Báo cáo thực tập Đề tài Tìm hiểu định kiến xã hội đối với phụ nữ (Xã Mỹ Lộc Huyện Hậu Lộc Tỉnh Thanh Hoá) PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1 Lý do chọn đề tài Trong xã hội Á đông truyền thống, vai trò, vị tr[.]
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Lý do chọn đề tài
Trong xã hội Á đông truyền thống, vai trò, vị trí của người phụ nữ luôn bị đánh giá thấp Họ luôn bị những quy định ràng buộc chặt chẽ của xã hội phong kiển trói buộc như : “ tam tòng tư đức, công - dung - ngôn - hạnh ”…Người phụ nữ luôn phải nín nhịn, chấp nhận địa vị hèn kém của mình cả trong gia đình và ngoài xã hội
Ngày nay, xã hội đã làm cho quan niệm lỗi thời đó dần mất đi Người phụ nữ được quyền phát huy năng lược, khẳng định vị thế của mình cả trong gia đình và ngoài xã hội Nhiều người phụ nữ đã vươn lên chiếm lấy những đỉnh cao trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật…
Tuy nhiên, những định kiến đối với phụ nữ vẫn còn ít nhiều tồn tại nhất là ở các vùng nông thôn nước ta Người phụ nữ vẫn còn chịu sự phân biệt đối xử theo những tư tưởng tập quán lạc hậu của xã hội cũ Điều này đặt ra cho chúng ta phải làm như thế nào để góp phần xóa đi những định kiến, quan niệm lỗi thời đó xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình là : “ Tìm hiểu định kiến xã hội đối với nữ giới ” (Nghiên cứu tại xã Mỹ lộc- huyện Hậu Lộc- tỉnh Thanh Hoá).
Mục đích nghiên cứu
- Nhằm đưa ra thực trạng về định kiến đối với nữ giới ở địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất những giải pháp kiến nghị góp phần khắc phục định kiến đối với người phụ nữ.
Đối tượng nghiên cứu
Định kiến của người dân về người phụ nữ.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề định kiến và định kiến giới
- Làm rõ các khái niệm : Giới và giới tính, định kiến xã hội, định kiến giới, khuôn mẫu giới, vai trò giới, bình đẳng giới
- Nhận thức của người dân tại địa bàn nghiện cứu thể hiện định kiến với người phụ nữ
- Thái độ đánh giá thể hiện định kiến với người phụ nữ
- Xu hướng hành vi thể hiện định kiến với người phụ nữ.
Khách thể và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu gồm 150 người dân tại địa bàn xã Mỹ Lộc- Huyện Hậu Lộc- Tỉnh Thanh Hoá, được xác định trên tiêu chí cụ thể về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn
Bảng 1 : Tóm tắt những đặc điểm của mẫu nghiên cứu :
STT Tiêu chí Nội dung Số lượng ngưới Tỷ lệ%
Từ 25 đến 40 tuổi Trên 40 tuổi
Cấp1, cấp2 Cấp 3 Cao đẳng, đại học Không trả lời
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ tìm hiểu định kiến với nữ giới thể hiện các khía cạnh sau :
5 2 1 Định kiến với người phụ nữ về cương vị, vai trò của người phụ nữ trong xã hội, khả năng thành công của họ so với nam giới khi nắm giữ các chức vụ quan trọng trong xã hội Định kiến về các mối quan hệ xã hội của nữ giới …
5 2 2 Định kiến với phụ nữ trong lao động sản xuất : người quyết định trong lao động sản xuất trong nhà, tính toán kinh tế trong gia đình, chủ hôn lễ.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi : Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài này Để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đua ra bảnh hỏi gồm 20 câu hỏi đề cập đến các nội dung nghiên cứu ở phần trên
- Phương pháp phân tích tài liệu : Chúng tôi tham khảo các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu nhằm xây dưng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu của mình
- Phương pháp quan sát : Trong quá trình điều tra, phỏng vấn, chúng tôi kết hợp quansát đối tượng để thu thập thông tin từ phía khách thể nghiên cứu
- Trong báo cáo này, chúng tôi có sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu.
