Cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội ứng dụng trong điều tra các vụ án giết người Tâm lý học tư phápMỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 1 I CƠ SỞ LÝ THUYẾT CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HÀNH VI PHẠM TỘI 1 1 Khái niệm hành vi phạm tội 1 2 Cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội 3 2 1 Nhu cầu và lợi ích 4 2 2 Động cơ, m.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HÀNH VI PHẠM TỘI 1
1 Khái niệm hành vi phạm tội 1
2 Cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội 3
2.1 Nhu cầu và lợi ích 4
2.2 Động cơ, mục đích, ý định phạm tội 5
2.3 Quyết định thực hiện hành vi phạm tội 11
2.4 Phương thức thực hiện hành vi phạm tội 11
2.5 Điều kiện, hoàn cảnh để thực hiện hành vi phạm tội 12
II ỨNG DỤNG TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI 13
1 Tóm tắt vụ án 13
2 Sơ lược về đời tư cá nhân của Phùng Quỳnh Trang 15
3 Phân tích cấu trúc tâm lý Phùng Quỳnh Trang trong vụ án 16
C KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 2A MỞ ĐẦU
Tâm lý học được hình thành vào cuối thế kỷ XVI ở Châu Âu và bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với sự ra đời của một loạt ngành tâm lý riêng biệt như: tâm lý học xã hội, tâm lý học nghệ thuật, tâm lý học quân sự, tâm lý học kinh tế, tâm lý học hành vi… Trong đó tâm lý học hành vi có vai trò chi phối mạnh mẽ và có nhiều ứng dụng trong đời sống xã hội nhất là hoạt động tư pháp
Dựa trên học thuyết mácxít về con người, hoạt động của con người và lí luận về ý thức, các nhà tâm lý học Xô Viết tiêu biểu như L.X.Vưgốtxki, X.L.Rubinxtcin, A.N.Leonchiev đã có công lao to lớn xây dựng hệ thống tâm lý học mácxít Theo quan điểm của nền tâm lý học mácxít, cả ý thức và hành vi đểu tồn tại khách quan, tham gia một cách tích cực vào quá trình tác động của con người đối với thế giới xung quanh, với người khác và với chính bản thân mình Khái niệm hành vi trong tâm lý học mácxít không tách rời khái niệm hoạt động mà hành vi là sự biểu hiện cụ thể ra bên ngoài của hoạt động
Trong khoa học pháp luật hình sự, hành vi phạm tội được nghiên cứu như một khái niệm cơ bản của tội phạm và là hành động có ý chí Dưới góc độ tâm lý học người ta nghiên cứu cấu trúc tâm lý, những yếu tố quan trọng của hành vi phạm tội như nguổn gốc, động cơ thúc đẩy, diễn biến và hậu quả tâm lý hành vi phạm tội Việc xác định được cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội sẽ hỗ trợ rất lớn cho hoạt động tư pháp, góp phần xác định đúng người đúng tội, biện pháp cải tạo và phòng ngừa tái phạm trong
tương lai của người phạm tội Để làm rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài số 16:
“Cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội - ứng dụng trong điều tra các vụ án giết người” để làm bài tập của mình.
B NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HÀNH VI PHẠM TỘI
1 Khái niệm hành vi phạm tội
Khi nói đến tội phạm, theo Điều 8 - Bộ Luật hình sự 2015: “Tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, ”.
