1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn nhận thức của người dân thạch thành đối với việc giữ gìn di tích lịch sử chiến khu ngọc trạo trong điều kiện kinh tế thị trường

102 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận thức của người dân Thạch Thành đối với việc giữ gìn di tích lịch sử chiến khu Ngọc Trạo trong điều kiện kinh tế thị trường
Tác giả Lưu Văn Trà
Người hướng dẫn Th.S Trần Thành Nam
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học xã hội / Nhân văn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂNKHOA TÂM LÝ HỌC ---LƯU VĂN TRÀ Luận văn tốt nghiệp: Nhận thức của người dân thạch thành đối với việc giữ gìn di tích lị

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA TÂM LÝ HỌC

-LƯU VĂN TRÀ

Luận văn tốt nghiệp:

Nhận thức của người dân thạch thành đối với việc giữ gìn di tích lịch sử chiến khu Ngọc Trạo trong điều kiện kinh tế thị trường

Giáo viên hướng dẫn : Th.S Trần Thành Nam

Hà Nội, 2005

Trang 2

Tôi cũng xin cảm ơn sự cộng tác nhiệt tình của người dân Ngọc Trạo - ThạchThành - Thành Hoá đã cung cấp cho tôi những thông tin hết sức quý báu.

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè những người đã luônủng hộ động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Trong khoá luận của tôi chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sói vàhạn chế vì vậy tôi mong nhận được sự đóng góp của Thầy Cô, gia đình cùng toànthể các bạn sinh viên

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2005

Sinh viên thực hiện

Lưu Văn Trà

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

IV KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

V PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Không gian nghiên cứu

2 Thời gian nghiên cứu

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp phân tích tài liệu

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

I PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG

1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về văn hoá

2 Quan điểm Mác Xít về phép biện chứng duy vật

3 Các lý thuyết nghiên cứu

3.1 Lý thuyết xung đột giá trị

3.2 Lý luận xã hội về xã hội háo

3.3 Lý thuyết về vai trò

II LỊCH SỬ VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Một vài nét các công trình nghiên cứu về các di tích lịch sử

2 Một vài nét các công trình nghiên cứu về nhận thức

III CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

1 Khái niệm về nhận thức

2 Khái niệm về người dân

3 Khái niệm về giữ gìn

4 Khái niệm về di tích lịch sử

5 Khái niệm về kinh tế thị trường

CHƯƠNG II: Tổ chức nghiên cứu

I VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1 Vài nét về xã Ngọc Trạo - Thạch Thành - Thanh Hoá

2 Vài nét về di tích lịch sử Chiến khu Ngọc Trạo

Trang 5

CHƯƠNG III Kết quả ngiên cứu và bàn luận

1 Nhận thức của người dân Ngọc Trạo - Thạch Thành về việc giữ gìn di tích lịch

sử Chiến khu Ngọc Trạo trong điều kiện kinh tế thị trường

1 Nhận thức của người dân Ngọc Trạo về quan niệm di tích lịch sử là một phầntrong văn hoá truyền thống

2 Thái độ đánh giá của người dân về tầm quan trọng của viện giữ gìn di tích lịch sửchiến khu Ngọc Trạo

II SỰ BIỂU HIỆN NHẬN THỨC TRONG VIỆC GIỮ GÌN DI TÍCH LỊC SỬIII NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂNTRONG VIỆC GIỮ GÌN DI TÍCH LỊC SỬ

PHẦN III: Kết luận và khuyến nghị:

có tác dụng làm biến đổi xã hội Đó là những biến đổi tích cực về kinh tế, sự tiến

bộ về mặt xã hội và sự ổn định về mặt chính trị Kéo theo đó là sự biến đổi cácthang bậc, chuẩn mực giá trị xã hội

Trang 6

Tác động của nền kinh tế thị trường ngày càng mạnh mẽ, trong vòng xoáybiến đổi xã hội Xã hội nông thôn truyền thống đang lột xác để vươn mình thành xãhội nông thôn hiện đại Biểu hiện của biến đổi đó rất đa dạng như: Sự thay đổi vềquan điểm, quan niệm, lối sống, thu nhập, phong tục tập quán, đặc biệt là mối quan

hệ kinh tế, xã hội và văn hoá

Việt Nam luôn tự hào với truyền thống nghìn năm trong công cuộc dựngnước và giữ nước, truyền thống đó đã kết tinh thành những di sản văn hoá quý báu.Các di sản văn hoá truyền thống được hình thành nên là sự kết tinh của truyềnthống yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, sự dũng cảm, kiên cường bất khuất Hiệnnay, theo thống kê của Cục bảo tồn - bảo tàng, Bộ văn hoá thông tin, nước ta cókhoảng 2.780 di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia Trong số đó có 5

di sản văn hoá được UNES CO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục Liên hợpquốc) công nhận là di sản văn hoá Thế giới Còn nhiều di sản văn hoá, các danhlam thắng cảnh chưa được khám phá và khai thác

Trong các Đại hội của Đảng, văn hoá là một lĩnh vực được Đảng và Nhànước đặc biệt quan tâm Trong nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII của Đảng CộngSản Việt Nam đã đề ra đường lối phát triển văn hoá lành mạnh, tiên tiến, song songvới việc giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống (tháng 7 năm 1998) đã viết : "Di sảnvăn hoá là tài sản vô giá gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc,

cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Hết sức coi trọng và bảotồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, văn hoá cách mạng bao

gồm cả vật thể và phi vật thể" Phạm Quang Nghị: Bộ trưởng Bộ văn hoá thông tin

Trang 7

triển đất nước, đăng trên tạp chí văn hoá số 4 năm 2003) Đến tháng 6 năm 2001,trong kỳ họp thứ 9 quốc hội khoá X luật di sản văn hoá gồm 7 chương và 74 điều

đã được thống nhất và thông qua Bên cạnh đó Bộ văn hoá thông tin cũng ra "Quychế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đếnnăm 2020" Những văn bản đó cho thấy ý nghĩa to lớn trong việc bảo tồn các giátrị văn hoá nói chung và di tích lịch sử văn hoá nói riêng

Việt Nam là một nước tiến bộ, sẵn sàng đón nhận những luồng văn hoá nướcngoài du nhập vào Việt Nam nhưng chúng ta phải có sự "Gạn đục khơi trong".Chúng ta cần tiếp thu những cái mới, cái hiện đại, bỏ những cái hủ tục lạc hậunhưng chúng ta cũng cần tôn trọng và giữ gìn những nét văn hoá truyền thống củadân tộc Do đó Đảng ta luôn có chủ trương chỉ đạo ngành văn hoá, đó là chủ trươngxây dựng một nền văn hoá có sự hoà nhập nhưng không hoà tan Văn hoá truyềnthống là những thành quả "kết tinh" từ cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước củacha ông ta Thế hệ đi sau có quyền lợi và trách nhiệm giữ gìn, phát huy triển nhữngthành quả đó Đảng đã chỉ rõ đó không chỉ là trách nhiệm của mỗi cấp mỗi ngành

mà đó còn là trách nhiệm và niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam

Việt Nam đang trong thời kỳ kinh tế thị trường - nền kinh tế của sự mở cửa,

tự do cạnh tranh Những điều kiện đó cho phép nước ta có điều kiện đón nhận vàgiao lưu với nhiều nền văn hoá nước ngoài Qua đó, người Việt Nam được mở rộngtầm nhìn, nâng cao sự hiểu biết, làm phong phú hơn nền văn hoá trong nước Bêncạnh đó nền kinh tế thị trường mang đến nhiều mặt trái như: Sự thay đổi tiêu cựctrong lối sống, sự lãng quê giá trị chuẩn mực truyền thống, học đòi và tôn sùng lốisống của phương tây, đặc biệt nói diễn ra ở thế hệ trẻ Đứng trước thực trạng đó

