Đề tài Hãy phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp thúc đẩy tiêu thụ nông sản ở Việt Nam PHẦN I MỞ ĐẦU 1 Tổng quan đề tài Tiêu thụ nông sản phẩm là một khâu rất quan trọng trong quá trình tái sả[.]
Trang 1Đề tài: Hãy phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp thúc đẩy tiêu
thụ nông sản ở Việt Nam
PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Tổng quan đề tài
Tiêu thụ nông sản phẩm là một khâu rất quan trọng trong quá trình tái sản xuất nông nghiệp Nó là khâu cuối cùng kết thúc quá trình sản xuất,tức là giải quyết khâu đầu ra của quá trình sản xuất Từ quá trình tiêu thụ sản phẩm,sẽ thu được nguồn tiền để bù đắp các chi phí tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng Tiêu thụ nông sản là giai đoạn làm cho sản phẩm ra khỏi quá trình sản xuất và bước vào lưu thông, đưa sản phẩm từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực tiêu dùng Nếu tổ chức tốt và có hiệu quả việc tiêu thụ nông sản sẽ có tác dụng mạnh mẽ đến quá trình sản xuất Tiêu thụ hết và kịp thời sản phẩm làm ra là một tín hiệu tốt cho doanh nghiệp bổ sung, điều chỉnh kế hoạch sản xuất cho quá trình tiếp theo Giá trị sản phẩm được thực hiện cho phép doanh nghiệp sử dụng hợp lí vốn sản xuất, tránh
ứ đọng vốn và nhanh chóng và kịp thời sản phẩm làm ra còn rút ngắn được thời gian lưu kho, lưu thông và chu kì sản xuất kinh doanh của sản phẩm Như vậy, tiêu thụ tốt sản phẩm là cơ sở thông tin về thị trường cho người sản xuất
Ngược lại sản phẩm không tiêu thụ được là tín hiệu xấu đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm ra nguyên nhân để từ đó có những giải pháp kịp thời điều chỉnh cho phù hợp Đối với lĩnh vực tiêu dùng ,tiêu thụ tốt sản phẩm sẽ đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng, đồng thời còn có tác dụng điều chỉnh và hướng dẫn tiêu dùng mới ,đặc biệt đối với những sản phẩm mới Trong điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất phải hướng tới tiêu dùng và lấy tiêu dùng làm mục tiêu để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong cầu nối này Thông qua tiêu thụ sản phẩm, các nhà sản xuất sẽ nắm bắt được thị hiếu người tiêu dùng về số lượng, chất lượng, mẫu mã ,chủng loại mặt hàng Tiêu thụ sản phẩm là một hoạt động nằm trong lĩnh vực lưu thông, có nhiệm vụ chuyển tải những kết quả của lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực tiêu dùng Vì vậy tiêu thụ sản phẩm kịp thời và
Trang 2nhanh chóng là tiền đề quan trọng trong thực hiện phân phối sản phẩm và kết thúc quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một khâu không thể thiếu được đối với bất kì hoạt động sản xuất nào, vì vậy vấn đề này phải luôn được đặt vào một trong những vấn đề phải quan tâm giải quyết hàng đầu và phải luôn có những chính sách thích hợp để thúc đẩy phát triển
2 Cơ sở lí thuyết liên quan
2.1 Đặc điểm sản phẩm nông sản
Nông sản là một sản phẩm đặc biệt, có nguồn sản xuất phân bố phân tán và rộng khắp trên mọi miền của lãnh thổ Hàng nông sản gắn liền với cuộc sống hàng ngày của nhân dân, Giá chênh lệch giữa nơi sản xuất và nơi tiêu dùng khá lớn, nếu nắm bắt thông tin kịp thời sẽ rất có lãi Nhưng đồng thời quan hệ cung – cầu về mặt hàng này rất phức tạp cần phải nghiên cứu kỹ đặc điểm sản phẩm, nơi sản xuất và thị trường có nhu cầu nông sản lớn từ đó sẽ vạch hướng kinh doanh cho các kênh tiêu thụ sản phẩm Và chủ yếu phải nghiên cứu những đặc điểm chính của hàng nông sản như sau
2.1.1 Tính thời vụ