Trang 3Như vậy, dưới khía cạnh khoa học tâm lý khái niệm hành vi phạm tội được hiểu là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự tiến hành một cách cố ý hoặc vô ý và được thể hiện ra bên ngoài bằng hình thức hành động hoặc không hành động
Những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của hành vi phạm tội là:
- Tính nguy hiểm cho xã hội: Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được thể hiện ở chỗ nó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ
- Tính có lỗi: Lỗi là thái độ của người phạm tội đối với hành vi gây nguy hiểm cho
xã hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý Một hành vi được coi là có lỗi khi có đủ hai điều kiện: một là, hành vi đó trái luật hình sự; hai là, hành vi đó là kết quả của sự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi khi
có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự khác không trái luật hình sự
- Hành vi phạm tội được thể hiện dưới hai hình thức: hành động phạm tội và không hành động phạm tội Hành động phạm tội là khái niệm dùng để chỉ những việc làm mà pháp luật hình sự cấm, qua đó làm thay đổi trạng thái bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Hành động phạm tội là một dạng của hành vi phạm tội, có thể chỉ là một động tác đơn giản hoặc tập hợp nhiều động tác khác nhau, xảy ra một lần trong khoảng thời gian ngắn hoặc được thực hiện lặp đi lặp lại trong một thời gian dài Hành động phạm tội được biểu hiện bằng việc làm hoặc lời nói trực tiếp hoặc thông qua công cụ, phương tiện phạm tội tác động lên đối tượng của tội phạm Đó là hành động nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và bị trừng phạt; dấu hiệu của nó được quy định trong Bộ luật hình sự Trong các loại tội phạm được quy định tại Bộ luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có những tội chỉ có thể thực hiện bằng hành động, như: hoạt động gián điệp, tội hiếp dâm ; có tội chỉ có thể được thực hiện bằng việc không hành động phạm tội, như: tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng; tội không tố giác tội phạm ; có những tội vừa có thể được thực hiện bằng hành động vừa có thể được thực hiện bằng không hành động, như: tội giết người, tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
Trang 42 Cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội
Việc tìm hiểu vấn đề cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội sẽ làm rõ nhiều yếu tố quan trọng liên quan đến hành vi phạm tội, như nguồn gốc, động lực thúc đẩy, diễn biến
và hậu quả tâm lý của hành vi phạm tội
Hành vi phạm tội là hành vi có lý trí, có ý chí vì vậy có thể nói rằng thành phần cấu trúc của hành vi phạm tội gồm:
- Nhu cầu vụ lợi, tâm thế chống đối xã hội
- Động cơ, mục đích và ý định phạm tội
- Quyết định chương trình định hướng hành vi
- Phương thức thực hiện hành vi phạm tội
- Hậu quả tâm lý của hành vi phạm tội
Cấu trúc tâm lý bên trong của hành vi phạm tội kết hợp với điều kiện bên ngoài có thể biểu thị qua sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ cấu trúc tâm lý tội phạm
Trang 52.1 Nhu cầu và lợi ích
2.1.1 Nhu cầu
Nhu cầu và việc thỏa mãn nhu cầu của con người là động lực thúc đẩy hoạt động, điều chỉnh hành vi của cá nhân và nhóm xã hội Nhà tâm lý học Nga A.G.Côvaliốp viết:
“Nhu cầu là sự đòi hỏi của cá nhân và của vài nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện để sống và phát triển Nhu cầu quy định hướng lựa chọn của ý nghĩa, rung cảm
và ý chí của con người Nó quy định hoạt động của cá nhân, nhóm xã hội và của cả một giai cấp, một dân tộc, một thời đại.
Nhu cầu của con người rất phong phú, đa đạng và không có giới hạn cũng như không bao giờ được hoàn toàn thỏa mãn Nó muôn màu muôn vẻ đối với mọi người, mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp, mọi thế hệ, mọi dân tộc Nhà tâm lý học Nema đã đưa ra hai nhận định
có tính chất quy luật về nhu cầu:
- Một nhu cầu đã thỏa mãn thì không còn là động lực thúc đẩy hành vi và ứng xử của con người trong xã hội nữa
