2.2.1 Vai trò của VCSH và các phương thức huy động VCSH

1.2.2.1.1 Vai trò của VCSH

Như phân tích ở trên, vốn là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp duy trì

và phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời là cơ sở để phân phối và đánh giá hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp, để duy trì và mở rộng sản xuất, doanh nghiệp cóthể dựa và hai nguồn vốn cơ bản là vốn chủ và nợ vay Tuy nhiên, không một doanhnghiệp nào có thể tồn tại vững chắc nếu chỉ dựa vào nguồn vốn đi vay bởi vốn chủ

là một nguồn vốn quan trọng, là lá chắn cho doanh nghiệp trước những biến cố bấtlợi của thị trường cụ thể:

Trong điều kiện môi trường kinh doanh có nhiều biến động, doanh nghiệp cóthể gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh Đó là việc phải chi trả nợ và lãi vay trong khisản xuất không hiêu quả Nếu không có một lượng tiền đủ lớn đến thanh toán cáckhoản nợ, đồng nghĩa có thể đẩy doanh nghiệp tới nguy cơ phá sản Ngược lại, nếudoanh nghiệp có một số vốn đủ lớn, sản xuất không phụ thuộc nhiều vào nợ vay cóthể giúp doanh nghiệp không phải đối mặt với những dòng tiền ra trong tương laigần, giúp doanh nghiệp có thể trụ vững và vượt qua thời điểm khó khăn

Việc sử dụng vốn chủ cũng giúp doanh nghiệp có thể chủ động trong kinhdoanh Tuy sử dụng vốn nợ thường có chi phí rẻ hơn nhưng kèm theo đó có thể lànhững điều kiện ràng buộc đối với doanh nghiệp Chẳng hạn, nếu vay vốn từ các tổchức tín dụng, doanh nghiệp có thể phải chịu sự kiểm tra, giám sát đối với mục đích

và quá trình sử dụng vốn Ngoài ra để được vay vốn, doanh nghiệp còn phải đápứng những yêu cầu khắt khe của ngân hàng về điều kiện tín dụng, điều kiện đảmbảo tiền vay…Nếu là các khoản vay tín dụng thương mại với các bạn hàng doanhnghiệp có thể phải chấp nhận những điều kiện từ phía đối tác Đặc biệt, trường hợpdoanh nghiệp có các khoản tín dụng thương mại lớn,nếu các đối thủ bắt tay vớinhau để gây sức ép thì có thể đẩy doanh nghiệp tới nguy cơ mất khả năng thanhtoán và phá sản Trong khi đó với việc sử dụng vốn chủ, doanh nghiệp có thể chủđộng hơn nhiều trong việc ra quyết định liên quan đến hoạt động sản xuất và đầu tư

mà không bị chịu sự chi phối nhiều từ các chủ thể kinh tế bên ngoài

Hơn nữa, một doanh nghiệp có quy mô vốn lớn, đặc biệt là vốn chủ sở hữu

sẽ dễ dàng hơn trong việc gây dựng uy tín trên thị trường Quy mô vốn chủ lớn làtấm bình phong cho doanh nghiệp có thể tạo niềm tin với bạn hàng và các chủ thểkinh tế khác về khả năng hoạt động, đặc biệt là khả năng thanh toán Chính vì vậy,các ngân hàng thường dành nhiều ưu ái hơn cho các doanh nghiệp có quy mô vốn

Trang 18

chủ lớn,có tài sản thế chấp giá trị cao bởi quan niệm những doanh nghiệp này cókhả năng phá sản khó hơn những doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ Các bạn hàngđối tác sẽ dễ dàng chấp nhận cho mua chịu với số lượng nhiều hơn, quy mô lớn hơnđối với các doanh nghiệp có vốn chủ lớn.Quy mô vốn lớn, uy tín cao sẽ giúp doanhnghiệp có thể tiếp cận với những nguồn vốn khác từ các tầng lớp dân cư thông quaphát hành trái phiếu,cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Tóm lại vốn chủ giúp doanh nghiệp có thể hoạt động một cách thuận lợi,dễdàng và chủ động hơn, góp phần tạo ra vị thế của doanh nghiệp trên thị trường

