Ngữ Văn 11 Trần Thị Ngọc Phượng THPT Chuyên Lê Hồng Phong 0914702708 Văn khoa Ngọc Phượng LHP 684/39 Trần Hưng Đạo, P2, Q 5 0981702708 1 VỘI VÀNG (Xuân Diệu) I KIẾN THỨC CƠ BẢN Cuộc sống là một mũi tê[.]
Trang 1VỘI VÀNG (Xuân Diệu)
Cuộc sống là một mũi tên lao thẳng về phía cái chết Khi lớn lên, chúng ta bị cuốn theo sự bận bịu thường ngày mà dần quên đi nỗi lo thường trực về sự tàn phá của thời gian Mỗi phút trôi qua là một khoảnh khắc của cuộc đời lại mất đi, mất đi Cách con người đối diện với thời gian đã sinh ra rất nhiều tác phẩm nghệ thuật Ở Việt Nam, thời kì 1930 – 1945, có một tác giả đã bước vào làng thơ với đôi tay bám riết lấy cuộc đời trần gian và đôi mắt dõi nhìn từng bước chân tàn nhẫn của thời gian Nhà thơ đó chính là
Xuân Diệu, thi sĩ của nỗi ám ảnh thời gian, của tình yêu, mùa xuân và tuổi trẻ
MỞ RỘNG
“Tôi như con bướm đắm
tình thương/ Bay vòng hoa
đẹp để vây hương/ Phấn
con bướm mỏng mà hương
rộng/ Tham chiếm hồn ai,
chỉ đoạn trường.” (Phơi
trải, Xuân Diệu); “Yêu
ngẩn ngơ rồi đau xót xa/
Số anh là khổ, số anh là/
Suốt đời nuốt lệ vào trong
ngực/ Đem ái tình dâng kẻ
phụ ta.” (Muộn màng,
Xuân Diệu)
Ở các nhà thơ lãng mạn, cá
tính được giải phóng, tâm
hồn được mở rộng và trí
tưởng tượng được khai
thác tối đa Con người
trong thơ lãng mạn là con
người của cảm nhận và
giãi bày những cảm xúc,
khát khao, dục vọng, đam
mê của mình… Các nhà
thơ lãng mạn dùng nhịp
đập sôi nổi của trái tim
1 TÌM HIỂU CHUNG:
- Tên thật: Ngô Xuân Diệu Bút danh: Trảo Nha
a Quê hương và gia đình
- Quê Cha: Hà Tĩnh Quê Mẹ: Bình Định
- Lớn lên ở Qui Nhơn – vùng biển, có nhiều cảnh sắc thiên nhiên đẹp, đặc biệt
là ngọn gió nồm nam
- Thừa hưởng những đức tính cần cù, nhẫn nại, chăm chỉ của người cha là ông
đồ xứ Nghệ
- Là con vợ lẽ, sớm phải sống xa cha mẹ, thường bị hắt hủi nên luôn khao khát tình thương và sự cảm thông
" Xa gia đình từ nhỏ, sống ở nhiều nơi, mỗi vùng đất có ảnh hưởng nhất định đến hồn thơ của ông
b Con người và thời đại
- Đỗ tú tài và đi dạy học tư, làm viên chức: Ông là một trí thức Tây học chịu ảnh hưởng và hấp thụ văn hoá Pháp; đồng thời cũng thừa hưởng truyền thống văn hoá phương Đông
- Thời đại nhiều biến động, trong đó Cách mạng tháng Tám đánh dấu bước thay đổi quan trọng trong cảm hứng sáng tác của Xuân Diệu
c Sự nghiệp văn học
- Xuân Diệu là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn để lại cho đời khối lượng tác phẩm đồ sộ với một đam mê sáng tạo như muốn chạy đua với thời gian
- Sáng tác của ông chia làm 2 giai đoạn: trước và sau Cách mạng tháng Tám
Các tác phẩm chính: (khoảng trên 500 bài thơ) Thơ thơ (1938), Gửi hương cho
gió (1945), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962), Hai đợt sóng
(1967) ; các tập văn xuôi: Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945)…
- Ông hoàng của thơ tình yêu: Phong cách thơ: sôi nổi, đắm say, yêu đời, yêu cuộc sống thắm thiết, cuồng nhiệt
- Vài nét đặc trưng trong thơ ca Xuân Diệu:
+ Tư tưởng chi phối toàn bộ sáng tác của Xuân Diệu là “niềm khao khát giao
cảm với đời” Ông muốn chia sẻ, giao hoà tâm hồn sôi nổi và tinh tế của mình
với muôn người, với hôm nay và mai sau Đồng thời ông cũng luôn muốn khẳng định “cái tôi” cá nhân độc đáo, mạnh mẽ và đầy nhiệt huyết của mình + Thế giới thiên nhiên và con người trong thơ ca Xuân Diệu là một thế giới tràn đầy sự sống với bao vẻ đẹp trần thế rất bình dị, gần gũi mà đắm say vô
tận, vô cùng “Xuân Diệu là nhà thơ của niềm giao cảm hết mình giữa con
người và con người, một phát hiện về niềm hạnh phúc tuyệt vời mà cuộc sống trần thế này đã ban phát cho nhân loại.” (Nguyễn Đăng Mạnh) Một thế giới
như thế luôn kêu gọi, mời chào con người sống hết mình, sống mãnh liệt –
“Sống toàn tâm, toàn trí, sống toàn hồn ” Và vì thế phải sống nhanh, sống
Trang 2mình để tìm thấy cái tươi
mới, trẻ trung trong vạn
vật bên ngoài
Thơ ca lãng mạn chính là
“cuốn nhật kí của những
cảm xúc” (Girmunsky)
Lời tựa tập Gửi hương cho
gió: “Người hãy mở tay,
người hãy mở lòng mà đón
lấy! Đây là lòng tôi đương
thời sôi nổi, đây là hồn tôi
vừa lúc vang ngân; và đây
là tuổi xuân, là sự sống
của tôi nữa, tôi đem mà
tặng cho người trong mấy
bài thơ đây.”
