Báo cáo thực tập: Giải quyết vấn đề thất nghiệp sau khủng hoảng kinh tế tại tỉnh Nghệ An
Trang 1Đề án :
Giải quyết vấn đề thất nghiệp sau khủng hoảng kinh tế tại tỉnh Nghệ An.
Chương I: Những vấn đề cơ bản về việc làm và thất nghiệp:
I Những khái niệm cơ bản:
1 Khái niệm về việc làm và thất nghiệp:
- Việc làm : Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.Chúng ta có thể thể xem xét khái niệm này trên hai khía cạnh cơ bản:
Thứ nhất : Việc làm phải tạo ra thu nhập Nếu một công việc không tạo ra thu nhập thì không gọi là việc làm Thu nhập ở đây có thể không phải của người trực tiếp làm công việc đó
Thứ hai : Đó phải là công việc không bị pháp luật cấm Như vậy, các công việc như mua bán hàng cấm, thực hiện các giao dịch trái pháp luật thì không được thừa nhận là việc làm mặc dù tạo ra thu nhập
- Thất nghiệp : Trong kinh tế học thất nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm.Có 2 loại thất nghiệp chính là thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình:
+ Thất nghiệp hữu hình: là tình trạng thất nghiệp chủ yếu ở khu vực thành thị Người thất nghiệp là thanh niên chiếm tỷ lệ cao Nguyên nhân một phần do kinh tế chưa phát triển chưa tạo được việc làm
+ Thất nghiệp trá hình: còn gọi là thiếu việc làm là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế nông nghiệp, chậm phát triển.Ở thành thị dạng thất nghiệp này tồn tại dưới những dạng khác nhau như : làm việc năng suất thấp, không góp phần tạo thu nhập cho
xã hội mà chủ yếu tạo ra thu nhập đủ sống.Còn ở khu vực nông thôn
Trang 22.Các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm và thất nghiệp:
2.1 Các yếu tố tác động đến việc làm:
- Cầu lao động : về lý thuyết thì cầu lao động cho thấy số lượng lao động mà các tổ chức (đơn vị) kinh tế sẵn sang thuê (sử dụng) để tiến hành hoạt động kinh tế với mức tiền lương nhất định
- Quy mô sản xuất: Lao động là yếu tố đầu vào cần thiết để sản xuất một lượng hàng hoá, dịch vụ nhất định Điều này có nghĩa là quy
mô sản xuất hàng hoá, dịch vụ sẽ quyết định lượng đầu vào được sử dụng
- Quan hệ giữa sự thay đổi đầu ra (tăng hay giảm) và thay đổi việc làm (cầu lao động) được xem xét qua hai khái niệm “hệ số co giãn” việc làm Hệ số co giãn việc làm thể hiện tỷ lệ % thay đổi khi đầu ra thay đổi 1%
Ngoài ra nó còn chịu tác động của vốn đầu tư và công nghệ sản xuất
3.Vai trò của lao động trong phát triển kinh tế:
Chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì
Trang 3khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối
đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và
kỷ luật lao động tốt Thực tế nghiên cứu các nền kinh tế bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ II cho thấy mặc dù hầu hết tư bản bị phá hủy nhưng những nước có nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn có thể phục hồi và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục Một ví dụ là nước Đức, "một lượng lớn tư bản của nước Đức bị tàn phá trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, tuy nhiên vốn nhân lực của lực lượng lao động nước Đức vẫn tồn tại Với những kỹ năng này, nước Đức đã phục hồi nhanh chóng sau năm 1945 Nếu không có số vốn nhân lực này thì sẽ không bao giờ có sự thần kỳ của nước Đức thời hậu chiến."