Trang 8

Đảng và Nhà nước đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo cụ thể về việc giữ gìn vàbảo vệ văn hoá truyền thống, đặc biệt là việc giữ gìn các di tích lịch sử - văn hoá.Các di tịch lịch sử văn hoá là nơi đánh dấu niềm tự hào của cả một dân tộc đã kiêncường bất khuất trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước Vì vậy việc gìn giữ

di tích chưa đầy đủ và nhận thức về việc gìn giữ di tích cao

Hiện nay Đảng và Nhà ta đặc biệt coi trọng gìn giữ các di tích lịch sử - vănhoá Nghị quyết TW5 khoá VIII của đảng một lần nữa khẳng định: "Di sản văn hoá

là tài sản vô giá gắn kết dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạonhững giá trị mới và giao lưu văn hoá…" Định hướng đúng đắn của Đảng đã chỉ

rõ tầm quan trọng của các di tích lịch sử Bởi vậy, việc gìn giữ các di tích lịch sửđặc biệt quan trong trong quá trình mở cửa đón nhận các luồng văn hoá mới

Thực hiện chính sách đó Đảng đã phổ biến rộng rãi tới các cấp, các ngành, từ

đó phổ biến đến người dân Phong trào xã hội hoá công tác giáo dục phát triểnmạnh mẽ trong cả nước, từng bước tác động đến nhận thức, thái độ, hành vi cuangười dân trong công tác gìn giữ các di tích lịch sử Với những biện pháp đó các ditích lịch sử dần dần được tôn tạo, tu sửa và pjục hồi nguên trạng

Trong nhiều di tích lịch sử quan trọng, di tích lịch sử - văn hoá Chiến khu

Trang 9

Chiến khu Ngọc Trạo là nơi ghi nhận chiến công oanh liệt của đội du kích NgọcTrạo - lực lượng vũ trang tập trung đầu tiên của Tỉnh Thanh Hoá Thế hệ ngày nayđược hưởng sự hoà bình, tự do và ấm no là nhờ sự đấu tranh kiên cường của chaông ta Bởi vậy chúng ta, những con người của xã hội hiện đại phải có trách nhiệmtiếp tục gìn giữ và bảo vệ những thành qủa đó Việc giữ gìn các di tích lịch sử làquyền lợi và trách nhiệm của mỗi người dân.

Chiến khu Ngọc Trạo là một trong những di tích lịch sử - văn hoá quan trọngcủa Tỉnh Thanh Hoá đang dành được rất nhiều sự quan tâm của Đảng, Nhà nước vàđặc biệt là các cấp chính quyền địa phương Liệu dưới sự tác động mạnh mẽ củanền kinh tế thị trường nhận thức của người dân địa phương về gìn giữ và baỏ vệ ditích chiến khu Ngọc Trạo có sự thay đổi như thế nào? Tác giả muốn đi vào tìmhiểu: "Nhận thực của người dân Thạch Thành đối với việc giữ gìn di tích lịch sử-văn hoá chiến khu Ngọc Trạo trong điều kiện kinh tế thị trường" Đây chính là lý dothôi thúc tôi chọn đề tài nghiên cứu này

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu nhận thức của người dânNgọc Trạo - Thạch Thành - Thanh Hoá trong việc gìn giữ di tích lịch sử - văn hoáchiến khu Ngọc Trạo Tìm hiểu những nguyên nhân tác động đến nhận thức gìn giữ

di tích chiến khu Ngọc Trạo của người dân Thạch thành Qua đó đề xuất một sốkiến nghị, giải pháp nhằm giúp người dân hiểu và nâng cao nhận thức trong việcgiữ gìn di tích lịch sử chiến khu Ngọc Trạo

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊM CỨU:

Trang 10

Nhận thức của người dân Thạch Thành đối với việc gìn giữ di tích lịch sử văn hoá chiến khu Ngọc Trạo trong điều kiện kinh tế thị trường.

-IV KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:

Người dân trong xã

V PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

1- Không gian nghiên cứu: Xã Ngọc Trạo - Huyện Thạch Thành - TỉnhThanh Hoá

2- Thời gian nghiên cứu tháng 9 năm 2005

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Trong quá trình viết khoá luận tốtnghiệp tôi có sử dụng một số bài viết về vấn đề văn hoá, về gìn giữ các di tích lịch

sử trên các sách báo tạp chí… phục vụ cho nghiên cứu của mình

5- Phương pháp xử lý số liệu

Trang 11

1- Ý nghĩa khoa học:

Thông qua nghiên cứu thực trạng nhận thức của người dân đối với việc giữgìn di tích lịch sử, chúng tôi muốn cung cấp những giữ liệu cần thiết để khẳng địnhhơn nữa những lý thuyết tâm lý học về mối quan hệ giữa con người và xã hội.Khoá luận tốt nghiệp này như một lần được vận dụng thực tập các lý thuyết tâm lýhọc đã được học để giải thích một vấn đề thực tế Thực chất đây là sự tập dượtnghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc

VIII GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:

1- Trong điều kiên kinh tế kinh tế thị trường nhận thức của người dân ThạchThành về việc giữ gìn di tích lịch sử chiến khu Ngọc Trạo đã được nâng cao hơn

2- Sự biểu hiện nhận thức giữ gìn di tích lịch sử chiến khu Ngọc Trạo củangười dân Thạch Thành tương đối phong phú

Trang 12

3- Sự nâng cao nhận thức của người dân xuất phát từ những nguyên nhânkinh tế, giáo dục, vai trò quản lý của Chính quyền địa phương và đặc biệt là sự tựnhận thức của người dân.

Trang 13

SƠ ĐỒ KHUNG LÝ THUYẾT

Trang 14

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.

I PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG:

1- Quan niệm của Đảng và Nhà nước về văn hoá.

Đảng và Nhà nước luôn chú trọng đến vấn đề giữ gìn và phát triển văn hoá,điều này được thể hiện trong quan điểm chỉ đạo văn hoá của Đảng Quan điểm chỉđạo này là sự kế tục tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hoá mới Tư tưởng

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ xây dưng nền văn hoá mới là phát huy những giá trị bềnvững, cao quý và tinh hoa của văn hoá truyền thống kết hợp với những giá trị mớicủa thời đại Văn hoá Việt Nam phải mang tâm hồn, diện mạo tính cách và cốt cáchdân tộc Quan điểm chỉ đạo này thật sự cần thiết trong thời kỳ kinh tế thị trường,đất nước mở cửa đón nhập nhiều luồng văn hoá khác

Tác giả nghiên cứu đề tài "Nhận thức của người dân Thạch Thành đối vớiviệc giữ gìn di tích lịch sử Chiến khu Ngọc Trạo trong điều kiện kinh tế thị trường"dựa trên quan điểm chỉ đạo của Đảng về văn hoá, để đánh giá mức độ nhận thứccủa người dân trong việc giữ gìn di tích lịch sử Qua đó xem xét quan điểm chỉ đạocủa Đảng đã được thực thi như thế nào trong những hoạt động thực tế của ngườidân

2- Quan điểm Mác xít về phép biện chứng duy vật.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là nguyên tắcphương pháp luận cơ bản cho mọi khoa học nói chung và tâm lý học nói riêng Vậndụng tổng hợp những lý luận này chúng tôi tuân theo các nguyên tắc sau:

Trang 15

- Tuân thủ nguyên tắc lịch sử cụ thể: nghiên cứu vấn đề trong điều kiện lịch

sử cụ thể về không gian, thời gian, vùng miền, khu vực

- Những sự kiện hiện tượng trong thế giới luôn tồn tại trong sự liên hệ, trong

sự vận động và phát triển không ngừng theo những quy luật vốn có của nó

- Xem xét các sự vật hiện tượng xã hội phải hướng tới cái bản chất, khônghướng tới cái ngẫu nhiên, bất bình thường

Tôi nghiên cứu đề tài mà mình chọn một cách khách quan đặt trong mối liên

hệ với nhiều hiện tượng tâm lý xã hội khác Thêm vào đó đặc hiện tượng này trongbối cảnh lịch sử cụ thể để hướng tới cái bản chất của hiện tượng