Chính vì vậy, các doanh nghiệp nên tranh thủ tìm kiếm những nguồn vốn nợvẫn phải chú trọng đến công tác huy động mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu với mụctiêu đảm bảo sự tồn tại vững chắc và ổn định của doanh nghiệp

1.2.2.1.2 Các phương thức huy động VCHS

Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, VCSH đều bao gồm các bộ phận chính

là vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia và tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu

* Vốn góp ban đầu

Mỗi doanh nghiệp ngay từ khi thành lập đều đòi hỏi phải có một số vốn banđầu nhất định do các cổ đông - chủ sở hữu - cổ đông đóng góp Tuy nhiên với mỗiloại hình doanh nghiệp có hình thức sở hữu khác nhau sẽ có đặc điểm, tính chất củanguồn vốn VCSH khác nhau bởi hình thức sở hữu sẽ quyết định đến hình thức vốncủa doanh nghiệp Cụ thể:

Với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhànước và Nhà nước cũng là chủ sở hữu của doanh nghiệp Hiện nay, cơ chế quản lýtài chính nói chung và quản lý vốn của doanh nghiệp Nhà nước đang có những thayđổi để phù hợp với tình hình thực tế

Đối với loại hình doanh nghiệp khác, chủ doanh nghiệp phải có một số vốnban đầu để đăng ký thành lập theo quy định Số vốn ban đầu này lớn hay nhỏ sẽ phụthuộc vào lĩnh vực mà doanh nghiệp tham gia hoạt động và loại hình tổ chức củadoanh nghiệp

Đối với công ty cổ phần, vốn góp ban đầu là do cổ đông đóng góp và mỗi cổđông đều có vai trò là chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn vớicác vấn đề của công ty trên phạm vi số vốn góp của mình

Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp chỉ cần đăng ký với cơquan chuyên trách về số vốn tự có ban đầu để xin cấp giấy phép kinh doanh Tuynhiên, trong một số lĩnh vực kinh doanh như ngân hàng, vàng bạc đá quý… thì đòi

Trang 19

hỏi phải có một số vốn pháp định theo quy định của pháp luật.

Đối với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty TNHH, công ty có vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thì nguồn vốn góp ban đầu cũng tương tự nhưtrên, tức là vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra, do các bên tham gia, các đối tác góp… tỷ

lệ và quy mô góp vốn của các bên tham gia công ty phụ thuộc vào các yếu tố khácnhau (như luật pháp, đặc điểm ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu liên doanh)

* Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia

Mỗi doanh nghiệp có một quy mô vốn ban đầu nhất định và thông thường, sốvốn này sẽ được tăng thêm cùng với sự phát triển của doanh nghiệp Trong quátrình kinh doanh, một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả sẽ có điều kiện giữ lại mộtphần lợi nhuận không chia để tăng vốn Từ đó doanh nghiệp có thể tái đầu tư, mởrộng phạm vi và quy mô kinh doanh

Việc tài trợ bằng lợi nhuận không chia là một phương thức huy động vốnquan trọng và khá hấp dẫn với các doanh nghiệp bởi doanh nghiệp có thể chủ độngtrong việc huy động và sử dụng, hạn chế sự phụ thuộc vào chủ thể cung cấp vốnkhác và giảm được chi phí do huy động vốn từ bên ngoài Bên cạnh đó, việc sửdụng lợi nhuận không chia còn giúp doanh nghiệp giảm được tỷ lệ nợ/Tổng nguồnvốn, tăng cường khả năng thanh toán cho doanh nghiệp và đặc biệt, có ý nghĩa quantrọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tạo sự tín hiệm với các tổchức tín dụng

