MỤC LỤC Lời mở đầu 2 Chương 1 Giới thiệu về ngành bán lẻ 3 I Giới thiệu về ngành bán lẻ 3 II Thực trạng ngành bán lẻ tại thị trường Mỹ 3 Chương 2 Phân tích và đánh giá các lực lượng cạnh tranh trong n[.]
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
Chương 1: Giới thiệu về ngành bán lẻ 3
I Giới thiệu về ngành bán lẻ 3
II Thực trạng ngành bán lẻ tại thị trường Mỹ 3
Chương 2: Phân tích và đánh giá các lực lượng cạnh tranh trong ngành bán lẻ 5
I Khái quát về mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 5
II Áp dụng mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M Porter phân tích và đánh giá các lực lượng cạnh tranh trong ngành bán lẻ tại Mỹ 5
Chương 3: Bản đồ nhóm chiến lược ngành bán lẻ 13
I Khái quát về bản đồ nhóm chiến lược 13
II Bản đồ nhóm chiến lược của ngành bán lẻ tại Mỹ: 13
III Đánh giá sự cạnh tranh giữa các nhóm 18
Chương 4: Phân tích SWOT của Kmart 20
I Giới thiệu chung về Kmart 20
II Sơ lược về mô hình SWOT 20
III Phân tích SWOT của Kmart 21
IV Vai trò của phân tích SWOT đối với hoạch định chiến lược 26
Kết luận 30
Danh mục tài liệu tham khảo 31
Trang 2Lời mở đầu
Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, các quốc gia bắt đầu vào công cuộc táithiết nền kinh tế Mỹ, quốc gia hưởng lợi lớn nhất từ hai cuộc chiến tranh, trở thànhcường quốc kinh tế dẫn đầu thế giới Nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ của Mỹ làtiền đề để các công ty phát triển, tuy nhiên đây cũng là thị trường có mức độ cạnhtranh khá khốc liệt Một trong số những ngành có sức tăng trưởng cao nhưng sức
ép cạnh tranh cũng lớn tại Mỹ đó là ngành bán lẻ Trong giai đoạn 1990-2010 làthời kỳ phát triển đỉnh cao của các doanh nghiệp bán lẻ với mô hình bán lẻ truyềnthống Tuy nhiên, các doanh nghiệp bán lẻ cũng phải đương đầu rất nhiều sự cạnhtranh để đứng vững trên thị trường bán lẻ tại Mỹ Do đó việc nghiên cứu và phântích kỹ lưỡng các lực lượng điều tiết cạnh tranh trong ngành và những ảnh hưởngcủa các lực lượng này đến cường độ cạnh tranh cũng như nắm vững những lợi thế
và bất lợi của chính mình là việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng Mô hình 5 lựclượng cạnh tranh của Michael Porter, Bản đồ nhóm chiến lược và SWOT là nhữngcông cụ rất hữu ích trong việc giúp công ty đưa ra những chiến lược cụ thể và phùhợp để có thể đương đầu với những biến động trên thị trường cũng như đưa công typhát triển ngày một lớn mạnh Kmart, một trong những doanh ngiệp bán lẻ hàngđầu của Mỹ giai đoạn 1990-2010, đã vận dụng những mô hình trên ra sao để đưa ranhững chiến lược kinh doanh cụ thể và phù hợp cho mình, chúng em xin phép trìnhbày những tìm hiểu của mình qua bài tiểu luận này
Trang 3Chương 1: Giới thiệu về ngành bán lẻ
I Giới thiệu về ngành bán lẻ
Bán lẻ là quá trình bán hàng hóa hoặc dịch vụ tiêu dùng cho khách hàngthông qua nhiều kênh phân phối để kiếm lợi nhuận Thuật ngữ "nhà bán lẻ" thườngđược áp dụng khi nhà cung cấp dịch vụ thực hiện các đơn đặt hàng nhỏ của một sốlượng lớn cá nhân, là người dùng cuối, thay vì đơn đặt hàng lớn của một số lượngnhỏ khách hàng bán buôn , công ty hoặc chính phủ. Các nhà bán lẻ thường phânphối các sản phẩm rất đa dạng từ: thực phẩm, quần áo, thuốc men, Ngành bán lẻhình thành từ thời cổ đại, trải qua hàng ngàn năm phát triển cho đến nay ngành bán
