Tài liệu tham khảo kinh tế thương mại: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại phòng tín dụng số 1 ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Hà Nội
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 3
1.1.1 Khái niệm và phân loại DNNQD 3
1.1.2 Đặc điểm của các DNNQD 5
1.1.3 Vai trò của các DNNQD 8
1.2 Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 12
1.2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại 12
1.2.2 Các hình thức tín dụng của ngân hàng thương mại 17
1.2.3 Quy trình tín dụng NH 19
1.3 Mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 23
1.3.1 Cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 23
1.3.2 Khái niệm mở rộng cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngân hàng thương mại 23
1.3.3 tầm quan trọng của mở rộng cho vay DNNQD 24
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNQD TẠI BIDV- CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI 36
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ BIDV- CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI 36
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 36
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 38
Trang 22.1.3 Tình hình hoạt động của chi nhánh trong những năm gần đây 39
2.1.4 Hoạt động tín dụng 43
2.1.5 Các hoạt động khác 45
2.2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNQD TẠI BIDV CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI 46
2.2.1 Các DNNQD có quan hệ với chi nhánh 46
2.2.2 Tình hình doanh số cho vay 49
2.2.3 Doanh số thu nợ 50
2.2.4 Tình hình dư nợ tín dụng đối với các DNNQD 51
2.2.5 Tình hình nợ quá hạn 54
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNQD 56
2.3.1 Những thành kết quả được và nguyên nhân 56
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 61
2.3.2.2 Nguyên nhân 63
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 67
3.2 GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DNNQD TẠI CHI NHÁNH 69
3.2.1 Tăng cường công tác huy động vốn 70
3.2.2 Phân tích thị trường và xây dựng chiến lược khách hàng hợp lý 71
3.2.3 Thực hiện chiến lược marketing thu hút khách hàng 0 72
3.2.4 Không ngừng nâng cao chất lượng và đảm bảo an toàn tín dụng 76
3.2.4.1 Nghiêm túc thực hiện Quy trình tín dụng do NHNN và BIDV ban hành 76
3.2.4.2 Chú trọng hơn nữa công tác thẩm định khách hàng 77
3.2.4.3 Cần đảm bảo tài sản thế chấp có đầy đủ điều kiện pháp lý cần thiết 78
Trang 33.2.4.4 Phát triển nguồn nhân lực 78
3.2.4.5 Hoàn thiện và đổi mới cơ chế cho vay đối với các DNNQD 80
3.2.4.6 Tăng cường sự hợp tác hỗ trợ đối với các DNNQD 82
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VỚI CÁC DNNQD 86
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 86
3.3.2 Kiến nghị đối với NHNN 87
3.3.3.Hoàn thiện môi trường kinh doanh đối với các DNNQD 88
3.3.4.Kiến nghị với Nhà nước và các cơ quan ban ngành có liên quan 89
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng 1: Cơ cấu nhân sự của BIDV chi nhánh Bắc Hà Nội 38
Bảng2: Huy động vốn phân theo đối tượng giai đoạn 2004 - 2007 39
Bảng3: Huy động vốn phân theo loại tiền gửi giai đoạn 2004 - 2007 42
Bảng 4: Huy động vốn phân theo kì hạn giai đoạn 2004 - 2007 43
Bảng 5: Tình hình dư nợ tín dụng giai đoạn 2004 - 2007 44
Bảng 6: Kết quả hoạt động dịch vụ của chi nhánh năm 2006 45
Bảng 7: Số lượng khách hàng phân theo loại hình DN 47
Bảng 8: Doanh số cho vay theo đối tượng doanh nghiệp 49
Bảng 9: Doanh số thu nợ theo đối tượng doanh nghiệp 51
Bảng 10: Tình hình dư nợ tín dụng theo đối tượng doanh nghiệp 52
Bảng 11: Dư nợ của các DNNQD theo ngành, lĩnh vực 53
Bảng 12: Tình hình nợ quá hạn theo đối tượng doanh nghiệp 54
Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức BIDV chi nhánh Bắc Hà Nội 40
Hình 2: Tỷ trọng hoạt động dịch vụ của chi nhánh năm 2006 46
Hình 3: Số lượng khách hàng phân theo loại hình DN 48
Hình 4: Doanh số cho vay theo đối tượng DN 50
Hình 5: Tỷ lệ nợ quá hạn của chi nhánh qua các năm 55
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế của nước ta đang trên đà phát triển mạnh, ngày càng tạo uytín với các bạn bè trong khu vực cũng như trên thế giới Việc VN trở thànhthành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới ngày7/11/2006, đánh dấu bước ngoặt cho nền kinh tế nước ta, tạo ra các cơ hộicũng như thách thức cho các DN thời hội nhập kinh tế thế giới
Trải qua 20 năm chuyển đổi nền kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt trong
đó là các DNNQD càng khẳng định được vai trò và vị trí không thể thiếuđược của mình trong nền kinh tế, đóng góp ngày càng nhiều vào GDP, đượcđánh giá là bộ phận năng động hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế Nhưngcác DNNQD hầu hết là các DN vừa và nhỏ cho nên rất cần vốn để mở rộngsản xuất và kinh doanh, nhất là nguồn vốn đi vay từ các ngân hàng thươngmại Tuy nhiên đến nay việc vay vốn của các DNNQD tại các NHTM gặpnhiều khó khăn
Trong xu thế ấy hội nhập kinh tế cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa cácngân hàng trong nước, và đặc biệt là các đối thủ ngân hàng nước ngoài Yêucầu cấp bách đặt ra cho các NHTM Việt Nam phải tiến hành ngay một côngcuộc đổi mới toàn diện Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói chung
và Sở giao dịch cần tìm được hướng đi riêng cho mình, không ngừng nângcao chất lượng dịch vụ Một trong những nội dung quan trọng là hoạt động tíndụng- một hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn (70- 80%) trên tổng tài sản
có sinh lời và là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chính cho các ngân hàngViệt Nam Vấn đề đặt ra là phải đổi mới và mở rộng thế nào để tạo thuận lợicho các DNNQD vay vốn, vừa đảm bảo ngân hàng có thể thu hồi được vốnlẫn lãi, vừa cung cấp đủ vốn cho các DNNQD với mức lãi suất thấp
Trang 7Trong thời gian thực tập ở phòng tín dụng số 1 của ngân hàng đầu tư vàphát triển Bắc Hà Nội, em đã được tiếp xúc với hoạt động cho vay đối với cácDNNQD của phòng Và đây cùng là vấn đề em trình bầy cho chuyên đề thực tậpcủa mình với đề tài: “ Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay các doanh nghiệpngoài quốc doanh tại phòng tín dụng số 1 ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc
Hà Nội ” Chuyên đề thực tập được trình bày theo nội dung sau:
Chương I: Lý luận chung về mở rộng hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại phòng tín dụng số 1 ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Hà Nội
Chương III: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại phòng tín dụng số 1 ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Hà Nội
Trong quá trình thực tập và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp của mình,
em đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn Ths LêThanh Tâm và tập thể cán bộ phòng tín dụng số 1 ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Bắc Hà Nội
Do kiến thức, kinh nghiệm thực tế và thời gian còn nhiều hạn chế nênbài viết của em còn nhiều thiếu sót Em mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý,đánh giá, phê bình của thầy cô giáo, các cán bộ tín dụng để giúp em hoànthiện bài viết này
Em xin chân thành cám ơn!