4 Tỷ lệ thất nghiệp:
Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của một quốc gia Cũng vì thế còn có những quan niệm khác nhau về nội dung và phương pháp tính toán để nó có khả năng biểu hiện đùng và đầy đủ đặc điểm nhiều vẻ của tình trạng thất nghiệp thực tế, đặc biệt là các nước đang phát triển.Nhưng nhìn chung tỷ lệ thất nghiệp thường được tính theo công thức:
Trang 4trong những lĩnh vực phát triển nhanh, cũng trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong một báo cáo gần đây cho biết đã có 32 triệu công nhân ở các nước đang phát triển bị mất việc và Ngân hàng Thế giới dự báo năm nay sẽ có thêm 53 triệu người rơi xuống dưới ngưỡng đói nghèo
Do bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên tỷ
lệ người thiếu việc làm và người thất nghiệp tại các nước đang phát triển có xu hướng tăng lên.Hiện nay tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam là 4,65%, tăng 0,01% so với năm 2007 Trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làm hiện nay là 5,1%, tăng 0,2% so với năm 2007 Đáng chú ý, tỷ
lệ thiếu việc làm nông thôn lên tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3%.Một trong những nước cũng gia tăng tỷ lệ thất nghiệp là Trung Quốc,tỷ lệ thất nghiệp của Trung Quốc tính đến đầu năm 2009 là 4,2% tăng 0,2 % so với năm 2007
2 Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp:
Một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến cuộc khủng hoảng việc làm tại các nước đang phát triển là do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.Bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính ở Mỹ cuối năm 2007, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay được đánh giá là trầm trọng nhất kể từ tám mươi năm qua
Ðặc điểm của cuộc khủng hoảng lần này có những nét chung với các cuộc suy thoái trước đây và cũng có những nét mới Về đặc điểm chung, nó cũng bùng nổ từ chính trung tâm của chủ nghĩa tư bản, do sản xuất thừa và là kết quả của quá trình tập trung hóa tư bản, tài chính hóa và đầu cơ, Các đặc điểm riêng là cuộc khủng hoảng lần này diễn ra trong bối cảnh phát triển nền kinh tế tri thức, toàn cầu hóa với thương mại và đầu tư tài chính là trụ cột, sự xuất hiện của các nền
Trang 5kinh tế mới nổi và đồng thời với khủng hoảng về năng lượng, lương thực, sinh thái và biến đổi khí hậu So với Ðại suy thoái 1929 - 1933, cuộc khủng hoảng lần này diễn ra trong bối cảnh không còn Liên Xô
và phong trào cánh tả tại hầu hết các nước phương Tây đang bị suy yếu; mức độ ảnh hưởng chi phối của Mỹ về tài chính, quân sự, thương mại đối với thế giới là rất lớn bởi trật tự chính trị, kinh tế được hình thành sau Chiến tranh lạnh và thông qua quá trình toàn cầu hóa
Các nước đang phát triển tuy không hứng chịu trực tiếp cơn khủng hoảng nhưng cũng chịu những tác động nhất định.Do đang là thời kỳ khủng hoảng nên mọi hoạt động kinh tế trên toàn cầu đều bị ngưng trễ,các hoạt động xuất nhập khẩu,hay đầu tư kinh doanh hầu như đều bị cắt giảm.Vì vậy việc cắt giảm nhân công là một điều không khó để biết được
Ngoài ra còn có một số những nguyên nhân khác như trình độ của lao động không đủ để đảm nhận công việc,
3 Phương hướng giải quyết:
Trước tình hình kinh tế thế giới suy sụp trầm trọng như thế, từ 18-20/2, các Bộ Lao động và Tài chính, các quan chức cao cấp của LHQ, Ngân Hàng Thế giới và các chính phủ, đại diện giới lao động và giới sử dụng lao động của hơn 10 nước thuộc khu vực Châu Á-TBD cùng gặp nhau tại Manila, Philippines để thảo luận các biện pháp hiệu quả nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay
- Kủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến cho chính phủ các nước
phải điều chỉnh lại chính sách, cung cấp các gói kích cầu để vực dậy nền kinh tế, kêu gọi người dân ưu tiên sử dụng hàng nội địa
- Riêng tại Việt Nam đầu tháng 8-2008, Việt Nam cũng bắt đầu một cuộc vận động tương tự thông qua chương trình “Người Việt Nam
ưu tiên dùng hàng Việt Nam” Cuộc vận động hứa hẹn sẽ kích cầu tiêu
Trang 6dùng mạnh mẽ đối với hàng hóa nội địa, góp phần tạo ra công ăn việc làm cho người lao động Việt Nam.
Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia đang phát triển khác, kể
cả Trung Quốc, Ấn Độ, đều phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư nước ngoài để phát triển nền kinh tế của mình Vì vậy, ảnh hưởng của các công ty nước ngoài tại thị trường các quốc gia đang phát triển là rất lớn bởi vì ngoài các chiến dịch quảng bá tiếp thị hình ảnh và sản phẩm
ấn tượng, bài bản họ còn đầu tư vào các công cụ nghiên cứu, thu thập
dữ liệu để thích nghi với sự thay đổi của thị trường
Ngoài ra, còn phải kể đến thói quen tiêu dùng của người dân Trong lịch sử các quốc gia đang phát triển thường có một thời kỳ là thuộc địa, bị đô hộ hoặc phụ thuộc vào một quốc gia khác Sự xuất hiện của một số hàng hóa và nhãn hiệu trong giai đoạn này đã hình thành nên các mối quan hệ gắn bó vô hình giữa người tiêu dùng và thương hiệu
Một vấn đề nữa mà các nước đang phát triển phải chú ý đó là nguy cơ tái lạm phát sau khủng hoảng.Các chuyên gia kinh tế nhấn mạnh, trong bối cảnh thực hiện các mục tiêu 6 tháng còn lại của năm, thâm hụt ngân sách sẽ tăng cao, nhập siêu bùng phát, giá cả thế giới biến động tạo ra nguy cơ tái lạm phát.Vì vậy phải có những biện pháp đề phòng và ngăn ngừa nạn lạm phát quay trở lại
Trang 7CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC LÀM VÀ THẤT NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1 Thực trạng về việc làm và thất nghiệp trên địa bàn Nghệ An những năm gần đây:
Sau 4 năm thực hiện NQ Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI, nền kinh tế- xã hội tỉnh ta tiếp tục phát triển trên nhiều lĩnh vực, kết cấu
hạ tầng được cải thiện, có nhiều chỉ tiêu đạt và vượt Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu với quy mô lớn đã tác động đến nền kinh tế cả nước và của tỉnh.Điều đó dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng thay đổi.Tỷ lệ thất nghiệp lao động khu vực thành thị đến tháng 6/2009 là 3,18%; Cơ cấu lao động trong CN, xây dựng 15,3%; nông lâm, ngư nghiệp 64%; dịch vụ 20,7%
2 Những bất cập về số lượng và chất lượng lao động:
2.1 Những bất cập :
Bình quân hàng năm số lao động đến tuổi bổ sung vào lực lượng lao động của tỉnh xấp xỉ 3 vạn người Xét về cơ cấu, lực lượng lao động phần lớn là trẻ và sung sức, độ tuổi từ 15 - 24 chiếm 22,45%, từ
25 - 34 chiếm 14,16%; từ 35 - 44 chiếm 13% và từ 45 - 54 chiếm 8,71% Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 35,7% Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tập trung vào một số nghề như sửa chữa xe có động cơ, lái xe, may mặc, điện dân dụng, điện tử, còn một số nghề lại quá ít lao động đã qua đào tạo như chế biến nông, lâm sản, nuôi trồng thủy sản, vật liệu xây dựng Vì vậy, có thể nói trình độ chuyên môn và nghề nghiệp của lực lượng lao động Nghệ An đang còn bất cập, chưa đáp ứng được đòi hỏi đặt ra của thị trường lao động
2.2 Nguyên nhân:
- Cơ cấu dân số không đồng đều,tỷ lệ tăng dân số ở nông thôn còn khá cao so với thành thị
Trang 8- Việc phân phối và đào tạo lao động chưa được quan tâm đúng mức:Tỉnh và địa phương chưa có sự phối hợp để phân phối và đào tạo lao động 1 cách hợp lý dẫn đến sự thừa lao động ở 1 số nghề và thiếu hụt ở những nghề khác.
3 Nguyên nhân của nạn thất nghiệp trên địa bàn thời gian gần đây.
3.1 Nguyên nhân khách quan:
- Do nước ta cũng chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới nên các vùng trên đất nước cũng phải chịu sự tác động đó.Việc buôn bán cũng như xuất nhập khẩu khó khăn khiến lượng công nhân bị sa thải là điều dễ hiểu
- Cũng do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nên các nguồn đầu tư vào tỉnh trong năm qua cũng bị giảm đi.Do đó cơ hội tìm việc làm của người lao động cũng bị thu hẹp.Ngoài ra các ngành dịch vụ và
du lịch cũng không phát triển được nhiều lượng khác du lịch tăng không đáng kể thậm chí còn giảm đi
3.2 Nguyên nhân chủ quan:
Do còn gặp khó khăn và nhiều mặt tỉnh còn chưa có các chính sách đủ mạnh để khuyến khích phát triển thị trường lao động, chưa đảm bảo cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin cho công tác chỉ đạo, điều hành, hoạch định các chính sách và giải pháp liên quan đến lao động- việc làm trên địa bàn tỉnh Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên là do xuất phát điểm của nền kinh tế tỉnh còn thấp, khả năng đầu
tư và thu hút đầu tư để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện và
cơ hội cho người lao động có việc làm còn hạn chế Quy mô dân số và nguồn lao động lớn cũng là áp lực đối với vấn đề giải quyết việc làm
Mặt khác nhận thức của người lao động chưa được nâng cao.Không nhiều người biết được họ nên làm gì và nên làm như thế nào.Do vậy nhiều người cứ đi theo xu thế chung của xã hội mà không
Trang 9tìm cho mình một cách thức phù hợp hơn.Dẫn đến việc thừa ở ngành này thiếu ở ngành khác.
