Và để khai thác mặt tích cực của việc sử dụng Instagram cũng như mối liên hệ của việc dành thời gian trên Instagram đối với việc thoát khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha d
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ THỊ NGÂN HÀ – 19496031
LÒ THỊ THANH HUYỀN - 19521881 PHẠM THỊ LAN TRINH - 19518301
MỐI QUAN HỆ GIỮA THOÁT KHỎI CẢM GIÁC TIÊU CỰC, LÒNG BIẾT ƠN, LÒNG VỊ THA VÀ
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu và lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Đóng góp đề tài 6
1.6.1 Đóng góp về lý thuyết 6
1.6.2 Đóng góp về quản trị 6
1.7 Kết cấu đề tài 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
2.1 Các khái niệm 8
2.1.1 Thoát khỏi cảm giác tiêu cực 8
2.1.2 Lòng biết ơn 9
2.1.3 Lòng vị tha và những hành vi vị tha trên Instagram 10
2.1.4 Sự sẵn sàng đóng góp và đóng góp trực tuyến 10
2.2 Các lý thuyết nền 12
2.2.1 Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) 12
2.2.2 Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) 13
2.2.3 Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior– TPB) 15
2.2.4 Lý thuyết sử dụng và hài lòng (Uses và Gratification – U&G) 16
2.3 Các nghiên cứu liên quan 18
2.3.1 Nghiên cứu của Leung (2013) 18
2.3.2 Nghiên cứu của Pittman và Reich (2016) 18
2.3.3 Nghiên cứu của Casaló Flavián và Ibáñez-Sánchez (2017) 19
2.3.4 Nghiên cứu của Wong và Chan (2017) 20
2.3.5 Nghiên cứu của Konrath và Handy (2018) 22
2.3.6 Nghiên cứu của Eckhaus và Sheaffer (2019) 22
Trang 32.3.7 Nghiên cứu của Church, Thambusamy và Nemati (2020) 24
2.3.8 Nghiên cứu của Mendini, Peter và Maione (2022) 27
2.4 Phát triển giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất 29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Thiết kế nghiên cứu 33
3.1.1 Quy trình nghiên cứu 33
3.1.2 Tiến trình nghiên cứu 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 35
3.2.1 Nghiên cứu định tính: 35
3.2.2 Nghiên cứu định lượng: 35
3.3 Phương pháp chọn mẫu 36
3.4 Xây dựng thang đo và bảng câu hỏi khảo sát 37
3.4.1 Xây dựng thang đo 37
3.4.2 Thiết kế bảng câu hỏi 38
3.5 Các công cụ để thu thập và xử lý số liệu 39
3.2.1 Công cụ thu thập dữ liệu 39
3.2.2 Công cụ xử lý dữ liệu 39
3.6 Phương pháp thu thập dữ liệu 39
3.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp 39
3.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp 39
3.7 Phương pháp phân tích dữ liệu 40
3.4.1 Thống kê mô tả 40
3.4.2 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 40
3.4.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA - Exploratory Factor Analysis) 41
3.4.4 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA - Confirmatory Factor Analysis) 42
3.4.5 Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM - Structural Equation Modeling) 43
3.4.6 KIỂM ĐỊNH BOOTSTRAP 43
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 44
4.1 Tổng quan về Instagram 44
4.2 Phân tích dữ liệu khảo sát 44
Trang 44.2.1 Thống kê mô tả 44
4.2.2 Phân tích Cronbach’s Alpha 48
4.2.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 49
4.2.4 Phân tích nhân tố khẳng định CFA 51
4.2.5 Kiểm định SEM 54
4.2.6 Kiểm định bootstrap 56
4.2.7 Kiểm định các giả thuyết 57
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 58
5.1 Kết quả nghiên cứu chính 58
5.2 Hàm ý quản trị 59
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 60
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC x
Trang 5DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1 Tiến trình nghiên cứu 34
Bảng 3.2 Kết quả kiểm định Cronbach's Alpha sơ bộ 36
Bảng 3.3 Bảng thang đo 37
Bảng 4.1 Thống kê mô tả dữ liệu khảo sát 45
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha 48
Bảng 4.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 49
Bảng 4.4 Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA 51
Bảng 4.5 Hệ số tin cậy tổng hợp và tổng phương sai trích được 53
Bảng 4.6 Bảng Fornell and Larcker 53
Bảng 4.7 Các trọng số chưa chuẩn hóa 56
Bảng 4.8 Kết quả ước lượng Bootstrap 56
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định giả thuyết 57
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Davis, 1989) 13
Hình 2.2 Thuyết hành động hợp lý TRA (Fishbein và Ajzen, 1975) 15
Hình 2.3 Thuyết hành vi dự định TPB (Ajzen và Fishbein, 1991) 16
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Wong và Chan (2017) 21
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Eckhaus và Sheaffer (2019) 24
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Church, Thambusamy và Nemati (2020) 27
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu Mendini, Peter và Maione (2022) 32
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 33
Hình 4.1 Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA 52
Hình 4.2 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 55
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
EFA : Exploratory Factor Analysis
CFA : Confirmatory Factor Analysis
SEM : Structural Equation Modeling
RMSEA : Root Mean Square Error of Approximation ENF : Escape from negative feelings
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Bối cảnh nghiên cứu và lý do chọn đề tài
Internet liên kết mọi người từ các địa điểm khác nhau lại với nhau và giờ đây mọi người
có thể kết nối Internet khi ngồi trước máy tính hoặc khi sử dụng điện thoại thông minh Thông qua Internet, họ đã truy cập vào các trang mạng xã hội cung cấp nền tảng để mọi người liên hệ, giao tiếp và hình thành cộng đồng với nhau Các trang mạng xã hội được sử dụng rộng rãi hàng ngày vì các nền tảng truyền thông xã hội phổ biến như Facebook, Instagram, Twitter, Google+, Flickr,… cung cấp tiềm năng đáng kể cho giáo dục cũng như các lĩnh vực khác (Aydin và cộng sự 2012) Do đó, với số lượng lớn người dùng tích cực của cả nền tảng Internet và mạng xã hội, việc sử dụng các nền tảng truyền thông xã hội như vậy cho mục đích giáo dục hoặc như một môi trường giáo dục cho phép người dùng tạo, chia sẻ và bình luận về một nội dung nhất định về các ngành nghề khác nhau (Manca
và Ranieri, 2016) thông qua một hệ thống liên kết xã hội, trong đó người dùng của các trang mạng xã hội cụ thể xem các kết nối của những người khác bằng cách tạo hồ sơ của riêng họ (Boyd và Ellison, 2008) Các mạng xã hội thu hút sự chú ý của mọi lứa tuổi do sự phổ biến và sử dụng các mạng này trong giới trẻ, đặc biệt là với sự gia tăng của điện thoại thông minh có kết nối internet (Aydin, 2012 ) Nhận thức của các nhà sáng tạo đối với việc khai thác tiềm năng của các trang mạng xã hội và các ứng dụng điện thoại thông minh của
họ xuất phát từ thực tế là phần lớn các nhà sáng tạo đều là những người sử dụng tích cực các phương tiện truyền thông xã hội, vì mục đích cá nhân cũng như nghề nghiệp (Hsieh, 2017) Nó đã được chứng minh rằng phương tiện truyền thông xã hội, mặc dù có nhiều chức năng không được thiết kế đặc biệt cho mục đích khác nhau, được sử dụng như một công cụ mạnh mẽ (Alsharidi, 2018) để thúc đẩy sự tham gia và giao tiếp trong nhiều bối cảnh (Chawinga, 2016) Thật vậy, các nền tảng truyền thông xã hội có khả năng hiển thị cao cho phép cả giáo viên và học sinh và mọi người làm ở nhiều lĩnh vực khác nhau tạo và tham gia vào các cộng đồng trực tuyến được tùy chỉnh để chia sẻ nội dung cụ thể và thúc đẩy học tập cũng như kinh doanh Ngoài ra, một lý do khác khiến phương tiện truyền thông
xã hội được sử dụng như một công cụ giáo dục là sinh viên, với tư cách là người bản xứ
kỹ thuật số, yêu cầu những cách học tập sáng tạo bên ngoài các chế độ cổ điển Mặc dù tài
Trang 9liệu có rất nhiều nghiên cứu về việc sử dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook và Twitter cho mục đích giáo dục cũng như sáng tạo (Alsharidi, 2018)
Instagram (IG) là một trong những dịch vụ mạng xã hội (SNS – Social Network Service) được biết đến là dịch vụ chia sẻ ảnh, chia sẻ video cho phép người dùng chụp ảnh và quay video, sau đó chia sẻ chúng trên các nền tảng khác (Frommer, 2010) Instagram, xuất hiện lần đầu vào năm 2010, được ra mắt như một nền tảng chia sẻ ảnh và theo thời gian, các tính năng mới khác như video, nhắn tin và chia sẻ câu chuyện đã được thêm vào, góp phần vào sự phát triển của nó (Ellison, 2017) Mặc dù tương tự như Facebook ở cách người dùng
có thể đăng ảnh trực tuyến, nhưng không giống như Facebook, Instagram cung cấp một số
bộ lọc đặc biệt cho phép người dùng thay đổi màu sắc và độ phân giải của đĩa phở trước khi họ đăng chúng Về phương diện học ngôn ngữ, Handayani (2016) cho rằng Instagram
có thể được sử dụng như một nguồn để áp dụng một số hoạt động trong lớp học ngôn ngữ như kể chuyện kỹ thuật số, hoạt động ngữ pháp thông qua ảnh, đóng vai, hoạt động đọc, nói thông qua video,