Sản xuất nông sản có tính thời vụ rõ ràng: Vụ Đông, vụ Hè, vụ Chiêm, vụ Mùa… Tuỳ từng thời vụ mà có những sản phẩm nông sản đặc trưng cũng như giá cả khác nhau, nông sản trái mùa sẽ có giá cao hơn nông sản vào mùa thu hoạch Đồng thời khác các loại hàng hoá khác để sản xuất được sản phẩm nông sản cần có một thời gian nhất định để cay, con sinh trưởng, vòng quay sản xuất tương đối dài Do vậy trong khoảng thời gian từ vụ yhu hoạch này tới vụ thu hoạch sau là một khoảng thời gianvà sản phẩm nông sản lúc đó tương đối hiếm Còn vào thời điểm thu hoạch thì lượng sản phẩm nông sản rất dồi dào và phong phú Do vậy người kinh doanh hàng nông sản cần phải biết quy luật sản xuất các mặt hàng này để làm tốt công tác chuẩn bị trước mùa thu hoạch, đến mùa thu hoạch thì tập trung lao động nhanh chóng triển khai công tác thu mua và tiêu thụ sản phẩm
2.1.2 Tính phân tán
Sản phẩm nông sản được sản xuất bởi các hộ nông dân, và được trồng ở nông thôn nơi mà hàng triệu người nông dân sinh sống Họ sản xuất nông sản theo từng
Trang 3gia đình và với số lượng nhỏ Do vậy nguồn nông sản phải cóp nhặt từ các hộ gia đình này và từ nhiều nơi khác nhau Trong khi đó sức tiêu thụ thì tập trung ở thành phố, khu công nghiệp lớn Nông sản phải vận chuyển từ nông thôn ra thành thị, đòi hỏi bố trí điểm thu mua đặt địa điểm chế biến đều phải thuận lợi cho quá trình vận chuyển nông sản
2.1.3 Tính khu vực
Sản xuất nông sản gắn liền với địa hình, tuỳ theo tính chất địa hình mà có thể nuôi, trồng những loại con, cây khác nhau Thường mỗi loại sản phẩm nông sản chỉ thích ứng trên mỗi địa hình đặc trưng riêng như đất đai, khí hậu, con người Tuỳ theo địa hình, khu vực mà nơi thì thích ứng trồng bông, mía nơi thì trồng cà phê, chè, cao su… Do đặc điểm tự nhiên này mà hình thành những khu vực sản xuất khác nhau với tính chất sản phẩm khác nhau(chè Thái Nguyên thì khác chè ở Tuyên Quang, Hà Giang…) chính vì thế có những khu vực sản xuất sản phẩm nông sản rất khác nhau với tỷ lệ khác nhau: Như Đồng Bằng sông Cửu Long và Đồng Bằng sông Hồng là hai khu vực sản xuất phần lớn sản lượng lúa, gạo trong cả nước
2.1.4 Tính tươi sống
Hàng nông sản phần lớn là động vật, thực vật tươi sống khó bảo quản do dễ
bị hỏng, ôi, dập nát, dễ giảm phẩm chất Đặc biệt với rau quả và sản phẩm khác thì nhu cầu sử dụng sản phẩm tươi sống là rất cao, tỷ trọng nông sản tiêu thụ ở dạng này chiếm tương đối lớn Khi tiêu thụ sản phẩm nông sản cần chú ý đặc điểm này và khi thu mua cần phân loại theo chất lượng sản phẩm, khả năng chế biến, bảo quản sản phẩm cũng như cần có hình thức vận chuyển nhanh chóng đảm bảo độ tươi sống hao
2.1.5 Tính không ổn định
Ngành nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc lớn vào thời tiết, dịch bệnh, giống, kỹ thuật nuôi trồng…mà thời tiết là một yếu tố mà con người khó kiểm soát
và khó dự báo, lúc thì nắng, lúc thì mưa, lúc hạn hán, lúc lũ lụt Điều này gây nên tính không ổn định của sản phẩm nông sản: sản lượng nông sản lên xuống thất thường, năm được mùa, năm mất mùa và cùng một năm thì có vùng được mùa và có vùng mất mùa Khiến cho nguồn hàng, giá hàng không ổn định, khó kiểm soát Vụ được mùa: số lượng nông sản lớn thì giá lại rẻ Còn lúc mất mùa giá nông sản tăng
Trang 4cao thì lại không có nông sản mà bán Tính không ổn định này nhiều lúc gây ra rất nhều khó khăncho vấn đề tiêu thụ như sản phẩm nông sản thường bị tư thương ép giá vào lúc được mùa, hợp đồng ký bị vi phạm do không đủ hàng giao lúc mất mùa… Dù vậy nông sản vẫn có nhu cầu tiêu dùng tương đối lớn bởi nó gắn liền với bản thân người tiêu dùng, đòi hỏi tự nhiên con người phải dùng sản phẩm nông sản
để tồn tại và phát triển
Phần II Phân tích đánh giá thực trạng tiêu thụ nông sản hiện nay ở
Việt Nam hiện nay.
