1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Môn học thảo luận môn luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng buổi thảo luận thứ hai vấn đề chung của hợp đồng

16 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề chung của hợp đồng
Người hướng dẫn Lê Thanh Hà
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hợp Đồng
Thể loại Thảo luận môn luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng buổi thảo luận thứ hai
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 256,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH MÔN HỌC THẢO LUẬN MÔN LUẬT HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI VẤN ĐỀ CHUNG CỦA[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH

MÔN HỌC: THẢO LUẬN MÔN LUẬT HỢP ĐỒNG VÀ BỒI

THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI

- VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG GIẢNG VIÊN: LÊ THANH HÀ

DANH SÁCH NHÓM

10 Nhóm trưởng: Trần Thị Thu Hiếu 2153801014078

Trang 2

Vấn đề 1: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Và cho biết: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3

vấn đề trên

1:

Bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Theo nhóm

em quyết định này của Tòa án là hợp lý, bởi vì D không chứng được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C và C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D Đề nghị ở Đây là đề nghị giao kết bằng văn bản cho

D theo khoản 1 Điều 400 BLDS 2015 thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác

định là thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận kết giao Nhưng Tòa án xét rằng bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy

định của Điều 400 BLDS 2015 là chưa thật sự chính xác vì Điều 400 BLDS 2015

không có đủ căn cứ xác định bên đề nghị có nhận được chấp nhận đề nghị hay chưa

Căn cứ pháp lý: Điều 400 Thời điểm giao kết hợp đồng:

“1 Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.

2 Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.

3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận

về nội dung của hợp đồng.

4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.

Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này”.

2:

Chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015 Vấn đề thứ 2 này các bên không ấn định thời hạn trả lời thì việc trả

lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong thời gian hợp lý Theo

khoản 1 Điều 394 BLDS 2015:

“Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.

Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được hiện trong một thời gian hợp lý”.

Như vậy, việc trả lời chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp

lý, nhưng thế nào là thời hạn hợp lý thì Bộ Luật không đề cấp nên sẽ tùy vào từng hoàn cảnh Ta có thể thấy A, B và C gửi cho D một đề nghị giao kết hợp đồng, cả

3 người đều mong muốn được xác lập giao kết này và đã ký xác nhận Theo nhóm em Tòa án giải quyết chưa hợp lý vì Tòa án không xem xét ý chí mong muốn bên đề nghị giao kết hợp đồng Nếu C chấp nhận đề nghị giao kết thì dù cho D trả lời chấp nhận trễ giao kết hợp đồng vẫn được xác nhận

Trang 3

Quyết định của tòa án là chưa thỏa đáng Nếu ta căn cứ vào khoản 1 Điều 394 BLDS 2015 để giải quyết vấn đề là chưa được chính xác Khoản 1 Điều 394 BLDS:

“Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.

Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được hiện trong một thời gian hợp lý.”

Trong đề nghị giao kết các bên không quy định rõ thời hạn trả lời nên việc xác định bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời được xem là đề nghị mới là rất khó Tòa án nên xem xét kỹ là các bên có thỏa thuận cho giao kết này có hiệu lực trên thực tế hiện giờ không, như vậy mới giải quyết được vấn đề một cách khách quan

Vấn đề 2: Sự ưng thuận trong quá trình giao kết hợp đồng

1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?

Điều 400 Thời điểm giao kết hợp đồng

1 Trường hợp các bên có thỏa thuận im

lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp

đồng trong một thời hạn thì thời điểm

giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng

của thời hạn đó

Theo quy định của BLDS hiện hành trừ

trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói

quen được xác lập giữa các bên thì ngoài

ra sự im lặng trong giao kết không được

coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp

đồng

Khoản 2, Điều 393, BLDS 2015 quy

định “ Sự im lặng của bên được đề nghị

không được coi là chấp nhận đề nghị

giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có

thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được

xác lập giữa các bên.”

