PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ PHỦ ĐỊNH VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIẾN SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAYPHÉP BIỆN CHỨNG VỀ PHỦ ĐỊNH VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIẾN SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAYPHÉP BIỆN CHỨNG VỀ PHỦ ĐỊNH VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIẾN SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAYPHÉP BIỆN CHỨNG VỀ PHỦ ĐỊNH VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIẾN SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAYPHÉP BIỆN CHỨNG VỀ PHỦ ĐỊNH VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIẾN SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAYPHÉP BIỆN CHỨNG VỀ PHỦ ĐỊNH VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIẾN SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAYPHÉP BIỆN CHỨNG VỀ PHỦ ĐỊNH VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIẾN SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAYPHÉP BIỆN CHỨNG VỀ PHỦ ĐỊNH VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIẾN SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAY
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ PHỦ ĐỊNH VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIẾN SÁNG TẠO CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Trường Gia Huy
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Tùng Lâm
Hà Nội, tháng 11 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
PHẦN 1: PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC MARX - LENNIN 3
I KHÁI QUÁT PHÉP BIỆN CHỨNG: 3
1 Khái niệm: 3
2 Các hình thức của phép Biện chứng: 3
II QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH VÀ PHỦ ĐỊNH TRONG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MARX – LENIN: 4
1 Các khái niệm cơ bản: 4
2 Tính chất của Phủ định biện chứng: 4
PHẦN 2: KHÁI NIỆM VỀ VĂN HOÁ VÀ VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ ĐỐI VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM: 5
I VĂN HOÁ VỚI CHỦ THỂ VÀ KHÁCH THỂ LÀ CON NGƯỜI: 5 1 Định nghĩa về văn hoá: 5
2 Mối quan hệ giữa văn hoá và con người: 6
II VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ ĐỐI VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM: 8
PHẦN 3: SỰ PHỦ ĐỊNH BIỆN CHỨNG VÀ SIÊU HÌNH CỦA VĂN HOÁ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP: 8
I PHỦ ĐỊNH SIÊU HÌNH: 9
II PHỦ ĐỊNH BIỆN CHỨNG: 11
Kết luận 15
Tài liệu tham khảo 16
Trang 3Lời mở đầu
Cùng sự phát triển và tiến bộ của khoa học kĩ thuật, cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đã nổ ra với nhiều bước ngoặt trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân dân, cũng như đem lại những cải tiến mới trong việc quản lí và vận hành nền kinh tế chung của Quốc gia Đi kèm theo đó, đặt trong bối cảnh kết nối toàn cầu, Việt Nam cũng đang dần chuyển mình và hoà nhập với bạn bè, thị trường quốc tế Chính vì vậy, việc gìn giữ và phát triển văn hoá truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc đã và đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết khi sự giao lưu giữa các khu vực ngày càng trở nên sâu sắc và chúng ta cũng đang phải tiếp cận với nhiều luồng tư tưởng, nền văn minh khác nhau.
“Văn hoá Việt Nam được định nghĩa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do người Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước” Trải qua nhiều lần phủ định biến chứng, văn hoá Việt Nam dần biến đổi
để trở nên rực rỡ và đậm đà hơn bao giờ hết Tuy vậy, trong thời đại biến đổi số hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và mạng Internet, truyền thống văn hoá Việt Nam vẫn đang còn bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nước ngoài, gây ra không ít ảnh hưởng tiêu cực lẫn tích cực Đối mặt với thực trạng ấy, chúng ta cần ý thức được vị thế của đất nước trên thị trường quốc tế và tiếp bước cha ông trong việc gìn giữ và bảo vệ văn hoá Việt Nam bằng việc vận dụng quy luật Phủ định của Phủ định trong quan điểm triết học Marx – Lenin vào thực tiễn cuộc sống