3- Các lý thuyết nghiêm cứu:

3.1 Lý thuyết xung đột giá trị:

Giá trị được hiểu là cái được xác định là có ích, có hiệu quả trong cuộc sống

và tinh thần Giá trị là một phạm trù thuộc về văn hoá được xã hội thừa nhận và cho

là phù hợp ứng sử theo giá trị là ứng sử theo cái chúng, cái chuẩn mực Ngược lạiứng sử "lệch chuẩn" không theo giá trị là không chuẩn mực, không phù hợp vớiquan điểm chung của xã hội Giá trị tồn tại một cách tương đối và có sự thay đổitheo thời gian Trong quá trình tồn tại đó, giá trị luôn nảy sinh mâu thuẫn, xung độtgiữa các giá trị cũ và các giá trị mới Người ta gọi là xung đột giá trị

* Xung đột giá trị trong việc gìn giữ văn hoá truyền thống

Vận dụng vào trong đề tài này chúng tôi có thể thấy những giá trị cũ đangdần mất đi và những giá trị mới đang hình thành và có sự giao thoa giữa hai giá trịmới và cũ Giá trị cũ chính là giá trị văn hoá truyền thống như giá trị của di tíchlịch sử - văn hoá chiến khu Ngọc Trạo, giá trị mới là những luồng văn hoá mới du

Trang 16

nhập vào Xung đột giữa giá trị cũ và giá trị mới không chỉ diễn ra giữa các thế hệ

mà ngay trong một thế hệ cũng có sự xung đột Người cao tuổi luôn có ý thức giữgìn văn hoá truyền thống và hướng con cháu mình theo các giá trị đó Lớp trẻthường không quan tâm tới các giá trị truyền thống, họ còn mãi chạy theo nhữnggiá trị mới hiện đại được "Tây hoá" Hai thế hệ này thường xảy ra sự xung đột đó làxung đột giá trị Sự xung đột này không chỉ gây ra sự bất hoà trong gia đình mà còntác động đến nhận thức của mỗi người dân trong việc nhìn nhận giá trị của các ditích lịch sử

Trên cơ sở đó, Đảng đã đưa ra quan điểm chỉ đạo về văn hoá là phải kết hợpnhững giá trị cao quý, bền vững và tinh hoa của văn hoá truyền thống với nhữnggiá trị mới của thời đại

3.2 Lý luận về xã hội hoá

Theo G An dreva, nhà khoa học người Nga "Xã hội hoá là quá trình hai mặt.Một mặt cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môitrường xã hội Mặt khác cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mốiquan hệ thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập các mốiquan hệ xã hội

Bởi vậy, trong quá trình thực hiện hoạt động sống của mình, mỗi cá nhânvừa thu nhập kiến thức tích luỹ được từ xã hội, vừa tái tạo thành vốn liếng củamình Những giá trị mang màu sắc cá nhân đó lại tham gia đóng góp vào kho tàngtri thức và kinh nghiệm xa hội Định nghĩa đã khẳng định hai đặc tính cơ bản củaquá trình xã hội hoá Đó là tính chủ động thâm nhập tích luỹ những giá trị xã hội

Trang 17

thành "Kho báu của riêng mình" Mặt khác cá nhân chủ động sáng tạo những trithức đó và cống hiến lại cho xã hội.

Quá trình này chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau Đó là những môitrường xung quanh mỗi con người: môi trường gia đình, nhà trường, thông tin đạichúng vv…

* Quá trình xã hội hoá ở nông thôn

Quá trình xã hội hoá của người dân nông thôn được thực hiện trong nhiềumôi trường xã hội hoá, trong đó môi trường gia đình và các phương tiện thông tinđại chúng đóng vai trò quan trọng ở nông thôn, vai trò của gia đình đặc biệt quantrọng, gia đình không những là nơi mỗi cá nhân sinh ra và lớn lên đó còn là nơinuôi dưỡng tâm hồn, tri thức đạo đức của mỗi người Đây là môi trường xã hội hoáđầu tiên và lâu dài nhất của mỗi con người Nông thôn Việt Nam luôn đề cao vaitrò của gia đình Một gia đình không những là một thiết chế xã hội mà còn tồn tạimột tiểu văn hoá, trong đó chứa đựng đầy đủ các chuẩn mực, giá trị chung, cáckhuôn vàng thước ngọc của xã hội, ngoài ra còn có những chuẩn mực văn hoá riêngcủa mỗi gia đình ở nông thôn đặc biệt đề cao vấn đề giáo dục văn hoá truyềnthống, ông bà cha mẹ thường dạy giỗ giáo dục con cháu đạo lý "Uống nước nhớnguồn, ăn quả nhớ người trồng cây", đó là nguồn cội của đạo đức Sự giáo dục đó

đã từng bước hun đúc lòng tự tôn dân tộc, ý thức giữ gìn văn hoá truyền thốngtrong mỗi người dân

Ngoài môi trường gia đình, nhân cách cá nhân còn chịu ảnh hưởng từ nhiêunhân tố khác như: Quan hệ bạn bè, làng xóm, nhà trường … Lý luận này là cơ sởcho đề tài vận dụng trong khi nghiên cứu những nguyên nhân tác động đến nhận

Trang 18

thức của người dân trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hơnnữa nhận thức của người dân trong việc giữ gìn di tích lịch sử.

3.3 Lý thuyết vai trò:

Trong khoa học tồn tại rất nhiều định nghĩa về vai trò, nói một cách chungnhất vai trò được hiểu là tập hợp những mong đợi của xã hội, đó là những quyền vànhững nhiệm vụ được xã hội gán cho tương ứng với vị thế của mỗi cá nhân Nhữngmong đợi này xác định danh giới hành vi của mỗi cá nhân tương ứng và phù hợpvới địa vị mà cá nhân đang được xã hội thừa nhận

Mỗi cá nhân đảm nhiệm những vai trò khác nhau, do địa vị vị của mỗi cánhân có sự khác nhau Một cá nhân có thể mang trong mình nhiều vài trò và các vaitrò đôi khi xung đột với nhau Sự phân chia vai trò dựa vào rất nhiều nhân tố như:Gới tính, trình độ học vấn, lứa tuổi, kinh tế…

* Vai trò của người dân trong việc giữ gìn văn hoá truyền thống

Văn hoá truyền thống là những di sản quý báu mà ông cha ta từ ngàn xưa đểlại, nó không những mang trong mình dấu ấn lịch sử mà còn chứa đựng những giátrị đạo đức cao quý Thế hệ đi sau được thừa hưởng tài sản vô giá đó, mỗi ngườiphải có vai trò giữ gìn và bảo vệ tài sản quý báu này Đây không chỉ là quyền lợi

mà con là trách nhiệm của mỗi người dân

Sự thể hiện vai trò ở mỗi người là khác nhau, người già có vai trò truyền lạinhững giá trị thuộc về văn hoá truyền thống và lòng tự hào cho thế hệ đi sau Lớptrẻ ngoài việc giữ gìn di tích lịch sử mà cần phaỉ học hỏi những giá trị hiện thực từthế hệ đi trước

Trang 19

Sự phân chia vai trò không những đem lại sự ổn định xã hội mà còn gópphần giữ gìn các giá trị về văn hoá tốt hơn.