lẻ trở thành một trong những ngày có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sốngcon người
II Thực trạng ngành bán lẻ tại thị trường Mỹ
Trên thị trường Mỹ, ngành bán lẻ là một trong những ngành có tốc độ tăngtrưởng khá cao nhưng cũng là ngành có mức độ cạnh tranh khá khốc liệt Hiện naycác doanh nghiệp bán lẻ ở Mỹ có quy mô khá lớn, thường giao dịch trên các thịtrường chứng khoán và thị trường tư nhân
Theo ước tính hai phần ba tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hoa Kỳ đến từkhu vực bán lẻ Tuy nhiên, sau một thời gian tăng trưởng ổn định qua hai thập kỷ,ngành công nghiệp bán lẻ ở Bắc Mỹ đã trải qua sự tăng trưởng âm trong năm 2007
do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu Với những nỗ lực của bản thân cácdoanh nghiệp và chính phủ trong việc khắc phục hậu quả cũng như khôi phục nềnkinh tế, tình hình thị trường bán lẻ có vẻ đang ngày càng khả quan sau những bướctiến trong năm 2010, và dự báo sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong giai đoạn 2011 –
2013 Theo báo cáo hàng năm từ Cục điều tra dân số Hoa Kỳ (năm 2010) thì tổng
số tiền từ ngành công nghiệp bán lẻ của Mỹ là khoảng 3800 tỷ USD Đây đượcxem là một sự cải thiện đáng kể sau khi đã sụt giảm vào các năm 2008 và 2009
Dự báo trong thời gian tới, xu hướng của các công ty trong ngành côngnghiệp bán lẻ là tính tiết kiệm và sự tiêu dùng có ý thức Các sản phẩm xanh, cácdịch vụ và hoạt động thân thiện với môi trường cũng được các nhà bán lẻ và ngườitiêu dùng Mỹ ủng hộ mạnh mẽ Xu hướng mua sắm mới đang hình thành trên thịtrường Mỹ đó là mua hàng trực tuyến Sự tăng trưởng trong thương mại điện tử là
do sự thay đổi trong thói quen mua sắm của khách hàng Với sự giảm giá của máy
Trang 4vi tính và thói quen dùng nó tăng lên từng ngày, nhiều chuyên gia dự báo doanh sốbán hàng thông qua internet sẽ tăng đáng kể trong tương lai.
Trang 5Chương 2: Phân tích và đánh giá các lực lượng cạnh tranh trong ngành bán lẻ
I Khái quát về mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter
Mô hình “5 áp lực cạnh tranh” đã được Michael Porter đưa ra lần đầu tiên tạiHarvard Business Review năm 1979 dưới tên gọi “5 lực lượng của Porter” (Porter’sFive Forces) và sau này được đưa vào cuốn sách nổi tiếng mang tên " CompetitiveStrategy: Techniques Analyzing Industries and Competitors" của chính tác giả.Quan điểm chủ đạo mà Porter trình bày qua mô hình này đó là, mọi ngành sản xuấtkinh doanh đều chịu áp lực cạnh tranh từ 5 lực lượng, bao gồm:
Áp lực cạnh tranh từ nội bộ ngành
Áp lực cạnh tranh từ khách hàng
Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế
Áp lực cạnh tranh từ nhà cung cấp
Áp lực cạnh tranh từ đối thủ mới gia nhập
II Áp dụng mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M Porter phân tích và
đánh giá các lực lượng cạnh tranh trong ngành bán lẻ tại Mỹ.