Nên nhớ chính Xuân Diệu
cũng là người ý thức rất rõ
sự cô đơn của mình giữa
thế giới Nhưng ông
không trốn tránh, cũng
không chối bỏ thế giới này
mà ngược lại nhà thơ
muốn dùng cái ăm ắp đầy
tràn trong tâm hồn để sưởi
ấm cuộc đời, khoả lấp hố
thẳm giữa nội tâm và
ngoại giới
Tôi vốn biết cuộc đời
thường đạm bạc
Nên mang theo từng suối
rượu nguồn tình
Đem mến yêu làm cho
cảnh thêm xinh
Cứ phong nhã để cho
người bớt tục
Để lây lửa chuyển những
lòng giá đúc
Phải ấm lên vì bắt chước
tôi nồng
(Chỉ ở lòng ta, Xuân Diệu)
gấp, phải “Vội vàng”, “giục giã” chứ không thể dửng dưng lạnh nhạt với thời
gian đang một đi không trở lại
+ Mảng thơ đặc sắc nhất của Xuân Diệu là thơ tình Đây cũng là mảng thơ giúp ông thể hiện niềm khát khao giao cảm với đời một cách mãnh liệt nhất, sâu sắc
và toàn vẹn nhất Với ông, tình yêu bao giờ cũng đòi hỏi sự khát khao vô biên,
vô cùng và vĩnh viễn Một tình yêu như thế, ông không thể tìm thấy ở cuộc sống thị dân, ích kỉ tính toán, chật hẹp và tù túng trước đây Vì thế nội dung chính trong thơ tình Xuân Diệu là những nỗi đau đớn của một trái tim đầy nhiệt huyết mà không được đáp đền; một nỗi cô đơn, giá lạnh trước tình người và
tình đời nhạt nhẽo “…chính ngay nơi ấm cúng này (tình yêu) lại thấm thía nỗi
cô đơn và con người vẫn tự chia sẻ ra nhiều ngăn cách.” (Hà Minh Đức)
+ Tạo nên cái tân kì trong thơ Xuân Diệu thực ra không phải ở thể loại mà là
ở cách nhìn nhận và cảm thụ thế giới Ảnh hưởng sâu đậm thơ ca hiện đại phương Tây, đặc biệt là thơ tượng trưng Pháp, Xuân Diệu đã tìm được cách chiếm lĩnh thế giới, mô tả, thể hiện cuộc sống và tâm hồn con người một cách tinh vi, màu nhiệm bằng cách sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, sáng tạo, đề cao nhạc tính và tăng cường sự cảm nhận của các giác quan
a Xuân Diệu: là một nhà thơ mới, “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh), được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
1996
1.2 Tác phẩm: “Vội vàng”:
a Xuất xứ: In trong tập “Thơ thơ”, là một trong những bài thơ tiêu biểu
nhất của Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám
b Bố cục: 3 đoạn:
+ Đoạn 1: 13 câu đầu:
"Tình yêu cuộc sống say mê, tha thiết của nhà thơ
+ Đoạn 2: 16 câu tiếp:
" Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời
+ Đoạn 3: 9 câu cuối:
" Khát vọng sống, khát vọng yêu cuồng nhiệt, hối hả
• Mạch cảm xúc và tâm trạng thi nhân:
- Phần 1 (đoạn 1 + 2): Lập thuyết: Tác giả xưng “tôi” để bày tỏ quan niệm
của mình Nội dung nghiêng về lí thuyết:
+ Bắt đầu từ những khát khao tưởng như phi lí, muốn đi ngược lại quy luật tạo hoá
+ Nguyên nhân: Cuộc sống trần gian đầy hương sắc;
+ Điều đó dẫn đến nhận thức: Nhưng cuộc sống ấy không thể tồn tại mãi mãi Mùa xuân của đất trời tuần hoàn còn tuổi xuân con người một đi không trở lại
- Phần hai (còn lại): Thi sĩ xưng “ta” là muốn đối diện với toàn thể sự sống
trần gian – đối tượng cần tận hưởng Nội dung cảm xúc thể hiện rõ ở những
hành động vô vập, chếnh choáng của một cái tôi đầy ham muốn, đang muốn
tận hưởng cho thật nhiều, thật đã đầy những hương sắc trần thế Nội dung
nghiêng về “thực hành”: Vội vàng là phải thế nào?