Quy mô tuyệt đối của cơ sở người dùng và khả năng truyền bá nội dung mang lại cho mạng
xã hội tiềm năng đáng kể để phân phối thông tin Instagram được coi là mạng xã hội lớn,
có sự phổ biến và ảnh hưởng nhất bởi tạo ra doanh số bán hàng, tỷ lệ tương tác cao so với các nền tảng khác (Casaló và cộng sự, 2020) Người dùng Instagram trên toàn cầu từ 18 tuổi đến 34 tuổi chiếm tỷ lệ lớn gần 63% (Statista, 2021) Mỗi tháng có hơn 1 tỷ người dùng trên Instagram (Marketing AI, 2020) Thời gian dành cho Instagram tăng cao và trở nên phổ biến hơn trong xã hội Instagram đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc
ra quyết định của người tiêu dùng Việc sử dụng Instagram có thể làm tăng mối quan hệ tích cực giữa thương hiệu và khách hàng (Pentina và cộng sự, 2018; Rodgers và Thorson, 2018) Khi dành thời gian trên Instagram, người dùng đóng góp vào quảng cáo và truyền thông, họ cũng tạo ra giá trị với các thương hiệu (Voorveld và cộng sự, 2018 ) Đồng thời, khi công ty phát triển câu chuyện thương hiệu của họ sẽ tạo ra sự thu hút và đem lại giải trí cho người dùng Cuối cùng, điều này tạo ra doanh số và lợi nhuận ( Kumar và cộng sự,
2016 , Pentina và cộng sự, 2018)
Tại Việt Nam, tính đến tháng 1 năm 2022 dân số Việt Nam là 98,56 triệu người và có tới 76,95 triệu người dùng mạng xã hội chiếm khoảng 78,1% dân số (DIGITAL, 2022 ) Trong
Trang 10đó có tới 11,65 triệu người sử dụng nền tảng Instagram chiếm 11.8% dân số vào đầu năm
2022 Và theo phân tích của Kepios, từ năm 2021-2022 số lượng người dùng mạng xã hội tăng 5 triệu người dùng tương đương tăng 6.9% Điều này cho thấy tại Việt Nam các phương tiện truyền thông được sử dụng rộng rãi và có tốc độ tăng trưởng khá nhanh Trong
đó Instagram là một trong những nền tảng mạng xã hội được người dùng Việt Nam ưa chuộng
Hiện tại đã có nhiều nghiên cứu cho thấy tác động kép của việc dành thời gian cho mạng
xã hội Một mặt, việc dành thời gian cho mạng xã hội gây ra những cảm giác tiêu cực, các triệu chứng trầm cảm và cô đơn (Hunt và cộng sự, 2018) Mặt khác, nó cũng ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng và hạnh phúc của người dùng thông qua việc dành thời gian cho Instagram có thể dẫn đến lòng biết ơn và cư xử vị tha hơn (Mendini, Peter và Maione, 2022) Mặc dù truyền thông thường đưa ra những khía cạnh tiêu cực về việc dành thời gian cho mạng xã hội Nhưng vẫn chưa rõ liệu Instagram có thực sự khiến người dùng trở nên tốt hơn hay tệ hơn
Theo nghiên cứu của tác gia Yang (2016) thì việc dành thời gian cho IG có tác dụng giúp chung ta cảm thấy không còn cô đơn cũng như khiến ta bớt tiêu cực hơn Khi chúng ta đã thoát được cảm giác tiêu cực thì ta sẽ cảm thấy biết ơn hơn đối với người khác( Kashdan
và cộng sự, 2006) Và tiếp theo đó, khi ta đã có lòng biết ơn chúng ta cũng nảy sinh ra lòng
vị tha (Pittman và cộng sự, 2016) Theo nghiên cứu của Lee và cộng sự 2011 thì chính lòng
vị tha là động cơ cho những việc đóng góp tiếp theo khiến chúng ta sẵn sàng đóng góp cho bất cứ việc gì Qua đó có thể thấy, việc sử dụng Instagram có thể đem lại lợi ích nhiều hơn
so với tác hại của nó Và để khai thác mặt tích cực của việc sử dụng Instagram cũng như mối liên hệ của việc dành thời gian trên Instagram đối với việc thoát khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha dẫn đến sự sẵn sàng đóng góp thì nhóm quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự thoát khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha
và sự sẵn sàng đóng góp của người dùng đối với Intagram” Bài nghiên cứu nhằm cung cấp những hiểu biết sâu sắc về việc dành thời gian cho Instagram một cách hiệu quả góp phần cho hạnh phúc của người dùng, xã hội và doanh nghiệp Từ đó, doanh nghiệp có thể đưa ra các chiến dịch quảng bá những hành động thể hiện lòng biết ơn, lòng vị tha để tương tác tích cực với khách hàng trên Instagram
Trang 111.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu của nghiên cứu là đo lường mức độ ảnh hưởng giữa thoát
khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha và sự sẵn sàng đóng góp từ đó đề xuất các hàm ý quản trị giúp doanh nghiệp có thể đưa ra các chiến dịch quảng bá những hành động thể hiện lòng biết ơn, lòng vị tha để tương tác tích cực với khách hàng trên Instagram nhằm gia tăng sự sẵn sàng đóng góp của người dùng Instagram
Mục tiêu cụ thể: Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, nhóm nghiên cứu cần đưa ra
các mục tiêu cụ thể như sau:
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lòng biết ơn, lòng vị tha và sự sẵn sàng đóng góp của người dùng Instagram
- Đo lường mức độ ảnh hưởng giữa các yếu tố thoát khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha và sự sẵn sàng đóng góp
- Đưa ra hàm ý quản trị giúp doanh nghiệp có thể tạo ra các chiến dịch quảng bá phù hợp trên nền tảng mạng xã hội Instagram
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu cần đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến lòng biết ơn, lòng vị tha và sự sẵn sàng đóng góp của người dùng Instagram?
- Mức độ ảnh hưởng giữa thoát khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha và sự sẵn sàng đóng góp như thế nào?
- Hàm ý quản trị giúp doanh nghiệp có thể tạo ra các chiến dịch quảng bá phù hợp trên nền tảng mạng xã hội Instagram là gì?
Trang 121.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những yếu tố tác động đến sự sẵn sàng đóng góp của người dùng Instagram
- Đối tượng khảo sát: Những người đang sử dụng ứng dụng Instagram trên địa bàn Việt Nam
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Việc điều tra, khảo sát và thu thập dữ liệu được tiến hành thực hiện trong từ 08/2022 đến 11/2022
Dữ liệu thứ cấp: Thu thập và tìm kiếm thông tin trên những nghiên cứu, bài báo, trang
web, mạng xã hội chính thống thời gian tìm kiếm 08/2022 đến 01/10/2022
Dữ liệu sơ cấp: Thiết lập bảng câu hỏi, thu thập thông tin, đánh giá, phân tích số liệu từ
mẫu khảo sát của những người đang dùng Instagram tại Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian thu thập dữ liệu từ 06/11/2022 – 12/11/2022
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu trong giai đoạn sơ bộ: Thực hiện bằng phương pháp định tính để tổng hợp
các công trình nghiên cứu liên quan nhằm khám phá, xây dựng và bổ sung các thang đo từ
đó nhóm tiến hành xây dựng bảng câu hỏi khảo sát Tiếp đến, nhóm sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc sử dụng bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu Dữ liệu này được dùng để sàng lọc và hiệu chỉnh các biến quan sát bằng phương pháp phân tích độ tin cậy Cronbach Alpha để kiểm định độ tin cậy của các thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) bằng phầm mềm SPSS và AMOS
Nghiên cứu trong giai đoạn chính thức: Thực hiện bằng phương pháp định lượng thông
qua việc sử dụng bảng câu hỏi với người đang sử dụng Instagram Sau đó tiến hành kiểm tra, chọn lọc và phân tích dữ liệu thu thập được Sử dụng phương pháp phân tích độ tin cậy Cronbach Alpha để kiểm định độ tin cậy của các thang đo, phân tích nhân tố khám phá
Trang 13(EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)
để kiểm định các giả thuyết và mô hình nghiên cứu bằng phầm mêm SPSS và AMOS
1.6 Đóng góp đề tài
1.6.1 Đóng góp về lý thuyết
Nghiên cứu này giúp hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về thoát khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha và sự sẵng sàng đóng góp trong bối cảnh IG Kiểm định mối quan hệ giữa thoát khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha và sự sẵng sàng đóng góp Nghiên cứu này là tài liệu có ích cho những nghiên cứu trong lĩnh vực này tham khảo và hoàn thiện trong các nghiên cứu trong tương lai, giúp cho những nghiên cứu sau này có thể tham chiếu các khái niệm để dễ dàng xác định được hướng nghiên cứu và định hướng phương pháp nghiên cứu cho các nghiên cứu sau này
1.6.2 Đóng góp về quản trị
Nghiên cứu cung cấp những hiểu biết sâu sắc về sự thoát sự khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha, sự sẵn sàng đóng góp cho Instagram một cách hiệu quả từ đó doanh nghiệp có thể đưa ra các chiến dịch quảng bá những hành động thể hiện sự thoát sự khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha để tương tác tích cực với khách hàng trên Instagram nhằm gia tăng sự sẵn sàng đóng góp của người dùng Instagram Đồng thời khi
họ phát triển câu chuyện thương hiệu của họ sẽ khiến người dùng sẽ tạo ra sự thu hút đem lại giải trí cho người dùng và cuối cùng đem lại doanh số và lợi nhuận
1.7 Kết cấu đề tài