Trang 8CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1 Khái niệm và phân loại DNNQD
có thể phân loại Doanh nghiệp hiện nay thành hai loại doanh nghiệp cơ bản:
đó là doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc doanh Trong đó,các doanh nghiệp quốc doanh mang hình thức sở hữu nhà nước về tư liệu sảnxuất còn kinh tế ngoài quốc doanh không mang hình thức sở hữu nhà nướchoặc sở hữu nhà nước không chi phối, không lấn át các hình thức sở hữu kháctrong doanh nghiệp Khoản 22 Điều 4 Luật doanh nghiệp định nghĩa về doanhnghiệp nhà nước như sau: “ Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đóNhà nước sở hữu từ 50% vốn điều lệ trở lên” Doanh nghiệp ngoài quốcdoanh là những doanh nghiệp còn lại, với sở hữu của nhà nước dưới 50% vốnđiều lệ Tuy nhiên, tại Việt Nam, có một bộ phận thường được tách riêng rakhi phân tích - chính là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – do sựkhác biệt rất lớn về đặc điểm của các doanh nghiệp này so với các doanhnghiệp không có vốn đầu tư nước ngoài Cho nên, trong chuyên đề này, cácDNNQD mà em đề cập tới không bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài
Trang 91.1.1.2 Phân loại:
Xét về hình thức pháp lý, DNNQD được chia thành các loại hình: Công ty
cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân, Doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1 Công ty cổ phần
Là loại hình doanh nghiệp (DN) vốn điều lệ được chia thành nhiều phầnbằng nhau gọi là cổ phần, người chủ sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông Cổđông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanhnghiệp trong phạm vi vốn đã góp vào DN và có quyền tự do chuyển nhượng
cổ phần của mình cho người khác, công ty cổ phần có tư cách pháp nhân.Trong quá trình hoạt động công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán
ra công chúng theo quy định của pháp luật để huy động vốn nhằm đáp ứngnhu cầu hoạt động kinh doanh
2 Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005 phân biệt hai loại hình công tyTNHH là công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trởlên
- Công ty TNHH một thành viên: là DN do một tổ chức làm chủ sở hữu,
chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của
DN trong phạm vi số vốn điều lệ của DN Công ty TNHH một thành viên có
tư cách pháp nhân nhưng không được quyền phát hành cổ phiếu
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên: là DN có tư cách pháp nhân và các
thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
DN trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào DN Các thành viên có thể là tổchức hay cá nhân Công ty TNHH hai thành viên trở lên không có quyền pháthành cổ phiếu
3 Công ty hợp danh
Là DN phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài ra còn có thể có
Trang 10thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyênmôn và uy tín nghề nghiệp, phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về toàn bộ hoạt động của DN Công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân
4 Doanh nghiệp tư nhân
Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằngtoàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp
tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào, mỗi cá nhân chỉđược quyền thành lập một công ty tư nhân
5 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Bao gồm các Doanh nghiệp liên doanh và các Doanh nghiệp 100% vốn đầu tưnước ngoài
1.1.2 Đặc điểm của các DNNQD
Các DNNQD được xem là một thành phần hết sức năng động đóng gópcho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước Nó có những đặc điểm
cơ bản như sau:
- Các DNNQD có tính tư hữu cao, đó là những doanh nghiệp hoạt độngđộc lập không chịu sự điều chỉnh trực tiếp bằng mệnh lệnh của Nhà nước Dovậy, nó có toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mìnhtrong khuôn khổ pháp luật và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước quyết định đó.Điều này chứng tỏ tính tự chủ của các DNNQD là rất cao
- Các DNNQD thường có quy mô nhỏ, cơ cấu tổ chức năng động và linhhoạt Điều này giúp cho các DNNQD nhanh chóng nắm bắt những thành tựu
về khoa học kỹ thuật, linh hoạt và sáng tạo trong việc tổ chức điều hành đápứng kịp thời nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường Quy mô nhỏ làmtăng vòng quay vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các DNNQD
- Các DNNQD ngày càng được tiếp cận với những tiến bộ không ngừngcủa khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến hiện đại Do tính cạnh tranh caohơn so với các doanh nghiệp quốc doanh (DNQD), các DNNQD chú trọng
Trang 11nhiều đến yếu tố kỹ thuật công nghệ vì nó tạo ra ưu thế cho doanh nghiệp.Các DNNQD đều ý thức rất rõ về vai trò của khoa học công nghệ đối với sảnxuất kinh doanh của mình Vì vậy đa phần các DNNQD đều chú trọng đầu tưvào khoa học công nghệ nhằm áp dụng vào sản xuất để tạo ra những sảnphẩm có hàm lượng chất xám cao.
1.1.2.1 Ưu thế
- Có khả năng hướng tới lợi nhuận cao nhất Do các DNNQD có tính tư hữu
cao nên hiệu quả họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn gắnliền với quyền lợi, lợi ích cá nhân của người sản xuất cũng như chủ doanhnghiệp Chính vì vậy mà các DNNQD luôn luôn tập trung tối đa những gì họ
có để đạt được lợi nhuận tối đa
- Các DNNQD có số vốn đầu tư ban đầu ít, nhưng hiệu quả sử dụng vốn cao,thường đầu tư vào những ngành có khả năng thu hồi vốn nhanh Với ưu thếquy mô nhỏ nên các DNNQD dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của thịtrường, cơ chế chính sách của nhà nước
- Các DNNQD có quy mô nhỏ, bộ máy quản lý, tổ chức, kinh doanh gọn nhẹ.Chính vì thế các quyết định quản lý được thực hiện nhanh chóng, công táckiểm tra, điều hành trực tiếp góp phần giảm thiểu chi phí quản lý doanhnghiệp
- Các DNNQD có tính linh động cao, khả năng chuyển hướng kinh doanh vàchuyển hướng mặt hàng nhanh chóng đồng thời nhạy bén trong việc tiếp thunhững tiến bộ khoa học kỹ thuật mới giúp họ có thể nhanh chóng “đi tắt”,
Trang 12doanh Mặt khác việc tìm nguồn tài trợ cũng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn sovới các doanh nghiệp nhà nước Tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng đã khó,song để có được nguồn vốn đủ cho phương án sản xuất kinh doanh thì doanhnghiệp sẽ gặp khó khăn vì không đảm bảo được tỷ lệ an toàn theo yêu cầu từphía ngân hàng.
- Cơ sở sản xuất, trang thiết bị, công nghệ còn yếu kém lạc hậu chủ yếu làđầu tư vào những ngành nghề ít vốn, thời gian thu hồi vốn nhanh, không đòihỏi công nghệ phức tạp Do đó nhiều doanh nghiệp đã tận dụng những máymóc thiết bị lạc hậu để tiếp tục sản xuất kinh doanh Mặt khác do phạm vihẹp, bản thân doanh nghiệp không đủ sức tích lũy vốn đáp ứng yêu cầu sảnxuất kinh doanh vì thế họ chưa có đủ nguồn để tài trợ cho việc đổi mới máymóc trang thiết bị
- Chất lượng lao động còn thấp, trình độ tay nghề chưa cao, đặc biệt làtrình độ quản lý nói chung còn hạn chế, ít được đào tạo cơ bản và chưa đápứng được so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế Trong thực tế, một sốdoanh nghiệp khi hoạt động ở quy mô nhỏ thì có hiệu quả, nhưng khi mở rộngquy mô sản xuất kinh doanh thì trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp khôngđáp ứng được một cách tương xứng dẫn đến thua lỗ
- Khả năng cạnh tranh trên thị trường bị hạn chế, thường bị động trong cácquan hệ thị trường, khả năng tiếp thị kém, nguy cơ phá sản cao
- Hiện tượng các DNNQD hoạt động phi pháp như trốn thuế, lậu thuế, lừađảo… còn phổ biến Ngoài ra, đa số các DNNQD còn chưa thực hiện đầy đủcác quy định pháp luật về an toàn lao động và đóng bảo hiểm xã hội đối vớingười lao động
Như vậy, DNNQD tuy có nhiều ưu thế song cũng tồn tại không ít nhữnghạn chế Đây mới chỉ là những hạn chế xuất phát từ bản thân doanh nghiệp.Mặt khác, các doanh nghiệp này đang phải hoạt động trong một môi trườngkinh tế mà trong đó còn nhiều cản trở như sự bất bình đẳng trong chế độ
Trang 13chính sách giữa DNQD và DNNQD, khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốntài trợ Do đó các DNNQD cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước về nhiều mặtnhư cơ chế chính sách, thuế, công nghệ, và đặc biệt là vốn Có thể thấy vớiđặc điểm về quy mô vốn, trình độ ban lãnh đạo, thiết bị công nghệ việc tự thuhút các nguồn vốn bên ngoài của DNNQD là rất khó Việc tự thu hút vốnthông qua phát hành cổ phiếu hay trái phiếu doanh nghiệp cũng hết sức khókhăn… Do đó nguồn vốn chính mà các DNNQD mong muốn là nguồn vốnvay từ ngân hàng
1.1.3 Vai trò của các DNNQD
1.1.3.1 Đối với nền kinh tế
Trong xu thế hội nhập và phát triển toàn cầu, đặc biệt là sau sự kiện ViệtNam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới(WTO) vào 7/11/2006, xu hướng cổ phần hoá các DNNN càng được khuyếnkhích và đẩy mạnh Thực hiện chủ trương đường lối đổi mới của Đảng vàNhà nước, các DNNQD đã khẳng định được những đóng góp của mình trong