- Hai phần này chuyển tiếp rất tự nhiên về cảm xúc, rất chặt chẽ về luận lí Nó khiến cho bài thơ liền mạch và hoàn chỉnh cứ như một dòng chảy ào ạt, hoàn toàn hồn nhiên của tâm trạng Ngỡ như thi sĩ không phải dụng công trong việc cấu tạo, thiết lập, sắp xếp gì vậy Đây chính là một thành công đáng kể của thi phẩm
Trang 3§ Nhận xét:
- “Giá trị của tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó Nhưng là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc tình cảm, chứ không phải cái tư tưởng nằm thẳng đơ trên trang giấy…” (Nguyễn Khải)
- “Bài thơ là một bản tuyên ngôn cho một tư tưởng nhân sinh của Xuân Diệu,
nhưng tuyên ngôn ấy được thể hiện bằng hình tượng thơ ca sinh động và đầy xúc cảm, giàu tính nghệ thuật, chứ không phải là sự minh hoạ giản đơn cho triết lí nhân sinh của nhà thơ.” (Nguyễn Đăng Mạnh)
2 ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
2.1 Đoạn 1: Tình yêu cuộc sống say mê tha thiết của nhà thơ:
a 4 câu đầu:
- Cách xưng hô: đại từ “TÔI”
+ Nhấn mạnh khao khát cá nhân, cá thể: đó là cơ sở của cảm xúc và suy tưởng trong bài thơ này
+ Thi sĩ muốn bộc bạch với mọi người, với cuộc đời
+ So sánh:
Nhấn mạnh cái “ta”, cái chung, tiếng nói của cá thể hoà nhập với tiếng nói của cộng đồng
Khai thác cái “tôi”, tìm về những cảm xúc, suy tưởng, khát khao… riêng tư của từng cá thể
- Khát vọng: “Tắt nắng”, “buộc gió”:
+ Những điều không thể làm được vì nó đi ngược lại tạo hoá: thi sĩ muốn níu
giữ lại dòng chảy nghiệt ngã của thời gian đang chuyển di trên từng tạo vật
+ Nhà thơ chấp nhận tắt nắng ngay lúc nó còn đẹp đẽ, chấp nhận buộc gió ngay lúc nó còn tỏa hương để giữ lại cho mình khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của hương sắc cuộc đời chứ không muốn chứng kiến sự tàn phai của tạo vật
" Khẳng định ước muốn táo bạo, mãnh liệt, muốn ngự trị thiên nhiên, thay quyền tạo hóa + Ý tưởng mới lạ, độc đáo, in dấu ấn những cách tân nghệ thuật thơ Mới và dấu ấn cá tính sáng tạo của Xuân Diệu
- Tác giả không dùng “không” mà là “đừng”: khát khao nhưng cũng hiểu rằng
đó là sự khát khao trong bất lực bởi con người đâu thể cưỡng nổi bước đi của thời gian vô tình
ð Bốn câu thơ gửi trọn cảm xúc và ý tưởng chủ đạo của cả bài thơ nên có
giá trị như một lời đề từ: Tình yêu tha thiết, say mê dành cho vẻ đẹp cuộc đời + Nỗi ám ảnh thời gian
ð Nghệ thuật: Câu thơ 5 chữ; Điệp từ ngữ, cấu trúc câu; Kiểu câu khẳng
định mạnh; Động từ “tắt”, “buộc”: rất Xuân Diệu;
b Vẻ đẹp cuộc sống trần gian
- Nhận xét chung:
+ Xuân Diệu là một nhà thơ Mới, là một cây bút lãng mạn chủ nghĩa Nói như
Bielinsky: “Các nhà lãng mạn có một mối thâm thù với thực tại” Trong giai
đoạn văn học lãng mạn của Việt Nam, hầu như các tác giả lãng mạn đều tìm cách trốn tránh thực tại: Chế Lan Viên tìm về thế giới của Chiêm thành đổ nát,
Vũ Hoàng Chương tìm đến rượu và thuốc phiện… Chỉ riêng Xuân Diệu lại không những không trốn tránh cuộc đời mà còn tìm đến những vẻ đẹp tươi mới
của nó Lầu thơ Xuân Diệu “xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”
(Thế Lữ) Điều đó thể hiện rất đậm nét trong đoạn thơ đầu:
Trang 4“Này là đoá hoa, thơm
như tình ái; này là hạt
sương, này là con bướm,
này nữa đàn chim… Anh
giao cho em mây sớm an
lành; anh giao cho em
nắng vàng thương nhớ Và
giao cho em cả gió, cả
trăng… Yêu đi em, hưởng
đi em! Đó là tất cả cái kho
của tuổi xuân; mở ra mà
thưởng thức.” (Trường ca,
Xuân Diệu)
“Vườn cười bằng bướm,
hót bằng chim
Dưới nhánh không còn
một chút đêm
Những tiếng tung hô bằng
ánh sáng
Ca đời hưng phục trẻ
trung thêm.”
(Lạc quan, Xuân Diệu)
“Thời gian đương đi qua,
đôi cặp môi người đóng
dấu vào nhau để lấy một
phút giây cực lạc, cùng
khắn ép một quãng nhỏ
không gian; và từ ấy,
trong kỉ niệm trăm năm,
còn mãi một điểm hồng
Điểm hồng trong trí nhớ,
làn điện tê buốt ở đầu
môi.” (Xuân Diệu)
+ Đoạn thơ “của ong bướm… hoài xuân”: Tác giả giãi bày cho cái ước muốn
tưởng như “ngông cuồng” của mình bằng một bức tranh tràn đầy sinh lực, ngồn ngộn sức xuân, sắc xuân, hương xuân và tình xuân
- HÌNH ẢNH: “Ong bướm”, “hoa”, “lá”, “yến anh”:
+ Những tạo vật thiên nhiên bình thường trong mùa xuân, qua đôi mắt Xuân Diệu trở nên đẹp đẽ, mới lạ
+ Gợi nên những vẻ đẹp hoàn thiện, lộng lẫy và tươi mới, thanh tân của
mùa xuân + Các tạo vật đều đi thành đôi, thành cặp: Ong bướm quấn quýt,
dập dìu; hoa nở nộ trên đồng nội; ngay cả đồng nội cũng xanh rì sắc cỏ; lá là
lá của cành tơ phơ phất – cái lá non tơ đầu mùa, chữ “tơ” thay vì “non” cũng gợi lên một cái gì tươi mới, trẻ trung “Yến anh” tức chim yến và chim oanh
là hình ảnh lứa đôi viên mãn
ð Cách tổ chức không gian đặc biệt:
+ Sự vật đa dạng (từ nhỏ - ong
bướm, đến rất lớn – hoa của đồng nội, đến rất cụ thể - lá của cành tơ,…);
+ Đồng loạt xuất hiện