Đề tài nghiên cứu bước đầu đưa ra các phần tóm tắt khóa luận, lời cảm ơn, lời cam đoan, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục hình ảnh, danh mục phụ lục Nội dung chính của nghiên cứu được thực hiện ở 5 chương sau:
Chương 1: Tổng quan về đề tài
Ở chương này, nghiên cứu đã tổng hợp các thông tin xoay quanh nội dung tổng quan về đề tài, bao gồm: Bối cảnh nghiên cứu và lí do mà nhóm chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu mà nhóm nghiên cứu đặt ra; câu hỏi nghiên cứu giúp làm rõ hơn mục tiêu nghiên; đối tượng
Trang 14và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; đóng góp của đề tài nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận
Tiếp nối phần tổng quan đề tài, chương 2 sẽ phân tích các nội dung về cơ sở lý luận, bao gồm: Một số khái niệm liên quan đến sự thoát khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha và sự sẵn sàng đóng góp; các lý thuyết nền; một số nghiên cứu có liên quan cuối cùng
là phần nội dung liên quan đến việc phát triển giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Sau khi đưa ra các cơ sở lý luận quan trọng, nhóm nghiên cứu thực hiện chương tiếp theo
về phương pháp nghiên cứu Trong chương này phân tích những nội dung như: Thiết kế nghiên cứu; các công cụ thu thập dữ liệu; phương pháp thu thập dữ liệu và các phương pháp phân tích dữ liệu
Chương 4: Phân tích dữ liệu
Qua quá trình thu thập kết quả khảo sát để thực hiện kiểm định mối quan hệ giữa các yếu
tố, tác giả sẽ tiến hành phân tích dữ liệu và đưa ra các kết quả từ dữ liệu vừa phân tích
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Cuối cùng, thông qua những nội dung đã được trình bày trong 4 chương đầu thì chương cuối sẽ trình bày tóm tắt lại những mục tiêu và kết quả đã đạt được sau khi thực hiện nghiên cứu, bao gồm: kết quả nghiên cứu chính, hàm ý quản trị, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Thoát khỏi cảm giác tiêu cực
Theo tâm lý học thì “cảm xúc” là một trạng thái tâm lý có “tính nguyên thủy” của con người Để hình thành cảm xúc thì cần có đối tượng/sự kiện bên ngoài tác động Như vậy cảm xúc có thể hiểu là “sự phản ứng/rung động bên trong của con người trước tác động của ngoại cảnh” Cảm xúc tiêu cực thể hiện qua sự mệt mỏi, thất vọng và không hài lòng (Dai, Ali và Wang, 2020) hoặc cáu kỉnh (Lopez-Fernandez, 2018) Cảm giác tiêu cực cũng được hiểu là sự tức giận, lo lắng, tội lỗi, đố kỵ, ghen tuông (Lazarus, 1991) và liên quan đến tính dễ bị tổn thương (Brody và Hall, 2008) Trong khi những biểu hiện cảm xúc tiêu cực có thể dẫn đến ấn tượng về khả năng tự kiểm soát kém và khả năng điều chỉnh cảm xúc yếu (Gross, Richards và John, 2006) Lý thuyết mở rộng và xây dựng của Fredrickson (2001, 2008, 2013a) đặt ra rằng những cảm xúc tiêu cực có xu hướng được tập trung và liên kết với các quỹ đạo hành động, suy nghĩ cụ thể (tức giận và phá hủy chướng ngại vật) chẳng hạn như khi sự tức giận tạo ra nỗ lực phối hợp để phá hủy nó, hoặc một cảm xúc như ghê tởm dẫn đến việc từ chối những thực phẩm không lành mạnh hoặc độc hại (Lazarus, 2003)
Cảm xúc tiêu cực là sự tức giận hay sợ hãi khi làm một việc nào đó khiến ta không tự tin, cũng như cảm giác tiêu cực sẽ dẫn đến con người trở nên yếu và đễ bị tổn thương có thể tự làm tổn thương mình hoặc làm tổn thương người khác khi trong tâm trí ta xuất hiện cảm xúc tiêu cực đó Khi đã có có cảm xúc tiêu cực thì bản thân sẽ chỉ nghĩ những thứ không lạc quan gây cho mình cuộc sống khép kín và không phát triển được bản thân
Thoát khỏi cảm giác tiêu cực (Escape from negative feelings) hay giải toả cảm giác tiêu cực (Venting negative feelings) có ý nghĩa như nhau Người dùng thoát khỏi cảm giác tiêu cực bằng cách tạo nội dung trên mạng xã hội để nói lên sự bất mãn, trút bỏ sự tức giận, chống lại điều gì đó không công bằng (Leung, 2013)
Dựa vào những cơ sở trên, việc thoát khỏi cảm giác tiêu cực được hiểu là việc thoát khỏi cảm giác mệt mỏi, thất vọng, không hài lòng, cáu kỉnh, tức giận, lo lắng, tội lỗi, đố kỵ,
Trang 16ghen tuông,… thông qua việc nói lên sự bất mãn, trút bỏ sự tức giận của bản thân hoặc chống lại điều gì đó mà mình cảm thấy không công bằng,…
vệ chống trầm cảm, lo lắng và chủ nghĩa vật chất (Froh và cộng sự, 2011) Lợi ích của lòng
vị ơn sẽ khiến con người trở nên hạnh phúc hơn và vì thế khoa học về lòng biết ơn là khoa học về sự hạnh phúc (Emmons, 2007)
Lòng biết ơn còn là cảm xúc nảy sinh từ cá nhân (người thụ hưởng) nhận thấy rằng một đối tác thay đổi (nhà hảo tâm) đã cố ý hành động để cải thiện tình trạng của cá nhân nào
đó (Fredrickson, 2004), lòng biết ơn bao gồm các thành phần nhận thức, tình cảm hay hành
vi ví dụ như cá nhân nhận được lời ích từ các nhà hảo tâm, đánh giá cao nhận thức và thừa nhận lợi ích đó (Buck, 2004), lòng biết ơn còn được nói đến là đức tính công dân quan trọng hoàn toàn cần thiết cho việc vận hành xã hội (Emmons, 2004) được coi là cốt lõi tình cảm của sự có đi có lại (Becker, 1986)
Nói chung chúng ta có thể định nghĩa lòng biết ơn là chìa khóa mở ra một tương lai mới bởi khi có lòng biết ơn chúng ta sẽ có được sự thành công, dành được sự yêu quý của mọi người và nó giúp con người thoát khỏi những cảm giác tiêu cực cũng như lòng biết ơn khiến con người trở nên hạnh phúc hơn, cảm thấy yêu đời hơn cũng như mở ra một cuộc sống hay có được một cuộc sống mới khi chúng ta học được sự biết ơn Lòng biết ơn có thể nâng cao được mối quan hệ khi một cá nhân giúp cho một cá nhân khác hoặc tổ chức làm người đó cảm thấy biết ơn lòng biết ơn khiến con người trở nên hạnh phúc hơn, cảm
Trang 17thấy yêu đời hơn cũng như mở ra một cuộc sống hay có được một cuộc sống mới khi chúng
ta học được sự biết ơn
2.1.3 Lòng vị tha và những hành vi vị tha trên Instagram
Lòng vị tha ở con người được thúc đẩy bởi một phần là sự đồng cảm và quan tâm đến lợi ích của người khác (Silka và Horors, 2011) Lòng vị tha có thể được học và duy trì trong suốt cuộc đời của một cá nhân Các hành động vị tha của cá nhân, mỗi hành động có thể không mang lại lợi ích (hoặc có thể gây hại) cho tác nhân, tuy nhiên có thể có lợi khi lặp
đi lặp lại theo thời gian (Rachlin, 2002) Bên cạnh đó, lòng vị tha được đề cập đến với một trạng thái động lực có mục tiêu cuối cùng là tăng thêm phúc lợi xã hội cho người khác (Batson, 2017)
Lòng vị tha, được định nghĩa là hành vi tốn kém có lợi cho người khác (Kurzban, Chellew và West, 2015) là một đặc điểm quan trọng của hành vi con người (Rand và Nowak, 2013) Lợi ích của lòng vị tha đối với những người khác được thể hiện trong việc cung cấp hàng hóa công cộng, sự tồn tại của các tổ chức tình nguyện và hoạt động tình nguyện, hoạt động từ thiện tư nhân và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hiến máu và nội tạng, và giúp đỡ trong các thảm họa (Piliavin và Charng, 1990) Hơn nữa, ở cấp độ tâm
Burton-lý, lòng vị tha quan trọng vì hai lý do Lòng vị tha không chỉ là chìa khóa của xã hội hóa
mà còn được coi là một đặc điểm nhân cách quan trọng (Krebs, 1970)
Nhìn chung, lòng vị tha xuất phát từ sự đồng cảm và quan tâm đến lợi ích của người khác,
hy sinh điều gì đó như thời gian, tiền bạc, chia sẻ kiến thức,… cho người khác mà không cần sự đáp trả Lòng vị tha có thể đem lại lợi ích cho bản thân khi giúp giải tỏa chính mình, cảm thấy tốt về bản thân mình vì đã tử tế với người khác Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của lòng vị tha không phải để đem lại lợi ích cho bản thân mình mà là đem lại lợi ích cho người khác
2.1.4 Sự sẵn sàng đóng góp và đóng góp trực tuyến
Có ba loại quyên góp đó chính là máu, thời gian và tiền bạc Tùy các hình thức quyên góp khác nhau sẽ có liên quan đến nhận thức khác nhau của người tiêu dùng (Pentecost và Andrews, 2010; Johnson và Grimm, 2010) Tiền là hình thức quyên góp được áp dụng nhiều nhất trên SNS (Social Network Service: Dịch vụ mạng xã hội), ở đây tiền có thể
Trang 18được quyên góp và thu thông qua giao dịch trực tuyến Có những lý do nào khiến mọi người quyên góp và những yếu tố nào là động cơ thúc đẩy họ quyên góp? Nghiên cứu cho thấy rằng hành vi quyên góp bị ảnh hưởng bởi nhận thức của các cá nhân phù hợp với việc quyên góp dựa trên giá trị, sự hiểu biết và thái độ của họ (Johnson và Grimm, 2010; Kasri, 2013) Các yếu tố nội tại xuất phát từ mong muốn cơ bản của con người là giúp đỡ những người cần giúp đỡ, chẳng hạn như trách nhiệm (Lee và Chang, 2007; Kasri, 2013), mong muốn tạo ra sự thay đổi (Pentecost và Andrews, 2010; Kasri, 2013) và nghĩa vụ đạo đức (Knowles và cộng sự, 2012)
Quyên góp không chỉ tồn tại như một quy trình thủ công mà còn tồn tại dưới dạng quyên góp trực tuyến Khi công nghệ Internet xuất hiện và ngày càng phát triển, thương mại điện