1 Khối lượng nông sản tiêu thụ
Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 7 năm 2018 ước đạt 2,85 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2018 đạt 22,2 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2017 Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 11,6 tỷ USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2017; xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 4,63
tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2017; xuất khẩu chăn nuôi ước đạt 0,31 tỷ USD, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2017; giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 5,03 tỷ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm 2017
2 Thị trường tiêu thụ nông sản
Nông sản được tiêu thụ ở khắp nơi trên đất nước cũng như nước ngoài, chỗ nào
có dân cư sống là nơi ở đó nông sản được tiêu thụ Nhưng chủ yếu nông sản được tiêu thụ ở những thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… nơi mà dân cư đông đúc và nhu cầu tiêu thụ của người dân là lớn Ngioài tiêu thụ trong nước còn tiêu thụ nước ngoài: Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan… Những thị trường này tiêu thụ một lượng hàng nông sản lớn ở Việt Nam như chè, cao su, cà phê, hạt tiêu, hồ tiêu… Đặc biệt từ năm 1999 trở lại đây Trung Quốc luôn là thị trường lớn nhất của rau quả Việt Nam và thường chiếm tỷ trọng 40% kim ngạch xuất khẩu hàng năm Vì vậy thị trường Trung Quốc cần phải được coi trọng, coi đó là thị trường mang tính chiến lược và ổn định lâu dài với ngàng rau quả Việt Nam
3 Nhịp độ tiêu thụ nông sản chậm chạp và thường bị tồn đọng
Trang 5Do tính chất sản phẩm nông sản khó bảo quản, vận chuyển cũng như nông sản có tính thời vụ, chưa đến vụ thì thiếu hàng trầm trọng dẫn đến đột biến giá cả, nhưng khi vào vụ thu hoạch thì thừa hàng, tồn đọng, giá nông sản giảm mạnh gây thiệt hại cho người sản xuất và kinh doanh
4 Lực lượng tiêu thụ sản phẩm
4.1 Tiêu thụ nông sản trực tiếp
Tiêu thụ trực tiếp là hình thức các hộ nông dân đem sản phẩm của mình bán
ra trực tiếp trên thị trường cho người tiêu dùng Hình thức tiêu thụ này thu được lợi nhuận trên sản phẩm cao do không phải qua trung gian Nhưng chỉ áp dụng với hộ gia đình sản xuất nông sản với quy mô nhỏ, trừ lượng nông sản không lớn và thường
là tiêu thụ ở ngay tại khu vực sản xuất
4.2 Tiêu thụ nông sản qua tư thương
Trong tất cả các kênh phân phối liên quan dến sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân ở nông thôn đều có sự tham gia rất phổ biến của tư thương Tư thương có thể làm nông dân rảnh tay trong giải quyết đầu ra Nhưng vì qua tư
thương mà nông sản bị ép giá bán hàng hoá với giá rẻ Bởi do nông dân không nắm bắt được đặc điểm thị trường không biết đầu mối tiêu thụ mà nông sản khó để lâu, khó bảo quản nên phải bán cho tư thương chấp nhận với giá rẻ Điểm nổi bật trong phân phối nông sản là qua nhiều khâu trung gian làm chậm quá trình lưu thông sản phẩm, thậm chí gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo
4.3 Tiêu thụ nông sản qua Nhà nước
Hoạt động tiêu thụ nông sản của Nhà nước khác hoạt động tiêu thụ thị trường khác Mục tiêu của Nhà nước tiêu thụ nông sản không phải do vấn đề lợi nhuận mà hoạt động của Nhà nước là lợi ích đến người nông dân, cố gắng đảm bảo ổn định cho nông dân bằng cách bình ổn giá cả, chính sách chi phí sản xuất nông sản(giảm thuế) cho nên giá đầu vào thấpdẫn đến khả năng cạnh tranh và tiêu thụ nông sản được nâng cao Hình thức tiêu thụ của Nhà nước thường là mua nông sản dự trữ gạo,