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vai trò đó được thể hiệnthông qua những nét nổi bật sau:
- Kênh tập trung vốn cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh
Vốn là điều kiện tiên quyết đối với mỗi chủ thể muốn kinh doanh trênthị trường Với DNNQD thông thường có hai loại vốn: vốn tự có và vốn đivay, tồn tại ở những dạng khác nhau tùy theo loại hình doanh nghiệp Vốn đivay được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: vay ngân hàng, vay từcác tổ chức phi chính thức, tư nhân, bạn bè, họ hàng và bản thân người laođộng trong DN
Hiện nay nước ta có khoảng trên 200.000 DNNQD với tổng số vốnđăng ký xấp xỉ 500 tỷ đồng, là một trong những kênh tập trung vốn hiệu quảnhất Nó không những huy động được những đồng vốn nhàn rỗi trong dân cưcho mục đích sản xuất kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận mà còn góp phần
Trang 14chuyển dịch cơ cấu vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn, làm cho đồng vốn
bỏ ra luôn luôn vận động và sinh lời Hơn nữa, hoạt động tích tụ tập trungvốn, tái đầu tư vào sản xuất còn góp phần thúc đẩy lượng sản xuất phát triển,tạo điều kiện thực hiện phân công lao động xã hội
- Nâng cao tính cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Cạnh tranh là một trong ba quy luật chủ yếu và chi phối nền kinh tế thịtrường Cạnh tranh là phương thức giúp các DN có thể tiết kiệm được chi phísản xuất kinh doanh nhằm hạ giá thành, đồng thời thúc đẩy DN nhanh chóngđổi mới thiết bị, công nghệ
Hiện nay, sự gia tăng nhanh chóng về số lượng của các DNNQD trongtất cả các lĩnh vực, các ngành nghề không những làm cho số lượng các DNtrong một ngành, một nghề gia tăng mà còn làm thay đổi tương quan lựclượng giữa các ngành với nhau Vì vậy, để tồn tại và phát triển đòi hỏi cácDNNQD phải mạnh dạn, năng động và đổi mới nhằm nâng cao tính cạnhtranh không chỉ giữa các DNNQD với nhau mà còn giữa DNNQD và DNNN.Đây thực sự là một động lực giúp cho nền kinh tế phát triển và nâng cao hiệuquả sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế
- Góp phần làm tăng thu nhập quốc dân
Hoạt động kinh doanh, sản xuất của các DNNQD đáp ứng được nhucầu ngày càng đa dạng và khắt khe của người tiêu dùng DNNQD cung cấpcho thị trường khối lượng hàng hóa ngày càng lớn, phong phú về chủng loạivới chất lượng được nâng cao, và hơn thế còn góp phần vào các mặt hàngxuất khẩu tăng thu ngoại tệ cho quốc gia Năm 2006, đóng góp hơn 40% GDP
và 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, luôn duy trì tốc độ trên18%/năm Con số này ngày càng được khẳng định trong giai đoạn 2007-2010
- Tăng thu cho nguồn Ngân sách Nhà nước
Nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách Nhà nước là thuế, đó là nghĩa vụ mà
Trang 15các tổ chức cá nhân phải thực hiện đối với nhà nước Phần lớn thuế thu được
là do đóng góp của các tổ chức kinh tế trong đó có các DNNQD Về mặt phápluật, các DNNQD cũng như các doanh nghiệp nhà nước có nghĩa vụ như nhautrong việc nộp thuế Các loại thuế phổ biến mà các doanh nghiệp này phảithường xuyên đóng là thuế VAT, thuế thu nhập DN, thuế tiêu thụ đặc biệt,thuế xuất nhập khẩu Do đó, sự phát triển của các DNNQD sẽ góp phần đáng
kể cho nguồn thu của ngân sách Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hàng năm cácDNNQD đóng góp vào ngân sách nhà nước khoảng 14,8% tổng thu ngân sáchnhà nước
- Góp phần tạo việc làm, giảm thất nghiệp
Vấn đề việc làm là một vấn đề xã hội nan giải với bất cứ quốc gia nào.Trong giai đoạn 2001-2005, bình quân cả nước tạo việc làm mới cho ngườilao động khoảng 1,5 triệu việc làm/năm Trong đó, khu vực DNNQD có đónggóp đáng kể, khoảng 0,3 triệu việc làm/năm, tốc độ tăng bình quân là 20%,tạo ta 49% số việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn Đến 2006 các DNNQD
đã sử dụng gần 3 triệu lao động Theo chỉ đạo của Chính phủ đến năm 2010,
cả nước sẽ có 500.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, lực lượng nòng cốt của cácDNNQD, tạo việc làm cho khoảng 20 triệu người Sự xuất hiện của cácDNNQD bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước đã tạo ra nhiều cơ hội việc làmcho nhiều đối tượng lao động như: người đến tuổi lao động cần việc làm; laođộng dôi từ các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước do tinh giảm biên chế, giảithể, chuyển đổi, phá sản; lao động nông nhàn trong nông nghiệp do chuyểndịch cơ cấu kinh tế, chuyển sang làm việc cho các DNNQD Như vậy, khuvực DNNQD là một trong những khu vực tạo thêm nhiều việc làm cho ngườilao động, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp
- Góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH
DNNQD hoạt động trong mọi ngành nghề, nhưng phổ biến ở các lĩnhvực công nghiệp, thương mại, dịch vụ Thu hút một lực lượng lớn là lao động
Trang 16dư thừa ở nông thôn, lại có thể nhanh chóng thích nghi đón đầu công nghệmới, chuyển đổi hướng sản xuất nhanh chóng cho phù hợp với thị trường, do
đó DNNQD đã và đang tạo ra những chuyển biến hết sức quan trọng về cơcấu kinh tế: từ một nền sản xuất nhỏ, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp sangmột nền kinh tế cơ cấu hiện đại, hướng xuất khẩu, phù hợp với định hướngCNH- HĐH Trong những năm vừa qua, các DNNQD đã góp phần quan trọngtrong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu laođộng, nhất là cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng phát huy lợi thế so sánhtrong từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực…
Khu vực này là nơi tiếp nhận phần lớn số lao động sắp xếp lại cho cácDNNN, góp phần tạo ra sự chuyển dịch về cơ cấu lao động theo hướng tíchcực Tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp, xây dựng tăng lên, tỷtrọng lao động làm việc trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 68,2%năm 2000 xuống còn 57% năm 2005, tỷ trọng lao động trong các ngànhthương mại, dịch vụ tăng từ 19,7% lên 25%
1.3.1.2 Đối với hoạt động ngân hàng
Trước kia, hoạt động ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào khu vực kinh tếquốc doanh- một khu vực kinh tế hoạt động khá cứng nhắc hiệu quả chưa cao,điều này đã gây không ít khó khăn cho hoạt động của ngân hàng Ngày nay,các DNNQD hoạt động một cách sôi nổi, ngày càng phát triển cả về quy mô
và chất lượng đã tạo điều kiện cho sự phát triển hoạt động của ngân hàng vềvốn và nhu cầu tín dụng, thanh toán và dịch vụ ngân hàng Điều này góp phầnthúc đẩy hoạt động tín dụng ngân hàng trở nên ngày càng sôi động, đặc biệt làhoạt động tín dụng đối với các DNNQD, giúp ngân hàng nâng cao năng lựccạnh tranh và hoàn thiện mình trong bối cảnh thị trường ngân hàng đang pháttriển mạnh mẽ
Trong tương lai, khu vực kinh tế NQD sẽ chiếm một vị trí quan trọngtrong nền kinh tế vì vậy nó sẽ là một thị trường đầy triển vọng của ngành
Trang 17ngân hàng, do vậy việc phát triển hoạt động tín dụng đối với khu vực này sẽ
là một chiến lược phát triển của ngân hàng
1.2 Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Theo luật Ngân hàng và các Tổ chức tín dụng Việt Nam: Ngân hàng làmột tổ chức mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi trên nguyên tắc: cho vay,chiết khấu, hoàn trả, là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt
Theo giáo trình ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là một tổchức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiềngửi với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiệnnghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
1.2.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
Ngân hàng có ba chức năng cơ bản, đó là: chức năng là trung gian tài chính,chức năng tạo phương tiện thanh toán và chức năng trung gian thanh toán
- Chức năng trung gian tài chính
Đây là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng “Ngân hàng là tổ chứctrung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư”.Ngân hàng chính là tổ chức trung gian tài chính đứng giữa người cho vay vàngười đi vay Trong nền kinh tế luôn có bộ phận cá nhân và tổ chức thiếu hụtvốn và cũng có bộ phận thặng dư vốn, vì vậy việc chuyển giao vốn từ nơithặng dư vốn đến nơi thiếu hụt vốn là một điều tất yếu và cần thiết để manglại lợi ích cho cả hai bên cũng như mang lại lợi ích cho sự phát triển của nềnkinh tế nói chung Tuy nhiên, quan hệ tài chính trực tiếp giữa họ lại gặp phảirất nhiều khó khăn phát sinh từ sự không phù hợp về không gian, quy mô,
Trang 18thời gian, lợi ích giữa các bên liên quan Và vì vậy, ngân hàng đóng vai tròtrung gian tài chính, nối hai bộ phận này với nhau Ngân hàng tiến hành hoạtđộng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nềnkinh tế để hình thành nên nguồn vốn cho vay của ngân hàng, đồng thời ngânhàng sử dụng nguồn vốn cho vay ấy cung cấp vốn cần thiết cho các chủ thểthiếu hụt vốn, góp phần đảm bảo cho sự vận động liên tục, thông suốt và hiệuquả của nền kinh tế.