Điều 404 Thời điểm giao kết hợp đồng dân sự

2 Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được

đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết

Im lặng là chấp nhận, đồng ý khi các bên có thỏa thuận

Ở đây BLDS 2015 theo hướng thông thường im lặng không là chấp nhận đề nghị

giao kết hợp đồng nhưng có ngoại lệ, khi theo thỏa thuận hay thói quen của các bên, im lặng vẫn là đề nghị giao kết hợp dồng Ngoài hai ngoại lệ này chúng ta nên hướng bản thân im lặng không là chấp nhận nhưng nếu bên cạnh sự im lặng

là biết nhưng không nói gì mà có yếu tố khác như giao hàng, trả tiền, lời đề nghị hoàn toàn vì lợi ích của người được đề nghị thì vẫn có thể chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.1

BLDS 2005 quy định im lặng là sự chấp nhận, đồng ý trong giao kết hợp đồng nhưng đến BLDS 2015 im lặng không được xem là sự chấp nhận, đồng ý trong

Trang 4

trong giao kết hợp đồng trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên Lý giải cho sự thay đổi này là vì trong thực tế đã xảy

ra nhiều vụ tranh chấp do sự im lặng khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng

Do đó, với quy định mới này sẽ làm hạn chế đi những vụ tranh chấp không đáng

có Bên cạnh đó, việc thay đổi khái niệm hợp đồng từ “hợp đồng dân sự” thành

“hợp đồng” sẽ mở rộng phạm vi điều chỉnh hợp đồng trong nhiều lĩnh vực, tạo điều kiện thuận lợi trong việc giao kết hợp đồng

2 Quy định về vai trò của im lặng trong giao kết hợp trong một hệ thống pháp luật nước ngoài

Vd1: Trong thương mại quốc tế, việc hình thành hợp đồng được xuất phát từ

chào hàng Nếu chào hàng được chấp nhận vô điều kiện thì hình thành hợp đồng giữa người chào hàng và người được chào hàng Theo quy định của Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc thì một lời tuyên bố hoặc một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng sẽ cấu thành chấp nhận chào hàng Sự im lặng hoặc không hành động sẽ không mặc nhiên có giá trị như một sự chấp nhận Như vậy, việc giải thích một lời tuyên bố hoặc một hành

vi phải được đặt ra để xác định ý chí của các bên trong giao kết hợp đồng.2

Cơ sở pháp lý: Khoản 1, Điều 18, Công ước Viên 1980 (CÔNG ƯỚC CỦA

LIÊN HỢP QUỐC VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ) quy định: “Một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng Sự im lặng hoặc bất hợp tác vì không mặc nhiên có giá trị một sự chấp nhận.”

Vd2: “Sự im lặng” mang nghĩa không đưa ra tuyên bố từ chối lời đề nghị hay

không hành động (bất tác vi) của bên được đề nghị trong thời hạn được nêu - bản thân chúng không nên được xem là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo Bộ nguyên tắc của châu Âu về Luật Hợp đồng (PECL, 2:204), Bộ nguyên tắc của

Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế 2010 (PICC, 2.1.6), Công ước Viên

1980 (CISG, 18), pháp luật Việt Nam tương đồng ở điểm này, duy nhất không thể

hiện rõ trong câu từ “ sự im lặng” về mặt ngôn ngữ hay hành động, chẳng hạn bên mua thực hiện thanh toán không cần thông báo chấp nhận đề nghị

Ví dụ: Hợp đồng mua bán hàng hóa hết hạn, bên mua gửi thông báo cho bên bán

về việc gia hạn hợp đồng, bên bán trả lời các điều kiện gia hạn bán hàng và nhắn gửi đợi bên mua trả lời cho hết ngày 15/11 Bên mua im lặng vì không chấp nhận một số điều khoản, hợp đồng cũ hết hạn Ngày 15/11 bên mua gửi đơn hàng mới nhưng bên bán không trả lời, cũng không giao hàng vào thời gian yêu cầu