tử trở nên phổ biến trong cuộc sống con người, việc quyên góp cũng có những bước phát triển theo Quyên góp trực tuyến trở thành một hình thức quyên góp thay thế cho việc gây quỹ vì các cách truyền thống để quyên góp tiền tệ trở nên kém hiệu quả hơn (Hoefer, 2012) Internet phát triển đã trở thành một nền tảng quan trọng của quyên góp trực tuyến, là một công cụ quan trọng hỗ trợ các hoạt động từ thiện để quyên góp tiền, tài trợ, quảng bá sự kiện từ thiện và tuyển dụng tình nguyện viên (Reddick và Ponomariov, 2012) Các tổ chức phi lợi nhuận đã chuyển từ quyên góp thủ công sang trực tuyến do khả năng của Internet trong việc cung cấp ít thời gian hơn, hiệu quả hơn, nhanh chóng, trực tiếp và dễ dàng trong việc chuyển tiền Do đó, việc sử dụng Internet như một nền tảng để quyên góp đã phát triển đáng kể trong những năm gần đây (Shier và Handy, 2012) Hoefer (2012) đã đề xuất ba kỹ thuật (tiếp thị liên kết, quyên góp trực tuyến và tư cách thành viên, và sản phẩm thông tin) cho các tổ chức phi lợi nhuận trong việc duy trì và kiếm tiền thông qua Internet
Bằng chứng về sự sẵn sàng chia sẻ trực tuyến còn được chứng minh bởi sự chia sẻ kiến thức ngày càng tăng giữa các thành viên OC (Online Community: cộng đồng trực tuyến) (Zhou và cộng sự, 2014) Ví dụ, Wikipedia, nơi người dùng Internet cung cấp và chỉnh sửa nội dung, với nhiều biên tập viên tình nguyện không tiếc tiền (Arakawa và Matsuda, 2016) Các thành viên OC thể hiện các hành vi hỗ trợ lẫn nhau và sẵn sàng giúp đỡ và cung cấp thông tin miễn phí (Chu, 2009), mặc dù bản thân thông tin thường có giá trị
Có thể thấy đóng góp là hành động giúp đỡ những người cần giúp đỡ Đóng góp có thể thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến Bên cạnh đó, việc đóng góp không chỉ
Trang 19gói gọn trong việc quyên góp tiền bạc, thời gian, máu mà còn là việc chia sẻ thông tin, kiến thức, cung cấp nội dung,…cho những đối tượng có nhu cầu về thông tin Thông qua hình thức trực tuyến, con người có thể dễ dàng đóng góp cho cuộc sống của mình và của người khác hơn Sẵn sàng đóng góp được hiểu là việc tự nguyện và cảm thấy vui vẻ, thích thú khi đóng góp
2.2 Các lý thuyết nền
2.2.1 Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM)
Ngày nay, Internet ngày càng được sử dụng phổ biến và phát triển rộng rãi Việc sử dụng
mô hình TAM để giải thích việc sử dụng Internet với mục đích tiếp cận và tương tác với khách hàng là hoàn toàn hợp lý Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) được Davis (1986) phát triển dựa trên lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) Mục đích của TAM là giải thích các yếu tố quyết định đến việc chấp nhận công nghệ, từ đó giải thích hành vi của người sử dụng công nghệ TAM đề xuất yếu tố Tính dễ sử dụng và Nhận thức hữu ích của công nghệ
là hai yếu tố dự đoán về thái độ, dự định và hành động sử dụng công nghệ của người dùng Cảm nhận dễ sử dụng cũng được coi là ảnh hưởng đến tính hữu ích được nhận thức của công nghệ Trong mô hình chấp nhận công nghệ, nhận thức hữu ích đề cập đến “mức độ người dùng tin rằng việc sử dụng công nghệ sẽ cải thiện hiệu suất công việc của họ” (Davis
và cộng sự, 1989) Trong khi đó, Tính dễ sử dụng được hiểu là mức độ người dùng nhận thức được việc sử dụng công nghệ sẽ dễ dàng TAM được mở rộng sử dụng trong nhiều lĩnh vực như công nghệ thông tin, ngân hàng trực tuyến, mua hàng trực truyến, thương mại điện tử, ví điện tử, Mô hình TAM được xem là đặc trưng để ứng dụng vào việc nghiên cứu việc sử dụng một hệ thống thông tin, trong đó mạng xã hội như Instagram cũng được xem là một sản phẩm của sự phát triển công nghệ thông tin Chính vì lý do đó mà mô hình TAM là mô hình phù hợp để áp dụng cho đề tài nghiên cứu này
Trang 20Hình 2.1 Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Davis, 1989)
2.2.2 Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)
Thuyết hành động hợp lý (TRA) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian Năm 1975 mô hình TRA được phát triển bởi Fishbein
và Ajzen Đây là mô hình dự báo về ý định hành vi, kéo theo sự dự báo về thái độ và dự báo về hành vi Theo đó, có 3 khái niệm được đề cập là: ý định hành vi (Behavioral Intention – BI), thái độ (Attitude – A) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm – SN) Trong
đó, ý định hành vi chịu sự ảnh hưởng của thái độ và chuẩn chủ quan Thái độ đối với hành
vi là sự đánh giá của cá nhân vào việc thực hiện hành vi đó, có thể tốt hoặc không tốt Thái
độ được đánh giá bởi niềm tin vào thuộc tính và sự đánh giá mức độ của hệ quả Chuẩn chủ quan là nhận thức của cá nhân bị ảnh hưởng bởi những người xung quanh được đánh giá bởi niềm tin của những người có ảnh hưởng tới một cá nhân và động lực thực hiện hành
vi đó của cá nhân này theo suy nghĩ của những người tác động đến Mặc dù vậy, vẫn có một số trường hợp một cá nhân có thái độ rất tốt đối với hành vi và áp lực xã hội đủ mạnh
để thực hiện, nhưng lại không có ý định hoặc ý định thực hiện hành vi đó rất thấp
Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các lợi ích cần thiết và có
Các biến
môi trường
Nhận thức hữu ích
Cảm nhận về việc dễ sử dụng
Thái độ
Dự định
Hành động
Trang 21mức độ quan trọng khác nhau Nếu biết trong số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần kết quả lựa chọn của người tiêu dùng Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…) những người này thích hay không thích họ mua Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ / phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo ý muốn của những người có ảnh hưởng đến hành vi mua của họ (Ajzen và Fishbein, 1975)
Qua đó có thể thấy rằng trong quá trình mà người tiêu dùng có hành vi mua sắm, những người có liên quan sẽ có ảnh hưởng đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng và là động
cơ để thúc đẩy người tiêu dùng có xu hướng hành vi làm theo những ý kiến đóng góp đó
Đó là yếu tố cơ bản để đánh giá chuẩn chủ quan Khi người tiêu dùng đưa ra quyết định mua, mức độ thân thiết của những người có liên quan càng cao thì sức ảnh hưởng đối với người tiêu dùng càng lớn Những người có liên quan cũng sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của người tiêu dùng, niềm tin càng lớn thì xu hướng hành vi mua sắm cũng bị ảnh hưởng theo Khi cá nhân có một thái độ tích cực với đối với việc thực hiện hành vi và những tiêu chuẩn chủ quan cho phép điều đó sẽ làm gia tăng hành vi của các cá nhân Khi những người xung quanh mua sắm và có thái độ tích cực, mọi người sẽ có xu hướng tác động tích cực lên khách hàng về thái độ đối với hành vi chuẩn chủ quan Khi người tiêu dùng hình thành ý định mua, họ sẽ tự do hành động nhưng trong thực tế, hành động sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều
từ môi trường bên ngoài Thuyết hành động hợp lý giúp dự đoán và giải thích xu hướng để thực hiện hành vi bằng thái độ hướng đến hành vi của khách hàng
Mục đích của thuyết hành động hợp lý là nhằm giải thích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi của khách hàng Đề tài của nhóm nghiên cứu về thái độ và hành vi của người tiêu dùng đối với việc sử dụng các nội dung trên IG cho việc mua sắm cũng như hành vi và thái độ của người dùng khi tiếp xúc các bài viết kêu gọi đóng góp của cộng đồng Vì vậy, thuyết hành động hợp lý là nền tảng giúp nhóm hiểu rõ hơn về thái độ cũng như hành vi của người dùng khi sử dụng mạng xã hội IG
Trang 22Hình 2.2 Thuyết hành động hợp lý TRA (Fishbein và Ajzen, 1975)
2.2.3 Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior– TPB)
Thuyết hành vi dự định (TPB) được Ajzen phát triển từ lý thuyết hành động hợp lí do thuyết này bị giới hạn khi hai yếu tố thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan không đủ
để giải thích cho hành động của người tiêu dùng Vì vậy, năm 1991 Thuyết hành vi dự định (TPB) được Ajzen bổ sung thêm nhân tố mới chính là nhận thức kiểm soát hành vi Nhận thức kiểm soát hành vi được định nghĩa là nhận thức của một cá nhân về sự dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện một hành vi Cách cá nhân đó nỗ lực để thực hiện hành vi
và khả năng mà cá nhân đó có thể kiểm soát hành vi đều ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi đó
Theo mô hình TPB, động cơ hay ý định (xu hướng thực hiện hành vi) là nhân tố thúc đẩy
cơ bản của hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng Xu hướng thực hiện hành vi dựa vào 3 yếu tố bởi ba tiền tố cơ bản là thái độ, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức Thái độ được định nghĩa là xu hướng tâm lý của mọi người về đối tượng thông qua việc đánh giá tích cực hoặc tiêu cực, thái độ đối với hành vi thực hiện Chuẩn chủ quan là sự ảnh hưởng xã hội mà vấn đề được đề cập đến là sức ép xã hội được cảm nhận để thực hiện