- Chức năng tạo phương tiện thanh toán
Ngân hàng có chức năng tạo tiền thông qua hoạt động thanh toán và tíndụng của mình Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanhtoán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể sử dụng để mua hàng hóa vàdịch vụ và do đó, ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng phương tiện thanhtoán Hơn nữa thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thốngngân hàng, hệ thống ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền của mình biếnkhoản tiền gửi ban đầu thành khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần, cung cấp vốnđảm bảo cho các hoạt động kinh tế diễn ra liên tục, thông suốt
- Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng tiến hành thực hiện thanh toán cho các khách hàng của mìnhthông qua rất nhiều hình thức như: thanh toán bằng thẻ, thanh toán bằng séc,
ủy nhiệm chi…và đã trở thành trung gian thanh toán lớn nhất, quan trọng nhấttại hầu hết các quốc gia hiện nay Cùng với xu hướng phát triển các hình thứcthanh toán không dùng tiền mặt đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ hiện nay, chứcnăng trung gian thanh toán của ngân hàng ngày càng khẳng định được tầmquan trọng của mình
* Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ cho nên cáchoạt động chính: hoạt động huy động vốn, cho vay, thanh toán, kinh doanhngoại tệ, bảo lãnh, chiết khấu và thuê mua
Trang 19a. Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàngthương mại Vì vậy, hoạt động này đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đếnchất lượng hoạt động của ngân hàng Cho vay được coi là hoạt động sinh lờicao, do đó các ngân hàng thương mại đã tìm mọi cách để huy động được tiền.Một trong những nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại là cáckhoản tiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng Ngân hàng mở dịch vụnhận tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ khách hàng, bằng cách đó ngân hànghuy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư Để gia tăngnguồn tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chấtlượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thứchuy động khác nhau: Nhận tiền gửi thanh toán; tiền gửi tiết kiệm với nhiều kỳhạn đa dạng, hấp dẫn; huy động trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi Ngoài ra, khicần vốn cho nhu cầu thanh khoản hay cho vay, đầu tư khác ngân hàng cóthể vay vốn từ các ngân hàng khác, vay trên thị trường tài chính hay vay củangân hàng Trung ương
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết kháchhàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định
Cho vay được định lượng qua 2 chỉ tiêu: Doanh số cho vay trong kỳ và dư nợcuối kỳ Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay
ra trong kỳ Dư nợ cuối kỳ là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho vay vàothời điểm cuối kỳ Khi lập các báo cáo tài chính, cho vay được ghi dưới hìnhthức dư nợ Hoạt động cho vay có rất nhiều hình thức: Cho vay ngắn hạn,trung- dài hạn, cho vay theo hạn mức, cho vay thấu chi, cho vay trả góp, chovay trực tiếp từng lần, cho vay gián tiếp
Bảo lãnh là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, qua đó
Trang 20khách hàng có thể tìm nguồn tài trợ mới, mua được hàng hóa, thực hiện đượccác hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảolãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàngkhi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết
Hoạt động bảo lãnh đem lại cho ngân hàng một khoản phí bảo lãnh theo tỷ lệphần trăm trên số tiền bảo lãnh, ngoài ra ngân hàng còn nhận được nguồn tiền
kí quỹ của khách hàng với lãi suất thấp
Ngân hàng thực hiện bảo lãnh dưới nhiều hình thức như: Phát hành thư bảolãnh, mở thư tín dụng, kí hối phiếu nhận nợ
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng Thanh toán qua ngân hàng
đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền khôngcần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho kháchhàng, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền Các tiện íchcủa thanh toán không dùng tiền mặt như: an toàn, chính xác, nhanh chóng, tiếtkiệm chi phí đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thunhập cho khách hàng Khi ngân hàng mở chi nhánh, phạm vi thanh toán quangân hàng càng được mở rộng, càng tạo nhiều tiện ích hơn Ngân hàng thựchiện thanh toán bằng nhiều hình thức: Séc, Uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thẻ
Kinh doanh ngoại tệ là một trong những hoạt động quan trọng của ngânhàng thương mại Bởi vì, thông qua hoạt động này, một mặt tạo ra lợi nhuậncho ngân hàng thương mại Mặt khác, để các ngân hàng thương mại góp phầnđiều hoà cung cầu ngoại tệ trên thị trường, ổn định tỷ giá, thực hiện chínhsách quản ký ngoại hối của Nhà nước, từ đó tác động tích cực đến hoạt độngxuất nhập khẩu cũng như các hoạt động khác trong nền kinh tế
Trang 21Kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại có các hình thức chủ yếu sau:Mua bán ngoại tệ (mua bán giao ngay, kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi); Chuyểnđổi ngoại tệ; Bảo quản chứng từ có giá trị ngoại tệ.
Để mở rộng hoạt động cho vay nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về vốn củakhách hàng, ngân hàng thương mại thực hiện chiết khấu và tái chiết khấu giấy
tờ có giá Việc chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại được hiểu
là việc ngân hàng mua giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của kháchhàng Tái chiết khấu là việc ngân hàng mua lại các giấy tờ có giá chưa đếnhạn thanh toán và đã được chiết khấu theo phương thức mua hẳn
Thực hiện hoạt động chiết khấu ngân hàng có thể thu được lợi nhuận khácao thông qua việc thu lãi chiết khấu và phí chiết khấu nếu có
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là cho vay để khách hàngmua tài sản Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, khách hàng không đủ hoặcchưa đủ điều kiện để vay Để mở rộng tín dụng, ngân hàng thương mại đãmua các tài sản theo yêu cầu của khách hàng để cho khách hàng thuê Vì tàisản cho thuê thuộc sở hữu của ngân hàng nên ngân hàng có thể thu hồi để bánhoặc cho người khác thuê khi người thuê không trả được nợ Điều này gópphần giảm bớt thiệt hại cho ngân hàng
Hoạt động cho thuê bắt nguồn từ doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp thiết
bị, nhà cửa có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài Do người mua không đủ tiềnmua hoặc chỉ có nhu cầu sử dụng trong thời gian ngắn hơn thời gian khấu haocủa tài sản đã làm nảy sinh nhu cầu thuê Các doanh nghiệp sản xuất vàcung cấp có nhu cầu tiêu thụ để tăng doanh thu và giảm hao mòn của tài sản
Từ đó phát sinh nhu cầu cho thuê- đi thuê Cho thuê có hai hình thức chủ yếu
là cho thuê nghiệp vụ và cho thuê tài chính Hoạt động
Trang 221.2.2 Các hình thức tín dụng của ngân hàng thương mại
Nguồn vốn vay của ngân hàng chủ yếu là từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi củacác cá nhân và của các doanh nghiệp được giải phóng ra khỏi quá trình sảnxuất kinh doanh Các tổ chức và các cá nhân có thời hạn vốn nhàn rỗi khácnhau dẫn tới nguồn vốn huy động của ngân hàng cũng gồm nhiều loại Việcphân loại tín dụng để thực hiện cân đối giữa vốn và sử dụng vốn giúp cho quátrình quản lý điều hành ngày càng có hiệu quả Dựa theo từng tiêu thức cụ thểngười ta có thể phân loại tín dụng theo những hình thức cụ thể sau:
1.2.2.1 Phân loại theo đối tượng tín dụng
Tín dụng vốn lưu động
Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chứckinh tế, có nghĩa là cho vay để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời Tíndụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ hàng hóa, cho vay chi phí sảnxuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu
Tín dụng vốn cố định
Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản cố định, có nghĩa làđầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sảnxuất, xây dựng xí nghiệp và công trình mới
1.2.2.2 Phân loại theo xuất xứ tín dụng
Trang 231.2.2.3 Phân theo thời hạn cho vay
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao chokhách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời giannhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi Căn cứ vàothời hạn cho vay được chia làm 3 loại:
Tín dụng trung hạn
Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm Loại tín dụng này được cấp đểmua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất vàxây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn
Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cấp vốn cho xâydựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở
hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân bay…) cải tiến và mở rộng sản xuất với quy
mô lớn Hiện nay, hạn mức cho vay thời hạn đến 15 năm đã được xóa bỏ vàquy định về đối tượng cho vay không còn nữa để tạo quyền chủ động, tựquyết định cho các TCTD đối với các khoản vay
1.2.2.4 Phân loại theo mục đích sử dụng vốn
Trang 24mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hóa bền chắc như tủ lạnh, điều hòa,máy giặt…
1.2.2.5 Phân loại theo mức độ đảm bảo
Tín dụng có đảm bảo
Là hình thức tín dụng được ngân hàng cung ứng phải có tài sản thế chấphoặc cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba Sự đảm bảo như vậy là mộtbiện pháp để ngân hàng thương mại có thể giảm thiểu rủi ro tín dụng Đối vớinhững khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay đòi hỏiphải có bảo đảm như là nguồn vốn thứ hai bổ sung cho nguồn nợ thứ nhấtthiếu chắc chắn
Tín dụng không có đảm bảo
Là loại tín dụng không có tài sản đảm bảo hoặc người bảo lãnh cho khoản
nợ vay, việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách hàng Hiện nay, hình thứcnày chỉ áp dụng chủ yếu đối với các doanh nghiệp nhà nước mà chưa áp dụngnhiều đối với các DNNQD
1.2.3 Quy trình tín dụng NH
Sự phát triển của hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn những rủi ro, vì vậy cầnphải có các biện pháp để hạn chế và kiểm soát rủi ro Một trong những biệnpháp đó là thiết lập một quy trình tín dụng chặt chẽ để hướng dẫn các nhânviên tín dụng và các bộ phận có liên quan thực hiện việc cho vay theo mộtquy trình tín dụng nhằm đạt hiệu quả cao nhất Thông thường quy trình tíndụng bao gồm 5 bước:
1.2.3.1 Tiếp nhận hồ sơ
Các cán bộ tín dụng làm đầu mối tiếp nhận, hướng dẫn khách hàng hoànthành những hồ sơ cần thiết Khi có nhu cầu vay vốn, tùy theo yêu cầu từngloại khách hàng phải gửi đến ngân hàng bộ hồ sơ với các loại giấy tờ khácnhau Đối với các DNNQD, hồ sơ thường bao gồm:
Trang 25
- Hồ sơ pháp lý về doanh nghiệp: là hồ sơ chứng minh cho ngân hàng
biết về năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của khách hàngvay vốn
+ Quyết định hoặc giấy phép thành lập doanh nghiệp
+ Điều lệ của doanh nghiệp
+ Quyết định bổ nhiệm tổng giám đốc (giám đốc, kế toán trưởng),quyết định công nhận ban quản trị
+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
+ Giấy phép hành nghề
+ Giấy phép đầu tư (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
+ Hợp đồng liên doanh (đối với doanh nghiệp liên doanh)
+ Biên bản góp vốn, danh sách thành viên sáng lập (nếu là công ty cổphần, công ty TNHH)
+ Giấy chứng nhận vốn đầu tư ban đầu (nếu là doanh nghiệp tư nhân)
- Hồ sơ về khoản tín dụng: giấy đề nghị cấp tín dụng, kế hoạch sản xuất
kinh doanh, kế hoạch tài chính trong năm kế hoạch, các báo cáo tài chính,bảng kê khai công nợ, các khoản phải trả, phải thu, các hợp đồng kinh tế(đầu vào, đầu ra), phương án sản xuất kinh doanh, và các hồ sơ khác cóliên quan
- Hồ sơ đảm bảo tín dụng: gồm các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, sử
dụng, giá trị của tài sản hay hợp đồng, biên bản bảo lãnh của bên thứ ba
1.2.3.2 Phân tích tín dụng
Mục tiêu của phân tích tín dụng là xác định khả năng và ý chí trả nợ củakhách hàng Nội dung của việc phân tích tín dụng tập trung vào 5 yếu tố: uytín, tư cách của khách hàng, quyền sở hữu về tài sản, khả năng tạo lợi nhuận,
và một số điều kiện khác có ảnh hưởng đến hoạt động cuả khách hàng Cụ thểviệc phân tích tín dụng phải trải qua các bước sau:
Trang 26- Thu thập thông tin
Cán bộ tín dụng cần phải thu thập thông tin về các DNNQD xin cấp tíndụng Nguồn thông tin có thể do chính DNNQD đó cung cấp, hay do cán bộtín dụng thu thập được trực tiếp thông qua xem xét tình hình thực tế củadoanh nghiệp, hoặc có thể lấy thông tin từ bên thứ ba (các chủ nợ cũ, các NH
đã cấp tín dụng cho DN, thông tin của phòng Kế hoạch- Đầu tư nơi DNNQDđăng kí kinh doanh)
+ Đánh giá các khoản nợ: ngân hàng quan tâm đến tất cả các chủ nợ củakhách hàng (ngân hàng, người cung cấp, người lao động, các khoản nợ cũ,các khoản nợ ưu đãi, nợ có đảm bảo và nợ khác)
+ Phân tích luồng tiền: các luồng tiền vào và luồng tiền ra thực tế là một chỉtiêu rất quan trọng trong việc dự đoán các vấn đề tín dụng trong tương lai.+ Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua việc sử dụngcác tỷ lệ phân tích như tỷ lệ khả năng thanh toán, tỷ lệ khả năng tài trợbằng vốn tự có, tỷ lệ rủi ro…
+ Phân tích các điều kiện kinh tế, xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng của DNNQD xin cấp tín dụng
1.2.3.3 Xây dựng và kí kết hợp đồng tín dụng
Sau khi đã phân tích về khách hàng cũng như phương án tài trợ, ngân hàng
sẽ ra quyết định tín dụng Nếu đồng ý cấp tín dụng cho khách hàng, ngânhàng và khách hàng sẽ cùng nhau ký kết hợp đồng Đây có thể là hợp đồng tíndụng (nếu ngân hàng cho vay), hợp đồng bảo lãnh, hoặc hợp đồng cho thuê
Trang 27Hợp đồng chính là văn bản ghi lại thỏa thuận giữa người nhận tài trợ(DNNQD) và ngân hàng với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cung cấpcho khách hàng một khoản tín dụng trong một khoảng thời gian và lãi suấtnhất định Các nội dung chính trong hợp đồng:
+ Khách hàng: tên doanh nghiệp, địa chỉ, điện thoại, người đại diện củadoanh nghiệp
+ Mục đích sử dụng của khoản tín dụng (thường có trong hợp đồng tíndụng)
+ Số lượng tín dụng: số tiền mà ngân hàng cam kết cung cấp cho kháchhàng
+ Lãi suất: tùy theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng mà ngânhàng sẽ áp dụng lãi suất thả nổi hay cố định hoặc phí phải trả đối với hợpđồng bảo lãnh
+ Thời hạn tín dụng hoặc thời hạn có hiệu lực của bảo lãnh
+ Các loại bảo đảm
+ Các điều kiện giải ngân và kỳ hạn giải ngân (đối với hợp đồng tín dụng)hoặc các điều kiện thực hiện bảo lãnh (đối với hợp đồng bảo lãnh)
+ Các điều kiện thanh toán
Ngoài ra còn có một số điều kiện khác
1.2.3.4 Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng
Sau khi đã ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng phải có trách nhiệm cấptiền (hoặc thanh toán tiền hàng) cho khách hàng như đã thỏa thuận Mộtkhoản tín dụng có thể cấp một lần toàn bộ số tiền vay hoặc giải ngân thànhnhiều đợt Nhân viên giám sát phải theo dõi số tiền phát từng lần, đảm bảotổng số lần phát tiền không được vượt mức tiền đã ký và đúng như nhữngđiều kiện đã quy định trong hợp đồng
1.2.3.5 Giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng
Theo dõi việc thực hiện các hợp đồng tín dụng thông qua hợp đồng tín
Trang 28dụng, sổ sách kế toán, chứng từ kế toán…để có thông báo trả nợ cho kháchhàng trước 5 ngày làm việc Khi ngân hàng thu hồi đủ cả gốc lẫn lãi thì quan
hệ tín dụng kết thúc Ngân hàng thực hiện việc tất toán khoản vay, giải tỏa cáchợp đồng đảm bảo tài sản và thanh lý hợp đồng tín dụng Nếu khách hànghoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn tức là ngân hàng đã có một khoản tíndụng an toàn và sinh lời Tuy nhiên cũng có trường hợp khách hàng khônghoàn trả đúng hạn hoặc không hoàn trả được đầy đủ khoản tín dụng, khi đóngân hàng cần phải xem xét nguyên nhân và đưa ra cách xử lý cho phù hợp
1.3 Mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.3.1 Cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là việc ngân hànggiao tiền cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh với cam kết các doanh nghiệpphải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định
Để hạn chế rủi ro tín dụng các ngân hàng thường yêu cầu thêm một điềukiện là phải có tài sản đảm bảo nhất là đối với các DNNQD, bởi các doanhnghiệp này luôn phải đối đầu với rủi ro trong hoạt động kinh doanh và có thểmất khả năng trả nợ cho ngân hàng Trong trường hợp rủi ro xảy ra, ngânhàng sẽ có được nguồn thu nợ thứ hai từ tài sản đảm bảo này
1.3.2 Khái niệm mở rộng cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngân hàngthương mại giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với các NHTM, các doanhnghiệp ngoài quốc doanh và đối với cả nền kinh tế Chính vì vậy nên hoạtđộng này cần thiết phải được mở rộng, để có thể phát huy tốt hơn vai trò củamình
Trang 29Mở rộng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngân hàngthương mại được hiểu là sự gia tăng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệpngoài quốc doanh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Mở rộng theo chiều rộng hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh là sự tăng lên về quy mô đối tượng cho vay, khối lượng và quy
mô các khoản vay
1.3.3 tầm quan trọng của mở rộng cho vay DNNQD
1.3.3.1 Đối với Doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường không riêng gì các DN vừa và nhỏ, mà các
DN lớn cũng phải mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm,tạo uy tín với các bạn hàng Muốn vậy DN phải cần có một lượng vốn lớn đầu
tư trang thiết bị, cở sở hạ tầng, đào tạo tay nghề cho cán bộ công nhân viên
Vì vậy hoạt động cho vay đóng một vai trò rất quan trọng đối với DN và bảnthân cả ngân hàng
* Mở rộng cho vay giúp các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có điều kiện để mở rộng sản xuất, tăng quy mô nguồn vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Như đã phân tích ở trên, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mặc dùđông về số lượng nhưng quy mô vốn nhỏ Do vậy, các doanh nghiệp nàymuốn mở rộng sản xuất, đầu tư vào máy móc thiết bị hiện đại, ứng dụng côngnghệ tiên tiến thì rất cần một lượng vốn lớn cả vốn ngắn hạn lẫn vốn trung
và dài hạn Để thấy được vai trò to lớn của nguồn vốn vay từ các ngân hàngthương mại, trước hết ta xem xét các nguồn mà các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh có thể huy động được đó là:
- Nguồn vốn chủ sở hữu:
Vốn tự có ban đầu: Đây là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng đối với sựphát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên, nguồn vốn tự có ban đầu không đủ
Trang 30đáp ứng được nhu cầu mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp, nhất là đối vớidoanh nghiệp đang trong quá trình tăng trưởng như các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh hiện nay Bởi vì, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu làcác doanh nghiệp vừa và nhỏ cho nên vốn tự có ban đầu của các doanh nghiệpnày thường rất nhỏ; và các doanh nghiệp này đa số vừa mới được thành lậpcho nên nguồn vốn này chủ yếu dùng để tài trợ cho tài sản cố định.
Vốn từ lợi nhuận để lại: Nguồn vốn này không đáng kể Bởi vì, hầu hếtcác doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều mới được thành lập cho nên gặp phảirất nhiều khó khăn: sản phẩm chưa chiếm lĩnh được thị trường; sản xuất kinhdoanh chưa ổn định; thiếu lao động có tay nghề cao, có kỹ thuật được đào tạo
hệ thống; do vậy, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao, lợinhuận thấp
Vốn từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu: Nguồn vốn này các doanh nghiệpngoài quốc doanh rất khó tiếp cận Bởi vì, thị trường chứng khoán ở ViệtNam chưa phát triển, các cổ phiếu chưa hấp dẫn được các nhà đầu tư Trongkhi đó, không phải doanh nghiệp ngoài quốc doanh nào cũng được phép pháthành cổ phiếu, trái phiếu Chỉ có công ty cổ phần được phép phát hành tất cảcác loại chứng khoán theo Luật chứng khoán và công ty trách nhiệm hữu hạn
có hai thành viên trở lên được phép phát hành trái phiếu còn doanh nghiệp tưnhân, công ty hợp danh, hợp tác xã không được phép phát hành một loạichứng khoán nào Hơn thế nữa, việc phát hành chứng khoán đòi hỏi các điềukiện rất ngặt nghèo về pháp lý, thủ tục phát hành, tài sản bảo đảm
- Nguồn vốn vay:
Vay của bạn bè, người thân: Hình thức này thường được các doanhnghiệp tư nhân sử dụng Việc vay vốn này giúp các doanh nghiệp có thêmvốn đầu tư Tuy nhiên, nguồn vốn này quá nhỏ, thời hạn ngắn và khôngthường xuyên cho nên không thể đáp ứng được nhu cầu kinh doanh của doanhnghiệp
Trang 31Nguồn từ tín dụng thương mại: Nguồn này tương đối rẻ và tiện dụngnhưng không phải lúc nào cũng có thể huy động được bằng nguồn này Cácdoanh nghiệp sản xuất chỉ bán chịu khi họ cần khuyến khích tiêu thụ sảnphẩm hoặc các doanh nghiệp mua chịu là khách hàng có uy tín đối với họ.Vốn vay từ ngân hàng thương mại: Đây là nguồn vốn tối ưu nhất Bởi vì,ngân hàng thương mạihuy động được nhiều nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư,thu hút được các nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế Cho nên nguồn vốncủa ngân hàng đủ để đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp cả về khốilượng lẫn thời gian Chính vì vậy, nguồn vốn vay ngân hàng là một giải phápthích hợp và hiệu quả để các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thể huy động
để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình
* Mở rộng cho vay khuyến khích các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
Để được vay vốn ngân hàng thì các doanh nghiệp phải có các phương ánsản xuất kinh doanh thực thi và có hiệu quả Điều này buộc các doanh nghiệpphải nghiên cứu thị trường, tính toán phương án sản xuất kinh doanh và hiệuquả của phương án đó sao cho sau khi trả gốc và lãi vay ngân hàng thì doanhnghiệp vẫn có lợi nhuận Bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng vốn vay ngânhàng, nếu doanh nghiệp sử dụng vốn không đúng mục đích hoặc không hiệuquả thì sẽ bị ngân hàng không tiếp tục cho vay và có thể bị đòi nợ trước hạn
Do vậy, khi sử dụng vốn vay ngân hàng thì các doanh nghiệp nâng cao hiệuquả đồng vốn hơn
* Mở rộng cho vay còn giúp các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chớp được kịp thời các cơ hội kinh doanh có hiệu quả.
Mặc dù, các doanh nghiệp có được cơ hội kinh doanh nhưng nếu không
có vốn thì cũng không thể thực hiện được Vốn vay ngân hàng chính là cánh
Trang 32tay đắc lực giúp các doanh nghiệp nắm được cơ hội làm ăn có hiệu quảđó.Bởi lẽ, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đang là mục tiêu hoạt độngcủa các ngân hàng thương mại hiện nay.