Giữa bối cảnh Đất nước đang trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đang tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường với sự trao đổi hàng hoá liên tục giữa các quốc gia, việc gạt bỏ hoàn toàn những yếu tố đến từ văn hoá nước ngoài sẽ không mang lại lợi ích mà còn gây hại đến sự phát triển chung của khu vực cũng như đất nước Vì thế mà trong quá trình gìn giữ và bảo vệ văn hoá truyền thống Việt Nam, việc học hỏi và tiếp thu tinh hoa của các nền văn hoá trong thời đại hiện nay là vô cùng cấp bách Từ yêu cầu đó, ta cần từng bước mở rộng giao lưu khu vực và phát huy giá trị truyền thống văn hoá của Việt Nam trước bạn bè quốc tế với tiêu chí “Hoà nhập chứ không Hoà tan” mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn
Bên cạnh lĩnh vực đối ngoại, việc phát triển văn hoá trong nước cũng không kém phần thiết yếu Ta cũng cần tập trung nguồn lực phát triển những hoạt động văn hoá nghệ thuật ở trong nước, đầu tư vào việc trùng tu, sửa chữa những di tích lịch sử, tích hợp sáng tạo, vận dụng kế thừa những cái có trước để
Trang 4tiếp tục phát huy truyền thống văn hoá Việt Nam vào đời sống hiện đại Việc áp dụng tính chất kế thừa trong quy luật Phủ định nêu trên của chủ nghĩa Marx – Lenin có thể phần nào giúp Việt Nam vững vàng bước đi trên trường quốc tế và khẳng định vị thế không thể thay thế của mình trên bản đồ thế giới bằng một bản sắc văn hoá đậm đà, bằng một nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ và bằng một ý chí dân tộc không thể xoá nhoà
Tiểu luận này sẽ đề cập và phân tích tầm quan trọng của việc áp dụng quy luật Phủ định trong việc gìn giữ và phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kì biến đổi số và trách nhiệm của một công dân Việt Nam khi Đất nước đang trong giai đoạn chuyển đổi đầy thử thách này
Hà Nội, tháng 11 – 2022 Sinh viên thực hiện NGUYỀN TRƯỜNG GIA HUY
Trang 5PHẦN 1: PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC MARX -LENNIN.
I KHÁI QUÁT PHÉP BIỆN CHỨNG:
1 Khái niệm:
Phép Biện chứng là phương pháp lí luận coi đối tượng của nó luôn nằm
trong các mối liên hệ phổ biến vốn có mà ở đó, đối tượng và các thành phần của đối tượng luôn trong sự lệ thuộc, ảnh hưởng nhau, ràng buộc, quy định lẫn nhau
Ngoài ra, phép Biện chứng còn nhận thức rằng đối tượng của nó luôn trong trạng
thái vận động biển đổi về chất và về lượng, ở trong một khuynh hướng chung là phát triển với động lực là sự đấu tranh giữa các mặt mâu thuẫn, đối lập tồn tại đồng thời bên trong bản thân đối tượng (1)
Trên cơ sở này, tư duy Biện chứng cho phép chủ thể nhận thức không chỉ
nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự hình thành, phát triển và triệt tiêu của sự vật; không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh và còn nhìn thấy trạng thái
vận động của nó So với tư duy Siêu hình, tư duy Biện chứng thể hiện rõ sự linh
hoạt, mềm dẻo, không tuyệt đối hoá ranh giới giữa các mặt của sự vật hiện tượng Tức là bên cạnh cái “hoặc là … hoặc là” còn có cả “cái này lẫn cái kia”,
tư duy Biện Chứng thừa nhận một chỉnh thể vừa là nó mà vừa không phải là nó;
thừa nhận cái khẳng định và phủ định có mối quan hệ chặt chẽ, vừa loại trừ nhau nhưng lại vừa gắn bó với nhau, cái này là tiền đề của cái kia
Vì vậy, phép Biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại, là công
cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới, là phương pháp luận tối ưu của mọi khoa học
2 Các hình thức của phép Biện chứng:
Song hành với sự đi lên của nhận thức con người, phép Biện chứng đã trải
qua ba giai đoạn biến đổi với ba hình thức lịch sử của nó:
+ Hình thức thứ nhất, phép Biện chứng tự phát thời Cổ đại Các nhà biện
