1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thuế xuất nhập khẩu và giải pháp phòng tránh thất thu thuế xuất nhập khẩu ở việt nam

46 12 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuế xuất nhập khẩu và giải pháp phòng tránh thất thu thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Người hướng dẫn Vũ Thị Minh Ngọc
Trường học Trường đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 442,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ HIỆN TƯỢNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU (6)
    • 1.1. Các vấn đề chung về thuế xuất nhập khẩu (6)
      • 1.1.1. Khái niệm thuế xuất nhập khẩu (6)
      • 1.1.2. Vai trò của thuế xuất nhập khẩu (6)
      • 1.1.3. Nội dung cơ bản của thuế xuất nhập khẩu (8)
        • 1.1.3.1. Đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu (8)
        • 1.1.3.2. Căn cứ tính thuế (9)
        • 1.1.3.3. Thuế suất (11)
        • 1.1.3.4. Miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế (11)
        • 1.1.3.5. Thời hạn nộp thuế (18)
    • 1.2. Các vấn đề liên quan đến thu thuế và hiện tượng thất thu thuế xuất nhập khẩu (18)
      • 1.2.1. Khái niệm về thất thu thuế (18)
      • 1.2.2. Sự cần thiết phải chống thất thu thuế xuất nhập khẩu (19)
      • 1.2.3. Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thu thuế xuất nhập khẩu (21)
        • 1.2.3.1. Luật thuế xuất nhập khẩu còn nhiều sơ hở, thiếu chặt chẽ (21)
        • 1.2.3.2. Buôn lậu và gian lận thương mại (22)
        • 1.2.3.3. Tình trạng nợ thuế kéo dài (23)
  • Chương 2: THỰC TRẠNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM (24)
    • 2.1. Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2018 (24)
      • 2.1.1. Tình hình xuất nhập khẩu theo năm (24)
      • 2.1.2. Cơ cấu mô hình xuất nhập khẩu (26)
      • 2.1.3. Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu (27)
    • 2.2. Tình hình thu thuế xuất nhập khẩu giai đoạn 2011-2018 (30)
      • 2.2.1. Tình hình thu thuế qua các năm (30)
      • 2.2.2. Tình hình thu thuế tại các địa phương (31)
      • 2.2.3. Phương thức thu thuế (33)
    • 2.3. Thực trạng thất thu thuế xuất nhập khẩu giai đoạn 2011-2018 (34)
      • 2.3.1. Giá trị thất thu thuế theo năm (34)
      • 2.3.2. Thực trạng thất thu thuế theo địa phương (35)
      • 2.3.3. Chống thất thu thuế hiệu quả (36)
  • Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM (37)
    • 3.1. Mục tiêu chống thất thu thuế xuất nhập khẩu (0)
      • 3.1.1. Đảm bảo được nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (37)
      • 3.1.2. Mục tiêu tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, đúng pháp luật (37)
      • 3.1.3. Mục tiêu nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật (37)
    • 3.2. Một số giải pháp chống thất thu thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (38)
      • 3.2.1. Hoàn thiện cơ chế phối hợp trong chống thất thu thuế xuất nhập khẩu giữa các đơn vị chức năng của ngành Hải quan (38)
      • 3.2.2. Tăng cường công tác chông buôn lậu, gian lận thương mại (40)
      • 3.2.3. Cải tiến cơ chế quản lý thuế xuất nhập khẩu (42)
  • KẾT LUẬN (45)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (46)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH Đề tài THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG TRÁNH THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM Họ và tên sinh viên Mã[.]

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ HIỆN TƯỢNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU

Các vấn đề chung về thuế xuất nhập khẩu

1.1.1 Khái niệm thuế xuất nhập khẩu

Thuế xuất nhập khẩu là một loại thuế gián thu đánh vào giá trị của hàng hóa, dịch vụ khi mua bán, vận động qua biên giới hải quan của một quốc gia hay là vùng lãnh thổ hải quan (Theo Từ điển Luật học [110, tr78]).

1.1.2 Vai trò của thuế xuất nhập khẩu

Thuế xuất nhập khẩu là công cụ quan trọng trong việc quản lý nền kinh tế:

- Là một nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước: Thuế là nguồn thu chính cho ngân sách nhà nước Có nhiều sắc thuế được áp dụng như thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên, thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng Tuỳ theo từng quốc gia, từng thời kỳ khác nhau mà sự đóng góp của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong tổng thu ngân sách là khác nhau Tỷ trọng này thường cao hơn ở các nước đang phát triển Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò tạo nguồn thu ngân sách của thuế xuất nhập khẩu càng ngày càng giảm Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển với nền sản xuất trong nước yếu kém thì thuế xuất nhập khẩu vẫn đóng vai trò quan trọng Với vai trò tạo nguồn thu cho ngân sách thì thuế xuất nhập khẩu là một phần của chính sách tài chính quốc gia.

- Là công cụ quan trọng trong bảo hộ thương mại cho sản xuất trong nước đặc biệt các ngành công nghiệp còn non trẻ: Thuế quan bảo hộ được đưa ra với mục đích làm tăng giá một cách nhân tạo đối với hàng hoá nhập khẩu làm giảm khả năng cạnh tranh của nó đối với hàng hóa được sản xuất trong nước Để thay thế, người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng hàng hoá trong nước sản xuất Thuế quan bảo hộ được tính toán và đưa ra khi nhà nước cho rằng ở mức thấp hơn thì sản xuất trong nước sẽ gặp phải sự cạnh tranh rất quyết liệt từ hàng nhập khẩu và về cơ bản thị phần sẽ nằm trong tay các nhà nhập khẩu Bảo hộ sản xuất trong nước nhằm hỗ trợ nền sản xuất phát triển, tạo công ăn việc làm và nguồn thu nội địa Bảo hộ cũng làm giảm tính cạnh tranh, lãng phí nguồn lực gây thiệt hại cho người tiêu dùng Chính vì vậy việc lựa chọn ngành nghề bảo hộ, thời gian bảo hộ phù hợp là điều vô cùng quan trọng Về lâu dài thì đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế mới là yếu tố quyết định.