cà phê…vào lúc dồi dào, giá nông sản giảm Ngoài ra tiêu thụ nông sản của Nhà nước thường là với chính phủ khác, trên cơ sở đó giao cho một số doanh nghiệp tham gia thực hiện dưới hình thức đấu thầu hoặc bảo đảm không lỗ
Trang 65 Thị trường nông sản đầu ra không ổn định
5.1 Giá nông sản bấp bênh
Ai cũng biết trong nông nghiệp một trong những động lực kích thích nông dân hăng hái phát triển sản xuất là giá cả hợp lý, một trong những nỗi lo lớn nhất của nông dân là nông sản làm ra không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ với giá bất lợi nhất là trong tình hình hiện nay hiều nông sản giá hạ thấp không hợp lý thậm chí có những loại giá rớt “tới đáy” Ví dụ: Hiện nay giá xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp Việt Nam đã ở mức thấp nhất so với giá của các nước xuất khẩu gạo chủ yếu khác Một giải pháp giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm với giá cả hợp lý và doanh nghiệp thu mua được nông sản xuất khẩu là cơ chế hợp đồng Trong thực tế có nhiều thị trường hợp không thực hiện được hợp đồng đã ký kết do sự biến động của giá cả thị trường Khi giá thị trường cao hơn giá hợp đồng, nông dân muốn giữ lại nông sản
để đưa ra thị trường với giá cao, doanh nghiệp không mua được hoặc không mua đủ nông sản để chế biến và xuất khẩu
Ngược lại khi giá thị trường thấp hơn giá hợp đồng, doanh nghiệp không muốn mua hoặc mua ít nông sản của nông dân mà mua ở thị trường, nông dân không bán được hoặc bán được với số lượng ít, dẫn đến thiếu vốn để sản xuất Vì vậy khi ký kết hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp, hai bên phải tính toán đầy đủ sự biến động của giá cả thị trường, quy định rõ trách nhiệm và quyền lực của mỗi bên
Kinh nghiệm của nhiều địa phương cho thấy hợp đồng phải được bàn bạc và ký kết trước 1 đến 2 tháng trước khi vào vụ sản xuất Nội dung của hợp đồng phải ghi
rõ số lượng, chất lượng thời gian và địa điểm giao nộp đặc biệt là giá cả Để đảm bảo tính khả thi của hợp đồng, phải tính toán đầy đủ các chi phí sản xuất về tư liệu sản xuất và lao động để sản xuất ra sản phẩm Giá nông dân bán cho doanh nghiệp trong ký kết hợp đồng là chi phí thực tế để sản xuất ra sản phẩm cộng với tiền nộp thuế(nếu có) cộng với chi phí lưu thông(nếu nông dân phải vận chuyển sản phẩm tới doanh nghiệp) lãi dự tính(khoảng 20%) để nông dân có thể thực hiện tái sản xuất mở rộng Giá ký kết trong hợp đồng phải là hai bên(doanh nghiệp và nông dân) thoả thuận Nếu do sự biến động giá cả thị trường thì hai bên phải bàn bạc với nhau tránh tình trạng nông dân không bán hoạc không bán đủ sản phẩm trong hợp đồng và doanh nghiệp không mua hoặc không mua đủ như đã xảy ra trong thực tế
Trang 75.2 Chất lượng nông sản không đồng đều
Với tính phân tán của sản phẩm nông sản, thu mua nông sản ở nhiều nơi mà mỗi nơi sản phẩm nông sản sản xuất ra có đặc tính chất lượng không giống nhau Do vậy nguồn hàng tạo ra có chất lượng không đồng đều như gạo, chè… Điều này cũng
do đặc tính giống sản xuất, mỗi giống nông sản cho kết quả sản phẩm khác nhau Nhiều khi để đảm bảo số lượng nông sản mà người ta thu gom cả những sản phẩm
có giống khác nhau tạo nên tính không đồng đều của chất lượng nông sản Như
“Việt Nam chưa hình thành được các vùng chuyên canh, sản xuất tập trung tạo ra nguồn xuất khẩu nông sản tươi hay làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biếnvà xuất khẩu Cácnhà xuất khẩu Việt Nam không đảm bảo độ đồng nhất về quy cách chất lượng ngay trong từng lô hàng vì thế mà bị ép giá cao”
5.3 Nhu cầu nông sản không ổn định
Cùng với sự biến đông nhu cầu hàng hoá khác, nông sản có nhu cầu không ổn định, đặc biệt nhu cầu ngoài nước,khi mà thị trường thế giới biến động, giá cả không