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

1 Điểm qua một vài công trình nghiên cứu về các di tích lịch sử Nói tới

văn hoá là nói tới cái đẹp Đó là một vẻ đẹp dược mọi người thừa nhận, đó có thể là

vẻ đẹp về cách ứng sử, lối sống, vẻ đẹp trong các danh lam thắng cảch, đẹp trong

sự anh dũng đấu tranh đã được ghi nhận trong các di tích lịch sử Nói cách khác,văn hoá là sự kết tinh trưng cất của tâm hồn, trí tuệ, tài năng và sự đấu tranh anhdũng của con người Việt Nam Đó là tài sản vô giá của quốc gia, của địa phương vàcủa mỗi người dân

Đảng cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn chú trọng đến vấn đềvăn hoá, đều đó được thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh Khi sinh thời Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã từng nói: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phảicùng nhau giữ lấy nước" câu nói của Bác đã nhắc nhở mỗi người dân phải luôn ghinhớ công ơn của những người đi trước và phải có ý thức bảo vệ những thành quả

mà cha ông đã để lại Tiếp thu sự chỉ bảo ân cần của Bác, Đang cộng sản Việt Namluôn coi trọng và giữ gìn và phát triển văn hoá theo hướng tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc Đảng luôn coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu,vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội hướng tới một xã hội côngbằng dân chủ văn minh

Ngoài những văn kiện của Đảng đề cập đến việc giữ gìn văn hoá, đặc biệt làviệc giữ gìn các di tích lịch sử còn có một số bài viết nghiên cứu đề cập đến vấn đềnày

Trang 20

Trong bài viết: "Di sản văn hoá - nhân tố quan trọng góp phần bảo vệ, xâydựng và phát triển đất nước" của Phạm Quang Nghị (Tạp chí di sản văn hoá - Số 4năm 2003 - Bộ văn hoá thông tin) đã đề cập đến vấn đề phát triển văn hoá phải đikèm với việc giữ gìn và bảo lưu các giá trị văn hoá truyền thống đặc biệt là vấn đềgiữ gìn các di tích lịch sử - văn hoá đã được tác giả cho là rất quan trọng Ngoài ratác giả còn ra mặt trái của nền kinh tế thị trường ảnh hưởng lớn tới các di tích lịch

sử - văn hoá Những di tích đó nếu được giữ gìn và phát triển có thể trở thành cácđịa điểm du lịch độc đáo và ý nghĩa mà không bị lôi cuốn vào xu thế thương mạihoá

Tác giả Lưu Trần Tiêu trong bài viết: "Bảo tồn và phát huy di sản văn hoáViệt Nam" (Tạp chí văn hoá nghệ thuật - năm 2002) đã đề cập tới thực trạng xuốngcấp của một số ngôi đền, chùa, các di tích chiến khu… như: Khu di tích lịch sửĐiện Biên, di tích lịch sử Cố Đô Huế… Tác giả đã chỉ ra một số nguyên nhân chínhdẫn đến tình trạng này và đưa ra một số giải pháp Có thể nói bài viết của Lưu TrầnTiêu là tiếng chuông báo đọng trước thực trạng xuống cấp của một số di tích lịch sử

để cảnh tỉnh Chính quyền, địa phương và mỗi người dân trong việc bảo vệ, giữ gìncác di tích lịch sử

Tác giả Nguyễn Quốc Hùng Trong bài viết: "Một vài suy nghĩ về tình hìnhthực hiện các dự án bảo tồn di tích ở nước ta trong thời gian qua" (Tạp chí di sảnvăn hoá - số 3 năm 2003 - Bộ văn thông tin) đã đề cập nhiều đến vấn đề giữ gìn các

di tích lịch sử Tác giả cho rằng việc bảo tồn di tích lịch sử ở nước ta trong thờigian qua đã được chú trọng hơn trước song vẫn còn chậm và rề rà Người dân và

Trang 21

trách nhiệm bắt buộc không phải là ý thức được tầm quan trọng của di và ý nghĩacủa việc bảo vệ di tích.

Ngoài ra một số bài nghiên cứu về việc giữ gìn di tích lịch sử như: Tác giả

Nguyễn Hữu Toàn về vấn đề: "Cư dân làng xã với vấn đề bảo tồn và phát huy ditích lịch sử - văn hoá", hay tác giả Trần Thị lan Hương với vấn đề nghiên cứu: "Tácđộng của phân tầng mức sống vào quá trình phát triển văn hoá nông thôn" (Nhàxuất bản văn hoá thông tin) trong báo cáo tổng hợp đề tài cấp bộ về "Văn hoá nôngthôn trong sự phát triển" (Viện nghiêm cứu văn hoá nghệ thuật - 1998)… Các côngtrình nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng các di tích lịch sử, nguyên nhân dẫn đến sựxuống cấp của các di tích lịch sử và chỉ rõ vai trò của các cấp Chính quyền vàngười dân trong việc bảo lưu các di tích

Đảng, Nhà nước và Bộ văn hoá thông tin quan tâm đặc biệt đến vấn đề giữgìn các di tích lịch sử Điều đó chứng tỏ Đảng đã nhận thức đúng đắn về tầm quantrọng của các di tích lịch sự Bởi vì các di tích không những đánh dấu một thời kỳđấu tranh oanh liệt của dân tộc gắn với các tên tuổi của các anh hùng, các lãnh tụ cụthể mà còn là nơi để thế hệ đi sau thể hiện lòng biết ơn Truyền thống " Uống nướcnhớ nguồn" là nơi để thế hệ trẻ nhìn vào đó tu dưỡng, rèn luyện, công hiến cho đấtnước

Sự quan tâm của Đảng đối với các di tích lịch sử đã thể hiện thông qua cácvăn kiện như: Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII của Ban chấp hành Trung ươngĐảng cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiếnđậm đà bản sắc dân tộc Chính phủ đã ban hành "Nghị định của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của luật di sản văn hoá" Đồng thời Bộ văn hoá

Trang 22

thông tin ra quy chế bảo quan, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử văn hoá và danh lamthắng cảnh đến năm 2020 Chương trình mục tiêu của quốc gia về văn hoá thôngtin của Chính phủ được thực hiện từ năm 1994 đã đem lại nhiều kết quả đángmừng Chương trình này là sự kết hợp với văn bản pháp luật về việc giữ gìn vănhoá truyền thống đã tạo cơ pháp lý cho các dự án về bảo tồn pháp huy các giá trịvăn hoá lịch sử Dự án đó đã được thực thi và ngày càng hoàn thiện hơn Trongđiều 34 luật di sản văn hoá, có hiệu lực thi hành từ tháng 1/2002 đã quy định "Bảoquản, tu bổ và phục hồi di tích phải được xây dựng thành dự án trình cơ quan nhànước có thẩm quyền phê duyệt và phải đảm bảo giữ gìn tố đa các yếu tố nguyêngốc của di tích".

Đảng, Nhà nước và nhân dân đang đồng lòng góp xức vào việc tu bổ, tôn tạo

di tích lịch sử dưới nhiều hình thức đóng góp khác nhau Những việc làm thiết thựcđúng đắn đó sẽ góp phần làm sống dậy truyền thống yêu nước, lòng biết ơn, sự tôntrọng các di tích lịch sử của nhân dân ta

Thực chất việc nghiên cứu về vấn đề nhận thức của người dân đối với việcgiữ gìn di tích lịch sử thì đã có rất nhiều nghiên cứu Song đi vào nghiên cứu một ditích lịch sử như di tích lịch sử Chiến khu Ngọc Trạo trong điều kiện kinh tế thịtrường còn rất nhiều mới mẻ Bởi vậy trong quá trình làm khoá luận, tác giả cũnggặp nhiều khó khăn, nhưng với sự thôi thúc của khoa học và sự đam mê khám phátôi quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu Khoá luận này nhằm đưa ra thực tếnhận thức của người dân trong việc giữ gìn di tích lịch sử ở một địa điểm lịch sử cụthể, hy vọng sẽ gợi mở cho những công trình nghiên cứu tiếp theo

Trang 23

sống và hoạt động trong thế giới khách quan con người phải nhận thức,tỏthái độ và hành động với thế giới ấy Nhận thức tình cảm và hành động là ba mặt

cơ bản trong đời sống tâm lý con người

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhận thức Vàonhững năm 60 của thế kỷ XX, Budura là người đầu tiên đề sướng lí thuyết "tậpnhiễm xã hội", lý thuyết này đã coi trọng đến quá trình nhận thức Từ lý thuyết nàyông phát hiện ra hàng loạt các lý thuyết khác như: Bản đồ nhận thức, Lòng tự tin,đánh giá mình.Những lý thuyết này đều chỉ rằng nhận thức của con người ảnhhưởng đến hành vi của họ