chứng phương Đông lẫn phương Tây thời Cổ đại đã thấy được các sự vật, hiện tượng của vũ trụ luôn vận động không ngừng trong sự sinh ra, biến hoá, mất đi
trình độ đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), Hội đồng biên soạn giáo trình môn
triết học Mác – Lênin, Hà Nội, 2019, tr.24
Trang 6vô cùng tận Tuy nhiên, góc nhìn này mang tính đơn thuần, trực kiến, không có
sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học để chứng minh
+ Hình thức thứ hai, phép Biện chứng duy tâm Với đỉnh cao là triết học cổ
điển Đức do Canter khởi xướng và Hegel hoàn thiện, phương pháp Biện chứng lần đầu tiên đã được hệ thống hoá với những nội dung quan trọng Tuy nhiên, ở thời kì này, những triết học cổ điển Đức mang tính duy tâm với quan điểm hiện
thực chỉ là sự phản ánh biện chứng của ý niệm
+ Hình thức thứ ba, phép Biện chứng duy vật Được thể hiện trong triết học
do K.Marx và F.Engels xây dựng và phát triển bởi V.I.Lenin cũng như những
nhà triết học hậu thế, phép Biện chứng duy vật đã loại bỏ tính thần bí và kế thừa những lí luận hợp lí của tư tưởng Biện chứng có trước, tạo ra sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng để sinh ra phép duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật biện chứng
II QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH VÀ PHỦ ĐỊNH TRONG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MARX – LENIN:
Để trả lời cho các câu hỏi xoay quanh đối tượng nghiên cứu là trạng thái tồn tại có tính quy luật phổ biến của sự vật hiện tượng ở trong thực tại khách
quan, phép Biện chứng duy vật đã đưa ra nội dung gồm: hai nguyên lý, sáu cặp phạm trù và ba quy luật cơ bản Nằm trong số đó, quy luật Phủ định của Phủ định được định nghĩa và trình bày như sau:
1 Các khái niệm cơ bản:
+ Phủ định biện chứng là phạm trù để chỉ sự phủ định diễn ra do chính sự
phát triển của bản thân sự vật hiện tượng Trong quá trình tự phủ định bản thân,
sự vật hiện tượng kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ để tạo ra cái mới phát triển hơn, ở một mức độ cao hơn so với sự vật hiện tượng trước đó
+ Phủ định biện chứng diễn ra theo chu kỳ lập lại như một vòng xoắn ốc.
Trải qua nhiều lần phủ định, sự vật hiện tượng dường như lập lại cái ban đầu
nhưng trên cơ sở mới cao hơn, tốt hơn cái có trước Đây chính là quy luật Phủ định của Phủ định trong phép Biện chứng duy vật trong quan điểm triết học
Marx – Lenin
2 Tính chất của Phủ định biện chứng:
+ Phủ định Biện chứng mang tính phổ biến Tức là ở mọi nơi, mọi mặt của
đời sống vật chất hay đời sống xã hội, cũng như tư duy, sự phủ định luôn tồn tại như một lẽ tất yếu và là tiền đề để sự vật hiện tượng vận động và phát triển
Trang 7+ Phủ định Biện chứng mang tính đa dạng, phong phú được thể hiện qua
nhiều hình thức và nội dung của nó(1)
+ Khác với Phủ định siêu hình (hay còn được gọi là Phủ định sạch trơn)
bắt nguồn từ yếu tố bên ngoài, loại bỏ hoàn toàn đi cái cũ, chấm dứt sự phát
triển tự nhiên của sự vật hiện tượng; Phủ định biện chứng mang tính khách quan
và kế thừa Khách quan ở chỗ Phủ định biện chứng diễn ra do tự bản thân sự vật
hiện tượng phủ định chính mình trong quá trình giải quyết mâu thuẫn ở bên trong sự vật hiện tượng; là xu thế tất yếu để sự vật hiện tượng phát triển, vận động, biến đổi thành cái mới tốt hơn cái cũ
+ Kế thừa (hay còn gọi là Kế thừa biện chứng) là khái niệm chỉ sự vật hiện
tượng sau nhiều lần Phủ định biện chứng vẫn giữ lại những yếu tố tích cực và loại bỏ những yếu tố không phù hợp, gây cản trở cho quá trình phát triển thành cái mới Sự kế thừa này mang tính chọn lọc, phát huy những giá trị tích cực trước đó của sự vật hiện tượng, làm cho sự vật hiện tượng mới có chất giàu có hơn, tiến bộ hơn
PHẦN 2: KHÁI NIỆM VỀ VĂN HOÁ VÀ VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ ĐỐI VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM:
I VĂN HOÁ VỚI CHỦ THỂ VÀ KHÁCH THỂ LÀ CON NGƯỜI:
1 Định nghĩa về văn hoá:
Có rất nhiều góc nhìn khác nhau về định nghĩa của văn hoá đi kèm với những nhận định vô cùng khác biệt được đưa ra từ các nhà nghiên cứu, những nhà nhân loại học từ phương Đông lẫn phương Tây về thế nào là văn hoá Thậm chí, việc định nghĩa văn hoá còn thay đổi tuỳ theo thời gian, thời điểm được xét đến Tuy nhiên, có thể hiểu một cách cơ bản về văn hoá như sau:
Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo ra, có từ thuở bình minh của xã
hội loài người(2) và là toàn bộ cuộc sống (nếp sống, lối sống) cả vật chất và tinh
thần của từng cộng đồng Văn hoá được coi là chìa khoá của sự phát triển Văn hoá được bắt nguồn từ con người và dành cho con người Như Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã từng nói về vấn đề văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
độ đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), Hội đồng biên soạn giáo trình môn triết
học Mác – Lênin, Hà Nội, 2019, tr.135
2015, tr.16
Trang 8đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.”(1) Có thể nói, văn hoá là di sản, là tấm gương phản chiếu tập tục lối sống của dân tộc này đối với dân tộc khác, của thế
hệ có trước đối với thế hệ theo sau
Văn hoá không được xét bằng vị trí cao thấp mà xét qua những yếu tố khác
biệt giữa các quốc gia, khu vực, lãnh thổ, nền văn minh
Văn hoá tồn tại để lại nhiều di sản, là minh chứng cho sự xuất hiện, sự phát triển của một dân tộc Theo sự phân loại của UNESCO, di sản văn hoá có hai
hình thức: Một là những di sản hữu hình (Tangible) như đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ, v.v …; Hai là những di sản vô hình (Intangible) không “sờ thấy
được” như âm nhạc, múa, hát, ngôn ngữ, truyền thống truyền miệng, nghi thức, phong tục, v.v …
Như vậy, văn hoá Việt Nam là toàn thể những sự vật hữu hình hay vô hình
do con người, dân tộc Việt Nam tạo ra trong quá trình phát triển, dựng nước và
giữ nước Văn hoá Việt Nam là sự đại diện, mang tính đặc trưng, khác biệt của
con người Việt Nam so với dân tộc khác
2 Mối quan hệ giữa văn hoá và con người:
Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo của văn hoá.(2)
Xuyên suốt chiều dài phát triển của văn minh nhân loại, con người từ loài vượn cổ đã tiến hoá thành một loài động vật có tổ chức cao mang ý thức, sở hữu
tư duy, suy nghĩ phức tạp Với động lực là lao động, loài người sáng tạo ra công
cụ lao động, ngôn ngữ và các phương thức sinh tồn đa dạng khác nhau Trong quá trình đó, văn hoá được sinh ra như một lẽ tất yếu bên trong xã hội loài người
và loài người là trung tâm, là tác giả của văn hoá Văn hoá đã góp phần làm cho
xã hội loài người đi lên từ thưở hồng hoang đến một xã hội phát triển như hiện tại
Con người cũng là sản phẩm của văn hoá.(3)
Văn hoá có tính quyết định then chốt trong việc hình thành ngoại hình, tính cách, các đặc điểm sinh học cũng như đặc điểm xã hội của con người Văn hoá quy định hành vi và biểu hiện của con người trước môi trường tự nhiên và xã
tr.431.
tr.7
2015, tr.7
Trang 9hội Như vậy, văn hoá là một yếu tố cấu thành nên con người, con người tạo ra văn hoá nhưng cũng từ văn hoá mà sinh ra con người; bởi vậy mà với mỗi một nền văn hoá khác nhau, ta lại thấy một kiểu biểu hiện, hành vi, tính cách chung đại diện cho dân tộc đó
Con người là đại biểu mang giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra.(1)
Như đã nói ở trên, văn hoá quy định tính cách và hành vi của con người Vì vậy với từng dân tộc, ta lại thấy một kiểu hình hành vi chung, sở hữu bởi nhiều đối tượng thuộc dân tộc ấy Nhờ đó mà ta có thể dễ dàng nhận diện được họ với những người thuộc dân tộc khác, giống như cách mà ta phân biệt người phương Đông với người phương Tây thông qua tính cách và hành vi riêng đại diện cho mỗi châu lục Tương tự như thế, người Việt Nam cũng có những nét rất riêng với tính cách và tâm lí dân tộc mang màu sắc đặc trưng, rõ rệt, đại biểu cho văn hoá nước nhà Những kiểu tính cách và giá trị tinh thần này đã được các tác giả của công trình nghiên cứu: “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” tóm tắt lại, bao gồm những mặt tích cực: Tinh thần yêu nước, kiên cường gắn bó với quê hương xứ sở; ý thức sâu sắc và vững bền về bản ngã; tinh thần cố kết cộng đồng; v.v … Ngoài ra, tính cách dân tộc người Việt Nam cũng tồn tại những mặt tiêu cực như tâm lí bình quân – cào bằng; tác phong tuỳ tiện,
“ăn xổi” hay gia trưởng, v.v …(2)
Như vậy, con người vừa là chủ thể và vừa là khách thể của văn hoá Nói cách khác, con người sáng tạo ra văn hoá những cũng bị văn hoá tác động trở lại Giữa con người và văn hoá, tồn tại một mối quan hệ không thể tách rời, tồn tại song song, gắn bó mật thiệt với nhau Văn hoá phản ánh lên con người thông qua bản sắc văn hoá dân tộc hay tâm lí, tính cách dân tộc Những yếu tố này như
những thuộc tính cố hữu tự sinh ra bên trong con người: “ Từ góc độ là chủ thể của văn hoá, con người Việt Nam một mặt là con người cá nhân, mặt khác mang tải trong mình tính dân tộc truyền thống” “Con người phải có tính dân tộc cũng như phải có mũi, có tai Và tính dân tộc được trao cho con người từ lúc sinh ra và còn lại một cách bất biến suốt cuộc đời người ấy Nó cũng tồn tại chắc chắn trong ta chẳng hạn như giới tính.”.(3)
II VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ ĐỐI VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM:
tr.7
Việt Nam hiện nay, Hà Nội, 1996, từ tr.95-99.
1993, tr.80.
Trang 10Văn hoá và các thành tố của nó mang nhiều chức năng chính phụ khác nhau Tuy nhiên, mục tiêu cao cả nhất của văn hoá là vì con người và để hoàn thiện con người bằng việc hướng họ tới giá trị chân, thiện, mĩ Hiểu theo nghĩa đơn giản, văn hoá có chức năng giáo dục nhận thức con người và là động lực của sự phát triển; thiếu đi văn hoá cũng giống như việc thiếu đi công cụ lao động, con người sẽ không thể phát triển và trở nên tiến bộ Vì vậy, chú trọng đầu
tư cho văn hoá cũng chính là chú trọng đầu tư con người – một nhân tố then chốt trong việc giúp đất nước từng bước đi lên XHCN và phát triển kinh tế
Ngoài ra, văn hoá còn giống như một cuốn bách khoa toàn thư ghi chép lại lịch sử Hình thành từ quá trình lao động và sáng tạo của con người, văn hoá thể hiện bề dày, chiều sâu lịch sử của một dân tộc Thông qua văn hoá, ta nắm bắt được nhận thức và tư duy của con người trong mỗi giai đoạn biến đổi và vận động của xã hội
“Do là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người, văn hoá có tính nhân sinh đậm nét và trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng thông qua ngôn ngữ Nếu như ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hoá là nội dung của nó” (1) Văn hoá hay bản sắc văn hoá vừa giúp các cộng đồng kết nối, hiểu sâu sắc nhau nhưng cũng vừa tách biệt chúng; là yếu tố nhận diện dể một dân tộc này không bị hoà lẫn với một dân tộc khác Phát triển văn hoá chính là một nhiệm vụ cấp thiết trong việc bảo vệ Tổ quốc khỏi các thế lực chống phá và cũng là công cụ hỗ trợ đắc lực trong quá trình ngoại giao; đồng thời, ghi dấu Việt Nam trên trường quốc tế
PHẦN 3: SỰ PHỦ ĐỊNH BIỆN CHỨNG VÀ SIÊU HÌNH CỦA VĂN HOÁ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP:
Trong thời kỳ hội nhập, việc giao lưu và tiếp xúc giữa các nền văn hoá là điều không thể tránh khỏi Giao lưu văn hoá vừa là tiền đề cho sự phát triển và diễn tiến của xã hội Việt Nam, vừa là tác nhân gây ra sự suy thoái, triệt tiêu của một số thành tố có trước Ứng dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn, sự hội nhập quốc tế một mặt đem đến sự phủ định Biện chứng, là yếu tố thúc đấy sự vận động bên trong của xã hội Việt Nam để nó tự hoàn thiện mình, lọc bỏ những cặn tiêu cực và nối tiếp những truyền thống còn phù hợp với sự tiến bộ và hiện đại của nhân loại Tuy nhiên, mặt khác, xu thế toàn cầu hoá cũng là nguyên nhân của sự phủ định Siêu hình trong một số các thành tố của văn hoá, ở đây là làm
tr.108