Niềm tin đối với
thuộc tính
Đo lường niềm tin
đối với những thuộc
Xu hướng hành vi
Hành vi thực sự
Trang 23hay không thực hiện hành vi đó Yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức sự việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi, điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các
cơ hội để thực hiện hành vi
Mục đích của thuyết hành vi dự định là để bổ sung cho thuyết hành động hợp lý bằng ba tiền tố cơ bản là thái độ, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức Động cơ hay ý định là nhân tố thúc đẩy cơ bản của hành vi tiêu dùng của người dùng cho nên khi
áp dụng lý thuyết này trong bài nhằm giúp người dùng khi sử dụng IG giải thích được hành động của người dùng cũng như hành vi sử dụng IG
Hình 2.3 Thuyết hành vi dự định TPB (Ajzen và Fishbein, 1991)
2.2.4 Lý thuyết sử dụng và hài lòng (Uses và Gratification – U&G)
Lý thuyết sử dụng và hài lòng (Uses and Gratifications theory - U&G) là một thuyết về tâm lý học xã hội đã và đang được phát huy những giá trị tích cực trong việc nghiên cứu truyền thông và lý thuyết này đề cao vai trò người sử dụng Trong lý thuyết này, người dùng được coi là chủ thể quyết định việc chọn lựa và sử dụng các phương tiện truyền thông
để đáp ứng các nhu cầu cụ thể Lý thuyết U&G cho rằng “con người là chủ thể của các hoạt động và hệ thống nhu cầu là nguồn gốc các hoạt động” (Katz, Gurevitch và Hass, 1973) Như vậy, lý thuyết U&G đã cung cấp cái nhìn toàn diện, sâu sắc về động cơ lựa chọn và sử dụng các phương tiện truyền thông của người dùng, đây là vấn đề cốt lõi mà lý thuyết U&G hướng tới Mặc dù được đặt nền móng từ khá sớm nhưng mãi đến những năm
Trang 241970, lý thuyết U&G mới được hình thành Trong thời gian trên, lý thuyết này tiếp cận cả hai khía cạnh: chức năng và tâm lý
Tiếp cận chức năng nhằm tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi: cách mà người dùng sử dụng phương tiện truyền thông và nội dung đăng tải trên các phương tiện truyền thông Tiếp cận này đã tìm ra nhiều lý do cho việc sử dụng các phương tiện truyền thông
Tiếp cận thứ hai về khía cạnh tâm lý với mục tiêu tìm ra đáp án cho câu hỏi: động cơ nào dẫn đến việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện truyền thông Một trong những tiền đề trung tâm của U&G là để giải thích tác động của việc sử dụng phương tiện, động cơ và hành vi của cá nhân phải được hiểu (Rubin, 1993) Trong công trình của McQuail (1984), bốn loại chính đối với việc sử dụng phương tiện cá nhân đã được đưa ra Chúng bao gồm: thông tin (chẳng hạn như tìm hiểu về các sự kiện có liên quan); bản sắc cá nhân (bao gồm tìm kiếm sự củng cố cho các giá trị cá nhân và tìm kiếm các mô hình hành vi); hòa nhập
và tương tác xã hội (chẳng hạn như xác định với người khác và đạt được cảm giác thân thuộc); và giải trí (muốn “thoát khỏi” hoặc được chuyển hướng khỏi các vấn đề, hoặc chỉ đơn giản là để thư giãn hoặc lấp đầy thời gian) Tiếp sau đó, Katz, Gurevitch và Hass (1973) đã phát triển các nhu cầu cụ thể dựa trên chức năng xã hội và tâm lý để hình thành năm nhóm như sau: (1) nhu cầu nhận thức (nhu cầu liên quan đến việc cũng cố thông tin, kiến thức, hiểu biết); (2) nhu cầu tình cảm (các nhu cầu liên quan đến cảm xúc, niềm vui, cảm giác); (3) nhu cầu hòa nhập (các nhu cầu liên quan đến củng cố uy tín, lòng tin, sự ổn định và địa vị); (4) nhu cầu hòa nhập xã hội (các nhu cầu liên quan đến việc tăng cường kết nối và tương tác với gia đình, bạn bè); (5) nhu cầu giải tỏa căng thẳng ( các nhu cầu liên quan đến trốn thoát và giải tỏa căng thẳng) Lý thuyết U&G tạo ra một sự thay đổi về khái niệm tập trung từ những gì phương tiện truyền thông làm với mọi người, sang những
gì mọi người làm với phương tiện truyền thông (Rubin, 1993)
Mục đích của lý thuyết sử dụng và hài lòng này cung cấp cái nhìn toàn diện, sâu sắc về động cơ lựa chọn và sử dụng các phương tiện truyền thông của người dùng trong đó có IG, trong lý thuyết người dùng được coi là chủ thể quyết định việc chọn lựa và sử dụng các phương tiện truyền thông để đáp ứng các nhu cầu cụ thể trong đó có IG nên nhóm đã áp dụng lý thuyết này vào nghiên cứu
Trang 252.3 Các nghiên cứu liên quan
2.3.1 Nghiên cứu của Leung (2013)
Phương tiện truyền thông xã hội là nền tảng tốt để những người tự ái có thể kiểm soát việc trình bày bản thân Nghiên cứu này xem xét vai trò của sự hài lòng được tìm kiếm và lòng
tự ái trong việc tạo nội dung trên mạng xã hội và khám phá sự khác biệt thế hệ về động cơ
và tính cách tự ái khi sử dụng Facebook, blog và diễn đàn
Dữ liệu cho nghiên cứu này được thu thập thông qua một cuộc khảo sát qua điện thoại trong Hồng Kông với một mẫu xác suất người dùng Internet ở độ tuổi 18– 69 Ban đầu được thiết kế bằng tiếng Anh, công cụ khảo sát đã được chuyển sang tiếng Trung trước khi thử nghiệm thí điểm Tỷ lệ trả lời là 41% với tổng số 596 cuộc phỏng vấn hoàn chỉnh và sai số lấy mẫu bằng ± 3,1% ở mức tin cậy 0,05
Kết quả phân tích nhân tố cho thấy việc tạo ra nội dung sử dụng mạng xã hội đã thỏa mãn
5 nhu cầu tâm lý xã hội: thể hiện tình cảm, trút bỏ cảm xúc tiêu cực, được công nhận, được giải trí và đáp ứng nhu cầu nhận thức Đặc biệt, những người sử dụng mạng xã hội để đáp ứng nhu cầu xã hội và nhu cầu tình cảm của họ có xu hướng sử dụng Facebook và blog Ngược lại, khi người dùng muốn giải tỏa sự bất bình, họ thường tìm đến các diễn đàn Kết quả cũng cho thấy những người thích triển lãm dường như sử dụng mạng xã hội để thể hiện tình cảm, bày tỏ cảm xúc tiêu cực của họ và đạt được sự công nhận Nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt thế hệ trong việc sử dụng Facebook và blog như một phương tiện để thỏa mãn nhu cầu xã hội hoặc nhu cầu tình cảm Tất cả các thế hệ đều đồng ý diễn đàn là phương tiện xã hội ưa thích để đạt được sự công nhận Tuy nhiên, sự khác biệt về cách sử dụng mạng xã hội đã được tìm thấy giữa những Baby Boomers (người được sinh ra trong khoảng
từ năm 1946 đến năm 1964) với những tính cách tự ái khác nhau Bài báo bao gồm một cuộc thảo luận về những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất cho các nghiên cứu trong tương lai
2.3.2 Nghiên cứu của Pittman và Reich (2016)
Nghiên cứu Mạng xã hội và sự cô đơn: Tại sao một bức ảnh trên Instagram có thể có giá trị hơn một nghìn từ Twitter? của Pittman & Reich được thực hiện với mục tiêu xem xét tài liệu truyền thông liên quan đến việc sử dụng tiềm năng và sự hài lòng được cung cấp
Trang 26bởi năm nền tảng truyền thông xã hội đang được quan tâm và giải thích lý do tại sao các nền tảng truyền thông xã hội dựa trên hình ảnh (ví dụ: Snapchat và Instagram) về mặt lý thuyết nên cung cấp mức độ hiện diện xã hội mô phỏng cao nhất, dẫn đến giả thuyết rằng các nền tảng này sẽ có hiệu quả nhất trong việc chống lại sự cô đơn Vì các nền tảng truyền thông xã hội dựa trên văn bản (ví dụ: Twitter và Yik Yak) và hỗn hợp (ví dụ: Facebook) dường như cung cấp mức độ hiện diện xã hội mô phỏng thấp hơn, nên tác giả không kỳ vọng chúng sẽ cải thiện sự cô đơn và định hình các tác động tiềm ẩn của chúng đối với sức khỏe tâm lý là những câu hỏi nghiên cứu mở hơn là những giả thuyết chính thức
Nghiên cứu với cỡ mẫu là 253 người tham gia từ một trường đại học lớn ở tây bắc Hoa Kỳ
sử dụng khảo sát thiết kế hỗn hợp để kiểm tra Tất cả các khía cạnh của nghiên cứu này đều được thực hiện trực tuyến bằng phần mềm khảo sát Qualtrics Kết quả định lượng cho thấy rằng sự cô đơn có thể giảm xuống, trong khi hạnh phúc và sự hài lòng với cuộc sống
có thể tăng lên, như một chức năng của việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội dựa trên hình ảnh Ngược lại, việc sử dụng phương tiện dựa trên văn bản có vẻ không hiệu quả Kết quả định tính cho thấy rằng những tác động quan sát được có thể là do sự thân mật được nâng cao do sử dụng mạng xã hội dựa trên hình ảnh (so với dựa trên văn bản) Như vậy, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng người ta càng sử dụng nhiều nền tảng truyền thông xã hội dựa trên hình ảnh, thì người đó càng hạnh phúc, hài lòng với cuộc sống và ít cảm thấy cô đơn hơn
2.3.3 Nghiên cứu của Casaló Flavián và Ibáñez-Sánchez (2017)
Mục đích của nghiên cứu này là để xem xét vai trò của chủ nghĩa lạc quan được nhận thức