Quy mô của nguồn vốn này phụ thuộc vào hai yếu tố chính là tổng lợi nhuậnthu được trong kỳ và chính sách giữ lại lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu doanhnghiệp đạt được lợi nhuận cao trong kỳ có thể trích một phần đáng kể để bổ sungvào vốn Ngược lại, trong điều kiện hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn,không có lợi nhuận thua lỗ thì doanh nghiệp không thể bổ sung thêm vào vốn.Chính sách giữ lại lợi nhuận của doanh nghiệp cho cổ đông nhiều hay ít cũng ảnhhưởng trực tiếp đến tỷ lệ lợi nhuận giữ lại tái đầu tư, quyết định đến quy mô phầnlợi nhuận để lại

* Phát hành cổ phiếu

Các doanh nghiệp cũng có thể tăng nguồn vốn VCSH của mình thông quahoạt động phát hành cổ phiếu mới Những người nắm giữ cổ phiếu sẽ trở thành cổđông và là chủ sở hữu của doanh nghiệp Đặc điểm quan trọng của nguồn vốn này

là đây là nguồn tài chính dài hạn phát hành cổ phiếu được coi là hoạt động tài trợdài hạn của doanh nghiệp

Trang 20

Doanh nghiệp có thể phát hành loại cổ phiếu, đó là cổ phiếu thường và cổphiếu ưu tiên.

Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì nó có những ưu điểm

khi phát hành ra công chúng và trong quá trình lưu hành trên thị trường chứngkhoán Cổ phiếu thường không phải là chứng khoán có lượng giao dịch lớn nhất thịtrường nhưng luôn được các nhà đầu tư coi là chứng khoán quan trọng nhất Đây là

cổ phiếu có thu nhập không ổn định, cổ tức biến động tùy theo sự biến động lợinhuận của công ty Tuy nhiên thị giá cổ phiếu lại rất nhạy cảm trên thị trường,không chỉ phụ thuộc vào lợi nhuận Công ty mà còn phụ thuộc vao rất nhiều cácnhâu tố khác như: môi trường kinh tế, sự thay đổi lãi suất, quy luất cung cầu thị giá

cổ phiếu thường phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế nói chung va biến động theochiều ngược lại với biến động lãi suất trái phiếu chính phủ, các công cụ vay nợ dạihạn và lãi suất huy động tiền gửi của ngân hang

Thông thường một công ty có thể phát hành cổ phiếu một lần hay một số lầntrong giới hạn số cổ phiếu đã được cấp phép phát hành Giới hạn phát hành chính làcông cụ để kiểm soát và hạn chế các rủi ro cho công chúng Sau khi phát hành phầnlớn cổ phiếu này sẽ nằm trong tay các cổ đông và các nhà đầu tư chứng khoán Tuynhiên, công ty phát hành có thể mua lại những cổ phiếu của mình nhằm mục đíchnào đó Những cổ phiếu này được gọi là cổ phiếu ngân quỹ Chúng được giữ lạicông ty và sẽ được bán ra thị trường khi cần thiết Việc mua lại hoặc bán ra những

cổ phiếu này phụ thuộc vào một số yếu tố sau:

- Tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư

- Tình hình biến động thị giá cổ phiếu trên thị trường

- Chính sách chông việc sát nhập hoặc thôn tính công ty

- Tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của Ủy ban chứngkhoán nhà nước

Có thể hiểu tác động của các yếu tố trên một cách khái quát như sau: khicông ty đã có đủ lượng vốn cần huy động và để giảm bớt sự can thiệp của bên ngoàivào nội bộ của công ty, công ty có thể tiến hành mua lại các cổ phiếu Khi công tythiếu vốn hoặc thấy cần phải mở rộng đầu tư thì cổ phiếu lại được bán ra thị trường.Khi thị giá của cổ phiếu trên thị trường bị giảm sút thì cổ phiếu lại được mua vào đểgiữ giá cổ phiếu Khi đối đầu với âm mưu bị thôn tính bởi một công ty khác, công

ty phải mua lại cổ phiếu để tránh gia tăng sự phụ thuộc vào bên ngoài, chống lại sựthôn tính hay sát nhập công ty

Trang 21

Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thông thường chính là những người chủ sởhữu của doanh nghiệp và họ có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển của côngviệc của doanh nghiệp, có quyền đối với tài sản và sự phân chia tài sản hoặc thunhập của doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp phá sản thì các cổ đông chỉđược đền bù sau khi doanh nghiệp đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán đối vớicác chủ nợ nên rủi ro của các cổ đông là lớn hơn so với các chủ nợ.