1 Trần Thăng, “ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 SO VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 VỀ VAI TRÒ CỦA IM LẶNG TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG?”,ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 SO VỚI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 VỀ VAI TRÒ CỦA IM LẶNG TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG? - Luật Đại Trí (luatdaitri.vn), 03/25/2021

2 ThS Đỗ Hồng Quyên, Giảng viên Trường Đại học Thương mại, “Nguyên tắc giải thích hợp đồng thương mại quốc tế theo PICC”,

http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208164, đăng ngày 07/07/2014, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, truy cập ngày 18/09/2022

Trang 5

Vụ việc tranh chấp thương mại đòi hỏi “sự im lặng” ở đây phải được các bên

thỏa thuận trước bằng lời nói, văn bản theo Khoản 2 Điều 400 Bộ luật Dân sự

2015, hợp đồng mới không hình thành bên bán không vi phạm Bộ nguyên tắc

của Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế 2010 (PICC 2.1.6) chỉ ra rằng, nếu bên đề nghị - bên bán chủ động đưa ra đề nghị ký kết hợp đồng tiếp theo, không cần thông điệp chấp nhận của bên mua - bên mua im lặng, hai bên đã giao kết hợp đồng tiếp theo, trong tình huống trên, bên bán vi phạm hợp đồng Đáp ứng sự ràng buộc về mặt ý chí, có chứng cứ chứng minh thỏa thuận “im lặng” của các bên, hay không cần xét đến chứng cứ, trong giao dịch các bên ngầm ngụ

ý về sự im lặng là đồng ý giao dịch đã rẽ 2 hướng giải quyết khác nhau cho 1 sự kiện pháp lý, mặc dù pháp luật Việt Nam cũng như các quốc gia khác quy định

là như nhau Tòa án thương mại Pháp xử lý vụ việc Sté Calzados Magnanni v.

SARL Shoes General International ngày 21/10/1999 viện dẫn Điều 18A3 Công

ước Viên 1980 nhận định, người bán biết ý định người mua tham gia giao kết, mối quan hệ thực tiễn trước đó giữa 2 bên dẫn đến kết luận bên mua im lặng là chấp thuận, bên bán chịu trách nhiệm bồi thường.3

3 Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

Tình huống: Năm 2001, bà Chu và ông Bùi chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ (gồm 7 nhân khẩu) cho ông Văn Năm 2004, ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng

để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì Tuy nhiên, nay các con bà Chu và ông Bùi yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu vì chưa có sự đồng ý của

họ và Tòa án đã áp dụng Án lệ số 04/2016/AL.

Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển

nhượng trong tình huống trên là hợp lý

Khái quát nội dung của án lệ số 04/2016/AL:

Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất

Trong tình huống trên, việc bà Chu và ông Bùi đã làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ (gồm 7 nhân khẩu) là các con ông bà đã biết và không phản đối, ông Văn cũng đã quản lý, sử dụng mảnh đất này Về bản chất thì đây giống với Án lệ số 04, đều là tranh chấp về quyền sử dụng đất, đều là tài sản chung Đây là trường hợp mà tài sản chung được chuyển nhượng mà chỉ có chữ ký của một (hai) người mà không có chữ ký của những đồng sở hữu còn

3 ThS Mai Thị Mai Hương - ThS Hoàng Thị Thanh Nguyệt (Trường Cao đẳng

Thương mại Đà Nẵng), “Các quy định pháp luật về giao kết hợp đồng nhìn từ góc

luật học so sánh (tapchicongthuong.vn), truy cập 04/12/2019

Trang 6

lại, tuy nhiên họ biết mà không phản đối, và bên nhận đã nhận và quản lý nhà đất Do vậy những người đồng thừa kế này được xác định là đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất Nên việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL là hợp

lý và có căn cứ

Vấn đề 3: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được

1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015

và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu;