- Thuế góp phần thực hiện chính sách đối ngoại Nhà nước, định hướng đầu tư và phát triển sản xuất trong nước: Trong nền kinh tế thị trường toàn cầu hoá, hoạt động thương mại quốc tế diễn ra ngày càng lớn về quy mô, đa dạng về chủng loại Trong các luồng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đó có loại phục vụ nhu cầu thiết yếu cho mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, cũng có những mặt hàng phục vụ cho một số ít tầng lớp dân cư giàu có trong xã hội Có những mặt hàng phục vụ cho mục đích an ninh quốc phòng, cũng có những mặt hàng gây tổn hại đến anh ninh, an toàn xã hội… Để khuyến khích hay hạn chế các loại hàng hoá đó nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau như hạn ngạch, quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật hay thuế quan…trong đó thuế quan vẫn là công cụ hiệu quả Thuế quan là một bộ phận cấu thành giá hạch toán của hàng hoá xuất nhập khẩu Nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Nhà nước sẽ đánh thuế tỷ lệ nghịch với mức độ khuyến khích đối với hoạt động xuất nhập khẩu một mặt hàng nào đó.

- Thuế là công cụ khẳng định chủ quyền quốc gia; đảm bảo kiểm soát số lượng hàng, mặt hàng và giá trị hàng đi qua cửa khẩu: Mọi hàng hoá đều phải khai báo, kiểm tra và tính thuế (nếu có) trước khi được xuất nhập khẩu thể hiện việc khẳng định chủ quyền của một quốc gia Khẳng định chủ quyền quốc gia còn thể hiện ở việc đánh thuế khác nhau đối với hàng hóa có xuất xứ từ những quốc gia hay vùng lãnh thổ khác nhau Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại, thuế xuất khẩu, nhập khẩu nói chung và thuế nhập khẩu nói riêng còn đóng vai trò như một công cụ đối ngoại về mặt kinh tế giữa các quốc gia, giữa các khu vực và thực hiện các cam kết quốc tế Vì vậy, ngoài mức thuế suất phổ thông, thuế nhập khẩu của các nước còn có thêm mức thuế suất đặc biệt gọi là thuế suất ưu đãi Thuế suất ưu đãi áp dụng cho hàng hoá có xuất xứ từ nước hoặc nhóm nước có ký kết thoả thuận ưu đãi hoặc đối xử tối huệ quốc Mức thuế suất ưu đãi thường được qui định thấp hơn mức thuế suất phổ thông.

1.1.3 Nội dung cơ bản của thuế xuất nhập khẩu

Theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 107/2016/QH13 ngày 6/4/2016 của Quốc hội thì một số nội dung cơ bản của thuế xuất nhập khẩu được quy định như sau:

1.1.3.1 Đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu

- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới của Việt Nam.

- Hàng hóa xuất khẩu từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan, hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước.

- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ và hàng xuất khẩu, nhập khẩu doanh nghiệp thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, quyền phân phối.

- Đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu không áp dụng đối với các trường hợp sau:

 Hàng hóa quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển;

 Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại;

 Hàng hóa xuất khẩu từ khu phi thuê quan ra nước ngoài; hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan; hàng hóa chuyển từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác;

 Phần dầu khí được dùng để trả thuế tài nguyên cho Nhà nước khi xuất khẩu.

- Chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

- Tổ chức nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu.

- Người xuất cảnh, nhập cảnh có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, gửi hoặc nhận hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam.

- Người được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thuế thay cho người nộp thuế, bao gồm:

 Đại lý làm thủ tục hải quan trong trường hợp được người nộp thuế ủy quyền nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

 Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trong trường hợp nộp thuế thay cho người nộp thuế;

 Tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng trong trường hợp bảo lãnh, nộp thuế thay cho người nộp thuế;

 Người được chủ hàng hóa ủy quyền trong trường hợp hàng hóa là quà biếu, quà tặng của cá nhân; hành lý gửi trước, gửi sau chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh;

 Chi nhanh của doanh nghiệp được ủy quyền nộp thuế thay cho doanh nghiệp;

 Người khác được ủy quyền nộp thuế thay cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật.

- Người thu mua, vận chuyển hàng hóa trong định mức miễn thuế của cư dân biên giới nhưng không sử dụng cho sản xuất, tiêu dùng mà đem bán tại thị trường trong nước và thương nhân nước ngoài được phép kinh doanh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ở chợ biên giới theo quy định của pháp luật.

Chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành quy định 2 trường hợp tính thuế khác nhau:

* Đối với hàng hóa áp dụng phương pháp tính thuế theo tỷ lệ phần trăm.

- Số tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được xác định căn cứ vào trị giá tính thuế và thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) của từng mặt hàng tại thời điểm tính thuế.

- Thuế suất đối với hàng hóa xuất khẩu được quy định cụ thể cho từng mặt hàng tại biểu thuế xuất khẩu.

Trường hợp hàng hóa xuất khẩu sang nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi về thuế xuất khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam thì thực hiện theo các thỏa thuận này

Số thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải nộp

Số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan ×

Trị giá tính thuế trên một đơn vị hàng hóa ×

Thuế suất của từng mặt hàng

* Đối với hàng hóa áp dụng phương pháp tính thuế tuyệt đối, phương pháp tính thuế hỗn hợp

- Số tiền thuế áp dụng phương pháp tính thuế tuyệt đối đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được xác định căn cứ vào lượng hàng hóa thực tế xuất khẩu, nhập khẩu và mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa tại thời điểm tính thuế.

- Số tiền thuế áp dụng phương pháp tính thuế hỗn hợp đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được xác định là tổng số tiền thuế theo tỷ lệ phần trăm và số tiền thuế tuyệt đối theo quy định ở phương pháp tính thuế đã nêu trên.