Như vậy các công ty phát hành cổ phiếu cần có sự theo dõi, quan sát nhữngđộng thái trên thị trường chứng khoán để có thể đưa ra những quyết định phù hợp

Cổ phiếu ưu tiên là loại cổ phiếu ít thông dụng hơn so với cổ phiếu thường

và chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành Tuy nhiêntrong một số trường hợp, việc dùng cổ phiếu ưu tiên lại thích hợp Cổ phiếu ưu tiên

có đặc điểm là nó thường có cổ tức cố định Người nắm giữ cổ phiếu ưu tiên đượchưởng quyền lợi là được thanh toán lãi trước cổ đông thường, tức là nếu số lãi chỉ

đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không được nhận

cổ tức của kỳ đó Đối với mỗi doanh nghiệp cổ phần thì quyền lợi dành cho các cổđông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có thể khác nhau và chính sách ưu đãi cho cổ phiếu

ưu tiên được nêu rõ trong điều lệ của từng doanh nghiệp

Như vậy, loại hình doanh nghiệp cổ phần có được ưu điểm là quyền sở hữutách rời quyền sử dụng một cách tương đối nên bộ máy quản lý doanh nghiệp có thểchủ động sử dụng có hiệu quả số vốn của doanh nghiệp Hơn nữa trong quá trìnhhoạt động, doanh nghiệp có thể huy động thêm vốn chủ một cách thuận lợi thôngqua hoạt động phát hành cổ phiếu mới Tuy vậy, việc tăng thêm vốn bằng phát hành

cổ phiếu mới cũng có một số hạn chế Đó là không phải doanh nghiệp cổ phần nàocũng có khả năng tiếp cận tới nguồn vốn này mà chỉ những doanh nghiệp cổ phầnđạt được một số tiêu chí về tài chính mới được phát hành cổ phiếu bổ sung Ngoài

ra, việc dùng hình thức này có thể dẫn đến "hiệu ứng pha loãng", làm giảm giá trị cổphần của cổ đông cũ từ đó làm suy giảm lòng tin của cổ đông cũ và cả những nhàđầu tư

1.2.2.2.Vai trò của nợ và các phương thức huy động nợ

1.2.2.2.1.Vai trò của nợ

Như đã phân tích ở trên, nguồn VCSH có vai trò quan trọng đối với hoạtđộng của doanh nghiệp, tuy nhiên trong điều kiện nên kinh tế thị trường phát triển,rất khó để cho một doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả nếu chỉ dựa vào VCSH

mà không sử dụng các nguồn vốn nợ bởi nguồn vốn này cũng có những đóng góp

Trang 22

quan trọng, giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ đạt kết quảcao, đó là:

Nếu doanh nghiệp huy động vốn qua các tổ chức tín dụng với hình thức nợvay ngắn và dài hạn thì chi phí lãi vay sẽ được tính vào chi phí hợp lý của doanhnghiệp và nó có thể đem lại cho doanh nghiệp một khoản tiết kiệm từ thuế Hơnnữa, việc sử dụng nợ vay thể hiện rõ nguyên tắc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi rocho doanh nghiệp Sử dụng nợ vay có thể đem lại rủi ro lớn hơn do có thể làmdoanh nghiệp mất khả năng thanh toán nhưng bù lại, có thể mang lại hiệu quả lớnhơn so với VCSH Chính vì vậy trong bối cảnh thị trường thuận lợi, doanh nghiệp ítphải đối mặt với nhiều rủi ro trong kinh doanh thì sử dụng vốn nợ sẽ là kênh huydộng vốn hiệu quả cho doanh nghiệp bởi chi phí nợ vay thương thấp hơn.Việc sửdụng nợ vay lại có thể tạo đòn bẩy tài chính làm tăng EPS đông nghĩa với việc làmtăng giá trị tài sản của chủ sở hữu-đó là mục đích hàng đầu cho hoạt động cảudoanh nghiệp Ngoài nguồn vốn tín dụng thương mại với ưu điểm là một phươngthức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh,hơn nữa,nó còn tạo khả năng

mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền giữa doanh nghiêp và cácbạn hàng Chính vì vậy,nếu doanh nghiệp sử dụng và có thể quản lý tốt nguồn vốn

sẽ giúp doanh nghiệp gặp nhiều tuận lợi trong quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh

1.2.2.2.2.Các phương thức huy động nợ

Trong quá trình hoạt động thì ngoài nguồn VCSH, doanh nghiệp có thể sửdụng nợ để bổ sung cho quá trình sản xuất kinh doanh từ các nguồn: Tín dụng ngânhàng, tín dụng thương mại và vay thông qua phát hành trái phiếu công ty

-tín dụng ngân hàng

Trong điều kiện nên kinh tế thị trường phát triển, rất khó để cho một doanhnghiệp có thể hoạt động hiệu quả nếu chỉ dựa trên nguồn VCSH Để đáp ứng yêucầu vốn cho việc duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh thì nhiều doanh nghiệp đãtiếp cận tới nguồn vốn vay ngân hàng và đây được coi là một trong những nguồnvốn quan trọng nhất không chỉ đối với sự phát triển của bản thân doanh nghiệp màcòn đối với toàn bộ nến kinh tế Các doanh nghiệp tìm đến nguồn vốn tín dụng ngânhàng để đáp ứng những mục tiêu khác nhau như thỏa mãn nhu cầu đầu tư tài sản cốđịnh vốn lưu động Tương ứng với mỗi mục đích sử dụng đó, ngân hàng có thểphân loại vay thành các loại như: cho vay đầu tư tài sản cố định, cho vay đầu tư tàisản lưu động, cho vay để đầu tư dự án Còn nếu phân lọa theo thời hạn vay thì vốn

Trang 23

vay ngân hàng thương được phân thành vay dài hạn (thường từ 3 năm trở lên, cónơi là 5 năm), vay trung hạn (từ 1 năm đến 3 năm), vay ngắn hạn ( dưới 1 năm).Tuy nhiên, tiêu chuẩn và quan niệm về thời gian để phân lọai không giống nhaugiữa các nước và có thể khác nhau giữa các ngân hàng thương mại.

Như vậy, không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặckhông sử dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắctrên thương trường Tuy nhiên để có thể tiếp cận tới nguồn vốn này cũng khôngphải là điều đơn giản bởi doanh nghiệp sẽ phải chấp nhận những điều kiện chặt chẽnhư điều kiện tín dụng khắt khe, việc kiểm soát của ngân hàng hay chi phí sử dụngvốn cao

+)Điều kiện đảm bảo tiền vay

Khi doanh nghiệp xin vay vốn, các ngân hàng thường yêu cần các doanhnghiệp đi vay phải có các bảo đảm tiền vay mà phổ biến nhất là tài sản thế chấp.Điều kiện này khiến cho nhiều đối tượng không thể đáp ứng đựoc yêu cầu của ngânhàng, kể cả những thủ tục pháp lý kiên quan Đây cũng là một trong những rào cảnkhiến cho các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ gặp nhiều khó khăn khi muốn tiếpcận với nguồn vốn này

+)Sự kiểm soát của ngân hàng

Khi doang nghiệp vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp cũng phải chịu sựkiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay Sự kiểm soátnày thường không gay khó khăn cho doanh nghiệp, tuy nhiên trong một số trườnghợp, điều này làm cho doanh nghiệp có cảm giác bị “kiểm soát”

+)lãi suất vay vốn

Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn Lãi suất cho vay của ngânhàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ Nếu lãisuất này quá cao thì doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn và ảnhhưởng thu nhập của doanh nghiệp