Giả thuyết nghiên cứu
Định kiến với nữ giới thể hịên ở các mặt : Người dân tại địa bàn nghiên cứu cho rằng người phụ nữ không có khả năng đảm nhiện những cương vị, vị trí quan trọng trong xã hội, trong lao động sản xuất, người phụ nữ không có quyền phân công lao động và phân phối sản phẩm lao động Trong gia đình,người phụ nữ luôn bị đánh giá thấp trong việc thực hiện chức năng của mình.Điều đó làm cản trở sự phát triển và thực hiện vai trò của người phụ nữ.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1 Các nghiên cứu về định kiến và định kiến giới trên thế giới :
Năm 1933, D Katz và k Braly đã tiến hành nghiên cứu về định kiến dân tộc trên khách thể nghiên cứu là sinh viên kết quả nghiên cứu cho thấy định kiến dân tộc được xác lập trên cơ sở thiếu hụt giao tiếp giữa các sinh viên với đại diện các dân tộc đó
Năm1947, Clark đã nghiên cứu ảnh hưởng của định kiến dân tộc đối với phản ứng của những đứa trẻ về những con búp bê hoặc con rối có màu da khác nhau Clark đã nhận thấy hầu hết những đúa trẻ da đen được thực nghiệm đều thích con bút bê màu trắng chúng cho rằng búp bê màu là tốt, con bút bê màu đen là xấu Từ kết quả nghiên cứu ông rút ra kết luận : Một số trẻ em da đen đã có tình cảm căm thù và nhầm lẫn trong cảm xúc tự động hoá, một sự khinh miệt lạc hướng, chống lại chính bản thân mình
Năm 1960 M Robeach đã nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến định kiến dân tộc Ông cho rằng : Định kiến nảy sinh trên cơ sở sự khác biệt về niềm tin mang tính nhận thức Người ta thường thích những người có niềm tin và giá trị giống với mình và không thích những người có niềm tin và giá trị khác với mình. Chính quan niệm về giới khác với mình là nguyên nhân dẫn tới định kiến với mục đích xác định vai trò của những xung đột giữa các nhóm trong sự hình thành định kiến, Sherif đã tiến hành thực nghiệm ở hai nhóm con trai không quen biết nhau Trước hết mỗi nhóm có hoạt động riêng sau đó, ông đề nghị tổ chức những trò chơi tranh đua giữa hai nhóm Ông nhận thấy rằng : hai nhóm thiết lập những phân biệt rõ nét giữa nhóm này với nhóm khác Đối với mỗi em, nhóm của mình được coi là giỏi hơn và cả hai nhóm bắt đầu khinh thường nhau. Ông rút ra kết luận :
- Các định kiến tác động như những chuẩn mực của nhóm, những chuẩn mực này tạo một tập hợp những thái độ bất lợi đối với bên ngoài Điều này có
Cơ sở lý luận của đề tài
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1 Các nghiên cứu về định kiến và định kiến giới trên thế giới :
Năm 1933, D Katz và k Braly đã tiến hành nghiên cứu về định kiến dân tộc trên khách thể nghiên cứu là sinh viên kết quả nghiên cứu cho thấy định kiến dân tộc được xác lập trên cơ sở thiếu hụt giao tiếp giữa các sinh viên với đại diện các dân tộc đó
Năm1947, Clark đã nghiên cứu ảnh hưởng của định kiến dân tộc đối với phản ứng của những đứa trẻ về những con búp bê hoặc con rối có màu da khác nhau Clark đã nhận thấy hầu hết những đúa trẻ da đen được thực nghiệm đều thích con bút bê màu trắng chúng cho rằng búp bê màu là tốt, con bút bê màu đen là xấu Từ kết quả nghiên cứu ông rút ra kết luận : Một số trẻ em da đen đã có tình cảm căm thù và nhầm lẫn trong cảm xúc tự động hoá, một sự khinh miệt lạc hướng, chống lại chính bản thân mình
Năm 1960 M Robeach đã nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến định kiến dân tộc Ông cho rằng : Định kiến nảy sinh trên cơ sở sự khác biệt về niềm tin mang tính nhận thức Người ta thường thích những người có niềm tin và giá trị giống với mình và không thích những người có niềm tin và giá trị khác với mình. Chính quan niệm về giới khác với mình là nguyên nhân dẫn tới định kiến với mục đích xác định vai trò của những xung đột giữa các nhóm trong sự hình thành định kiến, Sherif đã tiến hành thực nghiệm ở hai nhóm con trai không quen biết nhau Trước hết mỗi nhóm có hoạt động riêng sau đó, ông đề nghị tổ chức những trò chơi tranh đua giữa hai nhóm Ông nhận thấy rằng : hai nhóm thiết lập những phân biệt rõ nét giữa nhóm này với nhóm khác Đối với mỗi em, nhóm của mình được coi là giỏi hơn và cả hai nhóm bắt đầu khinh thường nhau. Ông rút ra kết luận :