Số tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải nộp

Số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong Tờ khai hải quan ×

Mức thuế tuyết đối quy định trên một đơn vị hàng hóa

Thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu gồm thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt, thuế suất thông thường và áp dụng như sau:

- Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam; hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước đáp ứng điều kiện xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam;

Các vấn đề liên quan đến thu thuế và hiện tượng thất thu thuế xuất nhập khẩu

1.2.1 Khái niệm về thất thu thuế

Như chúng ta đã biết, để cung cấp nguồn tài chính cho hoạt động của Nhà nước, nhà nước đã đặt ra các loại thuế khác nhau Chi ngân sách càng nhiều thì nhu cầu thu thuế, lệ phí càng cao để bù đắp vào chi phí đó Và trên cơ sở đó nhà nước càng muốn thu đủ thuế Trong khi đó các doanh nghiệp kinh doanh với mục đích chính là lợi nhuận thì thuế nộp càng nhiều lợi nhuận để lại của họ càng ít Chính vì vậy mà họ luôn tìm cách hạn chế số thuế phải nộp.Như vậy trong nền kinh tế luôn tồn tại hai bên lợi ích mâu thuẫn nhau giữa một bên là nhà nước và một bên là các doanh nghiệp Nên hiện tượng thất thu thuế là không tránh khỏi.

Theo từ điển Hán Việt, Thất thu thuế: là việc nhập tiền vào quỹ không đủ, cụ thể hơn là thu không đạt định mức, dưới mức trung bình trong nộp thuế, sản xuất, kinh doanh [109, tr.453] Vậy ta có thể hiểu khái niệm thất thu thuế xuất nhập khẩu như sau: “Thất thu thuế xuất nhập khẩu là những khoản thuế về các hoạt động xuất nhập khẩu không được nộp vào ngân sách nhà nước và những khoản thuế không được quy định trong luật thuế xuất nhập khẩu”.

1.2.2 Sự cần thiết phải chống thất thu thuế xuất nhập khẩu

Trên cơ sở nhận thức vai trò của thuế xuất nhập khẩu đối với nền kinh tê, ta có thể thấy thất thu thuế xuất nhập khẩu có thể ảnh hưởng nhiều mặt đến nền kinh tế của đất nước Bởi thuế xuất nhập khẩu tác động mạnh vào nguồn thu của ngân sách nhà nước, định hướng tiêu dùng, khuyến khích sản xuất trong nước phát triển, định hướng quan hệ quốc tế và hoạt động ngoại thương. Dưới đây sẽ xem xét tác động của thất thu thuế xuất nhập khẩu trên một số phương diện kinh tế, xã hội và đạo đức.

Ngày nay, với nền kinh tế phát triển, chức năng nhà nước không còn đơn thuần là duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo vệ an toàn và trật tự xã hội mà còn thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân Nhu cầu chi tiêu ngày càng nhiều, dưới nhiều hính thức và cho nhiều lĩnh vực Một phần quan trọng nhất của chi tiêu ngân sách nhà nước là chi cho đầu tư và phát triển: xây dựng cơ sở hạ tầng, mua khoa học công nghệ, chi cho giáo dục đào tạo và nhiều hoạt động hác Nếu thất thu thuế trng khi thuế lại đóng góp phần lớn vào ngân sách thì sẽ làm cho các khoản chi của chính phủ bị hạn chế, dẫ đến tình trạng mất cân đối nguồn ngân sách Dẫn tới vay tiền trong dân, gây mất ổn định nền kinh tế Nhiều khi chính phủ phải dùng biện pháp phát hành tiền làm tăng lượng tiền trong nền kinh tế, gây làm phát Ngoài ra còn gây nợ nước ngoài, dẫn đến lệ thuộc về kinh tế chính trị đói với các nước khác.

Bên cạnh đó việc thu thuế xuất nhập khẩu của các mặt hàng xuất nhập khẩu còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các mặt hàng đó trên thị trường Cùng một loạt mặt hàng mà hãng thì bị đánh thuế hàng thì không làm cho mức độ tin cậy của khách hàng vào sản phẩm giảm về chất lượng của sản phẩm Đối với mặt hàng xuất khẩu thì gió có thể được cao hơn đối với mặt hàng đó nhưng lại gây ảnh hưởng đến những mặt hàng tương tự chúng trên thị trường được đánh thuế.

Thất thu thuế xuất nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến công bằng xã hội Bởi thông qua thuế xuất nhập khẩu và chính sách thuế xuất nhập khẩu, nhà nước huy động được một phần nguồn thu của người kinh doanh hàng xuất nhập khẩu đồng thời tiến hành quản lý vĩ mô đối với các hoạt động này Các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng giống nhau thì phải nộp thuế như nhau có thể mới đảm bảo được tính công bằng trong nền kinh tế. Đặc biệt trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện nay, với những ưu điểm như tăng cường khả năng cạnh tranh, tạo tính độc lập tự chủ cho các đơn vị thành phần kinh tế, tạo ưu thế cho người tiêu dùng trong việc lựa chọn sản phẩm ngày càng tốt hơn, chất lượng cao hơn đa dạng phong phú hơn thì bên cạnh đó cũng chưa đầy tính tiêu cực, đặc biệt làm cho người bị vật chất hóa, chạy theo lợi nhuận có những nguồn thu nhập bất chính kếch xù, tạp ra sự phân hóa ngày càng nhanh chóng người giàu và người nghèo trong xã hội, gây bất bình đẳng ảnh hưởng đến trật tự an ninh quốc gia.