Bản chất của cách tiếp cận nhận thức quan sát người khác và quan sát hành

vi của mình thông qua quan sát, người khác hoặc quan sát mình sẽ mô hình hoá đểrút ra cho mìnhmột mô hình về nhận thức Theo Bandu ra, đơn vị của nhận thứcvừa

là những khái niệm có tính chất gián nhãn con người thường nhận thức sự vật, hiệntượng nào đódựa trên nhãn mà họ vừa dán cho chúng Sự dán nhãn này mang tínhchủ quancủa cá nhân nên rất dễ dẫn đến sai lầmvà do đó có thể dẫn đến những hành

vi tiêu cực

Nói về nhận thức chúng ta không thể bỏ qua những nhgiên cứu về nhận thứccủa Jean Piaget Ông là người đã tạo ra một mô tả cụ thể và đầy đủ nhất về quátrình phát triển nhận thức mà chúng ta có trong ngày nay Các kết luận của ông dựatrên quan sát của bản thân về ứng sử của trẻ em Đầu tiên là con của ông ta và sau

đó là các em ở trung tâm nghiên cứu về "gen" của ông ở Giơ ne vơ Piaget đưa ragiả thuyết rằng phát triển nhận thức được tiến triển qua các giai đoạn, các giai đoạn

Trang 24

này khác nhau về chất Vì vậy các giai đoạn phát triển này được xem xét như cácmức tiến bộphổ biến ở mỗi cá thể.

Theo Piaget sự phát triển nhận thức bao gồm sự thu thập cấu trúc của nhậnthức, các nguyên tắc làm việc với thế giới bên ngoài để tư duy và giải quyết vấn đề.Trong cấu trúc nhận thức của Piaget có hai phương hướng cơ bản đó là: hệ lýthuyết và hệ sơ đồ

Theo Piaget thì nhận thức phát triển qua 4 giai đoạn

- Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn cảm giác vận động Piaget khẳng định giaiđoạn này kéo dài hai năm từ lúc lọt lònh cho đến lúc 2 tuổi Trong giai đoạn này thìnhận thức được liên kết chật chẽ với kích thích bên ngoài Giai đoạn này theoPiaget kéo dài 6 đợt Ở những đợt đầu thì trẻ chưa có hệ lý thuyết về sự vật hiệntương Tuy nhiên đến cuối giai đoạn thứ nhất này khi trẻ được 15-18 thángtuổithìlúc này trẻ giải quyết vấn đè một cách bình thường, trẻ đã có tư duy bình thường.Trẻ bắt đầu suy nghĩ trong giai đoạn này, suy nghĩ gắn chặt với sơ đồ vận động và

hệ lý thuyết Trẻ bắt đầu nội tâm hoá sơ đồ ứng sử để cấu tạo nên các hình tượngtâm lý mà chúng ta có thể sử dụngđể tiếp tục ứng sử sau đó Tức là trẻ đã có cáithực nghiệm ở trong đầu

Ở thời điểm này phát triển hệ lý thuyết khá trưởng thành, sự trường tồn đãđược hoàn thiện Đến cuối giai đoạn này trẻ đã tích tụ được khả năng ngôn ngữ,biết nghĩa của vài chục từ Đây là cơ sở hình thành tư duy hình tượng của trẻ

- Giai đoạn thứ hai là giai đoạn tiền thao tác: giai đoạn này kéo dài từ 2-7tuổi Thành tựu nhận thức chính trong giai đoạn này là hoàn thiện khả năng biểu

Trang 25

tượng bao gồm: trò chơi biểu tượng; thể hiện chức năng biểu tượngvà khả năng môphỏng; khả năng thể hiện ngôn ngữ.

Giai đoạn này ngôn ngữ phát triển nhanh tróng, hệ lý thuyết được thể hiệnbằng lời nói Đứa trẻ có khả năng sử dụng lời nói để suy nghĩ và thực tế đã bướcđược một bước quan trọng trong phát triển nhận thức

- Giai đoạn thao tác cụ thể: ( từ 7- 12 tháng tuổi ) Trong giai đoạn này trẻthường dựa vào các vật thể thực tại để suy nghĩ, và từ đây cũng trở nên khéo léohơn trong tư duybiểu tượng của trẻ

- Giai đoạn thao tác hình thức: tức là giai đoạn phát triển về tue duy trừutượng( từ 12 tuổi trở lên ) Giai đoạn này đã rút ra được mối quan hệ nhân quả.Nghiên cứu và tìm hiểu sự vật một cách khách quanhơn, ít hướng nội hơn

Qua nghiên cứu này của Piaget ta thấy ông là một vĩ nhân trong lĩnh vựckhoa học về sự phát triển nhận thức Những khám phá tỉ mỉ, kỹ càngvà chi tiết củaông là vô cùng quan trọng trong lĩnh vực tâm lý học phát triển và có giá trị thựctiễn rất caotrong công tác giáo dục đào tạo Các nhà khoa học đã nhận định Piagetlàngười đặt nền móng cho bộ môn mà ngày nay chúng ta gọi là phát triển nhận thức

Nói đến những nghiên cứu về nhận thức không thể không nói đến nhữngcống hiến to lớn của các nhà tâm lý học nổi tiếng của Liên Xô cũ đó là các tên tuổinhư (XL.Rubinstein, EN.Xô Cô nốp, Xi mi el nốp, Men sun skaia)

EN.Xo Cô Nốp với công trình nghiêm cứu về cảm giác, tri giác; Xi mi elnốp, Men sunskaica với công trình nghiên cứu về tư duy; LX Vưgotski đặc biệtchú ý đến tư duy nhất là tư duy ngôn ngữ

Trang 26

XL.Rubinstein trong công trình nguyên lý quá trình luận và lý luân tâm lýhọc về tư duy đã chỉ ra rằng bản chất của tư duy là cái cho phép con người giảiquyết vấn đề Ông cho rằng nhận thức và hành động liên quan với nhau Thọat đầunhận thức trực tiếp quện vào các hoạt động thực tiễn và sau đó nó mới tách thànhhoạt động lý luận - nhận thức đặc biệt (Tâm lý học Liên Xô trang 282).

XL.Rubinstein cho rằng trong khi phản ánh hiện tại nói chung, nhận thứcphản ánh tái tạo và hoạt động của con người với các đồ vật của thực tại (Trang284)

Nhìn chung các nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô đều cho rằngnhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong não người, quátrình đó trải qua nhiều mức độ khác nhau

* Những nghiên cứu trong nước về nhận thức:

ở Việt Nam vấn đề nhận thức cũng được nhìn nhận như một đối tượng cầnnghiên cứu Tuy nhiên chưa có những công trình nghiên cứu sâu về vấn đề này.Các nghiên cứu chỉ mang tính khái niệm, định nghĩa và những ứng dụng chỉ đượckhái quát trên bình diện lý luận và phương pháp nghiên cứu một cách căn bản trongtác phẩm tâm lý học tập 1 do Phạm minh Hạc chủ biên, tác giả đã cho chúng tahiểu rõ hơn về khái niệm nhận thức, các cách phân loại nhận thức và các mức độnhận thức Ngoài ra tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa nhận thức vàtâm lý con người Theo ông nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm

lý con người Trong hoạt động nhận thức chúng ta không chỉ phản ánh hiện thựcsung quanh chúng ta mà cả hiện thực của bản thân chúng ta nữa, không chỉ phản

Trang 27

ánh cái bên ngoài mà cả cái bên trong, không chỉ phản ánh cái hiện tại mà phản ánh

cả cái đã qua

Trong cuốn những khía cạnh trong tâm lý học quản lý, Mai Hữu Khê chorằng các sự vận hiện tượng diễn ra trong thực tế có mối quan hệ tương hỗ với thếgiới bên trong và tâm lý của con người Ông nghiên cứu về các mức độ nhận thức,đặc biệt ông nghiên cứu về cảm giác trội, ông cho cho rằng cảm giác là công cụduy nhất nối liền ý thức với thế giới bên ngoài còn tư duy là nguồn gốc chủ yếu của