- Các định kiến tác động như những chuẩn mực của nhóm, những chuẩn mực này tạo một tập hợp những thái độ bất lợi đối với bên ngoài Điều này có hậu quả là trừng phạt bất cứ thành viên nào trong nhóm biểu lộ một thái độ tích cực đối với một thành viên thuộc nhóm khác
- Sự phát triển của các định kiến đem lại cảm giác về sự trội hơn và tăng thêm giá trị của bản thân Mỗi thành viên sẽ cảm thấy tự tin và mạnh mẽ hơn khi tự gán cho mình những phẩm chất mà mình phát hiện thấy ở trong nhóm
- Sự đoàn kết và tình bạn bè giữa các thành viên trong nhóm thực hiện đối với nhau Điều này được hiểu như là một sự khác biệt với những ngưới khác, xa cách và loại trừ tất cả những ai không được thừa nhận là bộ phận của nhóm
Năm 1968, Rosenthal và Jacobfon đã tiến hành thực nghiệm ở một lớp thuộc trường tiểu học nhằm xác định hiệu ựng Pygmalion trong định kiến Hai ông đã chọn ngẫu nhiên 20% số học sinh của mỗi lớp và thông báo với các giáo viên là các em có khả năng phát triển trí tuệ trong tương lai gần Sau vài tháng, những em học sinh được coi là có khả năng phát triển trí tuệ trong tương lai gần đã có hệ thông minh cao hơn hẳn so với những em thuộc nhóm đối chứng Điều nay lý giải là do thái độ tích cực và sự mong đợi của các giáo viên đã dẫn đến những đánh giá tốt và cho điển cao hơn chứ không phải do có một sự thông minh lớn hơn Hiệu ứng này cho thấy : sự đánh giá phản chất hay những thành đạt của người khác phụ thuộc rất lớn vào sự mong đợi của mỗi người
Các định kiến về giới tính cũng đã dược nghiên cứu Theo kết quả nghiên cứu của Rosen Krantz : Phụ nữ bị quy là người nói dai, dịu dàng, quan tâm tới bề ngoài, có nhu cầu được che chở, còn đàn ông được coi là người có tính độc lập, khách quan, tư duy lô gic, năng động, tự tin và nhiều tham vọng Đàn ông và chính những người phụ nữ cũng thấy những nét tiêu biểu gắn liền với đàn ông là có giá tri và những nét gắn liền với phụ nữ là những nét tiêu cực
Một nghiên cứu khác về định kiến giới của Jackson và Grabski cho thấy:phụ nữ thường có những trông đợi về sự nghiệp của mình thấp hơn so với nam giới Đối với những công việc có địa vị cao hoặc trung bình, phụ nữ yêu cầu mức lương chính thức thấp hơn nam giới
1.2 Các nghiên cứu vềđịnh kiến và định kiến giới ở trong nước
Vấn đề định kiến cũng đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu ở nước ta. Những nghiên cứu này phần lớn là khoá luận tốt nghiệp của sinh viên và một số nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành
Tác giả Đỗ Hoàng thông qua việc nghiên cứu “ áp lực của một số định kiến xã hội đối với nam giới” đã cho thấy nam giới vẫn được nhìn nhận theo quan điểm truyền thống : Phải có tính mạnh mẽ, là chủ gia đình, có địa vị xã hội
… Điều này gây nên áp lực lớn, cản trở sự phát triển tự nhiên của nam giới
Tác giả khánh Phượng đã nghiên cứu : “ Định kiến giới của các bậc cha me trong hoạt động giáo dục con cái tại gia đình” đã rút ra kết luận : Định kiến giới trong giáo dục con cái vẫn còn tồn tại Tuỳ theo đứa trẻ là trai hay gái mà cha mẹ có những định hướng giáo dục và gắn cho trẻ những phẩm chất và tính cách nhất định như con trai phải mạnh mẽ, can đảm, con gái phải hiền lành, đảm đang
Tác giả Phạm Đức Chuẩn trong luận văn thạc sĩ Tâm lý học đã nghiên cứu “ Định kiến xã hội đối với nữ giới ” ( 2004) Tác giả rút ra kết luận : Định kiến với nữ giới vẫn còn tồn tại ở nhiều mặt như đánh giá về các nét tính cách xấu của nữ giới, đánh giá thấp khả năng lãnh đạo của nữ giới, cơ hội tiếp cận nguồn lực của nữ giới thấp hơn nam giới
Trên đây là những nét sơ lược về nghiên cứu định kiến và định kiến giới cả trong và ngoài nước Nghiên cứu về định kiến nói chung và định kiến giới nói riêng là một vấn đề khó khăn cần phải tiếp tục đi sâu hơn nữa.