- Tại khoản 1 Điều 411 BLDS 2005, quy định: “Trong hợp ngay từ khi ký kết,

hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì trường lý do khách quan thì

hợp đồng này bị vô hiệu” còn đến BLDS 2015 thì tại khoản 1 Điều 408 quy định

rằng: “Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực

hiện được thì hợp đồng này vô hiệu” Như vậy ở đây đã có sự thay đổi “từ khi ký

kết” thành “từ khi giao kết”, và đã bỏ đi “vì lý do khách quan” Việc ký kết hợp đồng thực chất là giai đoạn cuối cùng của giao kết hợp đồng nên việc thay “ký kết hợp đồng” thành “giao kết hợp đồng” đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật; việc bỏ đi “vì lí do khách quan” thừa nhận hợp đồng có thể bị vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được cả vì lí do chủ quan lẫn khách quan theo nhóm

em là hợp lí vì nếu nói lí do khách quan mà không giải thích rõ là lí do gì hay lí

do như thế nào từ đó gây khó khăn hơn trong việc áp dụng vào xét xử thực tiễn,

vì thế khi đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được vì lí +do nào đó thì hợp đồng bị vô hiệu

- Tại khoản 3 Điều 411 BLDS 2005, quy định: “Quy định tại khoản 2 Điều này

cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được, nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có giá trị

pháp lý”, và đến BLDS 2015 thì tại khoản 3 Điều 408 quy định rằng: “Quy định

tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực” Như vậy, đã có sự thay đổi ở:

+ “Quy định tại khoản 2 Điều này” thành “Quy định tại khoản 1 và khoản 2

Điều này” Trong BLDS 2015 đã bổ sung ở khoản 3 để mở rộng phạm vi áp

dụng là thêm trường hợp ở khoản 1, đã có góc nhìn bao quát hơn quy định tại khoản 3 Điều 411 BLDS 2005, để bảo đảm được những quyền và nghĩa vụ có

thể thực hiện được trong hợp đồng và cũng phần nào hạn chế được việc một bên lấy cớ đối tượng không thể thực hiện để hủy hợp đồng hay nói cách khác là khiến hợp đồng bị vô hiệu

+ Thay đổi cụm từ “giá trị pháp lý” thành “hiệu lực”.

- Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không có giá trị pháp lý, nhưng hợp đồng không có giá trị pháp lý chưa chắc đã vô hiệu, đó có thể là hợp đồng chưa ký kết hoặc hết hiệu lực Việc thay đổi này của BLDS 2015 sẽ bao quát và thực tế hơn

2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

Theo quy định tại Điều 408, Bộ luật dân sự 2015 thì “Trường hợp ngay từ khi

giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô

Trang 7

hiệu” Nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện sẽ quyết định đến thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

- Trường hợp không áp dụng thời hạn yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu:

- Các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác, hoặc trốn tránh nghĩa vụ mà đối tượng giao kết hợp đồng không có thực hoặc không thể thực;

- Việc dẫn đến đối tượng hợp đồng không thể thực hiện là tự nhiên, các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của các bên tham gia hợp đồng, …

- Trường hợp thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là 02 năm:

- Hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập và không có khả năng thực hiện hợp đồng đã giao kết;

- Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch hoặc không thể thực hiện hợp đồng;

- Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân

sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần giao kết còn lại của giao dịch

- Đối với trường hợp áp dụng thời hạn tuyên bố hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được, thì thời hạn được tính từ thời điểm:

- Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

- Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do

bị nhầm lẫn, do bị lừa dối

- Đối với trường hợp áp dụng thời hạn tuyên bố hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được, thì thời hạn được tính từ thời điểm: Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch; Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do

bị nhầm lẫn, do bị lừa dối

3 Trong vụ án trên, đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án theo hướng hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được?