Bất cứ việc thực hiện một chính sách pháp luật nào cũng tồn tại những cá nhân không chấp hành nghiêm túc Với việc thi hành luật thuế xuất nhập khẩu cũng vậy, luôn có các cá nhân vì lợi ích riêng mà không chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm túc Đó là xét nghiệm trên đối tượng nộp thuế, còn xét trên phạm vi quản lý thì cũng có một đội ngũ cán bộ vì tham ô cửa quyền đã tiếp tay cho một lượng buôn lậu trốn thuế, gây tổn thất nghiêm trọng nền kinh tế Thực tế đã có nhiều cá nhân phải đứng trước vành móng ngựa, kể cả doanh nghiệp và cả quan chức nhà nước, cấu kết với nhau gây thất thoạt cho nền kinh tế Đặc biệt các nhân viên hải quan – đối tượng đứng trước nhiều cám dỗ của bọn tội phạm Do vậy vấn đề đạo đực đối với cán bộ hải quan là rất quan trọng

Qua đó ta thấy thất thu thuế xuất nhập khẩu ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của nền kinh tế Do vậy cần có biện pháp hạn chế tình trạng này.

1.2.3 Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thu thuế xuất nhập khẩu

1.2.3.1 Luật thuế xuất nhập khẩu còn nhiều sơ hở, thiếu chặt chẽ và phức tạp

Một là, Biểu thuế suất xuất nhập khẩu còn nhiều phức tạp với 97 chương trên 3000 mã nhóm mặt hàng, hơn 6000 mã số hàng hóa và có 19 mức thuế. Bên cạnh đó biểu thuế còn tồn tại một số biểu thuế lắt nhắt có đến hai dòng trong một biểu thuế ví dụ như mức 12% chỉ có 2 dòng, mức 18% có một dòng, 25% có 2 dòng Biểu thuế thì rất chi ly cụ thể nhưng các tài liệu hướng dẫn thì chưa đầy đủ khiến xuất hiện sự tranh cãi trong các doanh nghiệp gây thất thu.

Hai là, Thuế xuất nhập khẩu hiện hành chủ yếu theo mục đích sử dụng chứ không theo tính chất hàng hóa: Những mặt hàng cùng tính chất nhưng mức thuế suất lại chênh nhau đến hàng chục lần vì mục đích sử dụng khác nhau.Điều này tạo kẽ hở cho đối tượng nộp thuế, họ sẽ chọn mục đích ứng với mức thuế suất thấp hơn, gây thất thu cho ngân sách nhà nước Ví dụ, cùng là khoai tây nhưng khoai tây giống thuế 0% còn để ăn thì 20% Xe đạp đua chịu thuế5%, còn xe đạp thường 70%, mức thuế rất chênh lệch và khó khăn cho cán bộ hải quan trong việc xác định đúng mục đích sử dụng của đối tượng Luật hiện hành chỉ quy định hình thức đánh thuế theo tỷ lệ chưa quy định hình thức thu theo mức độ tuyệt đối Hình thức thu theo tỷ lệ tuy có ưu điểm là dễ áp dụng nhưng trong trường hợp đối tượng nộp thuế kê khai thấp giá trị tính thuế thì hải quan không đủ cơ sở để xác định chính xác giá trị nhập khẩu mà người mua phải thanh toán cho người bán Việc sử dụng thu theo tuyệt đối sẽ ngăn ngừa được khai thấp giá trị hàng hóa tính thuế hàng nhập khẩu.

Ba là, Xét về chức năng bảo vệ của thuế xuất nhập khẩu Để bảo vệ thị trường trong nước, thuế nhập khẩu thường đánh cao đối với những mặt hàng hiện nay trong nước đã sản xuất, thuế nhập khẩu thường đánh đối với những mặt hàng hiện nay trong nước đã sản xuất được, và đánh thấp đối với hàng hóa là nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất Nhưng điều này lại tạo sự lệch lác trong chính sách đầu tư Điều này làm tăng khả năng đầu tư nước ngoài vào phát triển hàng thay thế nhập khẩu chứ không đầu tư vào hàng xuất khẩu Do vậy cán cân thương mại bị chệnh lệch

Bốn là, Về thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là 30 ngày, hàng nguyên liệu sản xuất là 275 ngày, những quy định này nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong điều kiện vốn còn hạn hẹp để phù hợp với thông lệ quốc tế, nhưng cơ chế quản lý doanh nghiệp về thành lập và hoạt động còn lỏng lẻo Hiện nay nhiều doanh nghiệp tìm cách chiếm dụng tiền thuế của nhà nước Tính đến cuối năm 2018 tổng số nợ thuế quá hạn của các lô hàng đã thông quan, giải phóng hàng là 5.320,7 tỷ đồng

Năm là, Tính thống nhất của luật thuế với các luật khác: Về các trường hợp miễn thuế, xét miễn thuế nội hàm của các quy định này hoàn toàn chưa đầy đủ dẫn đến việc xét miễn thuế trong các luật về thuế, đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư trong nước mâu thuẫn nhau cả về phạm vi và điều kiện để được miễn thuế.

1.2.3.2 Buôn lậu và gian lận thương mại

Thất thu thuế nhập khẩu có nhiều nguyên nhân, song trong những nguyên nhân đó thì buôn lậu và gian lận thương mại được đánh giá là nguyên nhân nổi cộm đang là vấn đề nhức nhối nhất hiện nay và được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm.

Các hành vi sau được gọi là hành vi buôn lậu gian lận thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu:

Một là: Hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới để vào

Việt Nam (trái với các quy định của pháp luật và các quy định của cơ quan quản lý nhà nước).

Hai là: Vận chuyển, mua bán tang trữ các hàng hóa đó trong thị trường nhưng không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của hàng hóa đó.