+ Có cùng một tính chất, đặc điểm chung: tươi mới, đẹp đẽ, hạnh phúc, giàu sức sống
+ Cùng tôn nhau lên tạo thành một chỉnh thể mùa xuân tràn đầy sức sống
+ “Áng sáng chớp hàng mi”: Xuân Diệu hình dung bình minh như một người
con gái vừa tỉnh dậy sau đêm dài, chớp hàng mi để rồi bừng ra muôn ánh sáng
Liên hệ: Trong “Trường ca”: “Mi của ánh sáng thật dài, tia của ánh sáng thật
đượm […] Con mắt điện quang thấu suốt muôn trùng.” (Xuân Diệu) Ánh
sáng của bình minh kéo theo niềm vui trần thế Xuân Diệu đã hình tượng hoá
niềm vui thành một vị thần – Thần Vui “Ánh sáng bắn tin truyền hịch, đưa lệnh khắp hang cùng núi hẻm, báo rằng: “Sắp sửa tin vui!” (Trường ca) Mỗi
ngày mới bắt đầu là một ngày hạnh phúc mới Mỗi buổi sáng là một lần tái sinh của thiên đường trần gian
+ Đặc biệt nhất: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” – Tác giả đã hình
tượng hóa, hình thể hóa vẻ đẹp mùa xuân trong một phép so sánh, một tính từ
“ngon” và trong một hình tượng giàu giá trị biểu đạt: “cặp môi gần” Vẻ
đẹp mùa xuân trở nên quyến rũ, đầy sức hấp dẫn trong sự viên mãn và căng đầy của nó Hình ảnh cặp môi gần cũng khơi gợi cho người ta cái cảm giác muốn được đến để chiêm ngưỡng và cảm nhận vẻ đẹp tuyệt mỹ của thiên nhiên, đất trời trong mùa xuân Khoảnh khắc mãnh liệt nhất của khát khao chính là khi kề cận điều mình khao khát mà vẫn chưa chạm được đến nó (hay sắp chạm
được đến nó) – cặp môi gần Nụ hôn trong quan niệm của Xuân Diệu mang ý
nghĩa đặc biệt: Đẹp nhất của tuổi trẻ là tình yêu mà biểu hiện cao nhất của tình yêu là nụ hôn
" Lối diễn đạt độc đáo, mới lạ + Vật chất hóa khái niệm thời gian “tháng
giêng” bằng “cặp môi gần” Truyền cảm giác đến người đọc bằng tính từ
“ngon, gần”; Có ý nghĩa bao quát cả đoạn vừa gợi hình thể vừa gợi cả hương
thơm và vị ngọt khiến ta say đắm, ngây ngất
" Thi sĩ chào đón, chiêm ngưỡng cuộc sống bằng “cặp mắt xanh non” của
tuổi trẻ, vừa ngỡ ngàng, vừa say đắm ngây ngất Thế giới đó, cái nhìn đó là kho báu của tuổi trẻ mà hơn một lần ông mời gọi con người, nhất là những người trẻ, phải mở hết lòng mình để tận hưởng nó
- TỪ NGỮ:
Trang 5Cái tôi say sưa bỗng
thoáng hiện sự bất an Đó
là một cảm thức rất chung
của thế hệ thanh niên Việt
Nam thời đó Cái thiên
đường trần gian chỉ là lâu
+ Hàng loạt từ “Này đây…” mở đầu + Liệt kê theo chiều tăng tiến “Này
đây…” là một cụm từ dùng để giới thiệu, cũng là một cụm từ thể hiện niềm
say sưa và sự phát hiện Tác giả như hào hứng kéo tay người đọc để chỉ cho
họ thấy từng phương diện khác nhau trong vẻ đẹp của mùa xuân mà ông đã
phát hiện ra bằng cặp mắt yêu đời say đắm Điệp cấu trúc “Này đây…” cũng
góp phần làm cho mạch thơ thêm mạnh mẽ, giọng thơ thêm sôi nổi, thiết tha
tỏ rõ tấm lòng thi sĩ
+ Các từ ngữ đặc tả mùa xuân liên tiếp xuất hiện: “tuần tháng mật” (tuần trăng
mật hay tuần tháng mùa xuân ngọt ngào như mật); Màu xanh “rì” của cỏ nội
tạo thành một phông nền êm mát; “khúc tình si” là khúc hát của mùa xuân,
khúc hát của những nỗi lòng giao hòa giao cảm, khúc hát đắm say của tình yêu đôi lứa Từ láy (phơ phất), từ ghép (xanh rì)
- NHỊP ĐIỆU: gấp gáp, khẩn trương
" Sự sung sướng, ngây ngất vừa có gì như hối thúc, giục giã: cuộc sống là thiên đường trần gian, hãy tận hưởng, tận hưởng và tận hưởng…
MÙA XUÂN + TÌNH YÊU + TUỔI TRẺ = Thiên đường trên mặt đất của
Xuân Diệu Linh hồn của thiên đường ấy nằm trong hai chữ “xuân tình”:
+ Xuân Diệu đã làm sống dậy nét quyến rũ, sự tình tứ, vẻ kì thú ngay trong những cảnh sắc sự vật tự nhiên quen thuộc, đem đến những cảm nhận tinh
vi về thời gian, không gian, làm sống dậy vẻ thơ mộng và cả những tình thái
tế nhị thật bất ngờ trong thiên nhiên mà bao trùm lên tất cả là cái nhìn tình
tứ về sự vật Nhờ đó mà từng cảnh sắc đều tình tứ, mọi cảnh vật đều tràn ngập xuân tình Từ những hình sắc cụ thể theo lối đặc tả cận cảnh đến toàn thể thiên nhiên rộng lớn theo lối bao quát toàn cảnh thường hiện ra trong dáng nét của giai nhân, tình nhân tràn trề xuân sắc
+ Xuân Diệu nhìn sự tươi mới, thanh tân của sự vật bằng cái nhìn luyến ái đầy khát khao chiếm hữu Xuân Diệu dùng cái xuân tình trong lòng mình
để cảm nhận vẻ xuân tình trong vạn vật: Tình là nội dung, xuân là hình
thức; Tình dậy men bên trong, phát lộ thành mùa xuân bên ngoài; Vẻ xuân của vạn vật là hiện thân của tình
ð Xuân Diệu ý thức sâu sắc: Giá trị lớn nhất của đời người là tuổi trẻ
mà hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ là tình yêu: Cách nhìn tích cực, tinh thần nhân văn mới
§ Quan niệm thẩm mỹ mới:
- Xuân Diệu ngơ ngác, vui sướng như lần đầu tiên thấy cảnh hoa lá, bướm
ong; “cái gì cũng lạ, cũng đẹp, cũng non tươi, cái gì cũng mê, cũng say…
Nhưng đối với Xuân Diệu, thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất vẫn là vì có con người, con người giữa tuổi trẻ và tình yêu.”