và sự hài lòng trong việc xác định ý định tương tác của người tiêu dùng và hành vi tương tác thực tế của họ (số lượt thích, bằng cách nhấn vào biểu tượng trái tim và nhận xét) trong tài khoản Instagram chính thức của thương hiệu Ngoài ra, chúng tôi điều tra ảnh hưởng của nhận thức của người tiêu dùng về các đặc điểm của nội dung được tạo trong tài khoản (tính nguyên bản, số lượng và chất lượng được cảm nhận) đối với chủ nghĩa lạc quan và
sự hài lòng nhận thức được của họ
Dữ liệu được thu thập theo hai giai đoạn từ 808 thành viên trên tài khoản Instagram chính thức của thương hiệu thời trang Đầu tiên, những người tham gia trả lời một bảng câu hỏi trực tuyến để đánh giá nhận thức của họ, sự hài lòng và ý định tương tác Thứ hai, 1 tháng
Trang 27sau, đo lường số lượt thích và nhận xét được thực hiện bởi mỗi người tham gia trên tài khoản Instagram chính thức của thương hiệu trong tháng đó Sử dụng một phần bình phương nhỏ nhất để phân tích dữ liệu
Chủ nghĩa lạc quan nhận thức được phát hiện ảnh hưởng đến cả sự hài lòng và ý định tương tác trên Instagram, từ đó ảnh hưởng đến hành vi thực tế Bên cạnh đó, tính nguyên bản của nội dung (số lượng và chất lượng) được cảm nhận là đặc điểm phù hợp để phát triển nhận thức chủ nghĩa lạc quan Những phát hiện này cung cấp cho các nhà quản lý một tầm nhìn chung về hành vi của người tiêu dùng trên Instagram, nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ nghĩa lạc quan để tạo ra trải nghiệm hài lòng
2.3.4 Nghiên cứu của Wong và Chan (2017)
Nghiên cứu khám phá các mối quan hệ của mối quan hệ xã hội trực tuyến, lòng vị tha và
hỗ trợ xã hội trực tuyến nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của người dùng trang mạng xã hội về hỗ trợ xã hội trực tuyến Cụ thể, nghiên cứu điều tra tác động của mối quan hệ xã hội trực tuyến và lòng vị tha đối với hỗ trợ xã hội trực tuyến Phát hiện của nghiên cứu hỗ trợ thực nghiệm cho sự tồn tại của hỗ trợ xã hội trực tuyến Nghiên cứu này đề xuất và kiểm tra một mô hình lý thuyết về hỗ trợ xã hội trực tuyến, đặc biệt chú ý đến vai trò của lòng vị tha và các mối quan hệ xã hội (Wong và Chan 2017) Trong nghiên cứu này, tác giả đặt câu hỏi liệu cấu trúc của các trang mạng xã hội trực tuyến và tính cách của từng cá nhân có ảnh hưởng đến sự hỗ trợ xã hội trực tuyến hay không Tác giả cho rằng sức mạnh của mối quan hệ giữa người dùng và lòng vị tha cung cấp thông tin khiến người dùng tin rằng họ thuộc về một mạng lưới giao tiếp và nghĩa vụ chung Tác giả cũng nhận thấy các trang mạng xã hội có thể tạo ra sự hỗ trợ xã hội
Nghiên cứu này thực hiện một bảng câu hỏi khảo sát đối với học sinh trung học đăng ký xét tuyển đại học sau khi công bố kết quả kỳ thi công khai được thực hiện vào mùa hè năm
2016 Những học sinh tốt nghiệp trung học này là đại diện tốt về người dùng các trang mạng xã hội vì các nghiên cứu trước đây cho thấy việc sử dụng mạng xã hội đặc biệt phổ biến ở các nhóm tuổi trẻ hơn (Greenwood, Perrin và Duggan, 2016) Họ được hỏi trong khi xếp hàng chờ nộp hồ sơ vào một trường đại học địa phương ở Hồng Kông, trả lời một
số câu hỏi về trải nghiệm của họ trên các trang mạng xã hội Hầu hết những người tham gia hoàn thành bảng câu hỏi trong vòng 20 phút Hai trăm mười ba bảng câu hỏi đã hoàn
Trang 28thành đã được trả lại để phân tích Có 58 (27,2%) nam và 155 (72,8%) nữ Những người tham gia có độ tuổi từ 17 đến 23, với độ tuổi trung bình là 18,42 tuổi
Kết quả cho thấy rằng mối quan hệ xã hội trực tuyến (β = 0,284, p <0,001) và lòng vị tha (β = 0,504, p <0,001) có liên quan đáng kể đến hỗ trợ xã hội trực tuyến Hơn nữa, lòng vị tha có liên quan đáng kể đến các mối quan hệ xã hội trực tuyến (β = 0,674, p <0,001) Phương sai được mô hình giải thích cho mối quan hệ xã hội trực tuyến và hỗ trợ xã hội trực tuyến với R2 lần lượt là 454 và 527 (Wong và Chan 2017) Tác động của các mối quan hệ xã hội trực tuyến và lòng vị tha đối với hỗ trợ xã hội trực tuyến, và tác động của chúng sẽ được thảo luận Kết quả không chỉ xác nhận tác động của lòng vị tha đối với hành
vi trực tuyến, chúng còn cho thấy nó có tác động mạnh mẽ đến các mối quan hệ xã hội, điều chưa được công nhận trước đây Kết quả của nghiên cứu còn chỉ ra các mối quan hệ
xã hội ảnh hưởng đến sự hỗ trợ trực tuyến lẫn nhau, hỗ trợ xã hội trực tuyến phụ thuộc nhiều vào lòng vị tha hơn là các ràng buộc xã hội Bên cạnh đó, lòng vị tha còn giúp xây dựng mối quan hệ xã hội
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Wong và Chan (2017)
Xã hội trực tuyến
bắt buộc
Lòng vị tha
Xã hội trực tuyến ủng hộ
H1
H3
H2
Trang 292.3.5 Nghiên cứu của Konrath và Handy (2018)
Nghiên cứu quy mô phát triển và xác thực các động cơ quyên góp được thực hiện với mục tiêu xác định lý do tại sao mọi người đóng góp từ thiện, dựa trên mô hình lý thuyết về lợi ích cá nhân và lợi ích công cộng cho các nhà tài trợ Ở nghiên cứu 1, một nhóm ban đầu gồm 54 mục cho một mẫu những người Mỹ đã quyên góp trong năm qua Một phân tích nhân tố khám phá đã hỗ trợ sáu yếu tố cuối cùng trong thang đo động cơ đóng góp: lòng tin, lòng vị tha, xã hội, lợi ích về thuế, chủ nghĩa vị kỷ và ràng buộc Sau đó, tác giả xác minh cấu trúc nhân tố này trong một phân tích nhân tố khẳng định Kết quả nghiên cứu 1
đã phát triển và cung cấp một số bằng chứng xác thực và độ tin cậy ban đầu cho thang đo động cơ quyên góp Một phân tích nhân tố khám phá được thực hiện và tiếp theo là phân tích song song đã khám phá ra sáu động cơ tâm lý chính để quyên góp cho các tổ chức từ thiện Những lý do hàng đầu mà những người tham gia quyên góp là vì lý do vị tha, vì họ tin tưởng các tổ chức và vì những người khác mà họ biết quan tâm đến việc quyên góp Những lý do vì lợi ích cá nhân ít quan trọng hơn đối với những người tham gia (ví dụ, chủ nghĩa vị kỷ, hạn chế tài chính và tín dụng thuế)
Trong Nghiên cứu 2, tham dự có 130 sinh viên đến từ Đại học Michigan và Đại học Pennsylvania 26 sinh viên đã không hoàn thành bảng câu hỏi thứ hai, do đó để lại cỡ mẫu cuối cùng là 104 Sau khi cung cấp thông tin nhân khẩu học, những người tham gia đã hoàn thành thang đo động cơ quyên góp trong hai phiên riêng biệt, cách nhau 2 tuần Kết quả của nghiên cứu cho thấy những lý do hàng đầu mà những người tham gia quyên góp là lòng vị tha, vì họ tin tưởng các tổ chức và vì những người khác mà họ biết quan tâm đến việc quyên góp Các mối tương quan kiểm ra - kiểm tra lại cho sáu thang số phụ cho thấy
sự ổn định hợp lý theo thời gian
2.3.6 Nghiên cứu của Eckhaus và Sheaffer (2019)
Nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng đóng góp hàng hóa và dịch vụ trên mạng
xã hội tập trung vào cộng đồng trực tuyến liên quan đến các yếu tố sự sẵn lòng đóng góp hàng hóa và dịch vụ Tác giả đưa ra các giả thuyết rằng tăng cường lòng tự trọng ản hưởng đến sự sẵn sàng đóng góp tích cực cho cộng đồng mạng – OC (Online Community) nhu cầu tương tác xã hội ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đóng góp tích cực cho OC; lòng tự trọng
và tương tác xã hội làm trung gian cho mối quan hệ tương quan giữa địa vị và sự sẵn sàng
Trang 30đóng góp cho OC; giá trị chủ quan của đóng góp, mức độ tiếp xúc với các trang web đóng góp và mức độ sẵn sàng đóng góp cho xã hội càng cao thì mức độ sẵn sàng đóng góp cho
OC càng cao (Eckhaus và Sheaffer, 2019)
Nghiên cứu sử dụng 55 mục để kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi được phát trực tuyến (Google Docs) và ngoại tuyến cho gia đình, bạn bè Với 1440 bảng câu hỏi đã được phân phát, trong đó 1.229 bảng câu hỏi đã được trả lại (85,3%), 43,4% người được hỏi là nam và 56,6% là nữ Hầu hết các đối tượng tham gia khảo sát có độ tuổi
từ 18–39 (83,5%), độ tuổi này chiếm ưu thế nhất trong môi trường kỹ thuật số (Srinivasan, 2015) Nghiên cứu đã sử dụng EFA, tiếp đến là CFA để kiểm tra tính hợp lệ hội tụ và phân biệt, tiếp theo là Cronbach Alpha cho tính nhất quán bên trong được xác định để thiết lập
độ tin cậy của thang đo phụ Cuối cùng, SEM được áp dụng để kiểm tra độ phù hợp của
mô hình
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra những tác động tích cực của lòng tự trọng, tương tác xã hội, tầm quan trọng xã hội, mức độ tiếp xúc và giá trị chủ quan của những đóng góp đối với sự sẵn sàng đóng góp Lòng tự trọng và tương tác xã hội làm trung gian giữa địa vị và sự sẵn sàng đóng góp, tuy nhiên kết quả cho thấy địa vị không còn đủ như một động lực để đóng góp, bởi vì nó được trung gian bởi lòng tự trọng và tương tác xã hội
Trang 31Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Eckhaus và Sheaffer (2019)
2.3.7 Nghiên cứu của Church, Thambusamy và Nemati (2020)