1.2.3.3 Tình trạng nợ thuế kéo dài

Nợ thuế là một ân hạn về nộp thuế được quy định trong luật thuế xuất nhập khẩu Điều này khuyến khích doanh nghiệp tham gia sản xuất hàng xuất khẩu Nhà nước chủ trương theo cơ chế này, nhằm đợi doanh nghiệp bán được hàng, lấy tiền nộp thuế rồi lại quay vòng sản xuất kinh doanh Tuy nhiên khi thực hiện trong thực tế thì có nhiều nguyên nhân dẫn đến không thể phát huy được ý nghĩa của nó Nhiều doanh nghiệp khéo léo sử dụng ân hạn thuế mà làm ăn phát đạt thu được nhiều lợi nhuận hơn Nhiều doanh nghiệp mới thành lập nhưng tự dung lại biến mất đem theo hàng trăm triệu tiền vốn bị chiếm dụng Ngoài ra tình trạng kinh doanh hóa đơn đang diễn ra rộng rãi trên thị trường tài chính Nguyên nhân của tình trạng nợ đọng là do họ thanh khoản tờ khải hải quan giảm.

THỰC TRẠNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM

Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2018

Nhìn lại chặng đường xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua cho thấy bước tiến mạnh mẽ của hoạt động xuất khẩu nhập khẩu.

Bảng 2.1: Thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2011-2018.

(Nguồn: Tổng cục hải quan)

Bước vào đầu thập niên của thế kỷ 21 (năm 2001), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mới chỉ ở con số khiêm tốn hơn 30 tỷ USD Sau 6 năm (năm 2007) tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đã đạt con số 100 tỷ USD, sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Bốn năm sau (năm 2011) quy mô xuất nhập khẩu đã tăng gấp đôi đạt con số hơn 200 tỷ USD Con số hơn 300 tỷ USD tiếp tục đạt được với khoảng thời gian tương tự sau 4 năm (năm 2015) Rút ngắn thời gian, chỉ cần 03 năm tiếp theo (khoảng giữa tháng 12 năm 2018), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã chinh phục mức 480 tỷ USD.

Kim ngạch XK Kim ngạch NK

2018 480.17 243.48 236.69 Điều đó được thể hiện ở biểu đồ sau:

Hình 2.1: Thời điểm ghi nhận các mốc kỷ lục xuất nhập khẩu hàng hóa của

Việt Nam (Nguồn: Tổng cục hải quan)

Tính từ năm Việt Nam chính thức gia nhập WTO đến nay (sau 11 năm), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng gấp 4 lần Nhờ đó mà thứ hạng về xuất nhập khẩu của Việt Nam (theo xếp hạng của WTO) đã tăng lên rõ rệt Cụ thể, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng từ vị trí 50 trong năm 2007 lên vị trí 26 ghi nhận trong năm 2016 Trong khi đó, nhập khẩu của Việt Nam cũng tăng lên từ vị trí thứ 41 trong năm 2007 lên vị trí 25 trong năm 2016 và chắc chắn sẽ tiếp tục tăng bậc trong năm 2019.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 11 tháng tính từ năm 2018 đạt 480.17 tỷ USD, tăng 12.2% so với cùng kỳ năm trước.Quy mô xuất nhập khẩu đã tăng thêm hơn 250 tỷ USD chỉ sau 7 năm (tính từ năm 2011) và là mức tăng cao nhất so với cùng kỳ từ trước tới nay.

2.1.2 Cơ cấu mô hình xuất nhập khẩu

Biểu đồ 1: Kim ngạch, tốc độ tăng xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giai đoạn

2011-2018 (Nguồn: Tổng cục hải quan)

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan trong tháng 12/2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 40,08 tỷ USD, giảm 7,5% so với tháng 11 Trong đó xuất khẩu đạt 19,64 tỷ USD, giảm 9,7% so với tháng trước (tương ứng giảm 2,11 tỷ USD); nhập khẩu đạt 20,45 tỷ USD, giảm 5,3% (tương ứng giảm 1,15 USD).

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước năm 2018 đạt 480,17 tỷ USD, tăng 12,2% (tương ứng tăng 52,05 tỷ USD) so với năm trước Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 243,48 tỷ USD, tăng 13,2% và nhập khẩu đạt 236,69 tỷ USD, tăng 11,1% Cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 12/2018 thâm hụt 0,81 tỷ USD Tuy nhiên kết thúc năm 2018, cán cân thương mại của Việt Nam vẫn thặng dư 6,8 tỷ USD.

Tổng cục Hải quan ghi nhận tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 12/2018 đạt 24,67 tỷUSD, giảm 14,2% so với tháng trước, đưa trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong năm 2018 đạt 313,21 tỷ USD, tăng 11,7%, tương ứng tăng 32,83 tỷ USD so với năm 2017 và chiếm 65,2% tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước.

Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng này đạt 13 tỷ USD, giảm 17% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu của khối này trong năm 2018 lên 171,53 tỷ USD, tăng 12,4% so với năm trước Ở chiều ngược lại, trị giá nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 12/2018 đạt 11,67 tỷ USD, giảm 10,8% so với tháng trước, đưa trị giá nhập khẩu của khối này trong năm 2018 đạt 141,68 tỷ USD, tăng 10,8% so với 12 tháng/2017.

Tính toán của Tổng cục Hải quan cho thấy cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 12/2018 có mức thặng dư trị giá 1,33 tỷ USD, đưa mức thặng dư thương mại của khối này trong năm lên mức 29,85 tỷ USD.

2.1.3 Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu

Kết thúc tháng 12/2018, trao đổi thương mại hàng hóa của Việt Nam với các châu lục đều tăng so với năm 2017, trong đó tăng mạnh nhất là Châu Đại dương (tăng 19,1%) tiếp theo là Châu Mỹ (tăng 14,6%).

Tổng trị giá trao đổi hàng hóa của Việt Nam với châu Á trong năm 2018 đạt 321,4 tỷ USD, tăng 11,9% so với năm 2017 và là châu lục chiếm tỷ trọng cao nhất (66,9%) trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước.