- Thơ xưa lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người, Xuân Diệu đưa ra một quan niệm mới: Con người khi đang độ thanh xuân, khi đang yêu đương chính là hình ảnh đẹp nhất Đó mới là chuẩn mực cho cái đẹp trên thế gian này Con người trở thành thước đo thẩm mỹ của vũ trụ
2.2 Đoạn 2: Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời:
- Xuân Diệu yêu đời, nhưng cái nhìn của ông không thuần tuý chỉ có tình yêu
Đó là cái nhìn mang tính lưỡng cực: vừa khắc hoạ thiên nhiên trong “thời tươi” lại vừa cảm nhận sâu sắc “độ phai tàn” của nó: “Tôi sung sướng Nhưng vội
vàng một nửa”:
Trang 6đài cát chóng tan Thời
gian đi qua đã tiêu huỷ tất
cả những gì là đẹp đẽ nhất
trong cuộc đời
Vừa mới khi mai tôi cảm
thấy
Trong tay ôm một bó hoa
cười
Ngọn gió thời gian không
ngớt thổi
Giờ tàn như những cánh
hoa rơi
(Giờ tàn, Xuân Diệu)
Hoa nở để mà tàn
Trăng tròn để mà khuyết
Bèo hợp để mà tan
Người gần để li biệt
Hoa thu không nắng cũng
phai màu
Trên mặt người kia in nét
đau
(Hoa nở để mà tàn, Xuân
Diệu)
Thật ra đó là cảm quan đã
không ít lần xuất hiện
trong thơ cổ “Nhãn khan
xuân sắc như lưu thuỷ/
Kim nhật tàn hoa tạc nhật
khai” (Kìa trông màu xuân
trôi qua như nước chảy/
Bông hoa hôm kia nở,
hôm nay đã tàn rồi, Yến
Đông Thành trang,
Nhưng ở Xuân Diệu nó trở
thành một niềm ám ảnh
không dứt, nó ăn sâu vào
trong mọi cảm nhận ở tâm
hồn thi sĩ mà phổ lên mọi
+ Đây là câu bản lề trong cả bài thơ này, nó là chỗ gãy khúc của tâm trạng: một mặt khép lại tâm trạng say sưa của tác giả với vẻ đẹp của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ; mặt khác mở ra tâm trạng hoài nghi, chán nản của thi sĩ trước những thực tế nghiệt ngã của cuộc đời
Khép lại tâm trạng say sưa Mở ra niềm hoài nghi, lo lắng
“Tôi sung sướng”: đây là sự kết
luận, một câu tổng kết lại cảm xúc của Xuân Diệu trước vẻ đẹp tuyệt mỹ của mùa xuân mà ông đã say sưa tô
vẽ ra cho người đọc
“Nhưng vội vàng một nửa”: tâm
trạng đang lên cao bỗng nhiên bị chặn lại, bởi một dấu chấm câu phân tách câu thơ thành hai nửa, cũng bởi
từ “nhưng” dự báo một điều gì
không thật trọn vẹn sẽ đến ở phía sau
ð Thi sĩ say riết trước cuộc đời nhưng vẫn tự nhủ lòng phải vội vàng một
nửa: “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” Hoài xuân là nhớ xuân,
tiếc xuân khi mùa xuân chỉ mới bắt đầu; Giữa âm điệu hoan lạc, vui tươi bỗng thoáng ngỡ ngàng, hụt hẫng: Tác giả không đợi mùa xuân
qua đi mới hoài xuân, mới biết tiếc nhớ mùa xuân mà ông luyến tiếc
mùa xuân chính cả khi nó đang còn hiện diện đẹp đẽ nơi đây Niềm luyến tiếc này là một dự cảm về tương lai, bộc lộ nỗi ám ảnh sâu sắc của thi nhân trước sự hữu hạn của mùa xuân tuổi trẻ
§ “Xuân đương tới… cũng mất”:
- Quan niệm về thời gian: Giọng thơ chuyển sang buồn thương, triết lí Tác
giả sử dụng phép liệt kê, phép điệp kết hợp cách diễn đạt mang tính định nghĩa
(nghĩa là), là đặc trưng của lối thơ triết luận, để đưa ra quan niệm của mình về
thời gian Đó không phải là những mệnh đề rút ra từ lí trí mà là những triết lí được đúc kết từ chính cảm nhận sâu sắc, thấm thía của tác giả về nhân sinh
+ “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua”: Xuân Diệu cảm nhận được
bước đi của thời gian trên từng tạo vật, ông hiểu điều muôn đời không thể đổi thay: cái đang tới, cái đang sinh sôi cũng chính là cái đang đi về cõi chết, cái đang lụi tàn và hoại diệt Cuộc sống trong thơ Xuân Diệu không tĩnh tại, nó là
sự sống đang thành hình, đang chuyển động, cũng có nghĩa là đang đi về phía
cái chết và sự tàn phai như lẽ tất yếu của sinh – trụ – hoại – diệt
+ “Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”: Vế thứ nhất (xuân còn non) là nhận thức về thế giới tươi trẻ trong hiện tại Vế thứ hai (xuân sẽ già) là tiên cảm về
điều sẽ xảy ra: mùa xuân sẽ lụi tàn Xuân Diệu say sưa với cuộc đời nhưng cũng không quên rằng đằng sau vẻ tươi mới đó chính là cái bóng của tuổi già,
sự héo mòn Cặp đối ngẫu “non” – “già” càng tô đậm thêm nữa sự nghiệt ngã
của quy luật thời gian đối với cuộc đời của con người và hình sắc của tự nhiên
+ “Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”: Thi sĩ gắn mùa xuân với chính cuộc đời mình Xuân không còn, tuổi trẻ không còn thì “tôi” cũng không còn bởi
cái tôi ấy sống với mùa xuân, với tuổi trẻ Tâm hồn ông hòa nhập và giao cảm với vẻ đẹp của cuộc đời, vẻ đẹp của tuổi xuân Mùa xuân không còn, tuổi xuân
qua đi, tình yêu mất mát cũng đồng nghĩa với cái chết tâm hồn của tác giả