Các khái niêm cơ bản
2.1 Khái niệm giới tính và giới
Giới tính chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học Sự khác biệt nay chủ yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi và do các yếu tố di truyền tự nhiên quy định
Giới tính có đặc trưng cơ ban sau :
- Tính bẩm sinh di truyền : Về phương tiện sinh học, giới tính được quyết định bởi hệ nhiễm sắc thể mà ở phụ nữ là XX, còn nam giới có một nhiễm sắc thể X và một nhiễm sắc thể Y Cả nam giới và nữ giới đều có Tetosteron( hoóc môn giới tính nam) và ostrgen ( hoóc môn giới tính nữ ) nhưng với liều lượng khác nhau Các yếu tố này quy định sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà ngay từ khi ở trong bào thai và ảnh hưởng đến sự phát triển khác nhau giữa nam và nữ. Tính trung bình nam giới cao hơn, nặng hơn và có cơ bắp hơn ( khoảng7 %) so với phụ nữ Đây là những đặc điểm được hình thành tự nhiên không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người
- Tính đồng nhất : Mọi đàn ông cũng như mọi đàn bà trên khắp thế giới và ở mọi thế hệ đều có cấu tạo giống nhau về mặt sinh học Người phụ nữ ở bất kỳ địa phương nào cũng đều có khả năng mang thai, Sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ còn đàn ông thì có chức năng sinh sản
- Tính không biến đổi : Giới tính nói lên tính ổn định về tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinh sản của phụ nữ và nam giới là không thể thay đổi hoặc dịch chuyển cho nhau Giới tính là bất biến về thời gian cũng như không gian
Giới dùng để chỉ các mối quan hệ xã hội, vai trò, trách nhiệm và quyền hạn mà xã hội quy định cho nam giới và nữ giới Nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới từ góc độ xã hội
* Những đặc điểm cơ bản của giới :
- Do dạy và học mà có : Sự hình thành những phẩm chất đặc trưng cho phụ nữ hay đàn ông do chính sự giáo dục từ khi còn rất nhỏ, đứa trẻ phải học hỏi để trở thành con trai, con gái
- Đa dạng : Giới thể hiện các đặc trưng xã hội của phụ nữ và nam giới rất đa dạng Những đặc trưng về giới như cách ứng sử, phân công lao động, sự hưởng thụ vật chất, văn hoá, cách ăn mặc… đều chịu ảnh hưởng của nền văn hoá và điều kiện kinh tế xã hội
- Luôn biến đổi : Cùng với sự phát triển của xã hội, tương quan giới cũng dần có sự biến đổi theo Ngày xưa, người phụ nữ luôn bị đánh giá thấp song ngày nay mối tương quan ấy đã dần được thay đổi và tiến tới sự bình đẳng giữa nam và nữ
Như vậy, khái niệm giới và khái niệm giới tính là hai khái niệm cặp đôi với nhau, luôn gắn liền với nhau Giới chỉ có thể hiểu đúng khi so sánh với giới tính Vấn đề quan trọng là cần phân biệt những đặc điểm về giới có thể thay đổi được Định kiến giới tính được hình thành và củng cố là do sự đánh đồng những khác biệt sinh học và những khác biệt xã hội giữa nam và nữ - khẳng định sự thống trị và thành đạt của nam giới là khả năng không thể đảo ngược bởi có sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ Xét từ khía cạnh phát triển, việc quá nhấn mạnh những ưu thế sinh học của nam giới sẽ gây ra những tác hại làm hạn chế tiềm lực của người phụ nữ Mặt khác, nam giới cũng phải chịu nhiều áp lực do quyền lợi họ có được luôn gắn với trách nhiệm nặng nề Điều này làm hạn chế sự phát triển của cả hai giới vì vậy, hiểu đúng mối quan hệ chặt chẽ giữa hai khái niệm giới và giới tính sẽ đảm bảo sự bình đẳng, sự phát triển hài hoà của cả nam và nữ giới