Nhận thức là một khái niệm trừu tượng vì vậy mỗi ngành khoa học có sự tiếpcận, sử dụng khác nhau, khái niệm nhận thức trong tâm lý học: Nhận thức là quátrình cá nhân phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy

Sống và hoạt động trong thế giới khách quan con người phải nhận thức, tỏthái độ và hành động trong thế giới ấy Nhận thức, tình cảm, hành động là ba mặt

cơ bản trong đời sống tâm lý con người Trong quá trình hoạt động con người phảinhận thức, phải ánh hiện thực xung quanh và cải thiện hiện thực của bản thân mình

Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ nhậnthức khác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Mức độ thấp nhất củanhận thức là nhận thức cảm tính bao gồm: Cảm giác và tri giác, trong đó con người

Trang 28

phản ánh những cái bên ngoài, những cái đang trực tiếp tác động đến giác quan conngười: Còn mức độ cao nhất của nhận thức là mức độ nhận thức lý tính còn gọi là

tư duy, trong đó con người phản ánh những cái bản chất bên trong, những mối quan

hệ có tính quy luật

Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,

bổ xung cho nhau trong cùng một hoạt động nhận thức

Thống nhất của con người VI Lê Nin đã vạch rõ quy luật chung nhất củahoạt động nhận thức là: Từ trực quan sinh động đén tư duy trừu tượng và từ tư duytrừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận thức hiện thứckhách quan

* Cấu trúc của nhận thức

Cấu trúc của nhận thức là tổng thể những liên hệ của các yếu tố hợp thànhquá trình nhận thức Nhận thứclà một trong ba mặt cơ bản trong đời sống tâm lýcủa con người Vì vậy trong nghiên cứu chúng ta phải nắm vững cấu trúc của nhậnthức

Cấu trúc của nhận thức bao gồm thái độ, xúc cảm- tình cảmvà hành vi

- Thái độ đó là sự nhận định đánh giá, là sự thể hiện những suy nhgĩ của cánhân về người khác về các hiện tượng xã hội thông qua những hành vi cụ thể

Khi cá nhân có sự đánh giá về người khác về sự vật hiện tượng thì họ xẽ cóthái độ đúng và ngược lại

Trang 29

- Xúc cảm tình cảm đó chính thái độ rung cảm của con người đối với sự vậthiện tượng hay con ngườitrong hiện thuạc nó có liên quan đén sự thoả mãn haykhông thoả mãn nhu cầu động cơ của chủ thể.

Xúc cảm tình cảm nó xuất hiện khi con người thoả mãn hay không thoả mãnnhu cầu của mình Xúc cảm tình cảm ná phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và đốitượng, mối quan hệ có liên quảntực tiếp đến sự thoả mãn hay không thoả mãn nhucầu động cơ của chủ thể

Khi đối tượng thoả mãn nhu cầu, động cơ của chủ thể thì nó xuất hiện cảmxúc dương tính và khi đối tượng không thoả mãn nhu cầu động cơ của chủ thể thì

nó xuất hiện cảm xúc âm tính

- Hành vi được hiểu dó là tổ hợp các cử động bên ngoài có thể quan sát đượchoàn toàn và nó có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người Chúng ta muốnhiểu ý thức của con người thì chúng ta cũng phải hiểu hành vi của họ và khi xemxét hành vi thì phải tìm hiểu ý thức

Vư Got xki đã phân biệt rõ hành vi của con người và ông thấy trong cấu trúccủa hành vi của con người bao gồm kinh nghiệm kép đó là kinh nghiệm được hìnhthành trong lao động, là kinh nghiệm cùng một lúc xuất hiện ở trong đầu dưới dạngbiểu tượng, cùng lúc đó xuất hiện ngững cử động ở tay chân và sự biến đổi của đốitượng lao động ý thức con người xuất hiện từ đó

Thứ hai là kinh nghiệm lịch sử đó là kinh nghiệm của thế hệ trước để lại chothế hệ sau thông qua những sản phẩm văn hoá vật chất và tinh thần như di tích lịch

sử văn hoá chiến khu Ngọc Trạo

Trang 30

Thứ ba là kinh nghiệm xã hội những kinh nghiệm hiện thời được các thế hệđang sống truyền lại cho nhau để cùng tồn tại.

Hạt nhân của ba loại kinh nghiệm này là kinh nghiệm kép vì từ kinh nghiệmnay fthì ý thức con người đã xuất hiện

2- Người dân:

Trong khoá luận này chúng tôi đi vào nghiên cứu người dân ở một vùngnông thôn, nơi có di tích lịch sử Chiến khu Ngọc Trạo Người dân nông thôn lànhững người sinh sống tại nông thôn tham gia vào các hoạt động lao động, sảnxuất, sinh hoạt văn hoá nông thôn Người dân nông thôn mang trong mình nhiềuđặc trưng riêng trong các loại hình như: Văn hoá giao tiếp, sinh hoạt cộng đồng…

3- Khái niệm giữ gìn:

Trong nghiên cứu này mói quan tâm chính của chúng tôi là tìm hiểu ý thứcgiữ gìn bảo vệ di tích lịch sử Chiến khu Ngọc trạo, những hành vi biểu hiện ý thứcgiữ hìn đó Bởi vậy, khái niêm giữ gìn ở đây chúng muốn nói đến tất cả nhữnghành vi suy nghĩ biểu hiện ý thức giữ gìn bảo vệ di tích để di tích luôn giữ được vẻ

cổ kính trang nghiêm ban đầu

4- Khái niệm di tích lịch sử:

Là tổng thể những công trình, địa điểm, đò vật hoặc tác phẩm tài liệu có giátrị lịch sử hoặc giá trị văn hoá được lưu giữ lại

Các di tích lịch sử có những giá trị quan trọng sau:

- Giá trị phản ánh đúng nhất về một giai đoạn nhất định của lịch sử, là bằngchứng để tái hiện lại lịch sử

Trang 31

- Giá trị khoa học của di tích lịch sử: Các di tích lịch sử là cơ sở của ngànhkhoa học nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu về văn hoá truyền thống.

- Giá trị giáo dục của các di tích lịch sử chính là cơ sở cho việc giáo dụctruyền thống cho các thế hệ sau

- Giá trị thẩm mỹ của các di tịch lịch sử thể hiện qua lối kiến trúc, hội hoạ,điêu khắc…

Trong nghiên cứu này chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu ở di tích lịch

sử vật thể đó là di tích lịch sử Chiến khu Ngọc Trạo

5- Khái niệm kinh tế thị trường:

Khái niện kinh tế thị trường trong kinh tế học được hiểu đó là nền kinh tế tự

do mua bán, cạnh tranh qua trao đổi Thị trường có quá trình tự điều chỉnh và tạo ra

sự cân đối giữ giá cả và chi phí sản xuất Trong nghiên cứu này, chúng tôi muốntìm hiểu nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân nôngthôn như thế nào Sự thay đổi mọi mặt trong đời sống của người dân nông thônnhư vậy liệu có làm thay đổi quan niệm nhận thức của họ về việc giữ gìn di tíchlịch sử không

Trang 33

CHƯƠNG II: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU.

I VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU:

1- Vài nét về xã Ngọc Trạo - huyện Thạch Thành - Thanh Hoá.