“Mặt khác, tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/6/2018 (bút lục 368, 369) thể hiện trên phần đất thửa số 20 đang tồn tại 01 nhà mồ và 04 ngôi mộ của người thứ ba, nhưng việc chuyển nhượng đất lại không có ý kiến của chủ sở hữu hợp 8 73 pháp các vật kiến trúc trên đất, nên quyền sử dụng đất không thể chuyển giao cho người nhận chuyển nhượng bình thường và đầy đủ quyền sử dụng của mình Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do

có đối tượng không thể thực hiện được theo Điều 408 Bộ luật dân sự”

Trang 8

4 Trong vụ án trên, Toà án xác định hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao?

Trong vụ án trên, Tòa án xác định hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực

hiện được là thuyết phục Vì căn cứ theo khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 quy

định: “Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực

hiện được thì hợp đồng này vô hiệu” có nghĩa là khi hợp đồng có đối tượng

không thể thực hiện được thì hợp đồng bị vô hiệu bất kể việc đó xuất phát từ nguyên nhân khách quan hay chủ quan nên ở trường hợp này tuyên bố của tòa án

là thuyết phục

Vấn đề 4: Xác lập hợp đồng có giả tạo và nhằm tẩu tán tài sản

* Đối với vụ việc thứ nhất

1 Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch? - Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?

a Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?

- Căn cứ theo Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015, các nhà làm luật nước ta

quy định: “1 Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che

giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng bị vô hiệu theo quy định của

Bộ luật này

2 Trong trường hợp xác lập giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ

ba thì giao dịch đó vô hiệu”.

- Giao dịch giả tạo được xác lập trên cơ sở hành vi gian dối và thực hiện khi các bên xác lập giao dịch đó Mục đích xác lập nhằm che dấu việc thực hiện một hợp đồng khác mà các bên thật sự mong muốn thực hiện Giao dịch giả tạo

mà các bên “tự nguyện” tham gia nhưng mục đích giao dịch được thể hiện không phù hợp với mục đích các bên thực sự quan tâm, hướng tới, mong muốn đạt được Yếu tố giả tạo thông qua dấu hiệu các bên thông đồng với nhau để tạo nên sự thiếu thống nhất giữa ý chí và tuyên bố ý chí của các bên xác lập giao dịch

- Theo Điều 124 BLDS 2015 có hai loại giao dịch dân sự giả tạo: giao dịch dân

sự nhằm che dấu một giao dịch khác, giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa

vụ với người thứ ba

- Đặc điểm chung của hai loại giao dịch này đó là sự nhất trí, thông đồng từ trước của các bên xác lập giao dịch giả tạo nhằm tạo nên cái nhìn sai lầm cho người khác đối với giao dịch đó

- Bên cạnh đó hai loại giao dịch này cũng có sự khác biệt cơ bản như sau:

Đối với trường giao dịch dân sự nhằm che dấu một giao dịch khác:

oCó hai loại giao dịch dân sự song song cùng tồn tại đó là giao dịch giả tạo (che giấu, biểu hiện ra bên ngoài bằng hợp đồng) và giao dịch đích thực (bên trong)

oVí dụ: Ông A muốn tặng cho con gái út của mình một ngôi nhà nhưng vì lý

do tế nhị sợ các con khác biết được có thể gây mẫu thuẫn trong gia đình nên ông A và con gái đã ký kết hợp đồng mua bán nhà với nhau -> Ở đây có hai giao dịch song song tồn tại là giao dịch mua bán giữa ông A và con gái, tuy nhiên đó chỉ là giao dịch giả tạo, còn giao dịch thứ hai chính là hợp đồng tặng

Trang 9

cho giữa ông A và con gái, đây mới chính là giao dịch thể hiện ý chí đích thực của hai bên

Đối với trường hợp giao dịch dân sự được xác lập với mục đích trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba:

oBản thân chủ thể tham gia giao dịch đã tồn tại nghĩa vụ dân sự với chủ thể khác, nhưng để trốn tránh nghĩa vụ đó đã thực hiện một giao dịch khác với người thứ ba

o Khi tham gia giao dịch chủ thể phải thực hiện một nghĩa vụ nhất định với nhà nước nhưng không muốn thực hiện nên đã xác lập giao dịch với người thứ

ba

b Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp

đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?

Đoạn của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng:

“Nguyên đơn và bị đơn thống nhất ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bị đơn có thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nội dung giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất số AP 154638, số vào sổ H53166 do UBND thị xã (nay là 11 thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 30/7/2009, tọa lạc tại phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, giá chuyển nhượng 200.000.000 đồng Hai bên đều thừa nhận đây là giao dịch giả tạo để che dấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng”.

Trên danh nghĩa là một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được

thực hiện theo sự thỏa thuận của hai bên bằng hình thức xác lập “giấy chuyển

nhượng quyền sử dụng đất”, nhưng trên thực tế nó che dấu một thỏa thuận

khác đó là việc cho vay tài sản Mục đích mà cả hai bên hướng tới là cho vay

và nhận khoản vay đồng thời tránh các nghĩa vụ liên quan khi giao kết hợp đồng vay tài sản cụ thể là vay tiền

2 Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu - Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo

và hợp đồng bị che giấu.

a Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che

giấu.

Hướng giải quyết của Tòa án:

Xét theo Điều 124 BLDS 2015, Tòa tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất xác lập giữa Trần Thị Diệp Thủy và bà Nguyễn Thị Thanh Trang theo hình thức giấy thỏa hiệp chuyển nhượng quyền sử dụng đất 23/11/2013 là

vô hiệu vì đây là giao dịch giả tạo che dấu cho việc vay mượn, giao dịch vay tài sản số tiền 100.000.000 đồng có hiệu lực

Bà Trang cho rằng đã trả cho bà Thủy số tiền 180.000.000 nhưng bà Thủy không thừa nhận và bà Trang cũng không có chứng cứ để xác minh việc trả tiền Vì vậy, bà Nguyễn Thị Thanh Trang có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị Diệp Thủy số tiền đã nhận là 95.000.000 đồng là có căn cứ

Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Trần Thị Diễm Thủy với việc yêu cầu không tính lãi suất 95.000.000 đồng đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Thanh Trang

Trang 10

b Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu.

Hướng xử lí của tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu là hợp lí,

phù hợp với các điều khoản luật định cụ thể được quy định tại Điều 124 và Điều 131 BLDS 2015 vì

- Đối với hợp đồng giả tạo thì Tòa đã áp dụng Điều 124 đối với hành vi giao

kết hợp đồng giả tạo của nguyên đơn và bà Trang nhằm che giấu thỏa thuận cho vay tài sản với giá trị 100.000.000 đồng nhưng được thực hiện trên danh nghĩa là hợp đồng chuyển nhượng đất, sau đó hai bên đã có sự đính chính về hành vi giả tạo này Theo Điều 124, khi một bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu Cho nên Tòa án tuyên bố hợp đồng trên

vô hiệu là hợp lý vì đã bảo đảm được quyền lợi của nguyên đơn là bà Thủy

- Đối với hợp đồng bị che giấu thì Tòa án đã áp dụng Điều 131 đối với hành

cho vay tài sản cụ thể là 100.000.000 đồng Trên cơ sở áp dụng luật thì tòa tuyên hợp đồng bị che giấu vẫn có hiệu lực, hai bên phải hoàn trả lại cho nhau nhưng gì đã trao đổi và không phải bồi thường là hợp lý vì cả hai bên

bà Trang và bà Thủy đều biết việc lập hợp đồng chuyển nhượng đất là nhằm mục đích giao dịch cho vay tài sản Do vậy, ở đây lỗi cả hai bên là ngang nhau Đồng thời việc bà Thủy yêu cầu không tính lãi suất 95.000.000 đồng đối với bà Trang được Tòa ghi nhận

- Quyết định trên vừa đảm bảo quyền lợi vừa bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của các bên khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu và hợp đồng bị che giấu vẫn có hiệu lực Tòa án còn quyết định hành vi trên lỗi cả hai bên ngang nhau và

họ phải hoàn trả lại nhưng gì đã nhận cho nhau và không phải bồi thường

=> Đó là một quyết định vừa hợp tình vừa hợp lí phù hợp với luật định

- Cơ sở pháp lý:

Điều 124 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

“1 Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng

vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

2 Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu”.

Điều 131 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

“1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Ngày đăng: 04/03/2023, 11:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w