2.2 Khái niệm định kiến xã hội
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về định kiến, tuỳ theo góc độ nghiên cứu khác nhau
Trong cuốn từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên : Định kiến xã hội là quan niệm đơn giản, máy móc thường không đúng sự thật thể hiện trong lĩnh vự nhận thức hằng ngày về một khách thể nào đó Định kiến xã hội tìm kiếm những đặc tính không đặc trưng của khách thể dù chúng có thể có tính bền vững tương đối Những hiện tượng xuất hiện trong lĩnh vực giao tiếp giữa các cá nhân và trong tri giác xã hội như tâm thế xã hội, ấn tượng của vinh quang, những biểu hiện lần đầu mới tạo điều kiện cho tồn tại và mở rộng định kiến xã hội
Theo J P Chaplin : Định kiến là thái độ tích cực hay tiêu cực được hình thành trên cơ sở các yếu tố cảm xúc, là niềm tin một cách không thiện cảm làm cho chủ thể có cách nghĩ hoặc cách ứng xử tương tự với người khác
Theo Krames và Manne : Định kiến là một thành tố của nhận thức, tình cảm hành vi Nó là biểu hiện của trí tuệ, nó khơi dạy tình cảm hoặc cảm xúc của con người, là thực sự thực thi những suy nghĩ của mình về người khác bằng những hàng vi cụ thể
G Allport quan niệm một cách đơn giản : Định kiến được xem như thái độ có tính ác cảm và thù địch đối với các thành viên của nhóm Định nghĩa của Trần Hiệp : Định kiến là thái độ có sẵn về đối tượng, về một sự kiện nào đó, thường mang hàm ý xấu Định kiến xã hội được hiểu là thái độ của một cá nhân trong từng nhóm xã hội, nó thường là tiêu cực đối với người khác, nhóm khác trong mối quan hệ xã hội với nhau
Quan niệm khác nhìn nhận định kiến là sự tổng hợp của ba yếu tố :
Một là, Sự tác động của các yếu tố cảm xúc ( affects) ; Hai là, Xu hướng hành vi ( behavion tendency) ; Ba là, Sự nhận thức của cá nhân ( cognition) Người ta gọi đó là các thành tố ABC của thái độ Một người định kiến trước hết không có cảm tình với khách thể, sau đó có sự tin tưởng mù quáng vào cảm nhận đó có khuynh hướng phân biệt đối xử
Từ những quan điểm trên, ta có thể nêu ra định nghĩa về định kiến xã hội như sau : Định kiến xã hội là những thái độ tiêu cực được nảy sinh trên cơ sở của những cảm nhận không có cơ sở chắc chắn, những đặc điểm bề ngoài, những ấn tượng xấu … về một cá nhân, về một nhóm người hay một cộng đồng người nào đó
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỂN
ĐÔI NÉT TỔNG QUAT VỀ XÃ MỸ LỘC- HUYỆN HẬU LỘC- TỈNH
Hậu Lộc là một huyện ven biển nằm ở phía đông của tỉnh Thanh Hoá có diện tích tự nhiên là 175, 223 ha, với tổng số dân là 170 nghìn người, gồm 27 xã, thị trấn Đây là một huyện miền biển nên thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão lụt, dịch bệnh nên gặp không ít khó khăn về mọi mặt Trình độ dân trí cũng như phong tục tập quán còn nhiều hạn chế Song, với sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân trong huyện, tiềm năng thế mạnh của vùng nên phần nào kinh tế, chính trị của huyện được ổn định và phát triển, trong đó có xã Mỹ Lộc
Mỹ Lộc là một xã vùng màu, nằm dọc quốc lộ 1A, với diện tích 145 ha lúa nước 2 vụ còn lại là đất trang trại chăn nuôi gia xúc gia cầm Toàn xã có