ð Tiểu kết: Kết hợp liệt kê, lặp cấu trúc câu với các cặp tương ứng
“đương tới – đương qua, còn non - sẽ già, xuân hết – tôi cũng mất”: Nhấn mạnh điều tất yếu có tính qui luật của tự nhiên Từ đó cho thấy nỗi day dứt, niềm tiếc nuối khôn nguôi của một trái tim vốn rất nhạy cảm, yêu đời, khát khao giao cảm với đời
Trang 7vật xung quanh ở độ tinh
vi nhất
“Không còn ngươi, thôi
cái gì cũng mất
Tài năng chi, danh vọng
kể làm chi
Kể chi tiền với một kẻ mê
si
Chỉ thấy nghĩa trong ái
tình vĩnh viễn…”
(Thanh niên, Xuân Diệu)
“Ý thức hoàn toàn mới mẻ
về cá nhân, niềm mong
muốn khẳng định cái tôi
cá thể giữa cuộc đời trở
thành động lực sáng tạo
Bởi vậy sự tự ý thức về
thân phận, niềm mong
muốn giải trình những
nhận thức riêng về cuộc
đời, những đam mê và bi
kịch của mình đã khiến
Xuân Diệu tìm đến kiểu
§ Quan niệm mới về thời gian:
- Cần hiểu rằng thời gian trong vũ trụ này thì muôn đời vẫn thế Chỉ có quan niệm của con người về thời gian thì đổi thay Sự đổi thay này có thể do trình
độ nhận thức khoa học, ý thức triết học, ý thức thẩm mỹ của mỗi thời một khác
- Trong “Vội vàng”, Xuân Diệu đã đưa ra một quan niệm mới của mình về
thời gian
+ Cách thức trình bày của Xuân Diệu là “chống đối”, “tranh cãi” lại quan niệm xưa, đồng thời bộc bạch quan niệm của mình bằng một cảm xúc sôi nổi, cuồng nhiệt – nghĩa là bằng một dạng ý thức triết học đã được thấm nhuần cảm xúc
- Quan niệm cũ về thời gian mà Xuân Diệu muốn chống đối là thời gian tuần hoàn Nghĩa là thời gian được hình dung như một vòng tròn liên tục tái diễn, hết một vòng quay lại về điểm xuất phát, cứ trở
đi rồi trở lại mãi mãi Mà đã là vòng tuần hoàn thì những thời khắc, thời đoạn của nó có ra đi rồi cũng sẽ quay trở về
- Người xưa dùng vũ trụ làm thước đo thời gian Thời gian vũ trụ và thời gian của đời người hoà nhập vào nhau
- Xuân Diệu đã lựa chọn cho mình một quan niệm khác: thời gian tuyến tính Nghĩa là thời gian được hình dung như dòng chảy xuôi chiều, một đi không trở lại Vì thế, mỗi khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn động, rất biện chứng về
vũ trụ, về thời gian
- Xuân Diệu dùng sinh mệnh cá thể làm thước đo thời gian, tức là lấy cái hữu hạn của sinh mệnh để đo đếm thời gian trong vũ trụ Thời gian vũ trụ và thời gian của đời người không trùng nhau
- Nghịch lý của đời người:
+ “Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật/ Không cho dài thời trẻ của nhân
gian”:
ü “Lòng tôi rộng”: Tâm hồn con người rộng mở và đầy khao khát: khát khao giao cảm, khát khao hòa nhập, khát khao tận hưởng cuộc sống… Với Xuân Diệu, một người bám riết cõi đời bằng niềm mê say tha thiết, nỗi khát khao ấy lại càng sâu sắc hơn nữa Và hơn nữa cuộc đời này cũng quá đẹp để sống, để yêu và tận hưởng
ü “Lượng trời cứ chật”: Thời gian mà tạo hoá ban cho đời người là ngắn ngủi, hữu hạn
ü Đây là nghịch lí mà cũng là điều tất yếu đối với một tâm hồn như Xuân Diệu: biết bao nhiêu thời gian cho vừa với khát khao giao cảm mãnh liệt
đến cuồng nhiệt của ông? – “Sống, tất cả sống, chẳng bao giờ đủ.” (Thanh
niên, Xuân Diệu)
+ “Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,/ Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm
lại!”:
ü Mùa xuân rồi sẽ tuần hoàn, thời gian vô thủy vô chung sẽ còn lặp lại trăm vạn lần nữa trong nhân gian này Nhưng cái tuần hoàn không thôi của thiên nhiên chỉ làm đau đớn thêm lòng người khao khát sống
ü Tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Chẳng có tuần hoàn nào cho tuổi trẻ của chúng ta Vậy thì mùa xuân có trở lại trăm vạn lần nữa cũng không còn ý nghĩa gì Bởi mùa xuân chỉ có ý nghĩa khi nó gắn với tình yêu và tuổi trẻ
Trang 8câu thơ định nghĩa.” (Lê
Quang Hưng)
cũng như tình yêu và tuổi trẻ sẽ làm nên mùa xuân Tình yêu, tuổi trẻ và mùa xuân là một thể thống nhất Thậm chí sự trở lại của mùa xuân còn là lời loan báo cho sự ra đi của tuổi xuân
+ “Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,/ Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất
trời;”: Tác giả ngậm ngùi nhận thức về quy luật không thể khác của hóa sinh:
“tiếc cả đất trời”, tiếc cả cuộc đời mà rồi đây mình sẽ bỏ lại
§ Liên hệ: Ngay cả những dòng thơ gửi lại trước khi chết, Xuân Diệu vẫn
chưa thôi yêu thương cuộc đời, yêu quý tình người: “Hãy để cho tôi
được giã từ/ Vẫy chào cõi thực để vào hư/ Trong hơi thở chót dâng trời đất/ Cũng vẫn si tình đến ngất ngư.” (Chấp nhận) Một trái tim yêu mãnh
liệt đến như thế sao không khỏi bâng khuâng, tức giận khi nghĩ đến việc mình sẽ phải rời xa thế giới này?