1.3.3.2 Đối với Ngân hàng
Hoạt động cho vay là một hoạt động truyền thống, mang lại phần lớn thu nhậpcho ngân hàng Vì vậy mà đối với ngân hàng thương mại, cho vay là hoạtđộng không thể thiếu và luôn được chú trọng và mở rộng
Thứ hai, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đang xét ở đâylại là hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Ởmột số nền kinh tế như Việt Nam, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh xuấthiện tương đối muộn và thường bị lấn át bởi các doanh nghiệp nhà nước Tuynhiên, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang trên đà phát triển mạnh mẽcùng với sự phát triển của kinh tế thị trường Doanh nghiệp ngoài quốc doanhngày càng trở thành bộ phận khách hàng quan trọng hơn của các ngân hàngthương mại Điều này vừa có thể mở rộng, đa dạng hóa danh mục khách hàngcủa ngân hàng vừa làm tăng thu nhập cho ngân hàng Để phục vụ các doanhnghiệp ngoài quốc doanh với những đặc điểm riêng có, ngân hàng cũng tạo ranhững sản phẩm dịch vụ phù hợp, đa dạng hóa danh mục sản phẩm dịch vụcho ngân hàng Và kết quả là hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh làm tăng doanh số, tăng nguồn thu cho ngân hàng, nâng cao hiệu quảhoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Vai trò của hoạt động nàyngày càng được khẳng định cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các doanhnghiệp ngoài quốc doanh
Mở rộng theo chiều sâu là sự thay đổi về tính chất và cơ cấu các khoảncho vay theo hướng hợp lý, hiệu quả hơn
Trang 331.3.3.4 Các chỉ tiêu đo lường sự mở rộng của hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngân hàng thương mại
Các chỉ tiêu thường được sử dụng để phản ánh sự mở rộng hoạt động chovay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngân hàng thương mại là:
* Số doanh nghiệp ngoài quốc doanh vay vốn tại ngân hàng
- Sự tăng lên của chỉ số này phản ánh sự mở rộng quan hệ cho vay củangân hàng tới bộ phận kinh tế ngoài quốc doanh – bộ phận từ lâu vẫn chưa cóđược sự quan tâm đúng mức của xã hội và đang ngày càng trở nên quan trọnghơn trong nền kinh tế Và do đó chỉ số này phản ánh được sự nhanh nhạy,năng động của ngân hàng thương mại, sự đa dạng hóa khách hàng của ngânhàng và quan trọng nhất phản ánh được sự mở rộng cho vay tăng thu nhập củangân hàng thương mại
Có thể đo lường tốc độ gia tăng số lượng các DN NQD vay vốn tại ngânhàng qua các năm qua phép tính:
= Số lượng DN NQD năm sau – Số lượng DN NQD năm trước
Số lượng DN NQD năm trước
Tỷ lệ này > 0 sẽ phản ánh được sự mở rộng hoạt động cho vay DN NQD quacác năm
* Dư nợ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
+ Dư nợ của các DN NQD phản ánh số tiền mà ngân hàng đang cho cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh vay tại một thời điểm cụ thể Chỉ số này phảnánh rõ nhất sự mở rộng cho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệpngoài quốc doanh
+ Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay cho các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh:
= Dư nợ của DN NQD năm sau – Dư nợ của DN NQD năm trước
Dư nợ của DN NQD năm trước
Trang 34Nếu chỉ số này dương nghĩa là đã có sự mở rộng cho vay các doanh nghiệpngoài quốc doanh
Tuy nhiên nếu muốn phản ánh rõ hơn về sự mở rộng hoạt động cho vaycác doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì có thể so sánh chỉ số này với chỉ sốtương ứng của bộ phận doanh nghiệp quốc doanh để thấy được hoạt động chovay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có tăng lên về tương đối không Nếu
tỷ lệ này là dương và cao hơn tỷ lệ tương ứng của các doanh nghiệp quốcdoanh thì phản ánh sự mở rộng thật sự của hoạt động cho vay doanh nghiệpngoài quốc doanh của ngân hàng thương mại
Ngoài ra, so sánh tỷ lệ này giữa các năm cũng giúp phản ánh được xuhướng biến động của hoạt động cho vay các DN NQD, để có thể đưa ra cácphân tích về quá khứ, về hiện tại và dự báo về tương lai của hoạt động này
* Doanh số cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Doanh số cho vay các DN NQD là tổng số tiền ngân hàng đã cho các DNNQD vay trong một thời kỳ nhất định Doanh số cho vay tăng lên theo thời gianphản ánh sự mở rộng tuyệt đối của hoạt động cho vay các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh của ngân hàng thương mại Và sự tăng lên về doanh số cho vay cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng cần so sánh với sự gia tăng doanh số chovay doanh nghiệp quốc doanh để có được nhận định chính xác hơn
* Các chỉ tiêu phản ánh sự mở rộng về chiều sâu của hoạt động cho vaycác doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Doanh số thu nợ: thể hiện tình hình thu nợ của ngân hàng thương mại trongmột thời kỳ nhất định Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh được chất lượngcủa hoạt động cho vay các DN NQD Sự tăng lên của chỉ tiêu này sẽ phản ánhđược sự mở rộng về chiều sâu của hoạt động cho vay các DN NQD của ngânhàng thương mại
Trang 35* Nợ quá hạn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: là toàn bộ số dư nợcủa doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã đến hạn thanh toán song các doanhnghiệp này chưa thanh toán được mà chưa được xử lý như: gia hạn nợ, xóanợ… Đây là chỉ tiêu phản ánh được rất rõ chất lượng các khoản cho vay cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Tỷ lệ nợ quá hạn của các DN NQD được tính như sau:
= Nợ quá hạn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Tổng dư nợ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Cũng giống như chỉ tiêu nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn của các doanhnghiệp ngoài quốc doanh cũng phản ánh chất lượng của hoạt động cho vaycác doanh nghiệp ngoài quốc doanh Tuy các chỉ tiêu này không phản ánh sự
mở rộng về chiều rộng của hoạt động cho vay này nhưng chúng phản ánhđược sự mở rộng về chiều sâu của các khoản cho vay các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh và đánh giá được sự an toàn và hiệu quả của việc mở rộng chovay đối với loại hình doanh nghiệp này
* Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu hay nợ khó đòi là tổng dư nợ thuộc nhóm 3 đến nhóm 5trong QĐ 493/2005/ QĐ NHNN ngày 22/4/2005 Là khoản nợ quá hạn đã quámột kì gia hạn nợ, hoặc không có tài sản đảm bảo, con nợ thua lỗ triền miên,phá sản
Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của các NHTM thấp hơn 5% Tỷ lệ này chophép chúng ta đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng Đến cuốinăm 2005 tỷ lệ nợ xấu của các NHTM là 4,4% Nhưng Tỷ lệ nợ xấu giữa cácngân hàng còn chênh lệch khá cao Nợ xấu của Ngân hàng Ngoại thương ViệtNam (Vietcombank) đang ở mức khoảng 2,9 – 3,0% tổng dư nợ, cao hơn tiêuchí phân loại cũ là 0,6% Và nếu so với mặt bằng chung cách đây khoảng 5
Trang 36năm thì đó là một tỷ lệ quá lý tưởng (so với 12 – 13%) Tỷ lệ nợ xấu của cácngân hàng quốc doanh còn lại có mức chênh lệch đáng kể: Ngân hàng Côngthương (Incombank) ở vào khoảng 6% tổng dư nợ, Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển (BIDV) ở khoảng 9% tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) ở mức khoảng 2,6%, thấp hơn cảVietcombank.
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng hoạt động tín dụng doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngân hàng thương mại
1.3.4.1 Những nhân tố chủ quan
Đây là những nhân tố xuất phát từ chính bản thân ngân hàng như: chínhsách tín dụng, nguồn vốn, chính sách lãi suất, quy mô ngân hàng…
- Chính sách tín dụng
Ngân hàng có những chính sách gì đối với các DNNQD, có chú trọng và
có chính sách ưu tiên gì đối với việc mở rộng tín dụng đối với loại hình doanhnghiệp này Điều này là cơ sở cho việc mở rộng hoạt động tín dụng ngân hàngvới các DNNQD
- Nguồn vốn ngân hàng: bao gồm vốn tự có và vốn huy động được
+ Vốn huy động: là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng cho vay Nguồn vốn
hình thành từ tiền gửi không kì hạn và ngắn hạn thì thường xuyên biến động,còn tiền gửi có kỳ hạn và dài hạn thì ổn định hơn Vốn huy động càng lớn vàcàng ổn định thì khả năng mở rộng tín dụng ngân hàng càng lớn
+ Vốn tự có: đối với mỗi NHTM thì việc phát triển hoạt động tín dụng còn
phụ thuộc vào mức vốn tự có của mỗi ngân hàng Luật các tổ chức tín dụngquy định các điều kiện ràng buộc ngân hàng về mặt pháp lý đối với phạm vigiới hạn tín dụng, theo đó tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng khôngvượt quá 15% vốn tự có của các NHTM Vì vậy vốn tự có của ngân hàngquyết định khối lượng tín dụng tối đa mà ngân hàng có thể đầu tư cho mộtdoanh nghiệp
Trang 37Như vậy, quy mô vốn huy động và vốn tự có của ngân hàng chính làtiền đề nhằm phát triển mở rộng hoạt động tín dụng đối với các DNNQD
- Lãi suất cho vay của ngân hàng.