Là một xã đồng màu nên kinh tế ổn định và khá đồng đều, tỷ lệ hộ đói nghèo chỉ còn 23% Có được kết quả như vậy là nhờ sự tích cực hoạt động của các ban ngành đoàn thể như : Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Mặt trận tổ quốc…kết hợp cùng với chính quyền xã ra sức chỉ đạo nhân dân tham gia sản xuất, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, xây dựng cơ sở vật chất Đến nay, toàn xã có ba trường học cao tầng cho ba cấp học : Trung học cơ sở; Tiểu học; mầm non với tổng số học sinh của cả ba cấp học là 1455 học sinh Tỷ lệ tốt nghiệp hàng năm đạt 98, 6% Bên cạnh đó, xã còn xây dựng một trạm y tế gồm
7 phòng với 6 cán bộ y tế làm nhiệm vụ khám, điều trị và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Với cơ sở vật chất như trên Mỹ Lộc đã đáp ứng được một phần cơ bản cuộc sống cho nhân dân
Có thể nói, Mỹ Lộc là một xã tương đối thuận lợi, nằm ở trung tâm của huyện, có tuyến đường quốc lộ chạy qua Đây là điểm then chốt giúp Mỹ Lộc phat triển kinh tế- văn hoá, và giao thông đi lại Bên cạnh đó là những khó khăn mà Mỹ Lộc khó tránh khỏi đó là một xã thuần nông, giáp biển thường hứng chịu bởi thiện tai, lụt lội, dịch bệnh kéo dài nên thiệt hại rất nhiều về người và của. Trình độ dân trí chưa cao, kinh tế phát triển chậm nên Mỹ Lộc vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu Điều đó đã không thể thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp - nghề chính của họ phát triển Vì vậy đời sống của nhân dân còn hết sức khó khăn
Mặc dù vậy, hoạt động văn hoá xã hội của họ rất sôi động Công tác này luôn được chú trọng, phát triển, được vận động xuống từng thôn xóm Đến nay toàn xã đã có 9 đội bóng đá, 1 đội bóng truyền và 12 đội văn nghệ Trong đó hai đội văn nghệ nòng cốt của xã chuyên lưu động với các chương trình tự biên tự diễn Lực lượng chủ yếu của công tác này là đoàn thanh niên và hội phụ nữ Họ thường xuyên tổ chức các trò chơi dân gian, văn nghệ truyền thống thể hiện bản sắc dân tộc
Mặt khác, các ban ngành đoàn thể cũng luôn chú trọng tới công tác dân số kế hoạch hoá gia đình Họ tổ chức tuyên truyền tới 100 % các bộ, nhân dân trong xã, bên cạnh đó, họ tổ chức tập huấn cho các cán bộ của thôn về các biện pháp phòng tránh thai, cách phòng tránh các bệnh lây nhiễm, sức khoẻ sinh sản, bình đẳng giới, phân biệt đối sử với phụ nữ…bằng nhiều biện pháp phong phú, đa dạng Đồng thời giúp người dân nhận thức về giới, phân biệt giữa giới tính và giới
Nhìn chung Mỹ Lộc là một xã trung tâm huyện đang phát triển Vì vậy các cấp chính quyền cần chú trọng hơn nữa đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, giúp họ thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, hoà nhập với sự chuyển mình của đất nước.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương này sẽ trình bày các khía cạnh của định kiến xã hội đối với nữ giới với ba phần chính; Phần hai tìm hiểu định kiến về vị trí của người phụ nữ trong gia đình; Phần ba tìm hiểu định kiến với người phụ nữ trong lao động sản xuất
1 Định kiến về vị trí của người phụ nữ trong gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội Sự tồn tại và phát triển của xã hội được phản ánh vào sự tồn tại và phát triển của gia đình vì vậy, gia đình chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Muốn có bình đẳng xã hội thì trước hết phải có bình đẳng trong gia đình, đặc biệt là quan hệ vợ chồng