ổn định, giá nông sản một số mặt hàng Việt Nam cao hơn các nước khác làm cho nhập khẩu nông sản Việt Nam giảm rõ rệt Thị trường nước ngoài là thị trường khó tính họ yêu cầu vấn đề chất lượng tương đối cao mà nhiều khi sản phẩm Việt Nam không đáp ứng được, trong khi đó chất lượng nông sản sản xuất của một số nước đang tăng do giống, khoa học kỹ thuật cao hơn Điều này làm cho khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp giảm
5.4 Nông sản Việt Nam chưa theo kịp cơ chế thị trường
+Sản xuất nông sản nhỏ lẻ chưa tập trung
Việt Nam là một nước phát triển chưa mạnh nền nông nghiệp sản xuất còn lạc hậu và làm ăn thủ công tương đối nhiều, lối sản xuất nông nghiệp là nhỏ lẻ, manh mún Các cơ sở sản xuất đều có quy mô nhỏ, công nghệ, thiết bị lạc hậu chủ yếu sản xuất thủ công vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo, chất lượng sản phẩm chưa cao nên khả năng tiêu thụ còn hạn chế Hộ sản xuất Việt Nam có quy mô nhỏ rất phổ biến, kinh tế trang trại chưa phát triển, khả năng liên kết nhau cùng sản xuất, cùng tiêu thụ là chưa cao nên sảy ra tình trạng tranh mua, tranh bán gây thiệt hại cho cả hai bên
Trang 8+ Một điểm yếu nữa của nền nông nghiệp Việt Nam là nông dân chỉ bán sản phẩm mình sản xuất ra, không bán sản phẩm theo nhu cầu của thị trường Trong khi
đó thị trường là nơi mà người sản xuất phải hướng tới lợi ích người tiêu dùng, phải bán cái thị trường cần chứ không phải là bán cái mình có Dù biết rằng nông sản là mặt hàng thị trường luôn cần nhưng nhu cầu của khách hàng thì rất phong phú, đa dạng , chất lượng cao Còn người nông dân thường sản xuất hàng nông sản theo chức năng vụ mùa, mùa nào trồng, nuôi được cây, con nào thì sẽ sản xuất mặt hàng
đó cho dù vụ này thị trường có cần mặt hàng đó không họ không cần biết Chính điều này là một phần nguyên nhân gây ứ đọng hàng nông sản hiện nay Ngay việc xuất khẩu của chúng ta cũng chỉ là chủ yếu dựa vào sản phẩm dư thừa chứ chưa dựa trên nhu cầu thị trường Trong khi đó thị trường quốc tế luôn luôn biến động cả về
số lượng, giá cả lẫn chất lượng Nó làm khoảng cách giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng xa Đây là điểm bất lợi trong vấn đề sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản của Việt Nam, làm hàng của chúng ta thường ở trong tình trạng tồn đọng, tiêu thụ kém
6 hoạt động tiêu thụ nông sản hiện nay
6.1 Tiêu thụ nông sản tươi
Nông sản tiêu thụ tươi thường là rau – quả - hoa tươi và phần lớn là tiêu thụ nội địa Vào thời kì 1986-1995 hoa quả thường được xấu khẩu sang thị trường đông
Âu Sau khi thị trường Đông Âu không ổn định, xuất khẩu hoa quả gặp nhiều khó
khăn, thị trường bị thu hẹp kim ngạch xuất khẩu giảm đáng kể
Nhưng có điểm mạnh trong rau quả của ta là có tính đa dạng là được nhiều thị trường ưa chuộng như thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông với thị trường tiêu thụ lớn nhất là thị trường Trung Quốc
6.2 Tiêu thụ nông sản chế biến
Nông sản chế biến có giá trị lớn trong vấn đề tiêu thụ nông sản hiện nay Các nông sản chế biến này có hương vị riêng biệt được thị trường nước ngoài ưa chuộng như long nhãn, vải khô trên thị trường Trung Quốc, Hà Lan, Singapore, Hồng Kông, mơ-mận muối trên thị trường Nhật Bản Tuy nhiên các cơ sở sản xuất đều có quy
mô nhỏ, công nghệ, thiết bị lạc hậu chủ yếu sản xuất thủ công, vệ sinh an toàn thực
Trang 9phẩm chưa dảm bảo, chất lượng sản phẩm chưa cao nên khả năng tiêu thụ sản phẩm cũng bị hạn chế
Còn với mặt hàng gạo và cà phê chế biến thì đạt những kết quả đáng kể Tuy vậy lượng xuất khẩu này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của chúng ta