Trang 24

Thực tế tuy nguồn vốn tín dụng ngân hàng là tương đối phong phú và đadạng nhưng một số doanh nghiệp lại gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn này, đặcbiệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Những khó khăn lơn nhất của doanh nghiệpkhi tiếp cận nguồn vốn này là : lãi suất cao, thủ tục hành chính rườm ràm, thiếu tàisản thể chấp, thời hạn không phù hợp, chậm chễ làm mất cơ hội hoặc lượng vốnkhông đủ cho đầu tư…Điều này có thể do một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, thì trường vốn chưa phát triển một cách hoàn chỉnh hệ thống phápluật và chính sách tín dụng thiếu sự động bộ, cơ chế cho vay thường xuyên thay đổigây khó khăn cho các tổ chức tín dụng

Thứ hai, về phía các tổ chức tín dụng, điều kiện và thủ tục vay vốn quá chặtchẽ, phức tạp nên các doanh nghiệp khó đáp ứng được đầy đủ Mặt khác các tổ chứcnày thiếu thông tin chính xác, kịp thời về doanh nghiệp, do đó khả năng thẩm định

dự án cho vay còn thiếu chính xác

Thứ ba, về phía doanh nghiệp vừa và nhỏ thì vốn tự có ít, năng lực tài chínhthấp, khả năng cạnh tranh hạn chế,uy tín chưa cao…mặt khác trình độ quản lý cán

bộ còn nhiều hạn chế dẫn đến những khó khăn trong xây dựng và hoàn thiện hồ sơvay vốn

-tín dụng thương mại

Ngoài nguồn vốn ngân hàng, doanh nghiệp có thể khai thác nguồn vốn tíndụng thương mại Đây là nguồn vốn hình thanh một các tự nhiên trong quan hệ muabán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp giữa các doanh nghiệp bạn hàng Chi phícủa việc sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại được ẩn dưới hình thức thay đổimức giá, tùy thuộc quan hệ và thỏa thuận cụ thể giữa các bên Đối với doanhnghiệp, tài trợ bằng vốn tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ, tiệndụng và linh hoạt trong kinh doanh Hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng cácquan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Các điều kiện ràng buộc cụ thể có thể

có thể được ấn định khi hai bên ký kết hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nóichung Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần nhận thấy tính chất rủi ro của quan hệ tíndụng thương mại khi quy mô tài trợ quá lớn có thể khiến doanh nghiệp đối mặt vớinguy cơ mất khả năng thanh toán

- Phát hàng trái phiếu

Trái phiếu là tên gọi chung của giấy vay nợ dài hạn và trung hạn mà ngườiphát hành đảm bảo Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựachọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tình

Trang 25

hình trên thị trường tài chính.V iệc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì

có liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trải lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫcủa trái phiếu Trước khi quyết định phát hành, cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhượcđiểm của mỗi loại trái phiếu hiện nay trên thị trường tài chính thường lưu hànhnhững lọai trái phiếu doanh nghiệp sau:

Trái phiếu có lãi suất cố định:

Đây là loại trái phiếu được sử dụng phổ biến nhất Nó có mức lãi suất khôngthay đổi trong suốt kỳ hạn của nó Để huy động vốn trên thị trường bằng trái phiếuphải tính đến mức độ hấp dẫn của trái phiếu, tính hấp dẫn phụ thuộc v ào những yếutố: Lãi suất của trái phiếu, kỳ hạn của trái phiếu, uy tín của doanh nghiệp Cũng cầnchú ý đến mệnh giá vì nó có thể liên quan đến sức mau của dân chúng, cần xác địnhmột mức mệnh giá vừa phải để nhiều người có thể mua được, tạo sự lưu thông dễdàng cho trái phiếu trên thị trường

Trái phiếu có lãi suất thay đổi:

Loại hình trái phiếu này có mức lãi suất thay đổi phụ thuộc vào một sốnguồn lãi suất quan trọng khác như lãi suất LIBOR (London Interbank OfferedRate) hoặc lãi suất cơ bản

Trong điều kiện có mức lạm phát cao vào lãi suất thị trường không ổn định,doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếu này Khi có sự biếnđộng của lạm phát kéo theo sự dao động của lãi suất thực nên các nhà đầu tư sẽ ưuthích trái phiếu thả nổi vì họ mong muốn được hưởng một lãi suất thoả đáng khi sosánh với tình hình thị trường

Tuy nhiên loại trái phiếu này có nhược điểm:

 Doanh nghiệp không biết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu nêngây khó khăn cho việc lập kế hoạch tài chính

 Việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do doanh nghiệpphải thông báo các lần điều chỉnh lãi suất

Trái phiếu có thể thu hồi:

Đây là loại trái phiếu mà doanh nghiệp có thể mua lại vào một thời gian nào

đó, thời hạn và giá cả chuộc lại trái phiếu phải được quy định rõ khi phát hành,thông thường người ta quy định thời hạn tối thiểu

Ưu điểm của loại trái phiếu này là:

 Có thể được sử dụng như một cách điều chỉnh lượng vốn sử dụng, khikhông cần thiết doanh nghiệp có thể mua lại các trái phiếu, tức là giảm số vốn vay

Trang 26

 Doanh nghiệp có thể thay nguồn tài chính do phát hành trái phiếu loại nàybằng một nguồn tài chính khác thông qua mua lại các trái phiếu đó

Nhược điểm: Nếu không có những hấp dẫn nào đó thì trái phiếu này khôngđược ưu thích

Trái phiếu chuyển đổi

Các doanh nghiệp thường phát hành những trái phiếu kèm theo những điềukiện có thể chuyển đổi được Nói chung sự chuyển đổi và lựa chọn cho phép cácbên (doanh nghiệp, người đầu tư) có thể lựa chọn cách thức đầu tư có lợi và thíchhợp

Có thể thấy việc huy động vốn bằng trái phiếu nếu được thực hiện sẽ rất cólợi cho cả doanh nghiệp và nhà đầu tư Cụ thể là:

Đối với doanh nghiệp:

Phát hành trái phiếu đảm bảo cho họ được sử dụng một nguồn vốn ổn định

và dài hạn, trong khi thông thường khi đi vay ngân hàng không có được thời hạn dàinhư vậy Mặc dù trong một số dự án đặc biệt, thời hạn vay có thể dài hơn nhưngtrong trường hợp đó ngân hàng lại bị giới hạn về số vốn cho vay (không quá 15%vốn điều lệ cho một khách hàng)

Trường hợp doanh nghiệp cần vốn hoặc doanh nghiệp có dự án tốt nhưngkhông muốn phát hành cổ phiếu rộng rãi (ví dụ như sợ bị thao túng bởi các cổ đôngbên ngoài, không muốn chia lợi nhuận cho các nhà đầu tư khác ) thì có thể lựachọn phát hành trái phiếu vì doanh nghiệp sẽ không sợ bị thao túng mà lợi tức chia

sẻ cũng chỉ hạn chế trong phạm vi lãi suất trả cho trái phiếu

Đối với nhà đầu tư:

Việc đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp cũng có nhiều lợi thế, chẳng hạn sovới các chứng khoán khác thì trái phiếu có lãi suất cao hơn, với những doanh nghiệp

có uy tín lớn thì rủi ro khi đầu tư vào trái phiếu là rất thấp

Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiện nay cả doanh nghiệp v à các nhà đầu tư đềukhông mấy quan tâm đến thị trường trái phiếu Thực trạng này có thể do một sốnguyên nhân sau:

Một là: do hiểu biết về công cụ trái phiếu của các doanh nghiệp chưa cao nêncác doanh nghiệp chưa nhìn thấy được tất cả những lợi thế của việc huy động vốnthông qua phát hành trái phiếu

Hai là: thị trường giao dịch trái phiếu còn kém phát triển, tính thanh khoảncủa trái phiếu không cao nên rất khó phát hành

Trang 27

Ba là: nền tảng cơ bản về lãi suất chưa có khiến cho doanh nghiệp không có

cơ sở để xác định lãi suất trái phiếu khi phát hành

Ngoài ra, hiện nay các định chế tài chính trung gian chưa quan tâm nhiều đếnviệc tạo lập thị trường cho trái phiếu doanh nghiệp, các tổ chức tài chính cũng chưađầu tư nhiều trong việc giới thiệu thuyết phục các doanh nghiệp huy động vốn bằngtrái phiếu