- Hầu hết mọi người đều có một hệ thống nhu cầu Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu kia trở nên bức xúc hơn Con người không bao giờ thỏa mãn đầy đủ mọi nhu cầu Sự ước muốn của con người là vô tận dẫn đến hoạt động bất tận
Trong lĩnh vực pháp luật hình sự, nhu cầu thực hiện chức năng động lực thúc đẩy hành vi của người phạm tội Nó quy định xu hướng lựa chọn các ý định, động cơ, mục đích phạm tội Ngoài những đặc điểm của nhu cầu chung, nhu cầu của người phạm tội được đặc trưng bởi:
- Tính nhỏ nhen, hẹp hòi, nghiêng về vật chất, thực dụng
- Tính hẹp hòi của những nhu cầu xã hội cần thiết (nhu cầu lao động, nhu cầu đạo đức…)
- Tính cao siêu, vượt quá nhu cầu trung bình ngoài khả năng thỏa mãn cho phép
- Tính đồi bại, suy thoái
Nhu cầu con người và nhu cầu xã hội nói chung thường có phần cao hơn khả năng hiện có, đó là cơ sở cho sự phát triển đi lên Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa nhu cầu và khả
Trang 6năng thực tế có thể trở thành điều kiện (nhưng không phải nguyên nhân) của hành vi phạm tội (khi mức thỏa mãn nhu cầu quá thấp)
Nhu cầu quá lớn, lòng tham lam, tính đố kỵ, ý muốn “hơn người” thường dẫn đến hành vi tham ô, hối lộ, trộm cắp, cướp giật, cưỡng đoạt v.v
2.1.2 Lợi ích
Lợi ích là bậc thang từ nhu cầu đến hành vi, là sự nhận thức nhu cầu và so sánh nó với những điều kiện và công cụ, phương tiện thực hiện đang có Lợi ích cũng là xu hướng nhận thức đối tượng có ý nghĩa được cá nhân lựa chọn và có nội dung phong phú về mặt tình cảm
Lợi ích con người thể hiện ở mối quan hệ của cá nhân với điều kiện hiện tại, với cái ước muốn ở kế hoạch hoạt động sống của nó trong tương lai Đôi khi những dạng hành vi nhất định trở thành lợi ích độc lập của cá nhân, tách khỏi điều kiện xuất phát Hành vi vu khống, vu oan giá họa, đổ lỗi cho người khác, cãi cọ và thậm chí vi phạm pháp luật thường biểu hiện như hình thức biến dạng của sự khẳng định và của “tính tích cực xã hội”
2.2 Động cơ, mục đích, ý định phạm tội
2.2.1 Động cơ phạm tội
Động cơ, đó là các yếu tố chi phối hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân, là tập hợp các kích thích gây ra tính tích cực của cá nhân và quy định xu hướng của tính tích cực đó Động cơ chính là những nguyên nhân tâm lý bên trong quy định việc lựa chọn hoạt động của cá nhân, thúc đẩy và định hướng cho cá nhân theo hoạt động đó Trong hoạt động phạm tội, hành vi phạm tội được thúc đẩy bởi động cơ phạm tội Đó là yếu tố bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Chẳng hạn, sự ghen tuông, thù oán có thể thúc đẩy một người nào đó thực hiện hành vi giết người, cố ý gây thương tích
Sự xuất hiện động cơ phạm tội: Nhân tố nòng cốt của tội phạm là hệ thống các động
cơ trong nhân cách người phạm tội Động cơ phạm tội được hình thành từ nhu cầu của người phạm tội và chịu sự tác động bởi các yếu tố tâm lý tiêu cực bên trong cũng như sự tác động của điều kiện khách quan bên ngoài của người phạm tội
Trang 7Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực hoạt động của con người nói chung và của người phạm tội nói riêng Mọi hành vi phạm tội đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến
sự thỏa mãn nhu cầu của người phạm tội Nhu cầu của người phạm tội được hình thành và phát triển trong hoạt động của họ Đầu tiên nhu cầu của con người xuất hiện chưa rõ ràng,
cá nhân chưa nhận thức được mình thiếu hụt cái gì (nhà tâm lý học A.N Leonchiev gọi là một trạng thái có tính chất nhu cầu), sau đó nhu cầu được nhận thức ngày càng đầy đủ về đối tượng cũng như cách thức thỏa mãn nó (một nhu cầu thực sự) Khi đó, nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy cá nhân hoạt động chiếm lĩnh đối tượng Khi nghiên cứu về nhu cầu của người phạm tội, các nhà tâm lý học Nga G.G Bôcarieva và L.I Bôrovich đã chỉ