Lãi suất chính là giá cả quyền sử dụng vốn vay, lãi suất là biến số nhạycảm đối với đời sống kinh tế- xã hội, nó là nhân tố tác động tích cực đốivới việc phát triển tín dụng đồng thời cũng là yếu tố kìm hãm sự phát triểntín dụng nếu như chính sách lãi suất của ngân hàng không hợp lý Trên lýthuyết cũng như thực tế, lãi suất chính là công cụ điều chỉnh quan hệ cungcầu vốn tiền tệ Chính vì vậy lãi suất cho vay của mỗi ngân hàng ả nhhưởng tới việc mở rộng hoạt động tín dụng của chính ngân hàng đó và cảcác ngân hàng khác
- Quy mô hoạt động của ngân hàng.
Quy mô hoạt động ngân hàng ảnh hưởng tới việc mở rộng tín dụng nóichung và mở rộng tín dụng đối với các DNNQD nói riêng NHTM có quy môlớn, địa bàn hoạt động rộng, có danh tiếng và uy tín cao trên thị trường sẽ thuhút khách hàng gửi và vay tiền, tạo điều kiện cho NHTM phát triển hoạt độngtín dụng dễ dàng hơn
- Công tác marketing là cách quảng bá ngân hàng đến khách hàng, giúp
cho khách hàng hiểu và tin ngân hàng hơn từ đó sẽ đến với ngân hàng ngàycàng nhiều hơn
1.3.4.2 Những nhân tố khách quan
* Từ phía khách hàng
Việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố xuấtphát từ chính doanh nghiệp như: uy tín, động cơ đầu tư, năng lực tài chính, tàisản bảo đảm…
- Uy tín của khách hàng
Đấy chính là yếu tố thể hiện bề dày lịch sử trong hoạt động kinh doanh vàđược đánh giá thông qua thị trường, đó là sự nổi tiếng, thương hiệu, chất lượng
Trang 38sản phẩm, dịch vụ… Các ngân hàng đánh giá cao và ưa thích cấp tín dụng chonhững doanh nghiệp có uy tín cao, điều này đồng nghĩa với rủi ro thấp.
- Năng lực tài chính của khách hàng
Khả năng tài chính của khách hàng thể hiện ở khối lượng vốn tự có, và tỷtrọng vốn tự có trong tổng số nguồn vốn mà khách hàng sử dụng Điều kiện tíndụng thường quy định một tỷ lệ cụ thể, tối thiểu vốn tự có trong tổng nguồnvốn hoạt động hay một tỷ lệ vốn tự có tham gia phương án, dự án vay vốn.Năng lực tài chính còn thể hiện ở khả năng thanh toán của doanh nghiệp,việc đáp ứng các yêu cầu thanh toán còn phụ thuộc khá lớn vào kết cấu tài sảncủa doanh nghiệp như khả năng chuyển hóa tài sản thành tiền Năng lực tàichính của doanh nghiệp càng cao, khả năng đáp ứng các điều kịên tín dụngcàng lớn, càng làm cho ngân hàng có điều kiện mở rộng và nâng cao chấtlượng tín dụng
- Tài sản bảo đảm tiền vay
Đối với các DNNQD, ngân hàng thường yêu cầu tài sản bảo đảm và đây lànhân tố quan trọng để quyết định cho vay hay không Theo đó, khi vay vốnngân hàng doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định Ngày29/12/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giaodịch bảo đảm (gọi tắt là Nghị định số 163) Nghị định số 163 có hiệu lực kể từngày 27/1/2007 và thay thế Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/2000của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và bãi bỏ Nghị định số 178/1999/NĐ-CPngày 25/10/2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghịđịnh số 178 Do đó, quy định về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, trong đó
có bảo đảm tiền vay, đã được quy định tập trung, thống nhất trong một vănbản và xóa bỏ được tình trạng tồn tại song song hai Nghị định của Chính phủcùng điều chỉnh một quan hệ đảm bảo tiền vay Sự ra đời của Nghị định 163
đã thể hiện rõ sự tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận, bình đẳng giữa các bên giaodịch bảo đảm quyền tự chủ, tự quyết định của các bên
Trang 39Như vậy có rất nhiều yếu tố tác động đến việc phát triển tín dụng, mỗinhân tố có mức độ tác động khác nhau tùy theo tính chất và thời gian của hoạtđộng tín dụng Đồng thời các nhân tố có sự liên quan với nhau, tạo sự tácđộng tổng hợp tới hoạt động tín dụng của NHTM Vấn đề đặt ra là người điềuhành NHTM phải nắm vững và điều khiển sự tác động của các nhân tố đótrong quá trình mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng.
* Các nhân tố thuộc về môi trường
* Môi trư ờng kinh tế
Nền kinh tế quốc dân là hệ thống bao gồm nhiều hoạt động kinh tế có liênquan biện chứng, ràng buộc lẫn nhau Bất kỳ sự biến động của một hoạt độngkinh tế nào đó cũng đều ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh trong nhữnglĩnh vực còn lại Hơn nữa, hoạt động của các NHTM có thể được coi là chiếccầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Vì vậy sự ổn định haybất ổn, sự tăng trưởng nhanh hay chậm của nền kinh tế sẽ tác động mạnh mẽtới hoạt động của ngân hàng Đặc biệt, đối với các DNNQD không có sự hỗtrợ của nhà nước và đa phần là những doanh nghiệp vừa và nhỏ nên khi gặpphải môi trường kinh doanh bất ổn định, không kế hoạch hóa được hoạt độngsản xuất kinh doanh của mình
Như vậy, môi trường kinh tế ngày càng ảnh hưởng sâu sắc đến các quyếtđịnh tín dụng của ngân hàng
* Môi trư ờng chính trị
Sự phát triển kinh tế luôn gắn liền với sự ổn định về chính trị, chính trị gópphần củng cố và tạo môi trường vững chắc cho sự phát triển kinh tế CácNHTM cũng như các DNNQD đều chịu sự tác động rất lớn từ môi trườngchính trị Với điều kiện chính trị Việt Nam khá ổn định, ít biến động đã gópphần không nhỏ cho sự hoạt động của các doanh nghiệp cũng như cácNHTM, điều này khiến cho các NHTM yên tâm và mạnh dạn hơn trong hoạtđộng tín dụng của mình
Trang 40* Môi trư ờng pháp lý
Trong nền kinh tế thị trường, mọi thành phần kinh tế đều có quyết định tựchủ về hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải đảm bảo trong khuôn khổpháp luật Hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng vậy, phải tuân theo quyđịnh của Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng, Luật dân sự vàcác quy định khác Những văn bản pháp luật, những quy định rõ ràng đầy đủ,đồng bộ và ổn định sẽ tạo ra một hành lanh pháp lý vững chắc góp phần vào
sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trong hoạt động tín dụng Vớithành phần kinh tế ngoài quốc doanh, sau chủ trương đổi mới của Đảng vàNhà nước hoạt động của khu vực này ngày càng thuận lợi hơn Tuy nhiên, cần
có chính sách ưu đãi hơn nữa nhằm phát triển hoạt động tín dụng với cácDNNQD
* Môi trư ờng tự nhiên và xã hội
Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp kinh doanhnhững ngành phụ thuộc vào thiên nhiên hay những ngành mang tính thời vụ.Các yếu tố tự nhiên như: thời tiết, khí hậu, mùa vụ, thiên tai…ảnh hưởng đếnsản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó tác động đến nhu cầu vay vốn,khả năng trả nợ…Vì vậy, các ngân hàng sẽ cân nhắc hơn trong việc cấp tíndụng cho những doanh nghiệp này Bên cạnh đó, các yếu tố xã hội như tâm
lý, phong tục tập quán, trình độ dân trí… cũng có tác động đến hiệu quả tíndụng Mức độ tin tưởng của ngân hàng đối với các DNNQD sẽ quyết định hạnmức tín dụng của ngân hàng đối với các doanh nghiệp này Trong hiện tại vàtương lai các DNNQD ngày càng khẳng định vị thế của mình trong nền kinh
tế thị trường và gây được niềm tin đối với ngân hàng, do đó quy mô cũng nhưhiệu quả các khoản vay ngày càng tăng lên