Thêm vào đó, địa bàn rộng lớn, cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật ở vùng nông thôn, miền núi còn thấp kém, việc lãnh đạo, chỉ đạo chương trình việc làm chưa được các ngành, các cấp quan tâm đúng mức, việc xây dựng, phát triển các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề còn nhỏ lẻ, manh mún, nguồn lực đầu tư cho chương trình việc làm chưa đáp ứng được yêu cầu Trong thời gian tới, dân số và lao động Nghệ An tiếp tục tăng ổn định, hằng năm có hơn 30 nghìn người được bổ sung vào lực lượng lao động Dự báo mỗi năm số lao động cần giải quyết việc làm lên tới 3,4 vạn người và một bộ phận lao động nông nghiệp bị thu hồi đất, lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị
có nhu cầu về việc làm đã tạo sức ép lớn cho công tác giải quyết việc làm
4.Những biện pháp giải quyết tình trạng thất nghiệp trên địa bàn tỉnh:
Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số lớn thứ 4 trong cả nước với hơn 3 triệu người, trong đó có gần 1,8 triệu lao động Bình quân hàng năm số lao động đến tuổi bổ sung vào lực lượng lao động của tỉnh xấp
xỉ 3 vạn người.Xác định rõ giải quyết việc làm cho lao động là vấn đề bức xúc.Tỉnh đã đề ra những biện pháp nhằm giải quyết việc làm cho người lao động,trong đó có những biện pháp tức thời để giải quyết công ăn việc làm tức thời cho người lao động và những biện pháp lâu dài để tạo sự ổn định cho nền kinh tế,bên cạnh đó là những chính sách
hỗ trợ của nhà nước nhằm giải quyết nạn thất nghiệp:
4.1 Biện pháp tức thời:
- Dựa vào những điều kiện sẵn có của tỉnh nhà,của từng vùng và thông qua đó khuyến khích người dân phát triển trên chính những cơ
Trang 10sở mà mình đã có.Ví dụ các mô hình trang trại,các xưởng xây lắp đồ thủ công mỹ nghệ
- Tập trung giải quyết khâu việc làm tại những vùng nghèo đói
có nhiều lao động thất nghiệp bằng cách xây dựng một số cơ sở sản xuất nhỏ lẻ tạo điều kiện cho 1 lượng lao động nhất định.Hay thực hiện chính sách cho người dân vay vốn làm ăn
- Phân loại lao động để có phương hướng nâng cao trình độ cho những người lao động
- Đẩy mạnh công tác dạy nghề nhằm giải quyết nạn thất nghiệp trước mắt:
Tiếp tục chỉ đạo phát triển mạng lưới dạy nghề, nhất là khuyến khích phát triển các cơ sở dạy nghề ngoài công lập Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 60 cơ sở dạy nghề (có 25 cơ sở dạy nghề ngoài công lập), trong đó có 05 Trường Cao đẳng nghề và có dạy nghề; 09 Trường Trung cấp nghề và có dạy nghề từng bước đáp ứng mục tiêu đào tạo nghề theo Nghị quyết 04/NQ-TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVI về phát triển nguồn nhân lực
- Các cơ sở dạy nghề Trung tâm Dạy nghề thuộc huyện miền núi tiếp tục được ưu tiên đầu tư, nâng cấp nhằm tăng quy mô, từng bước đáp ứng mục tiêu mỗi năm đào tạo cho 13.000 – 15.000 lao động, nâng cao chất lượng đào tạo nghề (nhất là các nghề mây tre đan, chế biến nông, lâm sản, chăn nuôi thú y ), tạo nguồn nhân lực, góp phần làm chuyển đổi cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo khu vực miền Tây của tỉnh theo tinh thần quyết định 147/QĐ-TTg ngày 15/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ
- Đội ngũ giáo viên tiếp tục được nâng lên cả về số lượng và chất lượng; cơ cấu ngành nghề đào tạo đ¬ược quy hoạch phát triển theo yêu cầu thị trường lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Hệ thống chương trình, giáo trình từng bước được biên soạn, bổ sung và