Trong các gia đình truyền thống, người đàn ông luôn đóng vai trò là người chủ gia đình Phần lớn các quyết định trong gia đình đều được thông qua người chồng và do người chồng quyết định Người phụ nữ chỉ việc nghe theo, làm theo đây là quan niệm “bất thành văn” đã tồn tại từ xa xưa, bắt nguồn từ xã hội phong kiến và được truyền từ đời này sang đời khác Ngày nay, với sự thay đổi của nền kinh tế thị trường, các thiết kế gia đình, xã hội cũng thay đổi Song quan niệm này có thay đổi không ? Vấn đề bình đẳng trong cuộc sống vợ chồng được thực hiện như thế nào? Tìm hiểu vấn đề này chúng tôi đưa ra một số câu hỏi về vị trí của người phụ nữ trong dòng họ, gia đình và trách nhiệm của họ với chồng con
1.1 Định kiến về vị trí của người phụ nữ trong dòng họ
Chúng tôi đưa ra câu hỏi “trong các cuộc hội họp, bàn bạc trong làng xã, dòng họ ai là người tham dự ?” Kết quả thu được thể hiện ở bảng sau :
Bảng 2 : Thể hiện người có thể tham dự các cuộc họp trong làng xã dòng họ Đối tượng tham dự Số phiếu Tỷ lệ%
Nhìn vào bảng 2 ta thấy : Số người cho rằng : Trong gia đình, người chồng là người sẽ tham dự các hội họp trong làng xã, dòng họ chiếm tỉ lệ cao nhất với 51, 5% Người vợ chỉ tham gia với 12, 5% và cả hai có thể tham gia là 35%
Ngày nay, xã hội có nhiều tiến bộ, thiết chế gia đình đã biến chuyển, song nét truyền thống của gia đình phụ quyền vẫn không hề mất đi 51, 5% người được hỏi trả lời là người chồng mới có thể tham dự các buổi hội họp của làng xã dòng họ Bởi phần lớn họ cho rằng : “Đàn ông là người mang họ của dòng họ”. Cùng với quan điểm có ý kiến cho rằng : “ở địa phương tôi hội họp làng xã thì cả hai cùng đi được, còn dòng họ thì chỉ có nam giới (phiếu 62) Điều này càng minh chứng rõ ràng nét định kiến với người phụ nữ trong gia đình phải chăng, vì “con gái là con người ta”, vì con gái đàn bà không mang họ của dòng họ vì họ không mạnh mẽ mà họ không được đến dự các cuộc họp của dòng họ Tuy nhiên, với ý kiến này ta thấy, người phụ nữ phần nào được nhìn nhận ngoài xã hội, còn trong gia đình vị trí của họ vẫn là dấu chấm hỏi phải cần được giải đáp
Với 12, 4% ý kiến cho rằng người phụ nữ có thể đến dự các cuộc họp này, chúng ta có thể thấy đã bắt đầu có sự tiến bộ trong nhận thức của người dân song, lý do mà họ đưa ra lại là : “gia đình không có đàn ông hay người chồng bận việc khác không đến được ” Điều này càng thể hiện rõ hơn sự yếu thế của người phụ nữ trong gia đình Họ chỉ biết làm theo sự chỉ bảo sai khiến của đức ông chồng mà không mảy may do dự Tuy nhiên, xét một cách khách quan thì đây cũng là một điều đáng mừng Bởi nếu trước đây, người phụ nữ phải chọn đời ôm một chữ “tòng” của xã hội phong kiến, thì nay, trong những trường hợp đặc biệt họ có thể phá bỏ nó và đứng vào thay thế vị trí của người nam giới Mặc dù những trường hợp như thế còn rất hạn chế nhưng cũng đủ để khởi nguyên cho sự tiến bộ của một thiết chế gia đình hiện đại Đáng mừng hơn, kết quả nghiên cứu còn cho thấy 37% ý kiến trả lời : Cải hai đều có thể tham dự với lý do bình đẳng xã hội : “nam giới và phụ nữ đều có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm như nhau” Nên điều quan trọng mà họ nhận thấy là “ Nam hay nữ đều có quyền họp bàn trong lĩnh vực, miễn là ý kiến của họ có tính thuyết phục ”
(phiếu 64 nam) Như vậy, qua nghiên cứu cho thấy, mặc dù đã có sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức của người dân về vị trí của người phụ nữ đối với dòng họ nhưng thực tế thì định kiến về họ vẫn còn không hề mất đi Họ vẫn mang cái nhãn mác của một người yếu đuối, không quyết định được việc lớn.