Tiếp theo là xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các nước thuộc châu Mỹ đạt kim ngạch 78,37 tỷ USD, tăng 14,6% so với năm trước; với châu Âu đạt 64,11 tỷ USD, tăng 10,5%; châu Đại Dương đạt 9,31 tỷ USD, tăng 19,1%; châu Phi đạt 6,98 tỷ USD, tăng 3,9%

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu theo châu lục, khối nước và một số thị trường lớn năm 2018 (Nguồn: Tổng cục Hải quan)

Trị giá xuất khẩu hàng hóa cả nước trong tháng đạt 19,64 tỷUSD, giảm 9,7% so với tháng trước, tương ứng giảm 2,11 tỷ USD về số tuyệt đối Một số mặt hàng có biến động giảm nhiều so với tháng 11 là: điện thoại các loại và linh kiện giảm 1,9 tỷ USD, tương ứng giảm 39,7%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện giảm 192 triệu USD, tương ứng giảm 29,9%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 176 triệu USD, tương ứng giảm 7%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng giảm 75 triệu USD, tương ứng giảm 5,2%

Năm 2018, trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 243,48 tỷ USD, tăng 13,2%, tương ứng tăng 28,37 tỷ USD so với năm trước Trong đó, 8 nhóm hàng tăng trưởng mạnh là: hàng dệt may tăng 4,37 tỷ USD, điện thoại các loại và linh kiện tăng 3,81 tỷ USD, máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng tăng 3,64 tỷ USD; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 3,43 tỷ USD, giày dép các loại tăng 1,56 tỷ USD, máy ảnh máy quay phim và linh kiện tăng 1,44 tỷ USD, sắt thép các loại tăng 1,4 tỷ USD; gỗ và sản phâm gỗ tăng 1,21 tỷ USD…

Biểu đồ 2: 10 nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng về trị giá lớn nhất năm 2018

(Nguồn: Tổng cục hải quan)

Nhập khẩu hàng hóa trong tháng 12/2018 là 20,45 tỷ USD, giảm 5,3% về số tương đối và giảm 1,15 tỷ USD về số tuyệt đối Trong tháng 12/2018, có tới 34/53 nhóm hàng nhập khẩu chính giảm so với tháng trước Trong đó, giảm mạnh ở các nhóm hàng như: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm

306 triệu USD, điện thoại các loại và linh kiện giảm 277 triệu USD; xăng dầu các loại giảm 130 triệu USD, vải các loại giảm 96 triệu USD; chất dẻo nguyên liệu giảm 92 triệu USD…

Tình hình thu thuế xuất nhập khẩu giai đoạn 2011-2018

2.2.1 Tình hình thu thuế qua các năm

Năm 2018, Tổng cục Hải quan được Quốc hội và Chính phủ giao chỉ tiêu dự toán thu NSNN 283.000 tỷ đồng, được Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính giao chỉ tiêu phấn đấu 293.000 tỷ đồng Trong điều kiện thuế suất thuế nhập khẩu theo các Hiệp định tự do thương mại (FTA) cắt giảm mạnh, trên 90% các dòng hàng theo Hiệp định ATIGA, đặc biệt là mặt hàng có trị giá lớn như ô tô có thuế nhập khẩu giảm còn 0% thì việc hoàn thành được các chỉ tiêu nêu trên là nhiệm vụ vô cùng khó khăn.

Tuy nhiên, xác định thu NSNN là nhiệm vụ chính trị quan trọng, nên ngay từ đầu năm, Tổng cục Hải quan đã ban hành Chỉ thị số 555/CT-TCHQ về việc triển khai nhiệm vụ thu NSNN năm 2018 Đảng ủy cơ quan Tổng cục Hải quan cũng ban hành Nghị quyết số 445-NQ/ĐU ngày 08/3/2018 về việc phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN năm 2018, trong đó giao nhiệm vụ cụ thể đến từng đơn vị, từng đảng viên Công tác thu hồi và xử lý nợ thuế quá hạn năm 2018 cũng được Tổng cục Hải quan quan tâm chỉ đạo sát sao, theo đó Tổng cục đã ban hành Quyết định số 866/QĐ-TCHQ giao chỉ tiêu thu hồi và xử lý nợ thuế quá hạn đến từng đơn vị,

Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo các cấp, ngay từ đầu năm, các đơn vị trong toàn Ngành đã triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu nhằm tăng kim ngạch, cụ thể: tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý giám sát, thu thuế xuất nhập khẩu, mở rộng triển khai dịch vụ công trực tuyến, đẩy mạnh cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN, cải cách thủ tục hành chính, Song song với đó, ngành Hải quan cũng đẩy mạnh các biện pháp chống thất thu, thu hồi nợ thuế; tăng cường kiểm tra sau thông quan, thanh tra chuyên ngành; đặc biệt tập trung vào các mặt hàng có trị giá lớn, thuế suất cao, hàng nhập khẩu từ những thị trường có nghi vấn, hàng khai giảm giá hoặc giá thấp hơn cơ sở dữ liệu, hàng khai thuộc đối tượng miễn, giảm, hoàn hoặc thuế ưu đãi đặc biệt.

2.2.2 Tình hình thu thuế tại các địa phương

Tính đến ngày 31/12 toàn ngành đã hoàn thành vượt mức cả hai chỉ tiêu thu ngân sách mà cấp trên giao cho với 30/35 cục hải quan vượt chỉ tiêu dự toán thu NSNN Trong đó, có 28/35 cục hải quan hoàn thành vượt mức cả 2 chỉ tiêu (bao gồm cả chỉ tiêu giao phấn đấu của Tổng cục Hải quan) đó là cácCục hải quan: TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đồng Nai,Bình Dương, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hà Nam Ninh,Long An, Hà Tĩnh, Lào Cai, Nghệ An, Tây Ninh, Quảng Ngãi, Bình Định,Thừa Thiên Huế, Bình Phước, Đắk Lắk, Quảng Trị, Hà Giang, Cao Bằng, KiênGiang, An Giang, Quảng Bình, Đồng Tháp, Điện Biên