Ngọc Trạo nằm ở phía đông bắc của tỉnh Thanh Hoá

Địa bàn hành chính thuộc huyện Thạch Thành - tỉnh Thanh Hoá

Ngọc Trạo là một quê hương anh hùng tự hào có di tích lịch sử Chiến khuNgọc Trạo Người dân ở đây có lòng yêu nước nồng nàn, chí cứu nước quật cường,tinh thần hy sinh dũng cảm Nó thể hiện rất rõ trong các cuộc kháng chiến chốngquân xâm lược trước đây Lòng trung thành dũng cảm cách mạng của đồng bàoNgọc Trạo được thể hiện trong việc chắt chiu từng nắm rau, hạt muối, hạt gạo, bắpngô, củ mài… dành dụm cho chiến khu, đến việc tiếp tế bảo vệ chiến khu chống lại

sự dò la đàn áp của kẻ thù Chiến khu cần vũ khi đồng bào Ngọc Trạo mở lò rèndao kiếm, làm nỏ, quyên góp súng săn cho du kích Chiến khu cần in tài liệu, chị

em Ngọc Trạo vượt hàng vài chục cây số đường rừng vận chuyển đá in, giấy mực

Trang 34

đem về và những trang thiết bị cần thiết của chiến khu như băng cờ… đã đượcđồng bào Ngọc Trạo lo liệu chu đáo tỉ mỉ.

Ngày nay trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Từ truyền thống cáchmạng bất khuất của chiến khu, từ ý trí tự lực tự cường của đồng bào các dân tộctrong xã Đảng uỷ xã đã chăm lo giáo dục đội ngũ cán bộ đảng viên gắn bó vớiquần chúng thiết tha với sự nghiệp cao cả của dân tộc, không ngững vươn lên trênmặt trận sản xuất, xây dựng và bảo về tổ quốc, ổn định cải thiện đời sông nhân dân

Tổng sản lượng lương thực năm 2005 ước đạt 4.200 tấn

b Về văn hoá xã hội và đời sống nhân dân:

- Giáo dục đào tạo có chuyển biến tích cực, hệ thống trường lớp được quantâm xây dựng, số học sinh trung học cơ sở, tiểu học tỷ lệ lên lớp và thi tốt nghiệpđậu cao Số học sinh giỏi hàng năm tăng, đến nay đã hoàn thành phổ cập trung học

Trang 35

sinh đầu vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp cũng đượctăng lên.

Từ khi thực hiện nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII sự nghiệp giáo dụcđược quan tâm, chủ trương xa hội giáo dục đã từng bước đi vào cuộc sống

- Về y tế: Công tác y tế được quan tâm, các chương trình quốc gia về y tếđược triển khai, công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu và y tế dự phòng đạt kết quảcao, công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân có nhiều cố gắng, chất lượng khám

và chữa bệnh tăng lên, tỷ lệ trể suy sinh dinh dưỡng giảm còn 20% Mặc dù trangthiết bị còn nghèo nàn, đội ngũ bác sỹ ít chỉ có một người tuy vậy xã luôn có nhữnghình thức thường xuyên khám chữa bệnh và chăm sóc cho các bà mẹ việt nam anhhùng, các đồng chí thương binh bệnh binh và các cụ già neo đơn

- Về văn hoá xã hội: Thực hiện xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư đếnnay có 5/5 thôn đã khai trương làng văn hoá, trong đó có hai thôn đạt danh hiệulàng văn hoá cấp Tỉnh Đài truyền thanh của xã đóng vai trò quan trọng trong việctuyên truyền chủ trương đường lối chính sách của Đảng nói chung và của xã nóiriêng Việc cưới, việc tang, các lễ hội tổ chức gọn nhẹ hơn các thiết chế văn hoátừng bước được hình thành Hàng năm xã tổ chức nhiều hoạt động giải trí phù hợp

và bổ ích như: Thi văn nghệ, thể thao… Đặc biệt là sự tham gia của người dântrong xã vào lễ hội, kỷ niệm Chiến khu Ngọc Trạo ngày 19 tháng 9 hàng năm

Về thực hiện các chính sách xã hội: Thể hiện truyền thống "Uống nước nhớnguồn" hàng năm đều có đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa, làm mới và sữa chữa nhàcho các hộ chính sách bằng vôn hỗ trợ của Nhà nước và các dòng họ trong thôn

Trang 36

giúp đỡ Vào các ngày lễ, ngày tết tổ chức thăm hỏi các gia đình chính sách đồngthời làm tốt công tác động viên để các gia đình chính sách vượt khó vươn lên.

2- Vài nét về di tích lịch sử - văn hoá Chiến khu Ngọc Trạo:

Từ cuối năm 1939 chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ Với sự phân tíchđúng đắn tình hình trong nước và tình hình Thế giới: Trung ương Đảng ta đã đề rađường lối chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam

Đầu năm 1941 với tinh thần khẩn trương hưởng ứng khởi nghĩa Bắc Sơn Năm Kỳ và cuộc binh biến Đô Lương, theo "Thông cáo khẩn cấp" tháng 12/1940của Ban thường vụ Trung ương Đảng, Thường vụ Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá tháng2/1941 đề ra chủ trương xây dựng và phát triển căn cứ địa cách mạng ở vùng venrừng núi từ đông bắc đến tây nam tỉnh; Xây dựng chiến khu nhằm chuẩn bị lựclượng đón thời cơ tiến lên khởi nghĩa dành chính quyền Từ đó cuộc vận động xâydựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nhất là việc xây dựng đội du kíchtrong tỉnh được đẩy mạnh

-Đầu tháng 6/1941 tỉnh uỷ Thanh Hoá đã chọn Ngọc Trạo Thạch Thành làmnơI thành lập căn cứ địa cách mạng của Tỉnh Thanh Hoá

Tháng 7/1941 Ban lãnh đạo chiến khu được thành lập tại Ngọc Trạo, nhiềucán bộ du kích tăng cường về chiến khu đẩy mạnh công tác vận động quần chúng.Các hội phản đế cứu cuối và tự vệ phản đế ở làng Ngọc Trạo và các làng lân cậntiếp tục được cũng cố và phát triển Nhân dân Ngọc Trạo và các vùng phụ cận đã

nô nức hăng hái ủng hộ lực lượng bán vũ trang tự vệ Các bà mẹ các phụ lão độngviên con cháu ra nhập lực lượng tự vệ, du kính ở chiến khu Nhiều cơ sở cách mạng

Trang 37

gia đình Chia sẻ từng cọng rau bát cơm, manh áo… để xây dựng căn cứ địa cáchmạng.

Trước tình kẻ thù đã dòm ngó làng Ngọc Trạo, Ban lãnh đạo chiến khu đãquyết định di chuyển lực lượng để đánh lạc hướng do thám của địch, bảo đảm antoàn cho chiến khu và bảo toàn lực lượng Địa điểm được chọn để chuyển quân tới

là Hang Treo các Ngọc Trạo 15 km về phía tây bắc

Ngày 19/9/1941 Ban lãnh đạo chiến khu đã tổ chức lễ thành lập đội du kíchChiến khu Ngọc Trạo gồm 24 chiến sỹ được biên chế thành 8 tiểu đội do đồng chíĐặng Châu Tuệ làm chỉ huy trưởng Lá cờ đỏ sao vàng một biểu tượng của tinhthần vận động giải phóng dân tộc, xuất hiện ở khởi nghĩa Bắc Sơn tháng 9 năm

1940, ở khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11 năm 1940, giờ đây lại phất phới tung baygiữa núi rừng đông bắc Thanh Hoá Dưới lá cờ đỏ sao vàng toàn đội đã tuyên thệsẵn sàng hy sinh phấn đấu đến dọt máu cuối cùng cho sự nghiệp giải phóng dântộc Bài hát "đời ta bấy lâu nay khổi rồi" được chọn làm bài đội ca

Ngày 19 tháng 9 năm 1941 lịch sử này trở thành ngày hội truyền thống cáchmạng của nhân dân huyện Thạch Thành và của tỉnh Thanh Hoá

Đội du kích Ngọc Trạo lớn lên nhanh chóng các cơ sở cách mạng trong tỉnh

và các tỉnh khác như: Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tỉnh… Đã tậphợp thanh niên giác ngộ cách mạng gửi đến chiến khu

Nhận thấy Hang Treo nằm sâu trong khu rừng vắng không thuận tiện choviện giao thông liên lạc của đội du kích ban chỉ huyđội du kích đã quyết địnhchuyển toàn bộ lực lượng về đồi Mả Mầu cách Ngọc trạo 1km khu vực đồi Mả

Trang 38

Mầu có rừng cây rậm rạp ở đó cao chừng 500m, từ đây có thể quan sát được cáchoạt động của địch từ xa.