Họ vẫn là đàn bà, con gái “ không mang họ của dòng họ…” và do vậy họ vẫn phải chịu thiệt thòi hơn nam giới
1.2 Định kiến về người phụ nữ trong gia đình của họ Đối với gia đình phần lớn là dòng họ, người phụ nữ đã phải chấp nhận việc như nam giới Còn về gia đình nhỏ của họ, vị trí của họ được nhìn như vào đấy? Đi sâu vào lĩnh vực này, chúng tôi hiểu trước hết là nghĩa vụ của con của họ và đưa ra câu hỏi : Theo ông (bà) “trong những ngày nghỉ tết, ai là người tiến hành làm lễ thờ cúng tổ tiên ” Kết quả câu hỏi nay được thể hiện trong bảng sau :
Bảng 3 : người tiến hàng làm lễ thờ cúng tổ tiên trong gia đình :
Người tiến hành Số phiếu Tỷ lệ %
Căn cứ vào bảng 3 ta thấy : Nam giới tiến hành làm lễ thờ cúng tổ tiên chiếm tỷ lệ cao nhất 64, 4% Trong khi đó phụ nữ làm việc này chiếm 23, 4% và cả hai làm việc này chiếm 14, 3% Lý giải về việc nam giới tiến hành làm lễ thờ cúng tổ tiên 64, 4% Số người được hỏi cho rằng công việc này là của nam giới. Bởi chính họ là trưởng trong gia đình, là người nối dõi dòng tộc, tổ tiên hoặc phải đảm nhiệm phần thông báo với các bậc bề trên tình hình gia thất, mời chào kính cáo tổ tiên Còn phụ nữ chỉ là dân con, công việc của họ là ở nhà dưới
Một lý do khác khá đồng nhất trong các câu trả lời mà chúng tôi nhận được là : Bàn thờ là nơi linh thiêng nhất của gia đình Do đó không những phải để bàn thờ ở chỗ sạch sẽ nhất trong nhà, mà còn phải có một không gian tôn nghiêm thành kính, một không khí trang trọng khi đứng trước bàn thờ Mà với người phụ nữ, do vấn đề sinh lý giới tính mà họ không được coi là sạch sẽ Bởi thế, người ta sợ điều đó sẽ làm uế tạp, nhơ bẩn “cái thiêng” của nhà mình cho nên phụ nữ không được phép làm công việc đó Chính điều này đã thể hiện rõ phụ nữ không được phép làm, chính điều này đã thể hiện rõ lề lối, nếp nghĩ cách làm của xã hội phong kiến xưa Nếu như, trong xã hội xưa, để bảo vệ bầu không khí linh thiêng ở những nơi thờ tự, những người phụ nữ không được “lai vãng” đến gia nhà đó Thì nay, về cơ bản không khác là bao khi mà họ cũng được coi là một điều gì đó không sạch sẽ Tuy nhiên, họ đã được tự do sử dụng không gian trong nhà song tuyệt đối không được động vào đồ thờ cúng
Với các ý kiến chỉ ra rằng trong gia đình họ phụ nữ là người tiến hành làm lễ thờ cúng tổ tiên, tỷ lệ này chỉ chiếm 23, 3% Song lý do mà họ đưa ra rất thực tế Vì phụ nữ hay đi chùa họ làm các công việc này tốt hơn Còn nam giới lo lắng các công việc ngoài xã hội nên họ ít để ý đến các khía cạnh này Thêm vào đó chúng ta dễ nhận thấy nét đặc thù của người phụ nữ là cẩn thận, tỉ mỉ chau chuốt nên việc chăm sóc bàn thờ gia tiên sẽ hợp hơn với họ…Những ý kiến này phần nào đã bỏ qua quan niệm cổ hủ của lối phong kiến xưa Xưa nay nơi bàn thờ cúng tổ tiên vẫn được coi là nơi có không gian linh thiêng nhất trong nhà, nó thể hiện gia phong của mỗi gia đình Song thiết nghĩ chúng ta không nên quá suy diễn áp đặt vấn đề sinh lý của người phụ nữ mà làm họ phải hổ thẹn, day dứt, tủi thân về thân phận nữ giới của mình
Ngày nay, từ góc nhìn thực tế của cuộc sống, có không ít gia đình mà cả vợ và chồng đều có thể làm được việc này Trong nghiên cứu của chúng tôi, 14, 3% ý kiến cho rằng vợ chồng bình đẳng nên nếu có thời gian thì ai làm cũng như vậy Họ coi trọng đến “cái tâm, cái đức” của mình Một số lượng không lớn,
14 3% đủ để nhận thấy đã có sự chuyển biến theo hướng tích cực trong nhận thức của người dân về vai trò của người phụ nữ Nhưng không thể phủ nhận rằng định kiến với nữ giới vẫn còn tồn tại khá nặng nề trong xã hội ngầy nay Vị trí của họ vẫn còn mờ nhạt rất nhiều so với nam giới
1.3 Đối với gia đình riêng Đi sâu vào đời sống thường ngày, chúng tôi băn khoăn tự hỏi không biết rằng phụ nữ ngày nay có còn chịu nhiều thiệt thòi của lề lối xưa hay không? Làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã đặt ra câu hỏi : “Ông (bà) có phản đối quan niệm cho rằng : phụ nữ làm các công việc trong gia đình (giặt quần áo, cơm nước…) còn nam giới làm các công việc xã hội không?’’ Kết quả mà chúng tôi thu được là 64, 5% số người được hỏi phản đối, 35, 5% không phản đối Kết quả này được thể hiện như sau :