Trong số các Cục Hải quan có số thu vượt mức cả 2 chỉ tiêu, có 6 đơn vị có số thu trên 10 nghìn tỷ đồng bao gồm các Cục Hải quan sau: Hồ Chí Minh đạt gần 108.367 tỷ đồng (vượt 0,34% chỉ tiêu dự toán và phấn đấu), Hải Phòng đạt trên 55.015 tỷ đồng (vượt 9,92% chỉ tiêu dự toán và vượt 8,64% chỉ tiêu phấn đấu), Bà Rịa Vũng Tàu đạt trên 18.589 tỷ đồng (vượt 24,76% chỉ tiêu dự toán và vượt 6,23 chỉ tiêu phấn đấu), Đồng Nai đạt trên 18.532 tỷ đồng (vượt 12,32% chỉ tiêu dự toán và vượt 1,83% chỉ tiêu phấn đấu), Bình Dương đạt gần 15.01 tỷ đồng (vượt 16,38% chỉ tiêu dự toán và vượt 6,47% chỉ tiêu phấn đấu).

Biểu đồ 1: Các đơn vị có số thu NSNN năm 2018 đạt trên 10 nghìn tỷ đồng (Nguồn: Tổng cục Hải quan)

Năm 2018, có 6 đơn vị có số thu trên 800 tỷ, đồng thời vượt mức chỉ tiêu dự toán và chỉ tiêu phấn đấu ở mức trên 10% đó là các Cục Hải quan sau:

Hà Nam Ninh đạt trên 6.024 tỷ đồng (vượt 43,43% chỉ tiêu dự toán và vượt11,56% chỉ tiêu phấn đấu), Long An đạt trên 2.764 tỷ đồng (vượt 20,18% chỉ tiêu dự toán và vượt 10,57% chỉ tiêu phấn đấu), Lào Cai đạt trên 2.304 tỷ đồng(vượt 77,55% chỉ tiêu dự toán và vượt 15,20% chỉ tiêu phấn đấu), Tây Ninh đạt gần 859 tỷ đồng (vượt 43,11% chỉ tiêu dự toán và vượt 14,49% chỉ tiêu phấn đấu), Quảng Ngãi đạt trên 3.312 tỷ đồng (vượt 394,39% chỉ tiêu dự toán và vượt 10,41% chỉ tiêu phấn đấu), Đắk Lắk đạt gần 838 tỷ đồng (vượt 44,46% chỉ tiêu dự toán và vượt 11,72% chỉ tiêu phấn đấu).

Biểu đồ 2: Một số đơn vị có số thu vượt chỉ tiêu phấn đấu trên 10%.

(Nguồn: Tổng cục Hải quan)

Nhìn lại một năm nỗ lực thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách, có thể nói công tác đẩy mạnh cải cách hiện đại hóa tạo thuận lợi cho thương mại và chống thất thu hiệu quả là những yếu tố quan trọng giúp ngành Hải quan sớm hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách năm 2018.

Trong những năm vừa qua, cơ quan Hải quan đã đổi mới công tác thu ngân sách nhà nước theo hướng triển khai thỏa thuận hợp tác phối hợp thu song phương với các ngân hàng thương mại, tăng tốc độ truyền thông tin giữa cơ quan Hải quan – Kho bạc nhà nước, cơ quan hải quan được hạch toán thanh khoản nợ thuế ngay sau khi nhận được thông tin thu từ tổ chức tín dụng, thông tin thu từ Kho bạc Nhà nước chuyển sang cơ quan Hải quan 15 phút/lần… Tăng tốc độ xở lý thông tin, kịp thời xử lý thông quan hàng hóa; hạch toán thanh khoản nợ thuế, đảm bảo chính xác khi xét doanh nghiệp đủ điều kiện để áp dụng ân hạn nộp thuế; nâng cao việc cải cách thủ tục hành chính; tăng mức độ hài long của cộng đồng doanh nghiệp đối với cơ quan hải quan; tạo điều kiện thuận lợi khi cơ quan hải quan triển khai hệ thống thông tin tự động, nâng cao ảnh hưởng của cơ quan hải quan trong mắt cộng đồng doanh nghiệp, bạn bè quốc tế; giảm thời gian thông quan, giảm chi phí phát sinh cho người nộp thuế.

Toàn ngành hải quan đã có sự thống nhất trong cách thức kiểm tra, tham vấn, xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; khắc phục được tình trạng tùy tiện, thiếu sót trong quá trình tổ chức thực hiện Các cụcHải quan địa phương đã thực hiện việc kiểm tra, phân loại các lô hàng nghi vấn, tổ chức tham vấn và bác bỏ những lô hàng có trị giá khai báo thấp, bất hợp lý, góp phần tăng số thu cho ngân sách nhà nước, từng bước ngăn chặn các hiện tượng gian lận thương mại qua giá Đã tiến hành bác bỏ trị giá khai báo đối với các lô hàng có trị giá khai báo thuộc diện nghi vấn về mức giá và tổ chức xác định trị giá tính thuế theo quy định Kết quả là qua công tác kiểm tra,tham vấn, xác định lại trị giá tính thuế, đã làm tăng số thu ngân sách nhà nước hàng năm (do mức giá tính thuế xác định lại cao hơn mức giá khai báo).