Ngày 25 tháng 9 năm 1941 toàn đội du kích đã chuyển an toàn về Mả Mầu.Sau một thời gian đánh hơi và lùng sục bọn mật thám đã mò ra tin tức vềchiến khu Ngọc Trạo Sáng sớm ngày 19 tháng 10 năm 1941 bọn thống trị Pháp đã

sử dụng 1 lực lượng tinh binh khá lớn do tên tránh mật thám bắc kỳ Phơ - Lơ - Tôchỉ huy, mở một cuộc càn quét vào Ngocj Trạo hòng tiêu diệt lực lượng vũ trangnon trẻ của tỉnh Thanh Hoá Chúng tiến công vào chiến khu bằng ba mũi quân: Mộtmũi từ cầu Cừ Hà Trung, một mũi từ Kim Tân và một mũi từ Bỉm Sơn

Tuy số lượng ít vũ khí thô sơ nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoancường đội du kích đã đánh lui nhiều đợt tấn công của địch Buộc quân địch phải rútlui khỏi Ngọc Trạo Lực lượng du kích về cơ bản được bảo toàn, nhưng các đồngchí Phạm Văn Hinh - Hoàng Văn Môn - Đỗ Văn Tước - Trinh Huy Môn đã để lạitấm gương hy sinh anh dũng vì độc lập dân tộc vì sự nghiệp xây dựng chiến khucủa Đảng bộ và đồng bào tỉnh Thanh Hoá

Chưa tiêu diệt được đội du kích, thực dân Pháp và tay sai lồng lộn điêncuồng mở các cuộc khủng bố dã man vào Ngọc Trạo và Cẩm Bào Nhiều cơ sởcách mạng bị địch phá, nhiều đồng bào bị địch đánh đập bắt bớ, giam cầm, nhiềulàng bị địch triệt hạ Song kẻ thù không thể nào xoá được trong lòng nhân dân hìnhảnh các chiến sỹ Ngọc Trạo và chiến khu Ngọc Trạo Nhân dân Thạch Thành vẫnhướng về Đảng về cách mạng Đội du kích chiến khu Ngọc Trạo - lực lượng vũtrang tập trung đầu tiên của tỉnh Thanh Hoá Đây là sự kiện lịch sử quan trọng đánh

Trang 39

tiến lên kết hợp với đấu tranh vũ trang góp phần tích cực vào thắng lợi huy hoàngcủa cách mạng tháng 8 năm 1945 giành độc lập dân tộc.

II Cách tổ chức nghiên cứu:

Đối tượng được chọn để khảo sát thực tế trong báo cáo là các thành viêntrong xã Ngọc Trạo - Thạch Thành - Thanh Hoá nơi có di tích lịch sử văn hoá chiếnkhu Ngọc Trạo

Mẫu được chọn gồm 150 đơn vị mẫu là những người dân trong xã NgọcTrạo - huyện Thạch Thành - Tỉnh Thanh Hoá

Mẫu được chọn theo nguyên tắc ngẫu nhiên theo khu vực Ngọc trạo bao gôm

5 thôn: thôn Ngọc Trạo, thôn Yên Thanh, thôn Rọc Giành, thôn Phan Long và thônThiểm Niên Tôi tiến hành đều tra mẫu trong 5 thôn với các đơn vị mẫu ở mỗi thôn

là ngang bằng nhau, mỗi thôn là 30 đơn vị mẫu

Số phiếu được phát ra là 150 phiếu trong đó:

- Nam : 87 phiếu; chiến tỷ lệ 58%

- Nữ : 63 phiếu; chiến tỷ lệ 42%

- Cơ cấu độ tuổi như sau:

Bảng 1: Cơ cấu độ tuổi của người dân xã Ngọc Trạo Thạch Thành Thanh Hoá.

Trang 40

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng 150 đơn vị mẫu là những người dân ởPhường Đông Thọ Thành Phố Thanh Hoá để so sánh nhận thức giữ gìn di tích lịch

sử giữa hai khu vực nông thôn và thành thị hai khu vực khác nhau về địa lý và trình

độ phát triển về kinh tế giáo dục Liệu trình độ nhận thức về giữ gìn di tích lịch sử

có như nhau hay không

Ngày đăng: 04/03/2023, 17:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Minh Hạc (chủ biên) Tâm lý học. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
2. Jean Piaget. Tâm lý học và giáo dục học. Nhà XB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học và giáo dục học
Tác giả: Jean Piaget
Nhà XB: Nhà XB Giáo dục
3. Đỗ Huy. Nhận diện văn hoá việt nam và sự biến đổi của nó trong thế kỷ 20. Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện văn hoá việt nam và sự biến đổi của nó trong thế kỷ 20
Tác giả: Đỗ Huy
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà nội
Năm: 2002
4. Phạm mai Hùng. Giữ gìn và phát huy di sản văn hoá dân tộc. Nhà xuất bản văn hoá thông tin HN 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và phát huy di sản văn hoá dân tộc
Tác giả: Phạm mai Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá thông tin HN
Năm: 2003
9. Nguyễn Như ý. Đại từ điển tiếng việt. NXB văn hoá thông tin 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng việt
Tác giả: Nguyễn Như ý
Nhà XB: NXB văn hoá thông tin
Năm: 1999
12. Từ điển di tích văn hoá việt nam. NXB văn học. Ngô Đức Thọ ( chủ biên).2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển di tích văn hoá việt nam
Tác giả: Ngô Đức Thọ
Nhà XB: NXB văn học
Năm: 2003
13. Luật di sản văn hoá và nhgị định hướng dẫn thi hành. NXB chính trị quốc gia HN 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hoá và hướng dẫn thi hành
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003
14. Đảng cộng sản việt nam. Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ 9. NXB chính trị quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ 9
Tác giả: Đảng cộng sản việt nam
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia HN
15. Trần Quốc Vượng( chủ biên) Cơ sở văn hoá việt nam. NXBGD 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá việt nam
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1998
16. Ban chấp hành Đảng bộ Huyện Thạch Thành. Thạch thành những chặng đường cách mạng . XB tháng 9 năm 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch thành những chặng đường cách mạng
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Huyện Thạch Thành
Nhà XB: XB tháng 9 năm 1991
Năm: 1991
17.Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh Thanh Hoá. Kỉ niệm 40 năm thành lập chiến khu ngọc trạo( 19- 9- 1941 - 19-9- 1981).Xuất bản năm 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỉ niệm 40 năm thành lập chiến khu ngọc trạo( 19- 9- 1941 - 19-9- 1981)
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh Thanh Hoá
Năm: 1982
18. Huyện Uỷ - HĐND - UBND Huyện Thạch thành. NXB văn hoá thông tin HN 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyện Uỷ - HĐND - UBND Huyện Thạch thành
Nhà XB: NXB văn hoá thông tin HN
Năm: 2004
19. Đào Duy Anh . Việt nam văn hoa sử cương. NXB bốn phương. 1938 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt nam văn hoa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB bốn phương
Năm: 1938
5. Nguyễn Hồng Hà. Văn hoá truyền thống dân tộc với việc giáo dục thế hệ trẻ. Vịên văn hoá và nhà xuất ban văn hoá thông tin Khác
6. Lương Hồng Quang. Dân trí và sự hình thành văn hoá cá nhân. NXB văn hoá thông tin 1999 Khác
7. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hoá việt nam. NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1996 Khác
10. Tạp chí di sản văn hoá số 1 năm 2002 Khác
11. Tạp chí di sản văn hoá số 3 năm 2003 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w