Một trong những nguyên nhân đó là giá thành còn cao, đòi hỏi nhà nước cần
có những biện pháp cụ thể như miễn giảm phụ thu và thuế nhập khẩu Một trong những nhân tố gây khó khăn cho xuất khẩu gạo là giá thành của ta còn cao, ảnh hưởng tới khả năng tiêu thụ gạo Do đó nhà nước cần có những chính sách giảm chi phí đầu vào cho ngành nông nghiệp như miễn giảm thuế đất, giảm thuế nhập khẩu phân bón
Như vậy sản xuất nông nghiệp của chúng ta vẫn là sản xuất nhỏ, quy mô gia đình, dựa trên phương thức canh tác và quản lý truyền thống nên chất lượng hạng hóa còn thấp, không đồng đều và chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế Mặt khác, do sức cạnh tranh không cao, giá bán thường thấp hơn giá cả các nước khác từ 20-30% Do bị hạn chế về khă năng tài chính đầu tư cho việc chế biến, đóng gói, bảo quản nên các
hộ nông dân có rất ít cơ hội để sơ chế và kéo dài thời gian bảo quản bán hàng vào thời điểm cao giá nhất
7 Những kết quả tiêu thụ đạt được trong những năm gần đây
7.1 Giải quyết công ăn việc làm cho một lực lượng lớn lao động trong nước
Việt Nam là một nước mà phần lớn người dân làm nông nghiệp, họ sống và gắn bó cả cuộc đời mình với ngành nông nghiệp Sản phẩm họ làm ra là nông sản, đời sống của họ phụ thuộc vào việc có tiêu thụ được nông sản được hay không Trong những năm gần đây mặc dù tiêu thụ nông sản chưa cao nhưng đã giải quyết việc làm cho không ít lực lượng lao động làm nghề nông nghiệp, đời sống nông dân
đã khá lên Đó là sự đầu tư của nhà nước, nhờ hoạt động của tư thương Ngoài ra tiêu thụ sản phẩm còn giải quyết công ăn việc làm cho một lớp lao động làm công tác tư thương, lực lượng buôn bán nông sản và đội ngũ công nhân viên chế biến nông sản
7.2 Đáp ứng nhu cầu nông sản trong nước
Trang 10Những năm gần đây chúng ta không phải nhập khẩu nông sản từ nước ngoài nữa như gạo, đường chúng ta đã tự sản xuất và tự đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước vè cả số lượng lẫn chất lượng
7.3.Giá trị nông sản xuất khẩu.
Trong những năm gần đây, nhiều chính sách đổi mới nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng kể:
Khối lượng xuất khẩu gạo tháng 7 năm 2018 ước đạt 382 nghìn tấn với giá trị đạt 195 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 7 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3,9 triệu tấn với kim ngạch gần 2 tỷ USD
Giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 7 năm 2018 ước đạt 663 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu thủy sản 7 tháng đầu năm 2018 ước đạt 4,63 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2017
Giá trị xuất khẩu rau quả tháng 7 năm 2018 ước đạt 289 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu rau quả 7 tháng đầu năm 2018 ước đạt 2,3 tỷ USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2017
Xuất khẩu cà phê tháng 7/2018 ước đạt 115 nghìn tấn với giá trị đạt 216 triệu USD, lũy kế xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2018 ước đạt 1,16 triệu tấn và 2,22 tỷ USD, tăng 10,8% về khối lượng nhưng giảm 5,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017 Giá
cà phê xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2018 đạt 1.927 USD/tấn, giảm 14,3%
so với cùng kỳ năm 2017
Phần III : Giải pháp tiêu thụ nông sản hiện nay 1.Tổ chức sản xuất nông sản hợp lý
1.1.Chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường
Như ta đã thấy những khó khăn, thua thiệt về tiêu thụ nông sản đã bộc lộ rõ chỗ yếu cơ bản của nền nông nghiệp nước ta là sản xuất chưa bám sát nhu cầu thị trường và sản phẩm còn kém sức cạnh tranh cả về chất lượng và giá cả Do đó