Thực trạng thất thu thuế xuất nhập khẩu giai đoạn 2011-2018

2.3.1 Giá trị thất thu thuế theo năm

Năm 2018, toàn ngành Thuế đã thanh tra, kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (đạt 90,65% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 158,3% so năm 2017), xử lý truy thu, truy hoàn và phạt qua thanh tra, kiểm tra 7.582 tỉ đồng, bằng 138,8% (7.582 tỉ đồng/5.462 tỉ đồng) so năm 2017, giảm khấu trừ qua thanh tra, kiểm tra là 567 tỉ, giảm lỗ qua thanh tra, kiểm tra là 11.021 tỉ đồng Trong đó, thanh tra tại 6.167 doanh nghiệp, xử lý truy thu và phạt 3.386 tỉ đồng, giảm lỗ qua thanh tra là 7.011 tỉ đồng, giảm khấu trừ thuế GTGT 209 tỉ đồng; nộp ngân sách nhà nước 2.093 tỉ đồng bằng 120.9% so với năm 2017 Đối với thanh tra chống chuyển giá đã thực hiện thanh tra tại 921 doanh nghiệp lỗ, doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá, xử lý giảm lỗ 6.617 tỉ đồng (tăng 3,5 lần so với năm trước), truy thu thuế và phạt 1.669 tỉ đồng (tăng hơn 4 lần so với cùng kỳ năm trước). Đối với vấn đề nợ thuế theo đánh giá của Tổng cục chiếm 72,3% tổng số nợ thuế, trong đó trên 90 ngày chiếm 63,3% Dù vậy, cơ quan chức năng vẫn cho rằng “số nợ này còn có khả năng thu hồi được”.

2.3.2 Thực trạng thất thu thuế theo địa phương

Theo báo cáo của Tổng cục thuế, tỷ trọng nợ thuế trên tổng thu ngân sách nhà nước giảm mạnh qua các năm; năm 2015 là 9,5%; năm 2016 là 7,7%; năm 2017 là 7,3% và năm 2018 là 6,9% Có tới 17 địa phương có mức nợ đọng dưới 5% như: Bà Rịa - Vũng Tàu; Bến Tre, Bình Dương, Bình Thuận Cũng theo báo cáo của ngành Thuế hiện tổng nợ thuế đang chiếm tỷ trọng 6,9% trên toàn bộ tổng thu ngân sách nhà nước năm 2018 Nợ thuế năm 2018 tiếp tục tăng 29,5% Trong đó, nợ chờ xử lý năm 2018 tăng 7,7% so với năm 2017; nợ có khả năng thu tăng 33,3% Một số địa phương có số nợ thuế năm 2018 tăng trên 50% so với năm 2010 như: An Giang, Bắc Ninh, Bình Phước Đặc biệt năm 2018, Cục thuế các địa phương đã xử lý tích cực nợ chờ điều chỉnh (nợ ảo), tính đến 31/12/2018 đã xử lý hết số nợ ảo tính đến 31/12/2017, với số nợ chiếm 0,3% trên tổng số thu ngân sách nhà nước Công tác thanh kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (đạt 90,65% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 158,3% so với 2017) đã xử lý truy thu, truy hoàn và phạt đạt 7.582 tỷ đồng (bằng 138,8% so với 2017); giảm khấu trừ được 576 tỷ đồng, giảm số lỗ qua thanh kiểm tra đạt 11.021 tỷ đồng.

Theo Báo cáo Đánh giá thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm

2018 của Bộ Tài chính, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chống thất thu thuế; đấu tranh chống chuyển giá, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), kinh doanh bất động sản, tài nguyên khoáng sản và thuế xuất-nhập khẩu được xem là một trong những thành công đáng ghi nhận nhất trong năm 2018 của ngành tài chính Nhờ tích cực chống thất thu và nợ đọng thuế, nên thu ngân sách cả năm 2018 vẫn đạt 647.500 tỷ đồng, vượt 13,4% so với dự toán, tăng 20,6% so với năm 2017 Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm

2018, ngành thuế đã thu hồi 67% số nợ thuế năm 2017 chuyển sang, với tổng số tiền lên tới 18.039 tỷ đồng, ngành hải quan đã xử lý thu trên 709 tỷ đồng.

2.3.3 Chống thất thu thuế hiệu quả

Thứ nhất, đối với công tác phân loại: Năm 2018, thực hiện áp dụng Danh mục hàng hóa XK, NK mới; Biểu thuế XK, NK mới có nhiều mặt hàng thay đổi mã số, thuế suất nên các đơn vị trong toàn ngành đã trú trọng công tác phân loại Trong năm, riêng Cục Thuế xuất nhập khẩu đã tham mưu cho lãnh đạo Tổng cục ban hành 775 Thông báo kết quả phân loại và 145 Thông báo kết quả xác định trước mã số, nhờ đó việc phân loại hàng hóa được chính xác và thống nhất trong toàn ngành Đồng thời, quy trình phân loại hàng hóa, áp dụng mức thuế đối với hàng hóa XK, NK được hoàn thiện theo nội dung ban hành kèm theo Quyết định số 1921/QĐ-TCHQ ngày 28/6/2018.

Thứ hai, về công tác quản lý nợ: ngày 18/5/2018, Tổng cục Hải quan đã ban hành Quyết định số 1503/QĐ-TCHQ ban hành Quy trình quản lý nợ thuế và các khoản thu đối với hàng hóa XNK Nhờ đó, công tác quản lý nợ của các đơn vị trong toàn Ngành được thực hiện hiệu quả, số nợ thuế mới phát sinh trong năm 2018 thấp Tính đến 31/12/2018 tổng số chuyên thu phát sinh trong năm là 5.289,44 tỷ đồng (giảm 77 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2017, tương đương giảm 1,45%) chiếm khoảng 1,68 % so với tổng số thu NSNN, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ Chính phủ giao là 5%.

Kết quả, đến 31/12/2018 toàn ngành đã tăng thu từ công tác chống thất thu và thu hồi, xử lý nợ thuế đạt 4.569 tỷ đồng Trong đó: thu hồi và xử lý nợ thuế đạt 1.521 tỷ đồng, xác định trị giá tính thuế tăng 230 tỷ đồng, phân loại và xác định mã số HS tăng 425 tỷ đồng, kiểm tra sau thông quan đạt 2.043 tỷ đồng, chống buôn lậu và gian lận thương mại đạt 350,97 tỷ đồng, thanh tra chuyên ngành và kiểm tra nội bộ đạt 152,7 tỷ đồng.

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM

Ngày đăng: 04/03/2023, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w