1 Áp lực cạnh tranh từ nội bộ ngành : Cạnh tranh gay gắt
Mỹ là đất nước đứng đầu của ngành bán lẻ Theo báo cáo về sức mạnh bán lẻtoàn cầu năm 2015, 76 nhà bán lẻ lớn nhất thế giới có trụ sở tại Mỹ
Số lượng các nhà bán lẻ trên thị trường Mỹ rất lớn: Tổng doanh thu từ 3.8
triệu đơn vị bán lẻ tại Mỹ đạt 2.6 nghìn tỷ đô vào năm 2016, với hơn 1200 trungtâm thương mại Số diện tích thuê dùng làm trung tâm thương mại của Mỹ nhiềuhơn 40% so với Canada và gấp khoảng 5 lần so với Anh
Số lượng đối thủ lớn (đã chiếm thị phần lớn) nhiều: Top 10 công ty bán lẻ
lớn nhất nước Mỹ theo doanh thu (số liệu của Liên đoàn bán lẻ quốc gia)
STT Tên công ty Doanh thu năm 2011 (tỷ đô)
Trang 62 The Kroger Co 78.326
Trong đó, Walmart không chỉ là nhà bán lẻ lớn nhất thế giới, nó còn là công
ty lớn nhất trong so với bất kỳ lĩnh vực nào
Các đối thủ tích cực trong việc cải thiện vị trí thị trường, hoạt động kinh
doanh và có những hành đồng phản công quyết liệt để gia tăng thị phần, thu hútkhách hàng Ví dụ như:
- Amazon đang trở thành người dẫn đầu trong lĩnh vực bán lẻ trực tuyến, tuynhiên đã bắt đầu tăng sự hiện diện trong lĩnh vực bán lẻ truyền thông bằngcách mua lại chuỗi siêu thị Whole foods và mở của hàng Amazon Books ởnhiều thành phố lớn
Trang 7- Walmart ngược lại, là người dẫn đầu trong lĩnh vực bán lẻ truyền thống cũngdần lấn sân sang bán lẻ trực tuyến bằng việc mua Jet.com và các nhà bán lẻtrực tuyến ModCloth, Bonobos và Moosejaw
- Các nhà bán lẻ cũng luôn thực hiện các cuộc mua bán, sát nhập để mở rộngthị trường của mình ra quốc tế: Wal Mart liên kết với Cifra, một thương hiệubán lẻ nổi tiếng tại vùng nông thôn Mexico, tập đoàn bán lẻ Aeon của Nhậtbản mua lại chuỗi bán lẻ Talbots tại Mỹ bao gồm 150 cửa hàng bán quầnáo… Hãng kinh doanh Video Blockbuster đã mở rộng hoạt động của mìnhtại Châu Âu theo một cách khác Nó đã có 4000 cửa hàng tại khắp 16 nướcChâu Âu và đang xây dựng thương hiệu bán lẻ Blockbuster của mình
Một số đối thủ có hành vi phản công quyết liệt để gia tăng thị phần, thu hút khách hàng:
Cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không chỉ dừng lại giữa các doanhnghiệp bán lẻ truyền thống hoặc giữa các doanh nghiệp bán lẻ trực tuyến Hai loạihình bán lẻ này ngành càng có mức độ cạnh tranh khốc liệt với nhau với mongmuốn đánh bật đối thủ Trong khi đó, một loại hình bán lẻ mới kết hợp đã ra đời
Mô hình bán lẻ “Buy online, pick-up in stores” - Mua trực tuyến, lấy hàng tạicửa hàng ra đời Mô hình này cho phép khách hàng mua đồ trực tuyến và tự mìnhđến các cửa hàng của hãng để nhận đồ.Các doanh nghiệp đang sử dụng mô hìnhnày: Walmart, Amazon, Target, Nordstrom, Ebay … Khi đó, các doanh nghiệp sẽcấp cho khách hàng một tủ đồ và cho phép khách hàng có thể đến lấy hàng sau 2-3giờ đặt hàng Điều này sẽ giúp khách hàng biết được món hàng đó còn hay không,tiết kiệm thời gian chờ nhận hàng của khách hàng đồng thời giảm được chi phí vậnchuyển của các doanh nghiệp
Hiện có khoảng 40% người tiêu dùng của nước Mỹ đang sử dụng mô hìnhnày
2 Áp lực cạnh tranh từ khách hàng:
Mỹ, đất nước với khoảng 300 triệu dân, là một thị trường tiêu thụ tương đốilớn Khách hàng Mỹ ngày càng tiến tới xu hướng chung là tiếp cận các kênh phânphối hiện đại như siêu thị và các cửa hàng tự chọn, tạo nên những xu hướng tiêudùng mới hình thành tại các đô thị Sự tăng lên về nhu cầu hàng hóa, dịch vụ chấtlượng cao của khách hàng đòi hỏi các doanh nghiệp bán lẻ cần không ngừng nângcao chất lượng dịch vụ của mình Đặc biệt khi mà cơ hội lựa chọn nhiều sản phẩm
Trang 8đa dạng với mẫu mã phong phú, chất lượng tốt hơn ngày càng cao từ các sản phẩmnhập khẩu, khách hàng có vị thế mặc cả ngày càng cao Đồng thời việc dỡ bỏ cáchàng rào thuế quan thương mại sẽ làm sản phẩm ngoại ào ạt nhập vào trong nước,tạo cơ hội đầu tư phát triển mạnh cho các doanh nghiệp phân phối hàng hóa, dịch
vụ của nước ngoài
Bên cạnh đó, sự gia tăng của toàn cầu hóa trong thế giới ngày nay cùng với
đó là sự tăng trưởng mạnh mẽ của thương mại điện tử đã giúp khách hàng có nhiềulựa chọn hơn, điều này đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc chi tiêu của người tiêudùng Họ chi tiêu khôn ngoan hơn, tiết kiệm hơn và nâng cao mối quan tâm cho giátrị đồng tiền Để kích thích tiêu dùng và gia tăng doanh số, các doanh nghiệp bán lẻ
đã tích cực đưa ra các chiến lược quảng cáo, khuyến mại Điều này làm cho chi phígia tăng Trong điều kiện hiện nay, năng lực của người mua đối với ngành bán lẻ làrất cao bởi lẽ có rất nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động trên thị trường và ngườitiêu dùng dễ dàng chuyển sang một nhà bán lẻ khác mà chi phí chuyển đổi là khôngcao Họ dễ dàng lựa chọn các nhà bán lẻ khác và sẵn sàng từ bỏ nếu các doanhnghiệp bán lẻ hiện tại không đáp ứng được các yêu cầu của mình Khách hàng luônmong muốn các nhà bán lẻ phân phối các sản phẩm có chất lượng cao nhưng ở mứcgiá thấp
Năng lực thương lượng của người mua cao
3 Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế: Áp lực cạnh tranh cao
Bên cạnh sự cạnh tranh khốc liệt trên từ các doanh nghiệp trong nội bộngành, các doanh nghiệp bán lẻ còn phải đối mặt với sự cạnh tranh đến từ nhiềuloại hình thay thế khác
Các cửa hàng thuốc và thiết bị y tế, cửa hàng chuyên bán thực phẩm và hoaquả, cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ phân bố thuận tiện trong các khu dân cư Với lợi thếquy mô nhỏ và tiện lợi các cửa hàng này có thể len lỏi vào từng khu dân cư Khi đókhách hàng có thể lựa chọn các cửa hàng này bởi họ có thể dễ dàng mua sắmnhững vật dụng cần thiết mà không cần phải đi xa, tới các cửa hàng bán lẻ lớn Cóthể thấy chí phí chuyển đổi của việc sử dụng các sản phẩm thay thế là không cao.Chợ cũng là một loại hình thay thế khác Người tiêu dùng có thể lựa chọn mua cácmặt hàng thực phẩm ở chợ bởi mức giá rẻ và độ tươi Bên cạnh đó, với sự pháttriển mạnh mẽ của internet cũng như các phương tiện truyền hình khiến việc muahàng hóa qua truyền hình trở nên phổ biến hơn Người tiêu dùng có thể ưu tiên lựa
Trang 9chọn loại hình mua hàng này bởi tính tiện dụng cao của nó thay vì mất thời gian đitới các cửa hàng bán lẻ lựa chọn và mua từng món đồ.
