PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN THẾ CHẤP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI TÍN CHI NHÁNH HÀ NỘI
Trang 1MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN THẾ CHẤP 4
1 Khái niệm và vai trò thế chấp Bất động sản trong nền kinh tế quốc dân .4 1.1 Khái niệm cơ bản 4
1.1.1 Khái niệm bất động sản và thế chấp bất động sản 4
1.1.2 Vai trò của cho vay thế chấp trong nền kinh tế quốc dân 6
1.1.3 Khái niệm và sự cần thiết của định giá bất động sản 7
1.1.4 Các căn cứ định giá 9
1.2 Nguyên tắc định giá 11
1.3.Các phương pháp định giá bất động sản 13
1.3.1 Phương pháp so sánh trực tiếp 13
1.3.2 Phương pháp chi phí 17
1.3.3 Phương pháp vốn hoá 21
1.4 Quy trình định giá bất động sản 23
1.4.1 Xác định bất động sản cần định giá và giá trị cơ sở 23
1.4.2 Lập kế hoạch định giá 24
1.4.3 Khảo sát hiện trường, thu thập thông tin 24
1.4.4 Phân tích thông tin 26
1.4.5 Xác định giá trị bất động sản cần định giá 26
1.4.6 Lập báo cáo và chứng thư định giá 26
2 Quy định chung của Ngân hàng về bất động sản thế chấp 26
2.1 Tiêu chuẩn của bất động sản thế chấp 27
2.2 Các loại bất động sản thế chấp 28
2.3 Quy định cho vay bằng bất động sản thế chấp 28
Trang 22.3.1 Hồ sơ cho vay thế chấp 28
2.3.2 Quyền hạn và nghĩa vụ của các bên 29
2.3.3 Mức cho vay tối đa 31
2.3.4 Thời điểm xác định giá trị bất động sản thế chấp 31
3 Kinh nghiệm định giá bất động sản của một số nước trên thế giới 32
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN THẾ CHẤP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI TÍN 34
1 Một số nét khái quát về ngân hàng TMCP Đại Tín 34
1.1 Giới thiệu chung về ngân hàng TMCP Đại Tín 34
1.1.1 Thông tin cơ bản về ngân hàng TMCP Đại Tín 34
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng 34
1.1.3 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Đại Tín 37
1.1.4 Phòng kinh doanh ngân hàng TMCP Đại Tín chi nhánh Hà Nội .40
1.1.4.1 Chức năng nhiệm vụ 40
1.1.4.2 Cơ cấu tổ chức 40
1.2 Tình hình hoạt động thế chấp của ngân hàng 40
1.2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh 40
1.2.2 Tình hình hoạt động tín dụng thế chấp của Ngân hàng TMCP Đại Tín 44
2 Thực trạng công tác định giá thế chấp bất động sản tại phòng kinh doanh ngân hàng TMCP Đại Tín chi nhánh Hà Nội 47
2.1 Các căn cứ pháp lý cho hoạt động tín dụng bằng thế chấp tài sản tại Ngân hàng Đại Tín 47
2.2 Các quy định của Ngân hàng TMCP Đại Tín đối với bất động sản thế chấp 49
2.2.1 Các loại bất động sản được thế chấp tại Ngân hàng 49
2.2.2 Tiêu chuẩn bất động sản thế chấp 50
2.2.2.1 Đối với đất đai, công trình trên đất của cá nhân , hộ gia đình 50
2.2.2.2 Đối với đất, công trình trên đất của tổ chức 51
Trang 32.3 Thực trạng định giá thế chấp bất động sản ở Ngân hàng TMCP Đại Tín
chi nhánh Hà Nội 52
2.3.1 Quy trình định giá bất động sản thế chấp 53
2.3.1.1 Phỏng vấn về khoản vay 53
2.3.1.2 Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn, kiểm tra và tiếp nhận hồ sơ .54
2.3.1.3 Thẩm định điều kiện cho vay 54
2.3.2 Thực trạng công tác định giá bất động sản thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đại Tín chi nhánh Hà Nội 61
2.3.2.1 Định giá quyền sử dụng đất và công trình trên đất theo phương pháp so sánh trực tiếp 61
2.3.2.2 Định giá quyền sử dụng đất theo phương pháp so sánh trực tiếp 66
3 Đánh giá chung 71
3.1 Những kết quả đạt được 71
3.2 Những mặt tồn tại và nguyên nhân 73
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN THẾ CHẤP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI TÍN CHI NHÁNH HÀ NỘI 77
1 Phương hướng phát triển của Ngân hàng TMCP Đại Tín chi nhánh Hà Nội trong thời gian tới 77
2 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác định giá bất động sản thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đại Tín 79
3 Những kiến nghị 81
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh 42 Bảng 2.2: Thu nhập từ hoạt động tín dụng và phi tín dụng 44 Bảng 2.3: Báo cáo tình hình hoạt động tín dụng quý 1/2009 của ngân hàng TMCP Đại Tín chi nhánh Hà Nội 45 Bảng 2.4: Báo cáo kết quả cho vay tháng 12/08 46 Bảng 2.5: Các tiêu chí so sánh giữa BĐS mục tiêu và các BĐS so sánh 67 Bảng 2.6: Điều chỉnh các bất động sản so sánh với bất động sản mục tiêu
69
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn nền kinh tế hội nhập, xu thế toàn cầu hoá diễn ra ngày càngnhanh thì hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại hiện nay là rất quantrọng Hoạt động tín dụng đóng vai trò trung gian đưa vốn đến các nhà đầu tư, gópphần không nhỏ tới sự phát triển của nền kinh tế
Trong năm 2008, nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, Việt nam cũng chịuảnh hưởng Kinh tế bị ảnh hưởng, lạm phát rồi giảm phát, các doanh nghiệp rơi vàotình trạng thiếu vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh thì các hoạt động chovay vốn của ngân hàng đóng vai trò quan trọng Ngân hàng được coi như là trunggian, như là cầu nối vốn tới các nhà đầu tư kinh doanh, góp phần không nhỏ vào sựphát triển của nền kinh tế
Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Đại Tín cũng như các ngân hàngkhác hoạt động trên nguyên tắc an toàn và lợi nhuận Chính vì vậy vấn đề an toàn,giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động tín dụng là đòi hỏi tất yếu ảnh hưởng trực tiếptới công tác tín dụng của Ngân hàng Để thực hiện điều này thì khi tiến hành chovay Ngân hàng thường đòi hỏi khách hàng phải có tài sản thế chấp, các tài sản thếchấp rất đa dạng nhưng chủ yếu là bất động sản Ngân hàng phải tiến hành định giábất động sản để xác định mức cho vay và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, vì thếđịnh giá bất động sản đóng vai trò quan trọng
Định giá bất động sản đã xuất hiện trên thế giới từ khá lâu nhưng ở Việt namhoạt động định giá khá là mới mẻ vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu chính xác
Trong thời gian thực tập tại phòng kinh doanh Ngân hàng TMCP Đại Tín chi
nhánh Hà Nội em đã quyết định chọn đề tài : “Công tác định giá thế chấp bất động sản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín chi nhánh Hà Nội” làm
luận văn tốt nghiệp Với việc chọn đề tài này em hi vọng đóng góp phần nào đó vàocông tác định giá bất động sản thế chấp tại Ngân hàng, làm cho hoạt động này ngàycàng có chất lượng cao, tạo niềm tin và uy tín đối với khách hàng
Trang 72 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hệ thống hoá về mặt cơ sở khoa học liên quan đến định giá bất động sảnthế chấp, các khái niệm, quy định, vai trò, các phương pháp định giá và kinhnghiệm của một số nước trên thế giới
Đánh giá khái quát thực trạng công tác định giá bất động sản thế chấp tại Ngânhàng, nắm bắt quy trình, các công việc phải làm khi tiến hành thực hiện định giá bấtđộng sản thế chấp trong Ngân hàng TMCP Đại Tín
Từ nghiên cứu thực trạng mà đưa ra những kiến nghị, những giải pháp nhằmnâng cao hơn nữa chất lượng của công tác định giá bất động sản thế chấp tại Ngânhàng TMCP Đại Tín
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung đi sâu vào nghiên cứu hoạt động thẩm định giá bấtđộng sản thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đại Tín trên địa bàn thành phố Hà Nội Sốliệu nghiên cứu được sử dụng trong 3 năm gần đây : 2006- 2008
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp được sử dụng đó là phươngpháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp,điều tra thu thập số liệu, phân tích so sánh
5 Kết cấu , nội dung đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khao, đề tài gồm 3 chương:Chương I : Cơ sở khoa học về định giá bất động sản thế chấp
Chương II : Thực trạng định giá bất động sản thế chấp tại Ngân hàng TMCPĐại Tín chi nhánh Hà Nội
Chương III : Phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác định giá bấtđộng sản thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đại Tín chi nhánh Hà Nội
Trang 8Do trình độ và thời gian có hạn, chuyên đề còn nhiều thiếu sót Em rất mongđược sự đóng góp ý kiến của các thầy cô trong bộ môn để có một bài viết hoànchỉnh
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị trong phòng kinh doanh Ngân hàngTMCP Đại Tín chi nhánh Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ để em hoàn thành luậnvăn tốt nghiệp của mình một cách tốt nhất
Em xin chân thành cảm ơn giảng viên trực tiếp hướng dẫn : Thạc sỹ Vũ Thị Thảo đã góp ý, sửa chữa để luận văn tốt nghiệp của em hoàn thiện hơn.
Trang 9CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐỊNH GIÁ
Bộ luật Dân sự điều 181 nước ta quy định “ Bất động sản là các tài sản khôngthể di dời được ” Như vậy bất động sản trước hết phải là tài sản, nhưng nó khác vớicác tài sản khác là không thể di dời được Bất động sản là đất đai và những vật thể
cố định gắn liền với đất đai Những vật thể gắn liền với đất đai là những vật thể tồntại trên đất và chỉ có thể sử dụng trong trạng thái không tách rời đất hoặc là nhữngvật thể khi di chuyển sẽ bị hư hại hoặc tốn nhiều công sức, chi phí như các côngtrình kiến trúc, công trình lắp ghép
Theo điều 181 Bộ Luật Dân sự nước ta thì bất động sản bao gồm :
- Đất đai :
+ Phải là đất không di dời được hoặc di dời được nhưng không đáng kể(những đất đai di dời như đất trồng cây cảnh, đất làm vật liệu xây dựng không phải
là bất động sản )
+ Phải là đất đai đã được xác định chủ quyền
+ Đất đai đó phải được đo lường bằng giá trị (căn cứ vào số lượng, chất lượngcủa đất đai đó )
Trang 10- Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền vớinhà ở, công trình xây dựng đó :
+ Nhà cửa xây dựng cố định không thể di dời, hoặc di dời không đáng kể : nhà
ở, trung tâm thương mại, khách sạn, văn phòng (những nhà bạt của gánh xiếc, cáclâu đài lằm bằng băng đá, các nhà nghỉ di động trên xe lăn không phải là bất độngsản mà là các động sản, hoặc công cụ lao động )
+ Các công trình xây dựng công nghiệp, giao thông : như đường xá, cầu cống,bến cảng, sân bay, bãi đỗ được xây dựng gắn liền với đất đai
+ Các tài sản khác gắn liền không thể tách rời với công trình xây dựng đó :máy điều hoà trung tâm, các máy móc thiết bị điều khiển hoạt động của công trình,các cây cảnh trồng cố định tạo cảnh quan cho công trình (những tài sản có thể tháorời mà giá trị công năng của chúng không thay đổi thì không phải là các bất độngsản như: máy điều hoà di động, các chậu cây cảnh trong vườn treo, các tranh ảnh,thiết bị đồ dùng khác )
+ Các công trình đó phải có khả năng đo lường và lượng hoá thành giá trị theonhững tiêu chuẩn đo lường nhất định
- Các tài sản khác gắn liền với đất đai :
+ Vườn cây lâu năm : bao gồm cả cây trồng và đất trồng cây
+ Các công trình nuôi trồng thuỷ sản, cánh đồng làm muối
+ Các công trình du lịch, vui chơi, thể thao
+ Một số công trình khai thác hầm mỏ
+ Các tài sản khác do pháp luật quy định
Định nghĩa trên đã bao trùm được hầu hết các loại bất động sản, tạo ra sựthống nhất trong cả nước, giúp cho người dân nhìn nhận một cách đúng đắn nhất vềbất động sản, góp phần giúp cho các cơ quan quản lý của nhà nước thống nhất ýkiến trong việc đưa ra các chính sách cho việc quản lý và thúc đẩy thị trường bấtđộng sản trên cơ sở tuân theo các quy định về bất động sản kể trên
Trang 11Bất động sản bao gồm rất nhiều loại kể trên, tuy nhiên để được thế chấp BĐSphải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về mặt pháp lý như thuộc sở hữu, sử dụng củangười đi vay hay bảo lãnh đi vay, không có tranh chấp trong việc sở hữu, sử dụngcác Bất động sản đó.
Vậy thế chấp bất động sản là việc bên đi vay (bên thế chấp) dùng tài sản củamình là bất động sản như một vật bảo đảm với bên cho vay (bên nhận thế chấp) vàđược bên cho vay chấp nhận
Như vậy thông qua hoạt động cho vay bằng thế chấp bất động sản, Ngân hàng
sẽ giảm thiểu được rủi ro khi khách hàng vay tín dụng của Ngân hàng không có khảnăng trả nợ Trong tình huống như vậy Ngân hàng sẽ phải xiết nợ bằng việc thu hồibất động sản thế chấp để trang trải khoản nợ mà khách hàng không trả được Ngânhàng
1.1.2 Vai trò của cho vay thế chấp trong nền kinh tế quốc dân
Cho vay thế chấp tại các ngân hàng đóng vai trò quan trọng, là cầu nối giữacung và cầu vốn vay Việc thế chấp bất động sản tại các ngân hàng để vay vốn giúp
cá nhân, tổ chức kinh tế có được nguồn vốn cần thiết để đầu tư vào sản xuất kinhdoanh, tạo ra sản phẩm vật chất phục vụ xã hội, nâng cao thu nhập, cải thiện đờisống vật chất và tinh thần của người dân, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế liênquan phát triển và đồng thời cũng đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tếchung của đất nước Trong khi khách hàng thế chấp bất động sản thì khách hàngvừa có vốn để sản xuất kinh doanh vừa có thể tiếp tục sử dụng bất động sản đã thếchấp, nâng cao hiệu quả sử dụng của bất động sản Đồng thời khi khách hàng đếnthế chấp bất động sản để vay vốn thì bất động sản thế chấp phải có giấy tờ hợppháp, muốn vậy khách hàng cần đến cơ quan quản lý của nhà nước để hoàn thànhcác giấy tờ Việc này vừa giảm thiểu được các bất động sản không có giấy tờ hợppháp đồng thời thúc đẩy nhanh tiến độ cấp các loại giấy tờ, cải cách thủ tục hànhchính
Trang 12Các ngân hàng khi thực hiện cho vay thế chấp bằng bất động sản sẽ thu đượclợi nhuận từ cho vay, từ lợi nhuận của hoạt động cho vay thế chấp góp phần làmtăng lợi nhuận chung của ngân hàng, từ đó ngân hàng sẽ đảm bảo được các hoạtđộng kinh doanh, tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng phát triển cả về quy mô vàchất lượng, góp phần quản lý khối lượng tiền tệ lưu thông trong chính sách tiền tệcủa Ngân hàng Nhà nước từ đó thúc đẩy thị trường tài chính phát triển lành mạnh
và bền vững Thị trường tài chính lành mạnh là 1 yếu tố thiết yếu để đảm bảo nềnkinh tế vĩ mô, góp phần tăng trưởng kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh củanền kinh tế
Từ đó cho thấy rằng việc cho vay thế chấp bất động sản là một hoạt độngkhông chỉ quan trọng đối với các ngân hàng thương mại mà còn là một yếu tố thúcđẩy sự phát triển của nền kinh tế, cần nâng cao chất lượng hoạt động cho vay thếchấp
1.1.3 Khái niệm và sự cần thiết của định giá bất động sản
Khái niệm
Có thể hiểu đơn giản về định giá là xác định giá của tài sản trên thị trường.Tuy nhiên trong nhiều trường hợp không có thị trường để mà định giá, nhà định giáphải dựa trên các cơ sở phi thị trường Định giá bất động sản là một dạng đặc biệtcủa xác định giá, công việc định giá do các nhà chuyên môn được đào tạo, có kiếnthức có kinh nghiệm và có tính trung thực trong nghề nghiệp thực hiện Để phảnánh được nét đặc trưng này, nhiều học giả cho rằng khái niệm về định giá cần đượcxác định một cách rõ ràng, như một thuật ngữ mang tính chất chuyên ngành :
- Theo từ điển Oxford : “Định giá (valuation) là sự ước tính trị giá bằng tiềncủa một tài sản ”, “là sự ước tính giá trị hiện hành của tài sản trong kinh doanh ”
- Theo giáo sư W.Seabrooke - Viện đại học Portmouth vương quốc Anh :
“Định giá là sự ước tính về giá trị các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình tháitiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ”
Trang 13- Theo Fred Peter Marrone – Giám đốc Marketing của AVO ( Hiệp hội đánhgiá Austraylia ) trình bày trong lớp bồi dưỡng nghiệp vụ định giá tại Thành phố HồChí Minh ngày 25/05/1999 “Định giá là việc xác định giá trị của bất động sản tạimột thời điểm, có tính đến bản chất của bất động sản và mục đích của định giá Dovậy định giá là áp dụng các dữ kiện thị trường so sánh mà bạn thu thập được vàphân tích , sau đó so sánh với tài sản được định giá để xác định giá trị của chúng”.
- Theo giáo sư Lim Lan Yuan - Giảng viên trường xây dựng và bất động sảnĐại học quốc gia Singapore “Định giá là một nghệ thuật hay khoa học về ước tínhgiá trị cho một mục đích cụ thể, của một tài sản cụ thể, tại một thời điểm, có cânnhắc đến tất cả các đặc điểm của tài sản, cũng như xem xét tất cả các yếu tố kinh tếcăn bản của thị trường, bao gồm các loại đầu tư lựa chọn”
- Theo Luật Kinh doanh bất động sản : Định giá bất động sản là hoạt động tưvấn, xác định giá của một bất động sản cụ thể tại một thời điểm xác định
Nhưng theo một cách tổng quát nhất thì định giá là một nghệ thuật hoặc khoahọc về sự xác định giá trị của bất động sản cho mục đích cụ thể ở một thời điểmnhất định, có tính đến các đặc điểm của bất động sản và các nhân tố kinh tế tiềm ẩntrong thị trường bất động sản bao gồm cả các lĩnh vực đầu tư
Tính khoa học được thể hiện thông qua việc phân tích các dữ liệu, các phéptính, những mô hình tính toán khoa học xử lý thông tin để đưa ra giá trị của bấtđộng sản
Tính nghệ thuật là việc người định giá có các kĩ năng, dùng các kiến thức củamình để nắm các thông tin, để đánh giá các dữ liệu trợ giúp cho quá trình định giá
từ đó hình thành quan điểm để khách hàng chấp nhận, nhiều cái mang tính chủ quannhưng có tính thuyết phục Đó chính là sự bày tỏ quan điểm dưới dạng tính toán đểđạt được giá trị cụ thể cho một bất động sản phục vụ cho một mục tiêu cụ thể ở mộtthời điểm nhất định
Sự cần thiết của định giá bất động sản :
Trang 14Hiện nay trong nền kinh tế quốc dân, định giá ngày càng thể hiện rõ vai tròquan trọng của mình Định giá được sử dụng trong nhiều hoạt động, lĩnh vực kinh tếnhư :
- Khi có giao dịch thay đổi chủ sở hữu , chuyển đổi mục đích sử dụng Ví dụnhư khi có giao dịch mua bán về bất động sản, khách hàng tìm đến dịch vụ định giá
để xác định giá trị thị trường của bất động sản; khi định giá cho thuê, đi thuê bấtđộng sản thì người định giá phải dựa trên các thông tin về bất động sản mục tiêutrên thị trường để đưa ra giá thuê trên thị trường căn cư vào thời điểm thuê, căn cứvào các điều khoản trong hợp đồng
- Một hoạt động quan trọng, chủ yếu của định giá là định giá các bất động sảnthế chấp Như đã trình bày ở phần trên, thế chấp bất động sản có vai trò quan trọngtrong nền kinh tế quốc dân Đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thì địnhgiá là một khâu quan trọng không thể thiếu Khi cho khách hàng vay một khoản tiền
để đảm bảo an toàn và giảm thiểu rủi ro tối đa cho khoản vay ngân hàng phải yêucầu người đi vay thế chấp tài sản đảm bảo thông thường là các bất động sản Ngânhàng sẽ tiến hành xác định giá trị thực tế của tài sản thế chấp thông qua hoạt độngđịnh giá để quyết định số lượng cho vay mà không làm tổn hại tới lợi ích của ngânhàng
- Ngoài ra hoạt động định giá còn được sử dụng trong các trường hợp như bảohiểm, giải phóng mặt bằng, tính thuế, thực hiện nghĩa vụ tài chính, định giá chomục đích kế thừa, phân chia tài sản, định giá cho đầu tư
1.1.4 Các căn cứ định giá
- Căn cứ vào các yếu tố cơ bản tạo ra bất động sản
Đất : quy mô, vị trí của mảnh đất
Vật liệu xây dựng : số lượng , chủng loại
Lao động : lao động trực tiếp, lao động gián tiếp, số lượng lao động, chấtlượng lao động tham gia tạo dựng bất động sản
Trang 15Đó chính là những chi phí để tạo ra bất động sản, là căn cứ để đánh giá theophương pháp chi phí.
- Chi phí cơ hội của việc sử dụng bất động sản: chi phí cơ hội của việc sử dụngbất động sản chính là việc sủ dụng cao nhất, tốt nhất bất động sản, nó phản ánh giátrị thị trường của bất động sản Nghĩa là bất động sản được sử dụng hợp lý cả về kĩthuật, pháp lý, kinh tế để tạo khả năng sinh lời cao nhất cho chủ sở hữu Thông quachi phí cơ hội sẽ tính được tỉ lệ vốn hoá, được sử dụng trong phương pháp vốn hóa
- Căn cứ vào sự thay đổi của nền kinh tế quốc dân Giá trị của bất động sản bịtác động bởi nhiều yếu tố Các yếu tố trong nền kinh tế luôn biến động, thay đổi cótác động trực tiếp vào giá của bất động sản, khi đánh giá phải xác định xu hướngbiến động của các nhân tố có tác động tích cực hay tiêu cực xu hướng thị trườngảnh hưởng đến bất động sản
- Căn cứ vào sự phù hợp của bất động sản và đóng góp của bất động sản Yếu
tố này thể hiện sự phù hợp giữa mục đích đầu tư và mục đích sử dụng: thể hiện qua
sự phù hợp của chính bất động sản đó với các bất động sản xung quanh, môi trườngxung quanh tạo ra sự hài hoà về mặt chức năng cũng như kiến trúc tổng thể; thểhiện trong mối quan hệ cấu thành nên bất động sản và sự đóng góp của chính bấtđộng sản trong việc làm tăng giá trị của bất động sản xung quanh và ngược lại
- Căn cứ vào các yếu tố cấu thành của bất động sản Giá trị của bất động sảnphụ thuộc vào quy mô, số lượng của các bộ phận cấu thành nên công trình Bấtđộng sản sẽ có giá trị nhất khi tỉ lệ kết hợp giữa các bộ phận cấu thành nên bất độngsản đạt được tỉ lệ tối ưu
- Căn cứ vào khả năng cạnh tranh của bất động sản Việc phân tích khả năngcạnh tranh dựa trên nhiều yếu tố gồm cạnh tranh trong cung, cầu, giữa cung và cầu,cạnh tranh trong nội bộ vùng, trong khu vực và giữa các khu vực trong nước tại thờiđiểm định giá, cạnh tranh trong sự phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng
- Căn cứ vào lợi ích trong tương lai mà bất động sản mang lại mua để sử dụnghoặc đầu tư, giá trị thị trường của bất động sản là giá trị hiện tại của các lợi ích
Trang 16trong tương lai của bất động sản Người định giá cần có khả năng dự đoán sự tănggiảm hay ổn định giá của bất động sản từ đó đưa vào kết quả định giá nhằm phảnánh xu thế giá cả của bất động sản trong tương lai.
1.2 Nguyên tắc định giá
Nguyên tắc sử dụng cao nhất tốt nhất
Một bất động sản được đánh giá là sử dụng cao nhất tốt nhất nếu tại thời điểmđịnh giá cho thấy bất động sản đó đang được sử dụng hợp pháp cũng như đang chothu nhập ròng lớn nhất hoặc có khả năng cho giá trị hiện tại của thu nhập trongtương lai là lớn nhất Sử dụng cao nhất tốt nhất có thể tồn tại và kéo dài liên tụctrong một khoảng thời gian nhất định Sử dụng cao nhất tốt nhất được phản ánh ởbốn mặt sau : vật chất, pháp luật, sử dụng và thời gian
Nguyên tắc cung - cầu
Giá trị của bất động sản được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường.Mỗi một sự thay đổi của một trong hai yếu tố đều ảnh hưởng đến yếu tố còn lại vàgiá cả của bất động sản Vì vậy khi định giá bất động sản phải đánh giá các nhân tốtác động đến cung - cầu bất động sản tại thời điểm định giá, dự báo xu hướng vậnđộng của cung - cầu bất động sản
Nguyên tắc cân bằng
Trang 17Nguyên tắc này cho rằng: giá trị của bất động sản được tạo ra và bền vữngkhai các yếu tố tác động đến bất động sản ở trạng thài cân bằng Ví dụ như khi có sựkết hợp tối ưu giữa đất và công trình trên đất thì đạt được cân bằng kinh tế , khi đógiá của bất động sản là cao nhất.
Nguyên tắc thay đổi
Nguyên tắc này cho rằng: giá trị của bất động sản luôn thay đổi theo sự thayđổi của các yếu tố thị trường, các lực lượng tự nhiên, kinh tế, nhà nước và pháp luật,
xã hội và môi trường
Nguyên tắc phù hợp
Nguyên tắc này cho rằng: giá trị bất động sản tạo ra và duy trì khi các đặc tínhcủa nó phù hợp với cầu thị trường, phù hợp với quần thể bất động sản xung quanh,phù hộ với quy định của pháp luật về xây dựng và sử dụng, phù hợp với môi trườnglàm cho giá trị của bất động sản đạt được mức hữu dụng cao nhất
Nguyên tắc cạnh tranh
Thị trường bất động sản là một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, bởi vậytính chất và mức độ của cạnh tranh không gay gắt như các loại hàng hoá thôngthường Song ảnh hưởng của cạnh tranh có tầm quan trọng trong việc xác định giácủa bất động sản Lợi nhuận sẽ khuyến khích cạnh tranh, khi giá cả một loại bấtđộng sản nào đó tăng cao sẽ thu hút nhiều người chuyển đổi bất động sản của mìnhsang loại bất động sản đó nhằm chiếm được lợi nhuận siêu ngạch từ bất động sản.Khi nhiều người tham gia vào thì lợi nhuận siêu ngạch đó sẽ giảm và trở thành lợinhuận trung bình Tuy vậy do tính chất của bất động sản là duy nhất và khan hiếmnên tính chất cạnh tranh vẫn có ảnh hưởng lớn đến giá trị bất động sản
Nguyên tắc dự báo
Nguyên tắc này cho rằng: giá trị của bất động sản có thể xác định bằng việc dựtính khả năng sinh lời của bất động sản
Nguyên tắc ngoại ứng
Trang 18Nguyên tắc này cho rằng: giá trị của bất động sản mục tiêu chịu sự tác độngcủa các yếu tố bên ngoài nó và ngược lại Các bất động sản xung quanh có thể làmtăng hoặc làm giảm giá trị của bất động sản mục tiêu Nếu bất động sản được xâydựng trong khu vực có cơ sở hạ tầng tốt thì chắc chắn giá trị hơn nhiều so với mộtbất động sản tương tự nhưng được đặt tại khu vực không có các điều kiện tốt.
1.3.Các phương pháp định giá bất động sản
1.3.1 Phương pháp so sánh trực tiếp
Khái niệm : Định giá so sánh là việc xác định giá trị của bất động sản mục tiêu
bằng cách so sánh một cách trực tiếp với các bất động sản tương tự đã được giaodịch trên thị trường nhằm tìm ra giá trị của bất động sản mục tiêu từ các giao dịchtrước đó Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn vì phương phápnày là định giá qua các cuộc giao dịch đã thực hiện trên thị trường do đó là định giágiá trị thị trường Sử dụng phương pháp này không gặp khó khăn nhiều về mặt kĩthuật, khi sử dụng phương pháp này dễ dàng được khách hàng và các cơ quan côngquyền chấp nhận Tuy nhiên nó đòi hỏi người làm công tác định giá luôn phải tíchluỹ kinh nghiệm, có kiến thức và nắm chắc về thị trường
Những yêu cầu để thực hiện phương pháp so sánh trực tiếp
- Chỉ thực hiện so sánh bất động sản mục tiêu với những bất động sản tương tựtrong cùng khu vực hoặc tại các khu vực lân cận đã được giao dịch, nếu tính tươngđồng thấp thì tính chính xác của kết quả sẽ giảm đi
- Chỉ so sánh với những giao dịch được thực hiện trong thời gian gần đây.Tính tương đối phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thị trường, nếu thị trường ổn địnhthì thời gian giao dịch dù có trước 1 năm thì vẫn phản ánh được thị trường, nhưngnếu trong cơn sốt giá thì giá cả biến động từng ngày
- Định giá bằng phương pháp so sánh đòi hỏi người định giá phải biết phântích thị trường chính vì vậy kinh nghiệm, kiến thức cũng sự nhạy cảm với biến độngthị trường là những yếu tố cần thiết với những người làm định giá, họ phải tăngcường kinh nghiệm kiến thức trên thị trường
Trang 19- Phương pháp so sánh không có mô hình hay phương thức cố định mà dựavào giao dịch xuất hiện trên thị trường.
- Chất lượng các thông tin phải cao, chính xác đáng tin cậy và có thể so sánhđược
- Thị trường cần ổn định, định giá viên phải biết điều chỉnh trượt giá theo cungcầu hoặc theo lạm phát
Các bước tiến hành định giá bằng phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh trực tiếp dựa trên cơ sở thu thập, phân tích giá bán, giácho thuê của các bất động sản so sánh đã giao dịch và thu thập được trên thị trường,sau đó dựa vào những điểm khác biệt giữa bất động sản mục tiêu với bất động sản
so sánh để tiến hành điều chỉnh và tìm ra giá trị của bất động sản mục tiêu Để thựchiện định giá bằng phương pháp này cần thực hiện những bước sau :
- Trước hết người định giá phải tiến hành thu thập các thông tin của các bấtđộng sản được rao bán trong thời gian gần đây có thể so sánh với bất động sản mụctiêu cần định giá về vị trí, điều kiện, kiểu cách, kiến trúc, mục đích sử dụng
- Thứ hai là tiến hành kiểm tra các bất động sản có thể so sánh được Xem xéttất cả các đặc điểm của chúng về mọi khía cạnh để từ đó xác định giá trị của chúng
và bảo đảm rằng các bất động sản này có thể so sánh được
- Thứ ba là người định giá sẽ chọn ra từ những bất động sản so sánh thu thậpcác bất động sản thích hợp nhất, tương đồng nhất để tiến hành so sánh, thôngthường chọn ra từ 3-6 bất động sản so sánh, có thẻ sử dụng phương pháp phân tíchthống kê, phân tích xác suất để tiến hành phân tích Những bất động sản này thường
có cùng khu vực hoặc ở các khu vực lân cận với bất động sản mục tiêu
- Thứ tư là tiến hành phân tích giá bán của bất động sản so sánh sau đó xácđịnh sự khác biệt giữa bất động sản mục tiêu và các bất động sản so sánh Phân tíchcác yếu tố dẫn đến sự chênh lệch giá cả giữa bất động sản mục tiêu và bất động sản
so sánh
Trang 20- Thứ năm là tiến hành điều chỉnh giá bán của mỗi bất động sản so sánh vớibất động sản mục tiêu thông qua việc chỉ ra các đặc điểm khác biệt của bất động sản
so sánh với bất động sản mục tiêu, lượng hoá sự khác biệt đó Tiến hành điều chỉnhgiá tăng hoặc giảm xuống tương ứng với mỗi điểm khác biệt
- Cuối cùng là người định giá tiến hành hoà hợp các chỉ số giá trị để tìm ra chỉ
số giá trị cuối cùng của bất động sản mục tiêu
Theo phương pháp so sánh thì giá trị thị trường là cơ sở cho định giá và bằngchứng tốt nhất về định giá của mỗi bất động sản, tuy nhiên số lượng các bất độngsản được giao dịch trên thị trường là không nhiều, hơn thế nữa các bất động sản nàylại không hoàn toàn giống nhau vì vậy giá bán của các bất động sản có thể dùng để
so sánh phải được điều chỉnh để bù vào những sự khác biệt của chúng với bất độngsản mục tiêu Thông thường có mười nhóm các yếu tố dẫn đến sự khác nhau là: cácquyền của bất động sản (toàn quyền sở hữu hoặc đồng sở hữu), điều kiện và phươngthức thanh toán (trả ngay hay trả chậm trả góp, thanh toán bằng tiền hay vàng hoặcUSD), động cơ bán, các chi phí phải thực hiện ngay sau khi mua (chi phí khôi phụcbắt buộc vì sự xuống cấp), điều kiện thị trường (chính sách thuế, cung - cầu trên thịtrường bất động sản ), vị trí, các đặc điểm vật lý của bất động sản ( như là quy môkích thước, diện tích sàn xây dựng, diện tích sử dụng, sự khác kiểu kiến trúc, vậtliệu xây dựng cũng như các tiện ích có sẵn ), các đặc điểm kinh tế của bất động sản( chủ yếu liên quan đến quyền khai thác bất động sản, bảo dưỡng, chất lượng quản lícông trình, các vấn đề liên quan đến hợp đồng cho thuê), phân vùng (điều chỉnh sựkhác biệt về sử dụng tốt nhất và cao nhất giữa bất động sản so sánh với bất độngsản mục tiêu, các cấu thành giá trị không phải là bất động sản
Phương pháp điều chỉnh là lấy bất động sản cần định giá làm chuẩn, nếu bất
động sản so sánh tốt hơn thì điều chỉnh giá của bất động sản xuống và ngược lại Ta
có công thức tổng quát tính giá trị của bất động sản khi dùng phương pháp so sánhtrực tiếp như sau :
P BĐS mục tiêu = P BĐS so sánh ± P điều chỉnh
Trang 21Có 2 loại điều chỉnh đó là điều chỉnh theo số tiền tính gộp và điều chỉnh theo tỉ
lệ phần trăm
Hạn chế của phương pháp
- So sánh trực tiếp là phương pháp đơn giản nhưng nhiều cạm bẫy, nếu ngườiđịnh giá đặt quá nhiều tin tưởng vào các bằng chứng thị trường nhưng đã quên mấtrằng bằng chứng đó đã phản ánh điều gì trong quá khứ, dễ dẫn đến sai lầm
- Nhiệm vụ định giá là xác định giá trị thị trường của bất động sản nhưng phảidựa vào các giao dịch trong quá khứ Do đó giá trị thị trường ở hiện tại có thể bị ảnhhưởng tới các giao dịch trước đó
- Trong trường hợp thị trường yếu, số lượng các giao dịch trong thị trường làkhông đủ thì việc sử dụng phương pháp này là rất hạn chế
- Đối với bất động sản tạo thu nhập thì người mua quan tâm đến đặc tính kinh
tế của nó đặc biệt là tỉ suất sinh lời trên vốn đầu tư nên việc phân tích so sánh cácbất động sản như vậy là rất khó khăn
- Trong điều kiện kinh tế và pháp lý thay đổi nhanh chóng làm hạn chế tínhthực tiễn của phương pháp
- Đối với những bất động sản chuyên dùng hoặc những bất động sản xuốngcấp cũng rất ít thông tin, số liệu có thể so sánh được
- Để bảo đảm tính thực tiễn của phương pháp cần thận trọng đối với nguồngốc số liệu và cả đặc điểm của cơ sở dữ liệu
- Việc đánh giá sự khác biệt cũng như sự lượng hoá những yếu tố khác nhaugiữa bất động sản mục tiêu và bất động sản so sánh còn mang nặng tính chủ quancủa định giá viên
Tuy còn nhiều hạn chế trong phương pháp so sánh song đây là phương phápđược sử dụng rộng rãi trong thực tế và cho những kết quả đáng tin cậy nếu sử dụng
nó hợp lý trong những hoàn cảnh phù hợp
Ứng dụng của phương pháp
Trang 22Định giá bất động sản thế chấp là một nghiệp vụ rất quan trọng trong công táctín dụng của ngân hàng, nó ảnh hưởng đến an toàn của các khoản nợ Kết quả củacông việc định giá sẽ quyết định mức cho vay, thời hạn vay Những tài sản dùng
để thế chấp đa số là những bất động sản dễ mua bán trao đổi như : nhà ở, đất, khotàng, bến bãi, của hàng nên có thể sử dụng nhiều phương pháp linh hoạt trong quátrình định giá
Đối với những bất động sản thường được sử dụng để thế chấp thì khả năngchuyển nhượng trên thị trường là khá cao chính vì vậy thông tin của chúng tìm thấytrên thị trường là tương đối dễ dàng Sử dụng phương pháp so sánh để định giá sẽ
dễ dàng thực hiện và kết quả có tính chính xác cao
Hiện nay pháp luật nhà nước ta quy định, các cơ quan nhà nước khi xác địnhgiá trị nhà đất phải xem xét đến các yếu tố thị trường, giá thị trường là cơ sở choviệc thẩm định giá mà phương pháp so sánh là phương pháp hữu hiệu để xác địnhgiá trị của bất động sản trong điều kiện thị trường của nước ta hiện nay
1.3.2 Phương pháp chi phí
Bất động sản rất đa dạng và có nhiều mục đích sử dụng khác nhau trong đó cónhững bất động sản được xây dựng để phục vụ cho một mục đích riêng biệt và đápứng nhu cầu cụ thể như trường học, nhà thờ, bệnh viện chính vì thế những giaodịch như thế này trên thị trường là hoàn toàn không có do vậy không thể áp dụngphương pháp so sánh
Đối với bất động sản loại này thì việc định giá sẽ được hình thành trên cơ sởchi phí tạo ra nó được gọi là phương pháp chi phí Đây là phương pháp xác định giátrị của bất động sản bằng chi phí để làm ra một bất động sản tương tự như là bấtđộng sản thay thế
Phương pháp định giá chi phí thường được sử dụng trong những trường hợpsau :
- Định giá bất động sản đặc biệt, phục vụ cho lợi ích công cộng và hầu nhưkhông có thông tin giao dịch trên thị trường
Trang 23- Định giá cho mục đích đánh thuế, thuế suất được đánh giá lên chi phí côngtrình tại thời điểm định giá.
- Định giá đền bù giải phóng mặt bằng khi bất động sản bị thu hồi một cáchbắt buộc
- Định giá cho mục đích bảo hiểm
Cơ sở của phương pháp
Nguyên lý chung của phương pháp chi phí chính là giá trị của bất động sảnđược tính bằng tổng chi phí để có được địa điểm, chi phí xây dựng thay thế hoặc táitạo công trình trừ đi phần giảm giá của công trình do hao mòn, lỗi thời
Các phương pháp xác định chi phí
* Các loại chi phí
- Chi phí thay thế công trình: là chi phí hiện hành để xây dựng công trình mới
có giá trị sử dụng tương đương với công trình cần định giá theo đúng tiêu chuẩnthiết kế, bố cục công trình
- Chi phí tái tạo công trình: là chi phí hiện hành để xây dựng một công trìnhthay thế giống hệt công trình đang định giá có tính đến cả điểm lỗi thời của côngtrình đó
Chi phí thay thế/ tái tạo công trình bao gồm: chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếptạo ra công trình và lợi nhuận của người đầu tư
* Các phương pháp xác định chi phí
Để xác định giá thành chính xác của công trình bất động sản ta phải xác địnhđược tất cả các loại chi phí tạo lập bất động sản Có nhiều phương pháp ước tính chiphí nhưng hiện nay các nhà kiến trúc, xây dựng và định giá viên thường sử dụngnhững phương pháp sau :
- Phương pháp tính chi phí theo đơn vị so sánh: dùng để ước lượng chi phí trênmỗi đơn vị diện tích, khi sử dụng phương pháp này chú ý khai thác các số liệu sẵn
có trên thị trường tương tự với các công trình cần định giá, điều chỉnh theo điềukiện thị trường, điều chỉnh về sự khác biệt về mặt vật lý của công trình
Trang 24- Phương pháp chi phí mỗi đơn vị xây dựng cấu thành: tính chi phí đơn vị theo
số lượng, cấu thành, theo chiều dài, diện tích, khối lượng
- Phương pháp khảo sát số lượng: tính toán nhằm khảo sát số lượng chất lượngcủa các loại vật liệu sử dụng cho xây dựng công trình, các loại lao động theo số giờcần thiết được sử dụng để xây dựng công trình
Bên cạnh các chi phí trực tiếp tạo ra công trình, nếu các phương pháp chưatính đến chi phí gián tiếp và lợi nhuận của người đầu tư thì cần tính thêm các khoảnmục này để có chi phí đầy đủ
Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng nên khi thực hiện ước tính chi phíngười định giá cần xem xét, phân tích và lựa chọn những phương pháp thích hợpđồng thời tham khảo giá cả thị trường
Các bước thực hiện quá trình định giá bằng phương pháp chi phí
Quá trình này gồm bảy bước như sau :
- Ước lượng giá trị của mảnh đất của bất động sản cần định giá, coi mảnh đất
đó là mảnh đất trống và việc sử dụng công trình hiện tại là cao nhất, tốt nhất
- Ước tính các chi phí hiện hành để xây dựng lại hoặc thay thế công trình hiện
có trên mảnh đất Tiến hành xác định tất cả các loại chi phí tạo ra công trình: chi phítrực tiếp, chi phí gián tiếp và lợi nhuận của nhà đầu tư
- Ước tính tổng số tiền giảm giá tích luỹ của các công trình xây dựng hiện cótrên mảnh đất xét trên tất cả các loại nguyên nhân Sự giảm giá đó được chia thành
ba loại: giảm giá tự nhiên, lỗi thời chức năng, lỗi thời bên ngoài
- Trừ số tiền giảm giá tích luỹ khỏi chi phí hiện tại để có được giá trị hiện tạicủa công trình
Giá trị công trình = Chi phí thay thế / chi phí tái tạo - Tổng giảm giá
- Ước tính phần giảm giá của các công trình xây dựng phụ và các công trìnhtái tạo khác trên địa điểm
- Cộng giá trị mảnh đất với chi phí công trình đã giảm giá và chi phí côngtrình phụ đã được giảm giá
Trang 25- Điều chỉnh giá trị ước tính bất động sản mục tiêu với bất cứ tài sản của cánhân nào có thể đã đưa vào tính chi phí nếu thấy cần thiết.
Những hạn chế của phương pháp chi phí
Phương pháp chi phí có những mặt hạn chế sau:
- Do phương pháp này việc xác định chi phí xây dựng cũng phải dựa vàothông tin giá cả nguyên vật liệu xây dựng trên thị trường, chính vì vậy mà nó cũnggặp phải những hạn chế giống phương pháp so sánh
- Chi phí thực chất không bằng giá trị và tạo nên giá trị Khi công trình đã cũ
và không thể hiện sử dụng tốt nhất, hiệu qủa nhất của đất như chỗ trống thì phầngiảm giá khó ước lượng
- Phương pháp này sử dụng phương pháp cộng dồn, song tổng của nhiều bộphận cộng dồn không chắc bằng tổng giá trị toàn bộ
- Việc tính giảm giá tích luỹ nhiều khi dựa vào chủ quan của người định giá,chưa có phương pháp thống nhất
- Trong trường hợp không có số liệu thị trường, các số liệu phải được xem xétmột cách cẩn thận
- Phương pháp này đòi hỏi người định giá phải có kiến thức về xây dựng và cókinh nghiệm
- Phương pháp này chỉ đưa ra giá trị của bất động sản toàn quyền sở hữu,trong trường hợp cần định giá giá trị của các sở hữu bộ phận đòi hỏi người định giáphải điều chỉnh
Vận dụng phương pháp chi phí vào định giá bất động sản thế chấp
Mỗi một bất động sản với mục đích riêng biệt và những đặc trưng về kiểudáng, kiến trúc sẽ phù hợp với phương pháp định giá nhất định, cũng có nhữngbất động sản phải sử dụng nhiều phương pháp Đối với những bất động sản có giátrị lớn, được thiết kế để sử dụng vào mục đích riêng biệt nào đó như: bệnh viện,trường học, nhà thờ, nhà máy mà chúng ít được trao đổi trên thị trường khi phảiđịnh giá chúng thì phương pháp phù hợp nhất là phương pháp chi phí
Trang 26Khi sử dụng các phương pháp này người định giá cần chú ý: nếu là bất độngsản mới xây dựng thì việc định giá theo phương pháp tính theo chi phí xây dựng làhợp lý, nhưng đối với tài sản nhà đất đang tồn tại đã qua sử dụng thì người định giáphải trừ đi phần hao mòn khi sử dụng và mức độ lạc hậu, lỗi thời của nó với các bấtđộng sản khác Tuy nhiên các khoản do hao mòn và lạc hậu rất khó xác định, nóphụ thuộc vào khả năng đánh giá, kiến thức, kinh nghiệm của người định giá.
1.3.3 Phương pháp vốn hoá
Khái niệm
Phương pháp vốn hoá dùng định giá các bất động sản tạo thu nhập, là quátrình chuyển đổi các thu nhập ròng hàng năm trong tương lai thành giá trị vốn hiệntại
Áp dụng của phương pháp vốn hoá:
- Các bất động sản tạo thu nhập: đối với loại bất động sản này thì người đầu tưthường có kì vọng bất động sản có khả năng tạo ra thặng dư tài chính lớn hơn chiphí để tạo ra nó
- Các mức tiền thuê bất động sản được hình thành từ các điều kiện thị trường
và sẽ tiếp tục trong suốt thời kì quyền tài sản còn có hiệu lực
- Người đầu tư sẽ chuyển hoá dòng tiền thu nhập thuần từ tiền thuê hàng nămthành tổng số tiền lớn để có được bất động sản Quá trình chuyển đổi các thu nhậpròng tương lai thành giá trị bất động sản hiện tại gọi là quá trình vốn hoá
Các loại tỉ lệ vốn hoá bao gồm :
- Tỷ lệ thu nhập gồm: tỷ lệ vốn hoá chung (R0) và tỷ lệ vốn hoá tự có (Re)
- Tỷ lệ lợi tức gồm: tỷ suất hoàn vốn nội tại (IRR), tỷ suất lợi tức chung
( Y0), tỷ lệ chiết khấu (r), tỷ suất lợi tức của vốn tự có (Ye)
* Phương pháp vốn hoá trực tiếp
Đây là phương pháp sử dụng để chuyển đổi ước lượng thu nhập kì vọng củamột năm cụ thể thành chỉ số giá trị trong một bước trực tiếp bằng cách chia thu
Trang 27nhập được ước lượng cho tỷ lệ thu nhập phù hợp hoặc bằng cách nhân thu nhập ướclượng với yếu tố thu nhập phù hợp
G = NOI/Ro
hoặc G = NOI x Y ( Y = 100/Ro)
* Phương pháp vốn hoá lợi tức (dòng tiền chiết khấu )
Đây là phương pháp được sử dụng để chuyển đổi các lợi ích tương lai thànhgiá trị hiện tại bằng cách chiết khấu từng lợi ích tương lai ở tỷ lệ lợi tức phù hợp Phương pháp này dùng một tỷ lệ chung áp dụng cho nhiều đặc tính (tính đến
sự thay đổi thu nhập, chi phí, giá trị thu hồi ) áp dụng với quyền quản lý và sửdụng BĐS có thời hạn (bất động sản cho thuê và cho thuê lại hoặc bất động sản nắmgiữ có thời hạn)
Những điều chú ý khi sử dụng phương pháp vốn hoá
- Khi sử dụng phương pháp vốn hoá người định giá cần phải am hiểu về bấtđộng sản và có các tài liệu chính xác Trong thực tế khi định giá một bất động sảntạo ra thu nhập hàng năm như các bất động sản cho thuê, người ta sử dụng phươngpháp vốn hoá lợi tức Khi sử dụng phương pháp này người định giá cần phải ướclượng và tính toán tất cả các luồng thu nhập trong tương lai do đầu tư tài sản tạo ra,sau đó chuyển đổi chúng về giá trị hiện tại Trong phương pháp này việc tính toán
để đưa ra kết quả cuối cùng phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của số liệu đầu vào,
đó là gía trị lợi tức do ước lượng thu nhập tương lai và tỷ lệ lãi suất dùng để chiếtkhấu
Vận dụng phương pháp vốn hoá vào định giá thế chấp bất động sản
Các bất động sản được sử dụng là tài sản thế chấp khi vay vốn không chỉ lànhững bất động sản phục vụ cho nhu cầu ăn ở mà còn bao gồm cả những bất độngsản phục vụ cho việc kinh doanh như cửa hàng, khách sạn Những bất động sảnnày hàng năm đã đem về cho chủ sở hữu những dòng thu nhập khá lớn Nếu chỉdùng các phương pháp định giá so sánh hoặc phương pháp chi phí thì không thểphản ánh rõ được giá trị của các loại bất động sản này Chính vì vậy mà người định
Trang 28giá nên sử dụng phương pháp vốn hoá để có thể chuyển tất cả các dòng thu nhậphàng năm trong một khoảng thời gia nhất định mà bất động sản tạo ra về hiện tạivới một tỷ lệ chiết khấu xác định.
1.4 Quy trình định giá bất động sản
Quy trình hay trình tự định giá là một quá trình có tính hệ thống nhằm giúpđịnh giá viên có thể hành động một cách rõ ràng, phù hợp với công tác định giá.Quy trình định giá cũng là một kế hoạch hành động có trật tự chặt chẽ phù hợpvới các nguyên tắc định giá, giúp cho định giá viên đưa ra những kết luận vữngchắc hoặc ước tính giá trị bất động sản một cách có cơ sở và có thể đảm bảo được.Quy trình định giá gồm các bước sau
1.4.1 Xác định bất động sản cần định giá và giá trị cơ sở
Người định giá xác định các đặc điểm cơ bản của bất động sản về pháp lý (địachỉ bất động sản, bản đồ địa chính, giấy tờ sở hữu hợp pháp ), về kinh tế (tuổi côngtrình, bảo dưỡng sửa chữa, quy mô ), về kĩ thuật (kiến trúc, cấu trúc, trang thiết bịtoà nhà ) của tài sản cần định giá
Người định giá phải xác định và nhận thức mục đích định giá của khách hàng.mục đích định giá phải được nêu trong báo cáo định giá
Xác định khách hàng, yêu cầu của khách hàng, người sử dụng kết quả địnhgiá
Xác định các điều kiện ràng buộc và các hạn chế trong xác định đối tượngđịnh giá Định giá viên phải đưa ra những giả thiết và những điều kiện bị hạn chếđối với: những yêu cầu và mục đích định giá của khách hàng, những yếu tố ràngbuộc ảnh hưởng đến giá trị tài sản; những giới hạn về tính pháp lý, công dụng củatài sản, nguồn dữ liệu, sử dụng kết quả; quyền và nghĩa vụ của định giá viên theohợp đồng định giá
Người định giá phải xác định thời điểm định giá Việc xác định đặc điểm, bảnchất ( tự nhiên, pháp lý ) của tài sản cần định giá phải được thực hiện ngay sau khi
Trang 29kí hợp đồng định giá và ý kiến đánh giá về giá trị của tài sản được đưa ra trongphạm vi thời gian cho phép của hợp đồng
Xác định nguồn thông tin dữ liệu: người định giá khai thác thu thập các thôngtin trên thị trường từ trước đến nay, tìm hiểu thông tin qua đồng nghiệp, qua cáccông ty bất động sản, các cơ quan quản lý nhà nước, xem trên các phương tiệnthông tin đại chúng
Xác định cơ sở giá trị của tài sản Trên cơ sở xác định khấi quát về đặc điểm,loại hình tài sản cần định giá, người định giá cần xác định rõ loại hình giá trị làm cơ
sở cho việc định giá: giá trị thị trường hay phi thị trường Việc xác định giá trị làm
cơ sở cho định giá phải phù hợp với những quy định của pháp luật hiện hành và cácvăn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
+ Xây dựng tiến độ nghiên cứu, xác định trình tự thu thập và phân tích dữ liệuthời hạn cho phép của trình tự phải thực hiện
+ Lập đề cương báo cáo kết quả định giá
1.4.3 Khảo sát hiện trường, thu thập thông tin
* Khảo sát hiện trường
Người định giá phải trực tiếp khảo sát hiện trường Đối với bất động sản,người định giá phải khảo sát và thu thập số liệu về:
Trang 30- Vị trí thực tế của bất động sản so sánh với vị trí trên bản đồ địa chính, các
mô tả pháp lý liên quan đến bất động sản
- Chi tiết bên ngoài và bên trong bất động sản, bao gồm: diện tích đất và côngtrình kiến trúc, khung cảnh xung quanh, cơ sở hạ tầng (cấp thoát nước, điện, đường,thông tin liên lạc ) loại kiến trúc, mục đích sử dụng hiện tại, tuổi đời, tình trạngduy tu , sửa chữa
Trong quá trình khảo sát, để có đầy đủ chứng cứ cho việc định giá, người địnhgiá phải cần chụp ảnh tài sản theo các dạng và các hướng khác nhau
* Thu thập thông tin
Bên cạnh thông tin, số liệu thu thập từ khảo sát hiện trường, người định giácần phải thu thập các thông tin sau:
- Các thông tin liên quan đến chi phí, giá bán, lãi suất, thu nhập của tài sản sosánh
- Các thông tin về yếu tố cung - cầu, lực lượng tham gia thị trường, động tháingười mua, người bán tiềm năng
- Các thông tin về tính pháp lý của tài sản
- Các số liệu về kinh tế xã hội, môi trường, những yếu tố tác động đến giá trị,những đặc trưng của tài sản để nhận biết sự khác nhau giữa khu vực tài sản định giátoạ lạc và khu vực lân cận
- Các thông tin về những yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến mụcđích sử dụng của tài sản (địa chất, bản đồ địa chính, quy hoạch, biên giới hànhchính, cơ sở hạ tầng )
Người định giá thu thập thông tin dựa vào các nguồn như : khảo sát thực địa,các giao dịch mua bán bất động sản, thông qua các công ty bất động sản, công tyxây dựng, nhà thầu, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, thông tin trên báo chí, các cơquan quản lý của nhà nước Định giá viên phải nêu rõ nguồn thông tin trong báo cáođịnh giá và phải được kiểm chứng để đảm bảo độ chính xác của thông tin
Trang 311.4.4 Phân tích thông tin
Đây là quá trình đánh giá tác động của các yếu tố đến mức giá của tài sản cầnđịnh giá
Phân tích các thông tin khảo sát hiện trường, chọn ra các bất động sản để sosánh định giá, áp dụng phương pháp định giá cụ thể
Phân tích thông tin về thị trường bao gồm phân tích hành vi ứng xử của thịtrường và phân tích cung- cầu trên trị trường
Phân tích về khách hàng tiềm năng của bất động sản bao gồm: sở thích củakhách hàng về vị trí, quy mô, chức năng của bất động sản và môi trường kinh doanhbất động sản; phân tích về khả năng thanh toán của khách hàng
Phân tích về việc sử dụng tốt nhất, hiệu quả nhất của bất động sản gồm :
1.4.5 Xác định giá trị bất động sản cần định giá
Trong bước này người định giá phải chỉ rõ sử dụng phương pháp nào để chỉ ragiá trị của bất động sản cần định giá, cần phân tích rõ mức độ phù hợp của một hoặcnhiều phương pháp định giá được sử dụng Người định giá phải chỉ rõ giá trị của bấtđộng sản, đó có thể là một con số hoặc một khoảng giá trị
1.4.6 Lập báo cáo và chứng thư định giá
Báo cáo kết quả định giá là văn bản do định giá viên lập để nêu rõ ý kiếnchính thức của mình về quá trình định giá, mức giá (thể hiện bằng tiền hoặc vậtngang giá khác) của bất động sản mà khách hàng yêu cầu định giá
Chứng thư định giá : là văn bản do doanh nghiệp, tổ chức định giá lập nhằmcông bố cho khách hàng hoặc bên thứ ba về nội dung cơ bản liên quan đến kết quảđịnh giá bất động sản
2 Quy định chung của Ngân hàng về bất động sản thế chấp
Căn cứ vào Nghị định số 85/2002/ NĐ-CP ngày 25/10/2002 của Chính phủ vềsửa đổi, bổ sung Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiềnvay của các tổ chức tín dụng , Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn một số
Trang 32quy định về bảo đảm tiền vay, thông tư liên tịch số 03/2003/TTLT/BTP-BTNMTngày 04/07/2003 hướng dẫn về trình tự, thủ tục đăng kí và cung cấp thông tin về thếchấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Các tổ chức tíndụng phải thực hiện những quy định trên khi cho vay theo quy chế cho vay củaNgân hàng nhà nước Việt Nam, cụ thể như sau :
2.1 Tiêu chuẩn của bất động sản thế chấp
- Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng, quản lý củakhách hàng vay, bên bảo lãnh theo quy định sau đây:
+ Đối với giá trị quyền sử dụng đất, phải thuộc quyền sở hữu của khách hàngvay, bên bảo lãnh và được thế chấp, bảo lãnh theo quy định của pháp luật về đấtđai
+ Đối với tài sản của doanh nghiệp nhà nước thì phải là tài sản do nhà nướcgiao cho doanh nghiệp đó quản lý, sử dụng và được dùng để bảo đảm tiền vay theoquy định của pháp luật về doanh nghiệp nhà nước
+ Đối với tài sản khác, thì phải thuộc sở hữu của khách hàng vay, bên bảolãnh: trường hợp tài sản mà pháp luật quy định phải đăng kí quyền sở hữu thì kháchhàng vay, bên bảo lãnh phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản
- Tài sản được phép giao dịch, tức là tài sản mà pháp luật cho phép hoặckhông cấm mua bán, tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, bảolãnh và các giao dịch khác
- Tài sản không có tranh chấp, tức là tài sản không có tranh chấp về quyền sởhữu hoặc quyền sử dụng, quản lý của khách hàng vay, bên bảo lãnh tại thời điểm kýkết hợp đồng bảo đảm
Trước khi tiến hành cho vay, Ngân hàng phải kiểm tra tất cả các điều kiện trên
để đảm bảo việc cho vay đúng pháp luật và tránh rủi ro cho ngân hàng
Trang 33- Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp.
- Tài sản hình thành trong tương lai là bất động sản hình thành sau thời điểm
kí kết giao dịch thế chấp và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp như hoa lợi, lợitức, tài sản hình thành từ vốn vay, công trình xây dựng, các bất động sản khác màbên thế chấp có quyền nhận
- Trong trường hợp thế chấp toàn bộ tài sản có vật phụ, thì vật phụ đó cũngthuộc tài sản thế chấp Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản có vật phụthì vật phụ chỉ thuộc tài sản thế chấp nếu các bên có thoả thuận
2.3 Quy định cho vay bằng bất động sản thế chấp
2.3.1 Hồ sơ cho vay thế chấp
- Trường hợp đăng kí thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất hoặc đăng kíthế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì hồ sơ đăng
kí bao gồm :
+ Đơn yêu cầu đăng kí thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất, tài sản gắn liềnvới đất (03 bản); văn bản uỷ quyền đối với trường hợp người yêu cầu đăng kí làngười được uỷ quyền
+Hợp đồng thế chấp quyền được sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất và tàisản gắn liền với đất (02 bản), hợp đồng bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất hoặc bằngquyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (03 bản)
Trang 34+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữunhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với trường hợp thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sửdụng đất ở, nhà ở tại đô thị.
+ Trích lục bản đồ địa chính (đối với nơi đã có bản đồ địa chính) hoặc trích đođịa chính (đối với nơi chưa có bản đồ địa chính) đối với trường hợp trên giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất
ở chưa thể hiện sơ đồ thửa đất
+ Chứng từ nộp tiền thuế đất (trường hợp được nhà nước cho thuê đất)
- Trường hợp đăng kí thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất, thì hồ sơđăng kí bao gồm :
+ Đơn yều cầu đăng kí thế chấp, bảo lãnh (03 bản); văn bản uỷ quyền đối vớitrường hợp người yêu cầu đăng kí là người được uỷ quyền
+ Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với trường hợppháp luật quy định tài sản đó phải đăng kí quyền sở hữu
2.3.2 Quyền hạn và nghĩa vụ của các bên
Quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp
- Bên thế chấp trong thời gian thế chấp bất động sản vẫn được sử dụng bấtđộng sản thế chấp: đây là một điều kiện quan trọng và có ý nghĩa với các cá nhận tổchức thế chấp vì họ vừa có thể tiến hành các hoạt động trên bất động sản một cáchbình thường như trước khi tiến hành thế chấp vừa có vốn để tiến hành các hoạt động
đã ghi trong hồ sơ thế chấp như vay để đầu tư, để kinh doanh, để sửa chữa nhà củahay mở rộng sản xuất
- Bên thế chấp được quyền nhận tiền vay từ tổ chức nhận thế chấp theo hợpđồng vay: khi hai bên thế chấp và nhận thế chấp đã kí hợp đồng tức là hai bên phải
có nghĩa vụ thực thi hợp đồng đã kí, bên nhận thế chấp phải cấp vốn vay cho bênthế chấp theo đúng số lượng và thời hạn đã ghi trên hợp đồng Nếu bên nhận thếchấp không thực hiện việc cấp vốn cho bên thế chấp không đúng theo như trong
Trang 35hợp đồng thì bên thế chấp hoàn toàn có quyền kiến nghị lên các cơ quan có chứcnăng.
- Bên thế chấp không được phép có bất kì một hành động nào huỷ hoại làmgiảm giá trị của bất động sản Việc huỷ hoại đó không những làm giảm giá trị củachính bất động sản mà bên thế chấp đã thế chấp mà còn ảnh hưởng rất lớn đến uytín của khách hàng đối với các tổ chức thế chấp Bên nhận thế chấp sẽ khó có thểchấp nhận cho vay lần hai với các cá nhân tổ chức có hành động phá hoại những bấtđộng sản thế chấp
- Trong thời hạn thế chấp bên thế chấp không được tiến hành mua bán, traođổi , chuyền nhượng, chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại bất động sản đã thế chấpnếu không có sự đồng ý của bên nhận thế chấp Quy định này nhằm đảm bảo rằngbất động sản đó vẫn thuộc sở hữu, sử dụng của bên thế chấp để bên nhạn thế chấp
có thể thực thi hợp đồng một cách tốt nhất và tránh rủi ro cho bên nhận thế chấp vì
có thể bên thế chấp sẽ chối bỏ nhận trách nhiệm trả vốn vay và lãi cho bên nhận thếchấp
- Bên thế chấp phải thanh toán các khoản vay và khoản lãi đúng thời hạn vàđúng số lượng như đã ghi trong hợp đồng đối với bên nhận thế chấp Điều này đảmbảo cho lợi ích hợp pháp của bên nhận thế chấp và đảm bảo lượng vốn cho bênnhận thế chấp có thể tiến hành hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả
- Bên thế chấp phải thực hiện các nghĩa vụ khác với bên nhận thế chấp nếu cótrong hợp đồng
Quyền hạn và nghĩa vụ của bên nhận thế chấp
- Bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bên thế chấp giao các giấy tờ sổ sách
có liên quan đến quyền sở hữu và sử dụng bất động sản Các giấy tờ đó như một sựđảm bảo đối với bên nhận thế chấp là khách hàng sẽ trả nợ theo các điều khoản đãghi trong hợp đồng
Trang 36- Bên nhận thế chấp có quyền kiểm tra bất động sản, kiểm tra việc thực hiệncác nghĩa vụ của bên thế chấp như trả lãi vay, không phá hoại bất động sản thế chấpcũng như kiểm tra các điều kiện khác mà hai bên đã cam kết ghi trong hợp đồng.
- Bên nhận thế chấp phải chuyển vốn cho bên thế chấp theo đúng số lượng vàthời hạn mà hai bên đã cam kết Việc này nhằm đảm bảo uy tín của bên nhận thếchấp đối với bên thế chấp và tránh kiện tụng sau này nếu bên nhận thế chấp khôngchuyển vốn cho bên thế chấp hoặc chuyển không đúng hạn
- Bên nhận thế chấp phải trả tất cả các loại giấy tờ, hồ sơ về bất động sảnthế chấp cho bên thế chấp sau khi hợp đồng thế chấp được thanh lý, bên nhận thếchấp không được phép giữ bất kì một loại giấy tờ nào liên quan đến bất động sảnđó
- Bên nhận thế chấp phải thực hiện tất cả các nghĩa vụ khác nếu hai bên đãthoả thuận trong hợp đồng
2.3.3 Mức cho vay tối đa
Mưc cho vay tối đa do các ngân hàng xét theo tình hình kinh doanh của mình
để quy định, tuy nhiên ngân hàng nào cũng không thể cho khách hàng vay bằng giátrị tài sản thế chấp được vì vậy sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến việc bảo toàn vốncủa ngân hàng cũng như kiểm soát rủi ro Thông thường các ngân hàng hiện naythường cho khách hàng vay từ 70- 80 % giá trị của bất động sản thế chấp, một sốngân hàng có thể co vay tỉ lệ cao hơn, tuỳ thuộc vào chính sách của từng ngân hàng
2.3.4 Thời điểm xác định giá trị bất động sản thế chấp
Giá trị bất động sản thế chấp được xác định tại thời điểm hai bên thế chấp vànhận thế chấp ký hợp đồng, thời điểm này không được áp dụng khi bên nhận thếchấp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ do bất động sản có giá trị biên động theothời gian, do vậy giá tại thời điểm hai bên kí kết hợp đồng có thể khác so với giá bấtđộng sản khi hai bên thanh lý hợp đồng Điều này phải được quy định rõ trong hợpđồng để tránh tranh chấp cũng như làm giảm lợi ích cho một trong hai bên
Trang 37Việc định giá bất động sản thế chấp có thể do bên nhận thế chấp đơn phươngtiến hành hoặc có thể thuê tổ chức định giá, tư vấn bên ngoài, điều này do hai bênbàn bạc thống nhất nhau.
3 Kinh nghiệm định giá bất động sản của một số nước trên thế giới
Trong thời gian qua, mặc dù nước ta là nước đi sau trong lĩnh vực định giá,tuy nhiên chúng ta cũng học hỏi được những kiến thức cũng như các kinh nghiệmđịnh giá của một số quốc gia trên thế giới Nước ta đang dần dần hình thành các tổchức nghề nghiệp, các trung tâm tư vấn, định giá bất động sản và đang dần dầnkhẳng định vị trí trên thị trường
Bộ tài chính cùng với bộ tài nguyên môi trường kết hợp xây dựng nên nhữngphương pháp, nguyên tắc cơ sở định giá trên cơ sở vận dụng những kinh nghiệmtích luỹ được vào thực trạng nước ta
Nhà nước ban hành luật kinh doanh bất động sản, các nghị định, quy định vềđiều kiện kinh doanh dịch vụ định giá, cấp chứng chỉ hành nghề định giá, ngày cànghoàn thiện khung pháp lý để đảm bảo về chất lượng của hoạt động định giá bấtđộng sản
Hàng năm các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương đều ban hành đơn giá cácloại đất phục vụ cho công tác đền bù, giải phóng mặt bằng và là cơ sở để các cánhân, tổ chức tiến hành các hoạt động mua bán, chuyển nhượng , cho thê, cho thuêlại
Định giá bất động sản là lĩnh vực được nhiều quốc gia quan tâm, nghề địnhgiá được phát triển từ thế kỉ 19 ở nhiều nước, do đó về mặt lý thuyết các phươngpháp định giá đã được phát triển khá đầy đủ và được áp dụng rất rộng rãi Tuy vậy ởmỗi nước tên gọi của các phương pháp có thể khác nhau
Về tổ chức hoạt động thì ở các nước dịch vụ định giá bất động sản đã pháttriển từ lâu, các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn và các quy định cho hoạt động củaloại dịch vụ này Đó là các quy định về đào tạo, thời gian kinh nghiệm, về cấpchứng chỉ và giấy phép hành nghề, tiêu chuẩn chuyên môn Ở nhiều nước đã tổ
Trang 38chức hiệp hội định giá và hiệp hội định giá quốc tế Những hiệp hội này thườngcung cấp các khoá học đào tạo và nâng cao về nghề định giá và đưa ra các tiêuchuẩn hoạt động của nghề nghiệp như tiêu chuẩn hành nghề định giá, tiêu chuẩnđạo đức nghề nghiệp Định giá viên khi tham gia hiệp hội nghề nghiệp có cơ hộitrau dồi kiến thức chuyên môn và được hỗ trợ trong quá trình hoạt động như chia sẻthông tin, kinh nghiệm.
Tại Singapore cơ quan quản lý nhà nước về định giá bất động sản là Vănphòng đất đai là cơ quan thực hiện chức năng quản lý của nhà nước đối với đấtcông, quản lý nhà nước về bất động sản, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật,quy trình quy phạm, trình tự thủ tục định giá bất động sản Văn phòng đất đai cóbốn phòng: bán đất, thu hồi đất, quản lý đất nhà nước, hợp tác phát triển về đất Vănphòng định giá có chức năng thực hiện các công việc định giá bất động sản để thuthuế và lệ phí theo quy định của pháp luật Văn phòng định giá có 4 phòng: Xử lýthông tin, định giá bất động sản, định giá bất động sản đặc biệt như sân golf, bóng
đá, casino, định giá theo tổng giá trị bất động sản Tổ chức định giá tư nhân hoạtđộng theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn về bất động sản, kinh doanh bấtđộng sản Công ty tư vấn dịch vụ định giá hoạt động theo giấy phép hành nghề dohội đồng định giá trung ương cấp Tổ chức hội nghề nghiệp là Viện định giáSingapore, có điều lệ và quy chế hoạt động riêng
Trang 39CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN
THẾ CHẤP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI TÍN
1 Một số nét khái quát về ngân hàng TMCP Đại Tín
1.1 Giới thiệu chung về ngân hàng TMCP Đại Tín
1.1.1 Thông tin cơ bản về ngân hàng TMCP Đại Tín
Tên Tiếng Việt : Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Tín
Tên tiếng Anh : GREAT TRUST JOINT STOCK COMMERCIAL BANK Tên viết tắt : TRUST BANK
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng
Ngân hàng Đại Tín chính thức thành lập cách đây 18 năm, Ngân hàng thươngmại cổ phần nông thôn Rạch Kiến là ngân hàng cổ phần đầu tiên của tỉnh Long An
Từ số vốn ban đầu chỉ có 3,4 tỷ đồng, trải qua bao khó khăn do chuyển đổi từkinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhànước theo chủ trương của chính phủ cũng như vượt qua giai đoạn khủng hoảng hệthống tín dụng vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước Nhờ sự quan tâm chỉ đạo kịpthời của lãnh đạo các cấp, các ngành trong và ngoài tỉnh cùng với sự cố gắng, nỗ lựccủa Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban điều hành và tập thể Cán bộ công nhân
Trang 40viên đã đưa ngân hàng vượt qua mọi khó khăn và phát triển vững chắc cho đến ngàyhôm nay So với ngày đầu thành lập, đến nay tổng nguồn vốn của ngân hàng đạthơn 2000 tỷ đồng Sự bền vững của ngân hàng cũng nhu chất lượng dịch vụ của đơn
vị trong 18 năm qua đã nhận được sự tin tưởng của khách hàng
Từ những kết quả trên, Ngân hàng Rạch Kiến là 1 trong 7 ngân hàng cổ phầnvinh dự được tham gia vào quỹ tài chính nông thôn I (Quỹ RDF1) do ngân hàng thếgiới tài trợ từ năm 1998 và hiện nay tiếp tục tham gia vào quỹ RDF 2 do sở giaodịch III ngân hàng đầu tư và phát triển Viện Nam làm chủ dự án Hiện Ngân hàngchuẩn bị tiếp tục tham gia quỹ RDF 3
Việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO cách đây một năm
là cơ hội lớn để các doanh nghiệp của Việt Nam hội nhập vào sân chơi lớn.Tuynhiên đây cũng là thách thức lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp do có sự chênhlệnh về qui mô vốn ,chuyên môn kỹ thuật, các qui tắc ứng xử theo thông lệ quốctế….Đặc biệt là trong hệ thống tài chính ngân hàng.Thời gian vừa qua, hàng lọatcác ngân hàng của chúng ta liên tục mở rộng địa bàn, tăng vốn, ký kết hợp tác chiếnlược với các nhà đầu tư nước ngòai nhằm tranh thủ nguồn vốn, kinh nghiệm quản lýcũng như công nghệ tiên tiến để phát triển hệ thống tài chính ngân hàng của chúng
ta ngang tầm khu vực và thế giới
Đứng trước nhu cầu đó, ngày 17/08/2007, ngân hàng thương mại cổ phầnnông thôn Rạch kiến đã được thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam chấp thuậnchính thức chuyển đổi mô hình hoạt động thành Ngân hàng thương mại cổ phần đôthị và đổi tên thành Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín nhằm tạo điều kiện, tiền
đề để ngân hàng phát triển trong thời gian sắp tới
Việc chấp thuận cho ngân hàng Đại Tín chuyển đổi mô hình hoạt động từNgân hàng Thương mại Cổ phần Nông thôn sang Ngân hàng Thương mại Cổ phần
đô thị tạo được thuận lợi cho ngân hàng có điều kiện nâng cao năng lực về tài chính,
mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh, đủ sức cạnh tranh và phát triển, đánh dấumột giai đoạn phát triển mới của ngân hàng với mục tiêu phấn đấu trở thành mộtngân hàng thương mại cổ phần bán lẻ hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế, cung