Có thể nói, khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển mạnh, doanhnghiệp thông thạo với hoạt động phát hành trái phiếu thì đây chính là nền tảng choviệc phát triển hơn nữa thị trường cổ phiếu

1.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp

Quy mô vốn của doanh nghiệp có tác động rất lớn đến hoạt dộng sản xuuatskinh doanh của doanh nghiệp Do đó, mỗi doanh nghiệp đều luôn quan tâm đếncông tác huy động vốn nhằm không ngừng mở rộng nguồn vốn của doanh nghiệpmình để có thể đáp ứng được những yêu cầu của thị trường Tuy nhiên khi tiến hànhhoạt động huy động vốn, mỗi doanh nghiệp lại phải giải quyết những vấn đề khácnhau do các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động này,

1.3.1 Yếu tố chủ quan

-Chính sách huy động vốn của doanh nghiệp

Tùy vào mục tiêu, kế hoạch của mỗi doanh nghiệp mà các doanh nghiệp sẽ

tự hoạch định chính sách huy động vốn cho riêng doanh nghiệp mình Điều này ảnhhưởng không nhỏ tới hoạt động mở rộng nguồn vốn của doanh nghiệp bởi chínhsách huy động vốn sẽ quyết định khối lượng vốn, nguồn vốn và các hình thức huyđộng mà doanh nghiệp sử dụng Tuy vậy, dù có theo đuổi chính sách huy động vốnkhác nhau thì định hướng của mỗi doanh nghiệp là đều phải đảm bảo những mụctiêu cơ bản Đó là khối lượng nguồn vốn dự kiến huy động dược phải đảm bảonhững mục tiêu cơ bản Là khối lượng nguồn vốn dự tính huy động được phải đảmbảo đáp ứng đủ và kịp thời cho nhu cầu sản xuất cũng như kế hoạch đầu tư củadoanh nghiệp Hơn nữa, nguồn vốn huy động phải phù hợp với đặc điểm, quy môcủa doanh nghiệp để công tác huy động vồn vừa đạt hiệu quả và vẫn đảm bảo cânbằng giữa rủi ro và lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có chính sáchhuy động vốn hợp lý thì hiệu quả của công tác mở rộng nguồn vốn sẽ đạt được kếtquả cao

Như vậy chính sách huy động vốn của doanh nghiệp sẽ tác động trực tiếp tớicông tác huy động vốn của doanh nghiệp đó Tuy nhiên, chính sách huy động vốn

Ngày đăng: 19/12/2012, 10:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:Tình hình nguồn vốn của công ty - Giải pháp mở rộng hoạt động huy động vốn tại Cty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18
Bảng 1 Tình hình nguồn vốn của công ty (Trang 36)
Bảng 2: Bảng tổng hợp số liệu cổ đông và cơ cấu vốn góp tính đến thời điểm chốt - Giải pháp mở rộng hoạt động huy động vốn tại Cty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18
Bảng 2 Bảng tổng hợp số liệu cổ đông và cơ cấu vốn góp tính đến thời điểm chốt (Trang 38)
Bảng 4: Bảng cân đối kế toán công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18 - Giải pháp mở rộng hoạt động huy động vốn tại Cty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18
Bảng 4 Bảng cân đối kế toán công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18 (Trang 51)
Bảng 5: Kết quả hoạt động SXKD công ty cổ phân đầu tư và xây dựng số 18 qua một số năm - Giải pháp mở rộng hoạt động huy động vốn tại Cty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18
Bảng 5 Kết quả hoạt động SXKD công ty cổ phân đầu tư và xây dựng số 18 qua một số năm (Trang 52)
Bảng 6: Các chỉ tiêu báo cáo tài chính phản ánh kết quả hoạt động của công ty                                                                                                                            Đơn vị: % - Giải pháp mở rộng hoạt động huy động vốn tại Cty cổ phần đầu tư và xây dựng số 18
Bảng 6 Các chỉ tiêu báo cáo tài chính phản ánh kết quả hoạt động của công ty Đơn vị: % (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w