Qua đó, có thể nhận thấy rằng, áp lực cạnh tranh mà các sản phẩm thay thếgây ra cho các doanh nghiệp trong ngành bán lẻ là tương đối cao Điều đó khiếncác nhà bán lẻ buộc phải giảm giá hoặc gia tăng dịch vụ chăm sóc khách hàng đểníu giữ khách hàng
4 Áp lực cạnh tranh từ phía các nhà cung cấp: Vị thế mặc cả của nhà cung cấp không cao
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành bán lẻ các nhà cung cấp làmột trong những yếu tố quan trọng nhất giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh so với đối thủhay không Do đó các nhà bán lẻ luôn tìm cách thiết lập những mối quan hệ hợp táctốt đẹp và lâu dài với các nhà cung cấp của mình Quản trị tốt chuỗi cung ứng cóthể giúp các doanh nghiệp bán lẻ gặt hái thành công trong ngành bán lẻ cạnh tranhgay gắt và khốc liệt như ngày nay
Các sản phẩm mà các doanh nghiệp bán lẻ cần từ các nhà cung cấp trên thịtrường Mỹ thường có mức độ tiêu chuẩn hóa cao chẳng hạn như: thực phẩm, đồuống, hàng tiêu dùng, Từ đó vị thế mặc cả của nhà cung cấp so với các doanhnghiệp bán lẻ thường không quá cao
Ở Mỹ, số lượng các nhà cung cấp lớn, đa dạng, các doanh nghiệp bán lẻ cóthể mua từ các nhà sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu từ nước ngoài Các nhà sảnxuất ở Mỹ thường khá lớn và có thể đáp ứng được nhu cầu đa dạng về hàng hóacho các doanh nghiệp bán lẻ Ở Mỹ có khá nhiều công ty sản xuất lớn và uy tín trêncác lĩnh vực như: hàng tiêu dùng, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, thực phẩm và thứcuống, Về hàng tiêu dùng phải kể đến hai công ty đa quốc gia là Procter &Gamble và Unilever, đây là hai nhà cung cấp lớn và có uy tín trên phạm vi toàncầu Các sản chăm sóc sức khỏe cũng có nhiều nhà cung cấp chẳng hạn Johnson &Johnson, Colgate-Palmolive, Với các mặt hàng về thực phẩm và thức uống, cácdoanh nghiệp bán lẻ có thể lựa chọn các nhà cung cấp có tầm cỡ toàn cầu nhưPepsico, Coca-Cola, Bunge Limited, Bên cạnh đó các doanh nghiệp bán lẻ cũng
có sự lựa chọn đa dạng hơn với nhiều nhà cung cấp địa phương khác không chỉ cócác nhà cung cấp trong nước, các doanh nghiệp bán lẻ Mỹ còn có thể khai thác cácnhà cung cấp từ nước ngoài như: Nestle, Wilmar International, Với số lượng lớn
Trang 10các nhà cung cấp có uy tín cả ở trong nước và nước ngoài thì vị thế thương lượngcủa các doanh nghiệp bán lẻ là tương đối cao.
Bên cạnh đó, chi phí chuyển đổi nhà cung cấp của các doanh nghiệp bán lẻtrong ngành là không quá tốn kém và khó khăn Bởi số lượng lớn các nhà cung cấp
và tính tiêu chuẩn hóa cao của sản phẩm cũng như sự cạnh tranh giữa các nhà cungcấp
Qua đó, có thể thấy rằng vị thế mặc cả của các doanh nghiệp bán lẻ với cácnhà cung cấp là khá cao Khi đó, các nhà bán lẻ có lợi thế hơn trong việc đưa ra yêucầu về tiêu chuẩn chất lượng cũng như các điều khoản chiết khấu với các doanhnghiệp cung cấp
5 Áp lực cạnh tranh từ phía các đối thủ mới có thể gia nhập: Áp lực cạnh tranh trung bình.