" Tiểu kết: Nghệ thuật: Sử dụng biện pháp đối lập; Dùng nhiều phụ từ và từ
quan hệ: nhưng, làm chi, nếu, chẳng, chẳng còn, nên,…; Có giá trị biểu đạt -
lý luận từ trái tim, đó là luận đề thấm đẫm cảm xúc Nội dung: Nỗi bâng
khuâng, tiếc nuối ám ảnh cái nhìn vạn vật của nhà thơ: Thái độ tức giận trước hiện thực thô bạo, phũ phàng của thời gian Đó là cách giải thích của nhà thơ
khi nhận ra giới hạn của cuộc đời
- Cảm nhận về thời gian – cảm thức chia phôi: Lòng đã sẵn nỗi buồn thương
trước sự chia lìa của mình và vạn vật, Xuân Diệu dùng đôi mắt ấy để soi chiếu vào thế giới và từ đó ông nhận ra cảm thức chia phôi hiện diện trong trời đất Cảm nhận thời gian của Xuân Diệu là cảm nhận đầy mất mát, đó chính là một phần đời trong sinh mệnh cá thể đã mất đi vĩnh viễn, thấm thía hơn, là một phần vô cùng quý giá của tuổi trẻ đã mất đi vĩnh viễn
+ “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,/ Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn
biệt…”:
ü Mở rộng: Câu thơ là một đại diện tiêu biểu cho sự ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp đối với thơ Xuân Diệu Thơ tượng trưng tin rằng đằng sau thế giới có thể cảm nhận bằng các giác quan riêng lẻ có một thế giới
thực ẩn giấu Các nhà thơ tượng trưng có khả năng cùng lúc phân tán và
hội tụ các năng lực cảm biến: họ nghe ánh sáng, thấy được mùi vị, biết
hương của âm thanh… Riêng trong câu thơ này, Xuân Diệu cảm nhận sự
chia phôi bằng nhiều giác quan: “mùi tháng năm” (khứu giác) – “rớm” (thị giác) – “vị” (vị giác) Chính vì thế, nhà thơ cảm nhận được cảm giác
chia biệt trên mọi góc độ, mọi phương diện của thiên nhiên – một cảm nhận tinh vi
ü Mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ được hình dung như một cuộc chia lìa và dòng thời gian được nhìn như một chuỗi
vô tận của những chia phôi, cho nên thời gian đậm vị chia lìa Riêng từ
“rớm” nối tiếp hình ảnh của “hàng mi” ở đoạn đầu, từ đôi mắt của ánh
sáng và niềm vui, thi sĩ cảm nhận được nỗi buồn chia biệt hiện diện trong thiên nhiên
ü Nỗi buồn ấy không chỉ rơm rớm mà đã chuyển thành một lời than: “khắp
sông núi” – muôn vật, muôn nơi, “vẫn” – đã, đang và có lẽ sẽ còn tiếp tục
mãi, “than thầm” – lời than lặng lẽ, ẩn sau vẻ đẹp trù phú của thiên nhiên +”Con gió xinh thì thào trong lá biếc,/ Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?/
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,/ Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”:
Cặp câu hỏi tu từ “Phải chăng sợ…” tạo thành điệp khúc của sự ly biệt Sự
Trang 9Hệ thống động từ là một
trong những cách thức
quan trọng tạo nên sự
biệt li mang tính phổ quát (khắp sông núi) đã được cụ thể hoá trong từng hình ảnh cụ thể Dù là gió hay hoa cũng man mác nỗi sợ độ tàn phai sắp đến Phép nhân hoá khắc sâu thêm cảm giác lo âu vì sự chia lìa Hoá ra không chỉ có con
người mà bất cứ tạo vật nào, dù nhỏ bé đến đâu cũng mang trong mình nỗi ám ảnh thời gian
" Mỗi tạo vật của tự nhiên đang ngậm ngùi tiễn biệt nhau, và thấm thía hơn, đau xót hơn là tiễn biệt một phần của nó Những phần của sinh mệnh đang rời
đi không cách nào ngừng được, tạo nên sự phôi pha của từng cá thể từ đó đã góp nên cái hồn tàn phai chung của toàn vũ trụ
+ “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…/ Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều
hôm,”: Lời hối thúc con người phải sống gấp, sống vội vang lên đã khép lại
chuỗi tâm trạng hoài nghi, man mác buồn của tác giả Chính vì nhận ra tuổi trẻ
là hữu hạn mà vẻ đẹp của cuộc đời, của mùa xuân, của tình yêu là vô tận nên nhà thơ kêu gọi con người phải sống hết mình, sống trọn từng giây phút bởi
chẳng bao giờ chúng ta có thêm một lần nào nữa giữa cõi nhân sinh này để trải
nghiệm vẻ đẹp của thế gian
" Nhận xét chung: Cách cảm nhận thời gian như thế xét đến cùng là xuất
phát từ ý thức sâu xa về giá trị của sự sống cá thể Mỗi khoảnh khắc trong đời
cá thể đều vô cùng quý giá Nó quý giá chính vì một khi đã mất đi là mất đi vĩnh viễn Từ đó gợi nên lời khuyên cho mỗi người hãy biết quý trọng từng giây phút của cuộc đời mình, phải làm cho từng giây phút trở thành bất tử Như thế mới là biết sống Đây là cơ sở sâu xa của thái độ sống “vội vàng”
2.3 Đoạn 3: Khát vọng sống, khát vọng yêu cuồng nhiệt, hối hả:
- Nhận xét chung: Quy luật nghiệt ngã của thời gian đặt cho con người câu
hỏi lớn: Làm sao vượt thắng được quy luật đó? Làm sao sống tròn đầy cuộc
đời hữu hạn của mình? Ở đoạn thơ này, Xuân Diệu đã đưa ra câu trả lời của
mình
+ “Ta muốn ôm”: Câu thơ được tách riêng ra như để đánh dấu một bước biến