Sự lan truyền thông tin và ảnh hưởng trong mạng xã hội đã là lĩnh vực nghiên cứu phổ biến trong một thời gian, nhưng gần đây, một xu hướng nghiên cứu đã xuất hiện trong đó nhà nghiên cứu tìm cách tìm hiểu cách người dùng có thể tác động mạnh mẽ đến ý kiến cộng đồng, thường sử dụng thông tin xuyên tạc hoặc sai sự thật Những thông tin xuyên tạc như vậy của người dùng đang gây rắc rối sâu sắc cho bất kỳ mạng xã hội nào, nơi mà việc tạo ra doanh thu và danh tiếng của họ phụ thuộc vào thông tin chính xác và đáng tin cậy do người dùng tạo ra Nghiên cứu này điều tra các động cơ cá nhân thúc đẩy và ngăn cản ý định xuyên tạc thông tin cá nhân Những động lực này đưa ra giả thuyết là kết quả của sự phân đôi giữa thái độ cạnh tranh và vị tha tồn tại trong các cộng đồng mạng xã hội, trong đó người dùng bị ảnh hưởng bởi mong muốn vừa giúp đỡ vừa cạnh tranh với thành viên khác Tác giả đã đề xuất rằng mong muốn cạnh tranh và lòng vị tha ảnh hưởng đến ý định xuyên tạc thông tin cá nhân trên OSN Hơn thế nữa, tác giả còn đưa ra giả
Lòng tự trọng Trạng thái
Trang 32thuyết rằng những mong muốn cạnh tranh và mong muốn vị tha đó được thúc đẩy bởi nhận thức về lợi ích danh tiếng và lợi ích khoái lạc do sự tham gia của người dùng trên OSN
Phương pháp tác giả đã sử dụng là khảo sát dựa trên web được tạo ra để kiểm tra thực nghiệm các giả thuyết được phát triển trong mô hình lý thuyết Cuộc khảo sát được thực hiện thông qua Qualtrics, một công cụ trực tuyến để thiết kế và phân phối khảo sát Thiết
bị đã được thử nghiệm trước thông qua một thử nghiệm thí điểm quy mô nhỏ Trong nghiên cứu thử nghiệm này, cuộc khảo sát đã được thực hiện với tổng số 20 người trả lời Phản hồi của họ sau đó được đưa vào cuộc khảo sát để thu thập dữ liệu chính Những thay đổi cụ thể do thử nghiệm thí điểm bao gồm một số thay đổi về bố cục đối với bảng câu hỏi khảo sát và một số sửa đổi và chỉnh sửa nhỏ đối với hướng dẫn khảo sát Những người tham gia khảo sát được tuyển chọn từ một nhóm sinh viên đại học có sẵn tại một trường Đại học Đông Nam lớn ở Hoa Kỳ Những người tham gia này được chọn vì họ là những người tiêu biểu của mạng xã hội trực tuyến (Scheepers, 2014) và thường xuyên sử dụng các trang mạng xã hội Ngoài ra, Facebook đã được chọn làm nền tảng nghiên cứu
vì nó liên tục được xếp hạng là trang web truyền thông xã hội lớn nhất và phổ biến nhất.Những người tham gia khảo sát có cơ hội cung cấp một địa chỉ email
riêng để nhận thêm một khoản tín dụng nhỏ nếu họ tham gia lớp học với một giáo sư đã đồng ý cho phép sinh viên tham gia khảo sát trước đó Cuối cùng, cuộc khảo sát của Facebook đã được hoàn thành với tổng số 502 người tham gia (N = 502), trong đó 25%
số người được hỏi là nam và 75% là nữ Phân bố theo giới tính theo kết quả của nghiên cứu mạng xã hội hiện có (Ellison, Heino và Gibbs 2006) 81% người được hỏi từ 30 tuổi trở xuống, 73% người được hỏi cho biết thời gian sử dụng mạng xã hội trên 2 năm, 82% cho biết họ sử dụng các trang mạng xã hội trực tuyến hàng tuần, số người được hỏi sử dụng các trang mạng xã hội hàng ngày chiếm hơn 60% Những người tham gia mất trung bình 20 phút để hoàn thành cuộc khảo sát
Phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằng ý định của các cá nhân đối với việc trình bày sai thông tin cá nhân bị ảnh hưởng bởi các yếu tố quyết định cá nhân Tác giả đã không kiểm tra tác động của các yếu tố quyết định môi trường đối với các yếu tố quyết định cá nhân
và các yếu tố quyết định hành vi trong nghiên cứu này và dự định làm như vậy trong công việc tương lai Trọng tâm của nghiên cứu này là điều tra tác động qua lại giữa mong
Trang 33muốn cạnh tranh và mong muốn vị tha vốn có trong việc sử dụng OSN và tác động của chúng đối với ý định xuyên tạc thông tin cá nhân
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng người dùng OSN cảm thấy cả hai động lực hướng tới mong muốn cạnh tranh với những người dùng khác cũng như cảm giác hoặc mong muốn giúp đỡ những người cùng mục tiêu và nguyện vọng của họ Những cảm giác trái ngược hoàn toàn này cuối cùng làm tăng hoặc giảm xu hướng phân phối thông tin không trung thực, với ham muốn cạnh tranh làm tăng xu hướng này trong khi ham muốn vị tha làm giảm xu hướng đó Nghiên cứu chỉ ra rằng các mối quan hệ giữa nhận thức về lợi ích danh tiếng và mong muốn cạnhtranh (0,57; p <0,01) cũng như mong muốn vị tha (0,26;
p <0,01) đều tích cực và có ý nghĩa Bên cạnh đó, tác động giữa nhận thức lợi ích theo chủ nghĩa hưởng thụ và mong muốn vị tha là đáng kể (0,43; p <0,01) Điều thú vị là sự tác động nhận thức lợi ích theo chủ nghĩa hưởng thụ và ham muốn cạnh tranh không đáng kể Mon muốn vị tha có mối qua hệ tiêu cực và có ý nghĩa đối với ý định xuyên tạc (0,24; p <0,01) Nói cách khác, những cá nhân thể hiện mong muốn vị tha cao hơn ít có khả năng tham gia vào các hành động xuyên tạc Ngược lại, mong muốn cạnh tranh có tác động tích cực và đáng kể đến các ý định xuyên tạc Điều này ngụ ý rằng mong muốn cạnh tranh có liên quan đến xu hướng gia tăng đối với các hành vi xuyên tạc (0,26; p
<0,01) như đã được giả thuyết
Trang 34Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Church, Thambusamy và Nemati (2020)
2.3.8 Nghiên cứu của Mendini, Peter và Maione (2022)
Bất chấp sự phổ biến của các phương tiện truyền thông về các tác động tiêu cực của IG đối với hạnh phúc của người dùng, nghiên cứu tập trung vào những tác động tích cực tiềm ẩn của việc dành thời gian cho IG đối với lòng biết ơn, lòng vị tha và sự sẵn sàng đóng góp cho các tổ chức từ thiện của thế hệ Y và Z Để kiểm tra những giả thuyết của nghiên cứu, tác giả đã thực hiện ba nghiên cứu quan sát, tập trung vào các đối tượng thuộc thế hệ Y và
Z (nam và nữ), những đối tượng không sử dụng IG để kiếm tiền, những người sử dụng IG
để xem và đọc các bài đăng có nội dung tích cực và những đối tượng xem và đọc các bài đăng trên IG chủ yếu vì sự liên quan hoặc kết nối với người thân
Nghiên cứu 1 được thực hiện với 291 người tham gia vào môi trường phòng thí nghiệm được kiểm soát, trong đó 93,1% mẫu cho biết họ có tài khoản IG và những người không
sử dụng IG sẽ bị loại Kết quả cho thấy những người dùng dành nhiều thời gian cho IG hơn thì mức độ biết ơn về cuộc sống cao hơn và mức độ thoát khỏi cảm giác tiêu cực cao hơn, đồng thời việc tăng mức độ thoát khỏi cảm giác tiêu cực làm tăng mức độ biết ơn về cuộc sống Bên cạnh đó, thoát khỏi cảm giác tiêu cực được chỉ ra là trung gian cho mối quan hệ giữa dành thời gian cho IG và lòng biết ơn (Mendini, Peter và Maione, 2022)
H3 Tình cảm cá nhân (p)
Trang 35Nghiên cứu 2 thực hiện trên 234 sinh viên tham gia vào môi trường phòng thí nghiệm được
kiểm soát Quy trình tương tự ở nghiên cứu 1, trong đó có 85,5% mẫu cho biết họ có tài
khoản IG Tác giả nghiên cứu yêu cầu họ trả lời về lòng biết ơn, thoát khỏi cảm giác tiêu
cực và thêm vào biến lòng vị tha và kết quả tương tự nghiên cứu 1 Bên cạnh đó, người
dùng IG trung bình và nặng (so với người dùng nhẹ) cho thấy họ có mức độ vị tha cao hơn
Kết quả cũng chỉ ra rằng thoát khỏi những cảm giác tiêu cực và lòng biết ơn làm trung gian
cho mối quan hệ giữa thời gian dành cho Instagram và lòng vị tha (Mendini, Peter và
Maione, 2022)
Nghiên cứu 3 được thực hiện với 202 người tham gia vào môi trường phòng thí nghiệm
được kiểm soát, 96,6% mẫu cho biết họ có tài khoản IG Tác giả yêu cầu những người
tham gia trả lời các câu hỏi liên quan đến các biến về lòng biết ơn của chúng tôi, thoát khỏi
cảm giác tiêu cực (“Tôi liên tục cố gắng học hỏi những điều mới về bản thân mình”, “Tôi
cố gắng tìm hiểu bản thân hơn, "Tôi thường làm bản thân ngạc nhiên theo một cách tích
cực", "Tôi sẵn sàng đón nhận những thử nghiệm làm phong phú thêm cuộc sống của tôi ",
"Tôi tràn đầy năng lượng tích cực truyền đến những phần khác của cuộc sống ", biến vị
tha (“Bạn cảm thấy vị tha như thế nào khi sử dụng Instagram?”) và biến mới về mức độ
sẵn sàng đóng góp Kết quả nghiên cứu như đã nêu ở nghiên cứu 1 và nghiên cứu 2 Bên
cạnh đó, biến thoát khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha là trung gian cho mối
quan hệ giữa dành thời gian cho IG và sự sẵn sàng đóng góp
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của Mendini, Peter và Maione (2022)
Lòng biết ơn Thoát khỏi cảm giác
tiêu cực
Sẵn sàng đóng góp
Trang 362.4 Phát triển giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất
Lòng biết ơn được định nghĩa là cảm xúc tích cực mà một người cảm nhận được khi một người khác cố ý trao tặng hoặc cố gắng cho đi một thứ gì đó có giá trị (McCullough và Tsang, 2004) Nó bắt nguồn từ sự thừa nhận rằng một số điều tốt đã xảy ra với một cá nhân (Watkins và cộng sự, 2009) Các nhà tâm lý học nghiên cứu lòng biết ơn như một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực tâm lý học tích cực (Snyder và Lopez, 2001) Trên thực tế, lòng biết ơn được gắn với việc trải qua nhiều cảm xúc tích cực hàng ngày hơn và ít cảm xúc tiêu cực hơn (Kashdan và cộng sự, 2006)
Lý thuyết chủ nghĩa lạc quan - xu hướng theo đuổi niềm vui và tránh đau đớn của con người là một trong những giả định quan trọng về hành vi của người dùng Chủ nghĩa lạc quan gắn liền với những cảm xúc tích cực trong trải nghiệm (Okada, 2005), các cá nhân được thúc đẩy để tiếp cận những gì tốt và tránh những gì xấu (Maio và Olson, 1999) Ngoài cảm giác dễ chịu, cảm giác tích cực còn làm nhiều hơn là chỉ giúp một người cảm thấy dễ chịu; chúng mang lại lợi ích cho cá nhân, về các mối quan hệ giữa các cá nhân được cải thiện và sức khỏe thể chất và tinh thần
Pittman và Reich (2016) đã điều tra mối quan hệ giữa Instagram và cảm xúc cá nhân, đưa
ra lập luận rằng người dùng có thể cải thiện cảm giác hạnh phúc và hài lòng, cũng như giảm mức độ cô đơn khi sử dụng Instagram Casalo và cộng sự (2017) phát hiện ra rằng chủ nghĩa lạc quan được nhận thức ảnh hưởng tích cực đến ý định tương tác trên IG Như một vấn đề trên thực tế, bởi vì IG là một nơi để kể chuyện bằng hình ảnh có thể thúc đẩy
sự tận hưởng trải nghiệm của người dùng Chủ nghĩa lạc quan được coi là một yếu tố có ảnh hưởng đến tương tác của người tiêu dùng trên nền tảng Do đó, việc thoát khỏi những cảm giác tiêu cực thể hiện một cơ chế có thể nhấn mạnh lòng biết ơn của người dùng trong khi dành thời gian trên Instagram
Từ những nghiên cứu trên, nhóm đưa ra giả thuyết:
H1: Thoát khỏi cảm giác tiêu cực tác động cùng chiều tới lòng biết ơn
Theo những nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng lòng biết ơn được kết hợp một cách độc đáo với việc đánh giá cao những phẩm chất tích cực của nhà hảo tâm và thúc đẩy các động
Trang 37lực nâng cao mối quan hệ đối với nhà hảo tâm (Algoe và Haidt, 2008) Những di chứng nhận thức tập trung vào ân nhân này, có lẽ cùng với một tập hợp nhận thức mở rộng đi kèm với trạng thái là một cảm xúc tích cực khiến chúng ta có lòng biết ơn đối với người khác cũng như nhà hảo tâm, khi chúng ta biết ơn sẽ nảy sinh ra lòng vị tha (Fredrickson và Branigan, 2005) Nghiên cứu cho biết cá nhân nào thường xuyên tỏ lòng biết ơn, làm ta cảm thấy hứng thú thì thường có lòng vị tha so với những người không biết tỏ lòng biết ơn đối với người khác (McMoloug và cộng sự, 2002) Leung (2013) cũng nhận thấy rằng việc tạo nội dung thông qua phương tiện xã hội nói lên được những bất bình của bản thân mình, một số những nghiên cứu đã điều tra mối quan hệ của Intagram với cảm xúc cá nhân có thể làm cá nhân cảm thấy hạnh phúc cũng cảm thấy biết ơn đối với Intagram làm họ có lòng vị tha (Pittman và cộng sự, 2016) Những người vị tha tự nguyện chia sẻ kiến thức với người khác nhận lấy sự hài lòng cao hơn và sự hài lòng đó xuất phát từ sự thích thú nội tại của họ trong việc giúp đỡ người khác (Hung và cộng sự, 2011) Lòng vị tha và lòng biết
ơn đã được mô tả khác nhau như một hình thức của lòng tốt vô điều kiện mà không phương tiện truyền thông để cung cấp những cách tốt hơn và hiệu quả hơn để giữ liên lạc với bạn
bè của họ, nhiều cá nhân sẽ cam kết với mối quan hệ Do đó, một cá nhân càng có nhiều bạn bè hoặc liên kết, thì có xu hướng dành nhiều thời gian và nỗ lực hơn trong việc duy trì nhất quán và liên tục cam kết mối quan hệ nhận thức của cá nhân đối với cộng đồng đó Điều này làm phát sinh kỳ vọng về sự trở lại (Fehr và Gächter, 2000), giúp đỡ và đạt được cảm giác hài lòng từ hành động (Kollock, 1999) và giúp đỡ người khác bất kể liệu có nhận lại được gì không Từ những nghiên cứu trên chứng tỏ lòng biết ơn nảy sinh khi dành thời gian cho IG tác động đến vị tha và khiến người dùng muốn sử dụng mạng xã hội để làm những việc có lợi cho người khác
Dựa vào những nhận định trên, nhóm đưa ra giả thuyết sau:
H2: Lòng biết ơn biết tác động cùng chiều đến lòng vị tha
Lòng vị tha là một trạng thái tích cực giúp gia tăng hành vị quyên góp (Anik và cộng sự, 2009) Lòng vị tha xuất hiện khi một người tự nguyện giúp đỡ người khác mà không mong đợi đáp lại (Cropanzano và Mitchell 2005) Do đó, một trong những lý do quan trọng nhất để quyên góp là lòng vị tha (Konrath và Handy, 2018) Văn học về hoạt động
từ thiện có truyền thống phân biệt giữa hai loại động cơ rộng rãi cho việc đóng góp từ thiện và động cơ đóng góp: nội tại, còn được gọi là vị tha và bên ngoài, là vị kỷ (Jama và
Trang 38cộng sự, 2019; Konrath và Handy, 2018) Một mặt, động cơ vị kỷ phản ánh mong muốn
có bất kỳ ý định nào nhằm nâng cao hạnh phúc của người khác hoặc mong muốn nhận được phần thưởng cá nhân (ví dụ danh tiếng/ sự công nhận cá nhân, để cho đi), (Piferi và cộng sự, 2006) Mặt khác, điều quan trọng với nghiên cứu này, động cơ nội tại là các yếu
tố bên trong kích thích sự quyên góp, chẳng hạn như “niềm vui khi cho đi” (Anik và cộng
sự, 2009) Lòng vị tha là động lực giải thích tại sao các cá nhân sẵn sàng từ bỏ các nguồn lực riêng tư của họ để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ cải thiện phúc lợi của người khác (Konrath và Handy, 2018) Nghiên cứu đã chỉ ra rằng động cơ vị tha của việc cho đi dự báo về việc cho đi bền vững hơn là động cơ vị kỷ bằng cách kiểm tra hành vi cho đi theo thời gian (Piferi và cộng sự, 2006) Những người ủng hộ quyên góp tiền bạc và thời gian của họ trong huy động vốn từ cộng đồng vì các yếu tố vị tha thay vì mong muốn nhận được phần thưởng (Chen và cộng sự, 2019) Điều này cho thấy dành thời gian cho IG làm tăng lòng vị tha ở người dùng và họ sẽ sẵn sàng đóng góp vào những hoạt động của cộng
và những người khác (Althoff và cộng sự, 2014) Cảm xúc biết ơn như một cơ chế mà qua
đó sự cho đi dẫn đến mong muốn được đáp lại và rộng hơn, một chất xúc tác thông qua đó xảy ra tương hỗ gián tiếp (Langan, 2014) nghĩa là sự có đi có lại có thể không xảy ra trực tiếp mà có thể gián tiếp thông qua việc đáp trả cho một người khác Người tiêu dùng có thể cảm thấy biết ơn đối với một công ty hỗ trợ một nguyên nhân mà họ có ít mối quan hệ, đơn giản vì họ là thông cảm cho những người khác đang gặp khó khăn và họ đánh giá cao nỗ lực của công ty (Langan, 2014) Qua đó cho thấy, lòng biết ơn đóng vai trò là chất xúc tác quan trọng trong hoạt động từ thiện Cá nhân có thể thực hiện các hành động quyên góp để
tỏ lòng biết ơn đối với những kỷ niệm quý giá mà họ đã trải qua (Wang, 2018) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, hiến xác cũng là một cách để bày tỏ lòng biết ơn đối với ngành y Họ
tỏ lòng biết ơn về các trải nghiệm được điều trị tốt, được chữa khỏi thành công,… Một số
Trang 39khác có mong muốn trả lại cho khoa học y tế một cái gì đó, một số người được hỏi muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với những gì khoa học y tế đã làm cho gia đình họ (Bolt và cộng
sự, 2010) Như vậy, lòng biết ơn khi dành thời gian cho IG có ảnh hưởng tích cực đến xu hướng đáp trả lại lòng tốt của ai đó cho chính họ hoặc cho cộng đồng, là yếu tố thúc đẩy
sự sẵn sàng đóng góp
Do đó nhóm đưa ra giả thuyết như sau:
H4: Lòng biết ơn tác động cùng chiều đến sẵn sàng đóng góp
Vì vậy, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:
Hình 2.8 Mô hình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ giả thuyết nghiên cứu
H3
H4
Trang 40CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thiết kế nghiên cứu
3.1.1 Quy trình nghiên cứu
Trước khi thực hiện một bài nghiên cứu khoa học, ta cần có sự chuẩn bị kỹ càng Bước chuẩn bị sẽ góp phần quyết định chất lượng cũng như sự thành công của công trình nghiên cứu Để thực hiện đề tài “mối quan hệ giữa sự thoát khỏi cảm giác tiêu cực, lòng biết ơn, lòng vị tha và sẵn sàng đóng góp” tác giả đã thực hiện tiến trình sau:
Đầu tiên là xác định đối tượng nghiên cứu đáp ứng đúng mục tiêu của đề tài và giá trị mà nghiên cứu đem lại đối với thời điểm thực tại diễn ra nghiên cứu Tìm hiểu và tham khảo các bài nghiên cứu khoa học, các công trình khoa học có độ tin cậy cao, được công nhận trên thế giới Sau đó dựa trên những tài liệu đã thu thập được bắt đầu sàng lọc, hệ thống hoá các tài liệu về cơ sở lý thuyết liên quan, tóm tắt các bài nghiên cứu khoa học có liên quan Thêm vào đó là tìm hiểu xu hướng hiện nay về thời gian sử dụng Instagram
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý thuyếtXây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứuBảng câu hỏi sơ bộ
Khảo sát sơ bộBảng câu hỏi chính thứcKhảo sát chính thứcThống kê mô tảĐánh giá độ tin cậy của Cronbach's AlphaPhân tích nhân tố EFA
Phân tích nhân tố khẳng định CFA Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEMPhân tích Kiểm định Bootstrap
Đưa ra kết luận và hàm ý quản trị