ra những nét đặc trưng là: Hệ thống nhu cầu của người phạm tội có tính nghèo nàn, hạn hẹp; có sự đòi hỏi quá cao của nhu cầu vật chất và nhu cầu sinh lý; có tính suy đồi trong việc thỏa mãn nhu cầu Chính những đặc điểm nhu cầu này khi gặp những điều kiện thuận lợi về mặt khách quan đã trở thành động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm Như vậy, động cơ phạm tội được hình thành trên cơ sở người phạm tội nhận thức được đối tượng và phương thức thỏa mãn nhu cầu của bản thân
Động cơ phạm tội là một yếu tố tâm lý phức tạp, nó không chỉ xuất hiện ở người phạm tội trên cơ sở các nhu cầu cấp bách mà cả những nhu cầu tiềm tàng Trong thực tế, hoạt động phạm tội thường do các động cơ sau thúc đẩy:
- Động cơ vụ lợi: Đây là động cơ gắn liền với những ham muốn vật chất, mong muốn
có tiền để thỏa mãn những nguyện vọng ích kỷ, mong muốn tích lũy làm giàu bất chính
Đó còn là những động cơ được nảy sinh bởi các ham muốn thái quá, phi đạo đức mà việc thoả mãn chúng dễ dàng gắn với nguy cơ phạm tội Chẳng hạn: nghiện ma tuý, say mê cờ bạc hoặc các nhu cầu giải trí có tính chất phi đạo đức
- Động cơ tình cảm: Đó là những động cơ được sinh ra và định hình do việc thường xuyên không thoả mãn các nhu cầu xã hội đơn giản, trước hết là nhu cầu được bảo vệ về thân thể và tinh thần, cũng như do tác động không thuận lợi có hệ thống từ môi trường xã hội gần gũi bên ngoài Các động cơ tình cảm có ý nghĩa phát sinh tội phạm như: các trạng thái xúc cảm tiêu cực kéo dài: cảm giác cô đơn, lo âu, bực bội, ghen tỵ và sâu sắc hơn là lòng căm hận, sự thù oán, ghen tuông,
Trang 8- Động cơ chính trị: Những động cơ này được hình thành từ nhận thức sai lầm, ảo tưởng, từ mâu thuẫn, bất mãn của các phần tử chống đối chế độ, chống đối Nhà nước, muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản
Nó cũng xuất phát từ sự thay đổi địa vị xã hội, liên quan đến lợi ích giai cấp của một
số người vốn có quan hệ chặt chẽ với chế độ cũ cả về chính trị và kinh tế Động cơ mang tính chính trị thể hiện ở những toan tính phản động; ý thức chính trị, quan điểm chống đối;
lý tưởng phản cách mạng; lòng hận thù giai cấp
Đối với các hành động phạm tội cố ý, động cơ là một yếu tố có tính chất bắt buộc trong việc xác định tính chất tội phạm Nghiên cứu động cơ phạm tội sẽ cho phép chúng ta xác định mức độ nguy hiểm của tội phạm, phân loại tội phạm, dự báo khả năng tái phạm
và có căn cứ để thực hiện chính sách hình sự đối với người phạm tội như: xác định khung hình phạt, áp dụng các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
2.2.2 Mục đích phạm tội
Khác với động cơ, mục đích hành động là biểu tượng, hình ảnh về kết quả sẽ đạt được khi thực hiện hành động Mục đích phạm tội là sự hình dung trong đầu óc về những gì sẽ đạt được qua hành động phạm tội sắp tới của cá nhân (Ví dụ như giết người để chiếm đoạt tài sản) Mục đích phạm tội được đặt ra trước khi chủ thể thực hiện hành động phạm tội Người phạm tội khi thực hiện hành động phạm tội cố ý đều nhằm tới những mục đích nhất định Nhưng chỉ có thể nói đến mục đích phạm tội của những hành vi phạm tội với lỗi cố
ý trực tiếp, vì chỉ trong trường hợp này người phạm tội mới có sự mong muốn gây ra tội phạm để đạt được mục đích nhất định
Động cơ phạm tội là nhân tố nòng cốt, thúc đẩy và kiểm soát toàn bộ hoạt động phạm tội của người phạm tội, mục đích phạm tội là sự nhận thức được tính tất yếu và khả năng
cụ thể của kết quả hành động phạm tội Nó xuất hiện trên cơ sở những động cơ nhất định thúc đẩy, gắn liền với sự phân tích, đánh giá cụ thể của cá nhân người phạm tội Động cơ phản ánh cái mà vì nó chủ thể thực hiện hành động, chẳng hạn như để thoả mãn nhu cầu nào đó Trong khi đó mục đích lại quy định trước cách thức và kết quả trực tiếp của các
Trang 9hành động, chẳng hạn như đi làm thuê kiếm tiền hay trộm cắp để thoả mãn nhu cầu tiền bạc của mình
Sự nảy sinh mục đích phạm tội: Cùng với việc xuất hiện động cơ phạm tội, ở người phạm tội cũng dần dần nảy sinh mục đích phạm tội Mục đích hành động được người phạm tội xác định và nhận thức như một yếu tố cần thiết và có khả năng thực hiện trong các điều kiện nhất định Nhận thức được nhu cầu, lợi ích của bản thân, người phạm tội phân tích hoàn cảnh thực tế và hình dung ra các khả năng phạm tội nhằm đạt được mục đích cụ thể Ban đầu, mục đích phạm tội xuất hiện còn mơ hồ do chủ thể chưa xác định được đối tượng của nhu cầu của bản thân Dần dần nó xuất hiện rõ ràng hơn khi chủ thể xác định được đối tượng cũng như phương thức thỏa mãn nhu cầu đó Lúc này, mục đích phạm tội trở thành ý định phạm tội với những tính toán bước đầu về cách thức, biện pháp,