chuyển mới trong tâm trạng tác giả Bắt đầu từ đây, đã hết phần lập thuyết, Xuân Diệu tìm đến với quan niệm sống của mình, cái quan niệm sống có thể giúp ông tận hưởng được nhiều nhất những vẻ đẹp mà ông mong muốn được hưởng lấy từ cuộc đời Quan niệm nhân sinh thể hiện trong đoạn này là kết quả
tất yếu của những phần trước
+ Điệp cấu trúc “Ta muốn…” tạo cho đoạn thơ giọng điệu say riết, sôi nổi,
thiết tha Đó là tâm trạng của người muốn bám riết lấy cuộc đời trần thế Khác
với đoạn thơ đề từ bắt đầu bằng “tôi”, thi nhân chọn đại từ “ta” Về mặt ngữ nghĩa, ta hướng đến cái chung, hướng đến cái rộng trong khi tôi hướng về bản
ngã của chính mình Cất lên tuyên ngôn sống của mình, Xuân Diệu đang hướng
đến cuộc đời cao rộng
* Điều đặc sắc nhất trong đoạn thơ này thể hiện trong nghệ thuật ngôn ngữ:
+ Các động từ mạnh: “ôm, riết, say, thâu” thể hiện sự mê say mãnh liệt của
tác giả đối với vẻ đẹp cuộc đời Các từ này xuất hiện liên tiếp, cùng với sắc
thái nghĩa của nó đã bộc lộ cường độ sống mãnh liệt của chính Xuân Diệu Đây chính là nét thứ nhất trong quan niệm của Xuân Diệu về cách thức sống
để phần nào cưỡng lại được bước đi tàn nhẫn của thời gian: tăng lên cường độ sống – sống càng say sưa, càng sâu sắc, càng mê đắm đối với vẻ đẹp trần gian
thì càng níu giữ được nhiều vẻ đẹp trong dòng chảy bất tận của thời gian
- Những điều mà tác giả muốn giữ lấy, ôm trọn lấy:
Trang 10mãnh liệt trong khát khao
giao cảm của Xuân Diệu
Những động từ thường
thấy được Lê Quang Hưng
thống kê bao gồm:
+ Ôm, ghì: “Giơ tay muốn
ôm cả Trái Đất/ Ghì trước
trái tim, ghì trước ngực.”
+ Riết: “Những cánh tay
hãy quấn riết đôi vai/ Hãy
dâng cả tình yêu lên sóng
mắt.”
+ Cắn, bấu: “Tôi kẻ đưa
răng bấu mặt trời/ Kẻ
đựng trái tim trìu máu đất/
Hai tay chín móng bám
vào đời.”…
Ta muốn
Động
từ
Ôm
“cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn”
Khát khao ôm lấy tất cả vẻ đẹp trinh nguyên của
thế giới “Mới bắt đầu” + từ láy “mơn mởn” là thế
giới trong sự non tơ, tinh khiết của nó
Riết
“mây đưa và gió lượn”
Khát khao ôm lấy vẻ đẹp của những gì đang chuyển động trong thế gian; vẻ đẹp của thế giới đang thành hình, đang vận động, đang sinh sôi
Say
“cánh bướm
với tình yêu”
Hình ảnh cánh bướm được sánh cùng tình yêu là
hai vẻ đẹp của thời trẻ thiên nhiên và tuổi xuân con
người Hoa bướm đại diện cho những điều lộng lẫy,
đẹp đẽ Tình yêu lại là cõi mênh mông những cảm xúc mà dù ở cung bậc nào cũng đi đến tận cùng của
nó
Thâu
“một cái hôn nhiều”
Sự thể hiện, trao tặng và nối kết cái tôi Nó là một biểu hiện của sự hòa điệu tâm hồn, là hiện thân của
tình yêu say đắm “Cái hôn nhiều” – chỉ một lần
thôi nhưng đến tận cùng, tận độ của mê say
- “Và non nước, và cây, và cỏ rạng”: Phép điệp liên từ “và” + phép liệt kê
trong cùng một câu đã biến dòng thơ trở thành một câu mang giá trị khái
quát, bao trùm tất cả những gì đẹp đẽ nhất mà tác giả muốn tận hưởng: non nước, cây, cỏ rạng
- “Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng/ Cho no nê thanh sắc
của thời tươi”: Các từ tính từ láy “chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê” cho
thấy trạng thái say sưa, mê đắm của con người sống trong cái tận cùng của
sự tận hưởng vẻ đẹp cuộc đời Loạt từ này còn tạo cho người ta cảm giác của một tâm hồn đang ngất ngây trong men đời dịu ngọt
- “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”: Câu thơ biểu lộ khát khao giao
hòa, tận hưởng được đẩy đến tận độ trở thành một thứ khao khát giao hòa mang đầy tính nhục cảm, đầy khát khao chiếm hữu Tác giả đã vật chất hoá, nhục cảm hoá “xuân hồng” – vẻ đẹp của mùa xuân – để có thể tận hưởng
nó, giao hoà, giao cảm, hoá thành một với nó
• Liên hệ: Đây là cách thể hiện khát khao giao cảm “rất Xuân Diệu”:
“Nên lúc môi ta kề miệng thắm,/ Trời ơi, ta muốn uống hồn em.” (Vô
biên), “Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời,/ Kẻ đựng trái tim trìu máu đất,/ Hai tay chín móng bám vào đời.” (Hư vô)
• Tiểu kết:
- Nghệ thuật:
+ Nhịp thơ hối hả, gấp gáp để chuyển tải cả một dòng cảm xúc say sưa, ào
ạt (tạo nên bởi những câu thơ dài ngắn đan xen, nhiều điệp từ tạo nhịp và ngắt nhịp nhanh mạnh) Hình ảnh thơ đa dạng, tươi mới, giàu sức sống (Sự sống mơn mởn; Mây đưa, gió lượn, cánh bướm với tình yêu; Cái hôn nhiều, non nước, cây cỏ, mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc, xuân hồng); mới mẻ, độc
đáo: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” Ngôn từ: động từ, tính từ
mạnh, táo bạo rất trần tục Điệp khúc “ta muốn”: dồn dập, khẩn thiết Cách