Các doanh nghiệp bán lẻ luôn phải chú ý đến sự gia nhập của đối thủ mới.Mức độ cạnh tranh của các đối thủ mới cao do rào cản thương mại và chính sáchcủa chính phủ luôn khuyến khích cho ngành bán lẻ Các sản phẩm của ngành bán lẻđược chia ra các phân khúc cao cấp, trung bình và thấp Theo đó việc cạnh tranhgiữa các phân khúc cũng có thể chia nhỏ theo các thành phần sau:
- Chi phí phát triển thương hiệu
- Chi phí kinh doanh
- Chi phí vốn
Đối với phân khúc cao cấp như ô tô, trang sức, quần áo cao cấp, các doanhnghiệp muốn thâm nhập vào thị trường bán lẻ trước tiên cần có nguồn lực tài chínhrất lớn Đầu tiên là cần vốn để nghiên cứu và phát triển sản phẩm với hàm lượng trithức cao để phục vụ cho tầng lớp cao cấp Tiếp theo việc xây dựng một thươnghiệu mạnh cũng là điều cần thiết khi hoạt động bán lẻ trong phân khúc cao cấp.Điều này chính là một trong những rào cản khiến cho các đối thủ tiềm năng khóxâm nhập vào phân khúc này Bên cạnh đó, mức độ dị biệt hóa của sản phẩm trongphân khúc cao cấp này là vô cùng cao Các sản phẩm của dòng ô tô cao cấp BMW,trang sức của Cartier hay các hãng thời trang Louis Vuiton luôn có sự khác biệt sovới các sản phẩm khác Vì vậy mà các khách hàng đã sử dụng các sản phẩm nàyluôn có một lòng chung thủy với hãng Những điều trên đều là những rào cản lớn
Trang 11ngăn cản các đối thủ mới gia nhập ngành bán lẻ trong phân khúc cao cấp, vì vậy màmức độ cạnh tranh từ những đối thủ mới có thể gia nhập là thấp.
Trong phân khúc trung bình và thấp, sự cạnh tranh lại có sự khác biệt
5.1 Trong thời kỳ vàng kim của ngành bán lẻ truyền thống:
Khoảng trước năm 2009, các chuỗi cửa hàng bách hóa lớn đều mở rộng thêmcác cửa hàng qua hàng năm (Trung bình 5%/ năm - theo số liệu của 10-K’) Năm
2009, Sears có 3862 cửa hàng trên toàn thế giới (năm 2011 - 4010 cửa hàng) Cáchãng bán lẻ cố gắng tiếp cấn người tiêu dùng càng nhiều càng tốt bằng cách có mặt
ở khắp nơi trên đất nước Người tiêu dùng không cần phải đi xa để có thể tiếp cậnmua một hàng hóa Vì vậy đối thủ mới muốn gia nhập có bỏ ra một chi phí cố địnhlớn để thuê địa điểm làm cửa hàng, kho bãi; đồng thời cũng rất khó để tìm được các
vị trí thuận lợi để mở cửa hàng Các doanh nghiệp trong ngành cũng đã phát triểnrất mạnh, chiếm một thị phần lớn Vì vậy các doanh nghiệp này có khả năng và sẽ
có những phản ứng quyết liệt nhằm ngăn cản nỗ lực gia nhập của các đối thủ mới
Tuy nhiên các sản phẩm ở phân khúc này lại có mức độ dị biệt hóa thấp docác công ty doanh nghiệp muốn sử dụng tính kinh tế quy mô để giảm chi phí, lấygiá làm một vũ khí để cạnh tranh
Lòng trung thành của khách hàng đối với phân khúc này không cao Do cácsản phẩm thay thế luôn xuất hiện với chất lượng và giá cả ngày càng tốt hơn
Vì vậy mà mức độ cạnh tranh từ những đối thủ mới trong phân khúc này vẫn
ở mức trung bình và cao
5.2 Trong thời kỳ của bán lẻ trực tuyến:
Khi bán lẻ trực tuyến lên ngôi, chi phí cố định để thuê địa điểm không còncần thiết nữa Khách hảng sẽ chỉ cần ngồi nhà và bấm chuột để có thể có một món
đồ đến tay mình Tuy nhiên chính điều này cũng đã đặt ra một thách thức mới,khách hàng sẽ mua hàng với niềm tin vào doanh nghiệp Do không thể cầm lên,kiểm tra và thử, khách hàng sẽ băn khoăn liệu sản phẩm có tốt không Từ đó, doanhnghiệp trước tiên sẽ cần bỏ một lượng lớn chi phí để xây dựng một thương hiệumạnh, khiến khách hàng trước tiên tin vào doanh nghiệp của mình
Với các thao tác trực tuyến, doanh nghiệp cũng cần có một nền tảng côngnghệ cao, đảm bảo việc vận hành tốt đồng thời có thể bảo mật được thông tin củakhách hàng Amazon trở thành nhà bán lẻ lớn nhất nước Mỹ cũng là nhờ luôn đi
Trang 12đầu trong lĩnh vực công nghệ để đem đến trải nghiệm tốt hơn cho người tiêu dùng,đồng thời luôn cải tiến để phát triển.
Các doanh nghiệp bản lẻ trực tuyến cũng sẽ phải xây dựng cho mình một độingũ vận chuyển, logistic một cách chuyên nghiệp để liên tục quản lý, vận chuyểnhàng hóa từ kho đến tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất
Mặc dù những khó khăn đó, nguy cơ từ những đối thủ mới có thể gia nhậpvẫn ở mức trung bình và cao Các công ty công nghệ trong kỷ nguyên số vẫn luôncải tiến và phát triển sản phẩm của mình Vì vậy khi mà rào cản thương mại cũngnhư chính sách của chính phủ không hề khó khăn, những đối thủ tiềm năng đến từnhững tập đoàn công nghệ sẽ mang đến một nguy cơ lớn Bên cạnh đó, nền kinh tếcủa thế giới cũng đang dần dịch chuyển sang kinh tế chuỗi Trong đó việc quản lýhậu cần, vận chuyển, logistic ngày càng phát triển và đạt đến trình độ cao Cácdoanh nghiệp này cũng sẽ là những đối thủ tiềm năng lớn mà các doanh nghiệp bán
lẻ phải chuẩn bị
Trang 13Chương 3: Bản đồ nhóm chiến lược ngành bán lẻ
I Khái quát về bản đồ nhóm chiến lược
1 Khái niệm nhóm chiến lược
Nhóm chiến lược là một tập hợp các đối thủ trong ngành có cách tiếp cậncạnh tranh và vị thế thị trường tương tự nhau Các công ty trong nhóm chiến lược
có thể giống nhau ở một số phương diện như có thể cùng chủng loại sản phẩm, sửdụng cùng một kênh phân phối, mời chào khách hàng những loại sản phẩm cóthuộc tính tương tự để thu hút các loại khách hàng, sử dụng các công nghệ giốngnhau
2 Bản đồ nhóm chiến lược của ngành cho thấy điều gì?
- Bản đồ nhóm chiến lược cho thấy đâu là đối thủ gần và đối thủ xa đối vớidoanh nghiệp cụ thể nào đó
- Bản đồ nhóm chiến lược cho thấy không phải tất cả các vị trí trên bản đồ đềuhấp dẫn như nhau Lý do:
+ Thứ nhất, áp lực cạnh tranh nội tại trong ngành có thể khiến cho tiềm nănglợi nhuận của nhóm chiến lược là khác nhau
+ Thứ hai, các yếu tố chi phối ngành có thể tạo thuận lợi cho một số nhómchiến lược, nhưng lại gây trở ngại cho các nhóm khác
II Bản đồ nhóm chiến lược của ngành bán lẻ tại Mỹ:
1 Các tiêu chí được sử dụng:
Giá/Chất lượng: Để phân cấp các đối thủ cạnh tranh cũng như xác định đâu
là đối thủ gần, đâu là đối thủ xa, ta thường sử dụng tiêu chí về giá cả Và thôngthường, giá cả sẽ đi kèm với chất lượng Một nhãn hiệu theo đuổi phân cấp tầm caothường sản xuất các sản phẩm có chất lượng tốt với mức giá cao hoặc rất cao Việclựa chọn tiêu chí giá cả là thước đo cụ thể nhất, dễ dàng nhất để có thể phân biệtđược các nhóm chiến lược trên thị trường Mỹ
Độ phủ địa lý: Đánh giá sự phổ biến của các nhãn hiệu trong cùng một nhóm
chiến lược, cho thấy sự tương đồng giữa các nhãn hiệu trong cùng một nhóm và sựkhác nhau giữa các nhóm chiến lược về độ phủ địa lý để qua đó có thể thấy đượcchiến lược của các hãng trong việc nâng cao sự phổ biến bằng cách mở rộng hệthống cửa hàng
Trang 141.1.1 Giới thiệu chung về Walmart:
Walmart là một công ty công cổ phần công khai Mỹ, hiện là một trong nhữngcông ty lớn nhất thế giới (theo doanh số) theo công bố của Fortune 500 Walmart là
Gucci, Chanel, Fendi
TJ Maxx
Wal-Mart, K-mart Target
Macy’s, Nordstorm, Dillards
Trang 15nhà bán lẻ tạp hóa lớn nhất Hoa Kỳ, với khoảng 20% doanh thu hàng tiêu dùng vàtạp phẩm, Walmart cũng là công ty bán đồ chơi lớn nhất Hoa Kỳ với khoảng 45%doanh số tiêu thụ đồ chơi, vượt qua Toys "R" Us cuối thập niên 1990 Walmart vẫn
là một doanh nghiệp gia đình do gia đình Walton sở hữu
1.1.2 Độ phủ địa lý, thị phần
Tính đến năm 2011, Tổng số cửa hàng ở 50 tiểu bang Hoa Kỳ là 3,697 Cáccửa hàng Walmart nằm ở 2.651 thành phố và Texas dẫn đầu với 517 cửa hàng vàtiếp theo là Florida và California
1.1.3 Mức giá:
Chiến lược của Walmart là bán nhiều hàng với giá rẻ sẽ thu lợi hơn là bánhàng ít với giá cao Walmart nổi tiếng là bán hàng hạ giá, hướng tới người tiêudùng có thu nhập thấp và trung bình Hiện nay, công ty đã phân tán thị trường đếnngười tiêu dùng có thu nhập cao Họ đã chứng minh cho khách hàng thấy khi tớiWalmart, hàng hóa có giá rẻ hơn nhưng chất lượng vẫn như nhau
Giảm giá, giảm giá và giảm giá nhiều hơn nữa – Nghệ thuật bán hàng bậccao không bao giờ “lỗi thời” với khách hàng Đây chính là nguyên nhân giúp cửahàng của Walmart luôn đông đúc hơn các đối thủ
1.2 K- mart:
1.2.1 Giới thiệu chung:
Kmart là một chi nhánh của tổng công ty cổ phần Sears, là công ty bán hànghóa khối lượng lớn, cung cấp cho khách hàng các sản phẩm có chất lượng của cácthương hiệu độc quyền đã từng gặp phải những khó khăn và thất bại trong quákhứ, tuy nhiên, từ 2005 đến nay, Kmart đã phục hồi lại và Tổng công ty Kmart làchuỗi bán lẻ lớn thứ ba tại Hoa Kỳ sau Wal-Mart và Target Kmart không chỉ đưasản phẩm với giá thành thấp đến tay người tiêu dùng mà các sản phẩm mới củacông ty bao gồm các hàng hóa có thương hiệu riêng
1.2.2 Độ phủ địa lý:
Sau khi tuyên bố thiệt hại kinh ngạc trong năm 1995 và 1996, Kmart lại quaysang đạt lợi nhuận trong năm 1997 Chiến lược kinh doanh cốt lõi của công ty là trởthàng một nhà bán lẻ giảm giá Từ năm 1993 công ty đã nhượng lại các cửa hàngkhông nòng cốt cũng như tất cả các hoạt động quốc tế của mình để tập trung vàophục vụ khách hàng tại Hoa Kỳ, Puerto Rico,Guam và quần đảo Virgin thuộc