kế hoạch hành động
Trong quá trình nảy sinh mục đích phạm tội, ở người phạm tội thường có sự cân nhắc, tính toán các khả năng đạt được mục đích bằng các biện pháp, phương tiện, trong các điều kiện, hoàn cảnh nhất định Nói cách khác, bên trong tư tưởng người phạm tội đã diễn ra quá trình phân tích, sàng lọc, suy nghĩ, tính toán để quyết định lựa chọn mục đích hành động phạm tội phù hợp
Đây là quá trình đấu tranh giữa các động cơ có tính chất trái ngược nhau nhằm giúp
cá nhân tìm ra lý do để bênh vực cho mục đích phạm tội mà mình đã lựa chọn
Trong các hành động phạm tội cố ý, đấu tranh động cơ là vấn đề có tính tất yếu, là quy luật bên trong của quá trình xác định mục đích phạm tội Đấu tranh động cơ để quyết định mục đích phạm tội thường diễn ra gay gắt, quyết liệt và căng thẳng Tính chất quyết liệt, căng thẳng của quá trình đấu tranh động cơ phụ thuộc vào:
- Tầm quan trọng của mục đích phạm tội mà cá nhân đang lựa chọn
- Tính cấp thiết của nhu cầu thúc đẩy cá nhân
- Sự khẩn trương của hoàn cảnh, tình huống phạm tội
- Kinh nghiệm, thói quen, vốn sống, nhất là kinh nghiệm phạm tội, sự từng trải và bản lĩnh hành động của chính người phạm tội
Trang 10- Trình độ nhận thức, ý thức pháp luật của cá nhân Đây cũng là yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình đấu tranh động cơ thông qua quyết định hành động ở người phạm tội Nhiều người vì thiếu hiểu biết về pháp luật, không phân biệt được đúng, sai, không thấy được nguy cơ bị pháp luật trừng trị, không ý thức được hoặc đánh giá thấp khả năng của người bị hại, của những người xung quanh hoặc đứng trước tình huống bị khiêu khích
từ phía người khác, chịu áp lực của những tên cầm đầu, chỉ huy hay từ phía đồng bọn mà thiếu suy nghĩ chín chắn, đầy đủ khi lựa chọn mục đích phạm tội Quá trình đấu tranh động cơ chỉ kết thúc khi người phạm tội chính thức lựa chọn mục đích phạm tội Vào thời điểm này, mục đích phạm tội đã xuất hiện rõ ràng trong đầu người phạm tội và đồng thời họ cũng đã có quyết tâm hành động để đạt mục đích cụ thể Mục đích phạm tội có quan hệ chặt chẽ với điều kiện thực hiện tội phạm, bởi vậy khi hoàn cảnh bên ngoài không phù hợp, có thể làm thay đổi mục đích hoặc làm xuất hiện ở cá nhân mục đích phạm tội mới
Sau khi chính thức quyết định mục đích phạm tội, trên cơ sở phân tích các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, người phạm tội bắt đầu suy nghĩ đến các phương án cụ thể phù hợp với khả năng của bản thân mình để thực hiện hành động phạm tội Họ tính toán kế hoạch hành động: thực hiện bằng cách nào, bằng phương tiện gì; ai cùng thực hiện; thời gian thuận lợi, địa điểm hợp lý để thực hiện tội phạm? Trên cơ sở đó, người phạm tội lựa chọn cho mình phương án hành động tối ưu nhất
Việc nảy sinh động cơ, mục đích phạm tội là một quá trình tâm lý phức tạp có quan
hệ chặt chẽ với nhân cách của người phạm tội cũng như các điều kiện khách quan khác Sự xuất hiện hoặc thay đổi động cơ, mục đích phạm tội tùy thuộc vào tính cấp bách của các nhu cầu, năng lực đánh giá tình huống cũng như các đặc điểm tính cách, ý chí của người phạm tội
Khi điều kiện bên ngoài thay đổi, có thể người phạm tội sẽ điều chỉnh, thay đổi động
cơ, mục đích hoặc xuất hiện động cơ, mục đích mới Người phạm tội cũng có thể hủy bỏ toàn bộ động cơ, mục đích phạm tội khi thấy rằng điều kiện khách quan là bất lợi cho quá trình phạm tội và trốn tránh pháp luật hoặc cho rằng việc từ bỏ, không hành động phạm tội nữa là khôn ngoan, là có lợi nhất cho mình Trong hoạt động phạm tội không phải hành vi phạm tội nào cũng có mục đích phạm tội Những trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp