1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề cương thi môn MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ XÃ HỘI Hội nông dân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

45 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương thi môn Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và Các Tổ Chức Chính Trị - Xã Hội: Hội Nông Dân Việt Nam Trong Sự Nghiệp Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Nông Nghiệp, Nông Thôn Và Xây Dựng Nông Thôn Mới
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Chính trị - Xã hội
Thể loại Đề cương ôn tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 95,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG MÔN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ XÃ HỘI Câu 1: Thực trạng giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay? Liên hệ thực tiễn địa phương nơi đồng chí đang sinh sống hoặc đang công tác? 1 Câu 2: Thực trạng hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam hiện nay? Liên hệ thực tiễn địa phương nơi đồng chí đang sinh sống hoặc đang công tác? 7 Câu 3: Phân tích làm rõ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác vận động nông dân xây dựng Hội Nông dân Việt Nam? 32 Câu 4: Đồng chí hãy trình bày vai trò của Hội Nông dân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới? Liên hệ việc thực hiện vai trò này trong thực tiễn? 36

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

CÂU HỎI Bài 3: Hội nông dân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới

Câu 1: Thực trạng giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay? Liên hệ thựctiễn địa phương nơi đồng chí đang sinh sống hoặc đang công tác?

Câu 2: Thực trạng hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam hiện nay?Liên hệ thực tiễn địa phương nơi đồng chí đang sinh sống hoặc đang côngtác?

Câu 3: Phân tích làm rõ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác vận động nông dân xây dựngHội Nông dân Việt Nam? Liên hệ

Câu 4: Đồng chí hãy trình bày vị trí, vai trò của Hội Nông dân ViệtNam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

và xây dựng nông thôn mới? Liên hệ việc thực hiện vai trò này trong thựctiễn?

TRẢ LỜI

Câu 1: Thực trạng giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay? Liên hệ thực tiễn địa phương nơi đồng chí đang sinh sống hoặc đang công tác?

Trả lời:

Thực trạng giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay

Về số lượng, cơ cấu:

Thứ nhất, trong tiến trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, số lượng và

cơ cấu giai cấp Nông dân ở nước ta hiện nay có sự biến đổi phù hợp

Hiện nay, số lượng dân số sống ở nông thôn nước ta chiếm khoảng 65%,trong đó chủ yếu là nông dân - một lực lượng đông đảo, bao gồm những ngườilao động trong lĩnh vực nông nghiệp (gồm cả lâm, ngư nghiệp, diêm nghiệp),trực tiếp sử dụng một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên làđất, rừng và biển để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp, hoặc tham gia sản xuấtkinh doanh, dịch vụ của gia đình (đơn vị kinh tế tự chủ hoặc tập thể) Quá trình

Trang 2

đô thị hoá, CNH, HĐH đã đưa tới sự giảm đi tương đối (tức là tỷ lệ nông dântrong tổng số dân) và tuyệt đối (tức là số lượng nông dân) trong cơ cấu laođộng và cơ cấu dân cư Sự chuyển dịch cơ cấu lao động mạnh mẽ, tích cực từnông nghiệp sang các lĩnh vực khác (công nghiệp, dịch vụ…)  nên tỷ lệ laođộng nông nghiệp đã giảm khoảng 9% từ 2015 đến nay.  Xét về cơ cấu laođộng, giai đoạn 2015-2020 có sự chênh lệch khá lớn giữa các khu vực kinh tế.

Cụ thể, trong giai đoạn này có sự chuyển dịch rõ rệt trong cơ cấu lao động giữacác khu vực: Nếu như năm 2015 cơ cấu lao động KV1 (nông, lâm, thuỷ sản),chiếm tới 45,73%; KV2 chiếm 24,19%; KV3 chiếm 30,08%, thì đến năm 2020

tỷ trọng lao động trong các KV1, 2, 3 lần lượt là: 34,78%; 32,65%; 32,57%.Tốc độ giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp những năm sau càng nhanh (khoảng3%/năm) so với giai đoạn 2005 - 2010 khoảng 1 -1,5% Đây là xu hướng phùhợp với xu thế tất yếu của quá trình CNH, HĐH cũng như định hướng chuyểndịch cơ cấu ngành của Đảng theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển chung của nền kinhtế

Tốc độ giảm tương đối về tỷ lệ và tuyệt đối về số lượng giai cấp Nôngdân nước ta sẽ ngày càng tăng nhanh cùng với quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước nói chung, và quá trình ứng dụng khoa học, kỹ thuậthiện đại, nâng cao năng suất lao động nông nghiệp nói riêng Kết quả là laođộng tất yếu trong nông nghiệp, nông dân sẽ giảm xuống và dôi ra, trở thànhnguồn nhân lực cần thiết cho sự phát triển công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp

và dịch vụ Tuy nhiên, sự dịch chuyển này vẫn còn chậm so với yêu cầu đếnnăm 2020, tỷ lệ lao động nông nghiệp chỉ còn khoảng 30%

Thứ hai, xu hướng phân nhánh, phân tầng đa dạng hóa trong cơ cấu giai cấp Nông dân.

Cùng với sự hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, đa sở hữu, người nông dân cũng có mặt trong các thành phần kinh tếkhác nhau: Kinh tế quốc doanh với những nông trường, lâm trường; kinh tếtập thể với các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất; kinh tế tư nhân có những trangtrại và kinh tế hộ gia đình Xu hướng phân nhánh này sẽ tất yếu kéo theonhững khác biệt về phương thức lao động, vai trò trong quá trình sản xuất,mức độ hưởng thụ và cơ hội phát triển mọi mặt Đó cũng chính là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến sự phân tầng theo chiều dọc trong nội bộ giai cấpNông dân Do vậy, hình ảnh người nông dân hiện nay đã trở nên đa dạng,không “thuần nhất” như trước đây

Xu hướng đa dạng hóa ngành nghề trong sản xuất nông nghiệp đã, đang

và sẽ đưa tới sự đa dạng hóa trong cơ cấu nội bộ giai cấp Nông dân Nhữngngành nghề truyền thống như trồng trọt, chăn nuôi, tiếp tục được phát triểnnhưng đã có những thay đổi lớn cùng với sự chuyển đổi về cơ cấu cây trồng,vật nuôi, sự phát triển về năng suất, chất lượng, số lượng, chủng loại sản

Trang 3

phẩm do ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và đáp ứng nhu cầu thịtrường hiện đại Một bộ phận nông dân tiếp tục mở rộng sản xuất các nghềthủ công, các làng nghề truyền thống Một bộ phận khác chuyển sang hoạtđộng dịch vụ, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và gắn bó với khu vực nôngthôn như: Kinh doanh xăng, dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn giasúc, làm máy xay xát nhỏ, điều hành các tổ xây dựng, tổ nghề mộc ở vùngnúi cao, vùng sâu, vùng xa, vẫn còn một bộ phận nông dân sống theo phươngthức tự túc, tự cấp.

Bên cạnh đó, sự phân hoá, nhất là về thu nhập trong giai cấp Nông dânngày càng rõ nét Trong quá trình phát triển, một bộ phận nông dân đã giàu lên dobiết làm ăn và tranh thủ được cơ hội Tuy nhiên, một số nông dân do hạn chế vềkhả năng tiếp cận văn hóa, khoa học, kỹ thuật, gặp hoàn cảnh khó khăn do thiêntai hay sức khỏe hạn chế mà cuộc sống không được cải thiện đáng kể, thậm chícòn nghèo đi Khoảng cách giàu - nghèo ở nông thôn cũng ngày càng doãng ra,phân hóa nông thôn tiến triển mạnh, chênh lệch thu nhập giữa 20% nhóm hộ giàunhất và 20% nhóm hộ nghèo nhất trong nông thôn tăng mạnh, từ 7,5 lần năm

2010 lên 8,6 lần năm 2018 Đặc biệt, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lầnthứ Tư (CMCN 4.0) tình trạng dư thừa lao động nông nghiệp, bất bình đẳng giữanông dân công nghệ thấp với nông dân công nghệ cao sẽ diễn ra phổ biến

Về chất lượng của giai cấp Nông dân:

Thứ nhất, về trình độ học vấn, tay nghề của nông dân Trình độ học vấn,

tay nghề của nông dân ngày càng được cải thiện thông qua tỷ lệ lao động ở nôngthôn được đào tạo ngày càng tăng Theo đó, mạng lưới các cơ sở đào tạo nghềphủ rộng khắp cả nước, với nhiều hình thức, cấp bậc khác nhau Tỷ lệ lao động

từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo ở khu vực nông thôn tăng từ 8.5% năm 2010 lên16,3% năm 2020 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong ngànhnông, lâm nghiệp, thuỷ sản đã qua đào tạo tăng từ 4,3% năm 2015 lên 4,6% năm2020(1) Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề mỗi năm đã tạoviệc làm cho khoảng 320.000 người; nhiều người khuyết tật, người dân tộc thiểu

số, người ở vùng bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã được vayvốn phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm tăng thu nhập

Mặc dù trình độ của nông dân nước ta có chuyển biến tích cực thôngqua tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo được nâng cao, nhưng để đáp ứngvới đòi hỏi phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao, thích ứng với hội nhậpthị trường quốc tế, thì nhìn tổng thể, vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu Chấtlượng đào tạo nghề chưa đạt mục tiêu nâng cao năng suất xã hội, chuyển dịch

cơ cấu lao động của nông dân Nghị quyết 26-NQ/TW đặt ra mục tiêu đếnnăm 2020 tỷ lệ đào tạo nghề nông thôn đạt trên 50% Tuy nhiên, kết quả tổngđiều tra năm 2020 cho thấy, nếu tính riêng lao động trong lĩnh vực nông, lâm,thuỷ sản, số người trong độ tuổi lao động chưa qua đào tạo là 12,57 triệungười, chiếm 89,97% tổng số lao động Chất lượng đào tạo nghề thấp chưa

Trang 4

tạo ra bước đột phá trong tăng năng suất lao động trong nội ngành, chưa gópphần chuyển dịch cơ cấu lao động sang ngành, lĩnh vực khác.

Đồng thời, năng lực của giai cấp Nông dân trong phát triển nôngnghiệp, kinh tế nông thôn có một số mặt còn bất cập Phần đông nông dânchưa đủ năng lực, thói quen tìm hiểu nhu cầu của thị trường để lựa chọn mặthàng, công nghệ sản xuất, chế biến mà chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm,phong trào Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, dựa trên kinh tế hộ, chính vì vậy, năngsuất lao động xã hội thấp Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thônchuyển dịch chậm, ngành nghề phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợithế của nông dân, nông thôn Năng lực thích ứng với CMCN 4.0 của nôngdân nước ta còn hạn chế Phát triển nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi nguồnnhân lực chất lượng cao trong khi trình độ của nông dân nước ta còn thấp.Theo số liệu tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngành Nông lâm thủysản giai đoạn 2010 - 2017 chiếm 2,5% tổng quy mô tuyển sinh Lao độngtrong ngành Nông nghiệp chiếm hơn 40% lao động toàn xã hội nhưng chỉ có7,93% đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, trong đó 3,58% đã qua đào tạonhưng không có bằng, chứng chỉ; 1,87% sơ cấp nghề; 1,24% trung cấp vàtrung cấp nghề; 0,69% cao đẳng và cao đẳng nghề và 0,46% đại học trở lên…

Liên hệ với địa phương

Ở tỉnh Sơn La ta, nông nghiệp và kinh tế nông thôn luôn đóng vai tròrất quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh Hiện nay, nôngthôn là địa bàn sinh sống của 86,2% dân số cả tỉnh với cộng đồng 12 dân tộc,thống nhất trong đa dạng văn hóa; cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho đờisống con người và phục vụ các ngành kinh tế quốc dân; là nơi sản sinh, bảotồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; có vai trò quantrọng đối với an ninh, quốc phòng và giữ gìn môi trường sinh thái Chính vìvậy, giai cấp Nông dân không chỉ giữ vai trò trung tâm và quyết định đến sựphát triển nông nghiệp, nông thôn, mà còn quyết định đến sự phát triển bềnvững của tỉnh Vị trí, vai trò chủ thể của giai cấp Nông dân tỉnh được thể hiện

cả ở vị trí chính trị, vị trí kinh tế Về vị trí chính trị, giai cấp Nông dân củatỉnh cùng với giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức là cơ sở chính trị - xã hội tincậy của hệ thống chính trị, là chủ thể trực tiếp hiện thực hóa đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước ở nông thôn, đồng thời là lực lượng đi đầu trongthực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở

Về vị trí kinh tế, giai cấp Nông dân tỉnh là chủ thể của ngành sản xuấtnông nghiệp, hướng tới phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp sạch, trình

độ cao và phát triển bền vững Giai cấp Nông dân đóng góp một phần quantrọng vào tăng trưởng GDP của tỉnh, nhất là đảm bảo an ninh lương thực quốcgia và vào việc hình thành mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp, thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại; đồng thời, góp phần không

Trang 5

nhỏ vào hoạt động xuất khẩu nông sản, tăng kim ngạch xuất khẩu của cảnước

Trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, kinh tế nông nghiệp, nông thôn

có vai trò quan trọng là “tiền đề” cho CNH, HĐH trên các lĩnh vực khácthành công Trong đó, giai cấp Nông dân đang là chủ lực quân của CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn và đang là lực lượng nòng cốt của công cuộcxây dựng nông thôn mới Như vậy, để thấy rằng, vị trí, vai trò của giai cấpNông dân trong công cuộc đổi mới, trong CNH, HĐH đất nước và trong côngcuộc xây dựng CNXH ở tỉnh ta là vô cùng quan trọng

Trong điều kiện hội nhập quốc tế và tác động của Cách mạng côngnghiệp 4.0, vị trí, vai trò của giai cấp nông dân không hề giảm đi mà vẫn đóngvai trò quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội và sự phát triển bền vữngcủa đất nước Trong năm 2021, dù ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, nhưngSơn La đã giới thiệu 17 sản phẩm nông sản, xuất khẩu tới thị trường 21 nước

và vùng lãnh thổ trên thế giới Giá trị xuất khẩu nông sản đạt hơn 150 triệuUSD; trong đó, giá trị hàng hóa nông sản tươi đạt trên 24 triệu USD, nông sảnchế biến 126 triệu USD

Đến nay, Sơn La có trên 70.000 ha trồng cây ăn quả và cây sơn tra.Trong đó, chủ yếu là xoài, nhãn, mận, chanh leo, thanh long, cây ăn quả cómúi…; hơn 83.000 ha trồng các nông sản khác như chè, cà phê, sắn, míađường, rau các loại Tỉnh được cấp 220 mã số vùng trồng với diện tích trên4.800 ha cây ăn quả phục vụ xuất khẩu sang thị trường các nước như TrungQuốc, Mỹ, Úc, New Zealand…

Theo kế hoạch, năm 2022, tỉnh Sơn La phấn đấu giá trị hàng hóa nôngsản tham gia xuất khẩu đạt 162,5 triệu USD, tăng 11,3 triệu USD so với năm

2021 Dự kiến sẽ xuất khẩu trên 28.000 tấn trái cây chủ yếu là xoài, nhãn,chuối, chanh leo, mận hậu, thanh long Xuất khẩu khoảng 120.000 tấn sảnphẩm nông sản chế biến gồm: chè, cà phê, tinh bột sắn, cao su Để thực hiệnmục tiêu đó, tỉnh Sơn La đã và đang triển khai nhiều giải pháp trong xây dựngvùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu; chú trọng quy trình sản xuất, truy xuấtnguồn gốc để nâng cao chất lượng nông sản phục vụ xuất khẩu; đẩy mạnhứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, bảo quản, chế biến sản phẩm nôngnghiệp Duy trì, phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm nông sản an toàn vàphát triển các vùng nguyên liệu tập trung phục vụ các nhà máy chế biến gắnvới phát triển các sản phẩm có lợi thế, chủ lực của từng huyện, thành phố; cấp

mã số vùng trồng; quản lý, sử dụng hiệu quả chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứngnhận, nhãn hiệu tập thể; hỗ trợ đăng ký bảo hộ nước ngoài Đồng thời, tíchcực xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu; từng bước nâng caonăng lực đơn vị thu gom và tổ chức xuất khẩu; đẩy mạnh thu hút đầu tư cơ sở

sơ chế, chế biến, xuất khẩu

Trang 6

Một số vấn đề đặt ra hiện nay với giai cấp Nông dân tỉnh Sơn La nói riêng và của cả giai cấp nông dân Việt Nam nói chung cần phải tập trung như sau:

Thứ nhất, yêu cầu nâng cao vị thế chủ thể của nông dân nhưng nhận thức

của người dân, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của nông dâncòn hạn chế Vai trò chủ thể của nông dân, sức mạnh chủ động của cộng đồng cơ

sở chưa được đề cao Do chưa làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân,chưa quán triệt và thực hiện tốt phương châm “Nông dân là chủ thể” nên sựtham gia của quần chúng chưa tích cực, có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào đầu tư,dẫn dắt của Nhà nước; có nơi lại có biểu hiện lạm dụng đóng góp, lạm quyềncủa người dân trong thực hiện các nhiệm vụ công cộng (Điều tra năm 2019 củaIPSARD cho thấy chỉ có 68,1% số hộ cho biết mình có quyền tham gia ý kiếnvào quy hoạch, kế hoạch, đề án Nông thôn mới của địa phương; chỉ có 55% số

hộ cho biết mình có quyền tham gia ý kiến lựa chọn công trình, dự án; 66,9% số

hộ cho biết mình có quyền giám sát quá trình thực hiện các dự án Nông thônmới; có những trường hợp người địa phương được phỏng vấn không biết rằng xãmình đã đạt chuẩn Nông thôn mới…

Thứ hai, mâu thuẫn giữa nhu cầu nâng cao trình độ tay nghề với thực

trạng chất lượng của công tác đào tạo còn hạn chế: Về cơ sở vật chất, đội ngũgiáo viên, chương trình, phương pháp đào tạo Bên cạnh đó, nhận thức củamột bộ phận nông dân trong việc nâng cao trình độ tay nghề còn hạn chế, dẫnđến sự đối phó, chưa chủ động, tích cực

Đến nay, nông nghiệp, nông thôn, nông dân tỉnh ta vẫn là lĩnh vực chậmphát triển Sản xuất còn theo phương thức lạc hậu, manh mún, chất lượng sảnphẩm không cao Hơn nữa, giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp còn thấp

và chịu tác động trực tiếp của thị trường Tài nguyên đất đai chưa được khaithác một cách hiệu quả; nguồn nhân lực ở nông thôn chất lượng còn thấp, phầnnhiều chưa qua đào tạo; ô nhiễm môi trường nông thôn có xu hướng gia tăng.Sản phẩm của người nông dân làm ra còn chịu nhiều thua thiệt trong kinh tế thịtrường, hội nhập quốc tế

Trong rất nhiều nguyên nhân của tình trạng trên có nguyên nhân từ việcchưa phát huy đầy đủ vai trò chủ thể tích cực của nông dân Do nhận thức hạnchế cũng như do năng lực, trình độ có hạn, nông dân vẫn đang bị động trong cơchế thị trường, từ việc tổ chức sản xuất, kinh doanh đến tiêu thụ sản phẩm và tổchức đời sống Vì vậy, cần đổi mới nhận thức về nông dân và nhận thức củanông dân, đồng thời, nâng cao trình độ, tay nghề cho nông dân để nông dân cóthể phát huy vai trò chủ động, tích cực của mình trong điều kiện kinh tế thịtrường, hội nhập quốc tế

Thứ ba, mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao ý thức và hành vi bảo vệ môi

trường, thực hiện tiêu chí xây dựng nông thôn mới; kết hợp bảo vệ môi trườngvới phát triển nông nghiệp bền vững

Trang 7

Câu 2: Thực trạng hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam hiện nay? Liên hệ thực tiễn địa phương nơi đồng chí đang sinh sống hoặc đang công tác?

Trả lời:

I Thực trạng hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam hiện nay

Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ 7Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nôngthôn; các cấp Hội Nông dân Việt Nam đã tích cực đổi mới nội dung, phươngthức hoạt động; lấy lợi ích thiết thân mà trước hết là lợi ích kinh tế để tập hợpnông dân vào tổ chức Hội; gắn kết chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục, vậnđộng, đoàn kết, tập hợp nông dân vào tổ chức Hội đi đôi với đẩy mạnh cáchoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ hội viên, nông dân giúp nông dânphát triển sản xuất, nâng cao đời sống, đạt được một số kết quả chủ yếu sau:

1 Công tác tuyên truyền: Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban

hành Nghị quyết về tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, vận độngnông dân trong tình hình mới Công tác tuyên truyền, giáo dục có bước đổimới, với nhiều hình thức phong phú, sinh động phù hợp với nông dân: tuyêntruyền thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội nông dân, sinh hoạt Câu lạc bộ nôngdân; phát hành bản tin, ra chuyên trang, chuyên mục và tuyên truyền trên cácphương tiện thông tin đại chúng, gắn với tổ chức các hoạt động văn hóa, vănnghệ, thể thao; các cuộc thi, hội thi và các hoạt động xã hội khác

Nội dung tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Hiến pháp nướccộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam;phổ biến, nâng cao kiến thức về pháp luật, kinh tế, xã hội, an ninh, quốcphòng Tuyên truyền các gương “người tốt, việc tốt”, các mô hình, điển hìnhtiên tiến, phổ biến các tiến bộ khoa học, công nghệ; giáo dục truyền thống,đạo đức cách mạng gắn với đẩy mạnh thực hiện “Học tập và làm theo tấmgương đạo đức Hồ Chí Minh” và Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiêndùng hàng Việt Nam” , ban hành văn bản chỉ đạo, định hướng nội dungtuyên truyền trong toàn hệ thống Hội Qua đó đã góp phần nâng cao nhậnthức chính trị, tư tưởng, ý thức cảnh giác cách mạng; cổ vũ, khơi dậy tinhthần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường vươn lên của nông dân, tạo nên sự đồngthuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nông dân với Đảng và Nhà nước

Trang 8

2 Công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội: Các cấp Hội thường

xuyên quan tâm xây dựng, củng cố tổ chức Hội vững mạnh về chính trị, tưtưởng và tổ chức Tăng cường các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt độngcủa tổ chức Hội và chất lượng hội viên; đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạtchi, tổ Hội theo hướng thiết thực hiệu quả gắn với sản xuất và đời sống củahội viên Thông qua hoạt động của các tổ, nhóm sản xuất theo ngành nghề, tổtín dụng tiết kiệm, tổ hùn vốn làm nhà, tổ đoàn kết bám biển, các câu lạc bộnông dân, các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đã đem lạilợi ích thiết thực cho hội viên; qua đó, đã tập hợp được rộng rãi nông dân vànông dân ngày càng gắn bó chặt chẽ với tổ chức Hội

Hiện nay, hệ thống tổ chức Hội được tổ chức ở 4 cấp và có các chi, tổHội; gồm 63 Ban Chấp hành Hội Nông dân cấp tỉnh; 655 Ban Chấp hành HộiNông dân cấp huyện; 10.545 Ban Chấp hành Hội Nông dân cơ sở (xã,phường, thị trấn…) với 95.246 chi Hội, 200.630 tổ Hội; 100% thôn, ấp, bản

có nông dân có tổ chức Hội; cả nước có 10,169 triệu hội viên

Tổ chức bộ máy của Hội Nông dân các cấp được kiện toàn theo hướngtinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ đượcgiao Đội ngũ cán bộ Hội các cấp được nâng cao về chất lượng, số cán bộ thamgia cấp ủy, hội đồng nhân dân ngày càng tăng

3 Tổ chức các phong trào thi đua lớn của Hội

- Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững: Các cấp Hội tích cực tuyên

truyền, vận động nông dân không cam chịu đói nghèo, quyết tâm vươn lênlàm giàu Hàng năm có 8,2 triệu hộ đăng ký phấn đấu, trong đó có 4,2 triệu hộđạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp Từ Phong tràothi đua đã xuất hiện hàng ngàn tấm gương nông dân điển hình tiên tiến trongsản xuất, kinh doanh giỏi, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, áp dụngtiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào sản xuất, kinh doanh; hìnhthành các mô hình kinh tế hộ, kinh tế trang trại, gia trại, tổ hợp tác liên kếtnhau trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tếcao được nhân rộng

- Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới: Thực hiện

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và Phong trào

“Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phátđộng; Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết về tham gia thực hiện Chươngtrình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020 Cáccấp Hội đã tích cực tuyên truyền, vận động nông dân xây dựng “gia đình vănhóa”; tham gia xây dựng “thôn, ấp, bản, làng văn hóa, xã văn hóa”; thực hiệnnếp sống mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội, bảo vệ môi trường nông thôn,phòng chống các tệ nạn xã hội Hàng năm có 9,5 triệu hộ nông dân đăng ký

Trang 9

phấn đấu đạt danh hiệu gia đình văn hoá, trong đó có 8,5 triệu hộ đạt danhhiệu gia đình văn hoá.

Hưởng ứng Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới, hộiviên nông dân đã hiến 7.778.500 m2 đất và đóng góp trên 2 ngàn tỷ đồng, trên

40 triệu ngày công để làm mới và sửa chữa gần 350 ngàn km đường giaothông nông thôn, 200 ngàn km kênh mương nội đồng và hàng ngàn nhà vănhóa xã, thôn, ấp, bản, góp phần làm cho bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới,ngày càng khang trang, sạch đẹp, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựngnông thôn mới do Thủ tướng Chính phủ phát động

- Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh: Các

cấp Hội đã ký kết chương trình phối hợp với ngành Công an, Quân đội, đẩymạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nôngdân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới Vận động hội viên,nông dân nghiêm chỉnh chấp hành Luật Nghĩa vụ quân sự; tham gia cácphong trào bảo vệ an ninh tổ quốc, phát hiện và tố giác tội phạm nhất là vùngven biển, hải đảo, biên giới, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội ở địa phương

4 Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền

Các cấp Hội đã tích cực vận động cán bộ, hội viên, nông dân nêu caotrách nhiệm tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; góp ý đối với cán bộ,đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đềcấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/5/2011của Bộ Chính trị “về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gươngđạo đức Hồ Chí Minh”; tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí.Tham gia góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và Dự thảo LuậtĐất đai (sửa đổi); thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở; kịp thờiphản ánh với các cấp uỷ, chính quyền về những bức xúc và nguyện vọng củanông dân

Thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chínhtrị ban hành Quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể chính trị - xã hội và Quyết định số 218- QĐ/TW, ngày 12/12/2013của Bộ Chính trị ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cácđoàn thể chính trị- xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xâydựng chính quyền; các cấp Hội đã xây dựng kế hoạch triển khai, tích cựctuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia thực hiện Hội Nông dânViệt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương đã ký kết Chương trình phối hợp

về giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nôngnghiệp giai đoạn 2014-2020

Thực hiện Chỉ thị 26 của Thủ tướng Chính phủ, hàng năm các cấp Hội

đã tham gia phối hợp giải quyết trên 20 nghìn đơn, thư khiếu nại, tố cáo nội

Trang 10

bộ nông dân; tham gia hòa giải hàng trăm ngàn vụ mâu thuẫn, tranh chấptrong nội bộ nông dân tại cơ sở, hạn chế khiếu kiện kéo dài, vượt cấp, gópphần ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

5 Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế

Hội Nông dân Việt Nam đã tích cực, chủ động và phát triển quan hệ hữunghị; chuyển từ quan hệ hữu nghị sang quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng có lợi.Đến nay, hợp tác với trên 40 tổ chức nông dân, tổ chức chính phủ, phi chínhphủ, tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới Ban Thường vụ Trungương Hội xây dựng Chương trình xúc tiến vận động viện trợ nước ngoài củaHội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2014-2020; ký thỏa thuận hợp tác với tổchức Phát triển Nông nghiệp Đan Mạch- Châu Á (ADDA) giai đoạn 2015-

2020, Chương trình Hợp tác với Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD)giai đoạn 2013- 2018, Chương trình Hỗ trợ phát triển rừng và trang trại vớiFAO giai đoạn 2014- 2017, các dự án về nâng cao năng lực vận động chínhsách, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể; ký kết các Thỏa thuận hợp tác với HộiNông dân Đức trong lĩnh vực dạy nghề giai đoạn 2015- 2017, tổ chức cho nôngdân đi học nghề tại Đức; 7 tỉnh, thành Hội xây dựng Đề án đưa cán bộ, hội viênnông dân đi nghiên cứu, học tập ở nước ngoài Đến nay, đã có 36 tỉnh, thànhHội tham gia các dự án quốc tế, 18 tỉnh, thành Hội xây dựng chương trình, kếhoạch vận động viện trợ không hoàn lại; góp phần hỗ trợ hội viên, nông dânphát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống và nâng cao năng lực cán bộHội

6 Một số hạn chế, yếu kém

- Một số nơi công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trườngtrong sinh hoạt và sản xuất; phòng, chống các tệ nạn xã hội chưa thườngxuyên Việc nắm bắt tình hình nông dân, nông thôn nhất là diễn biến tưtưởng, băn khoăn, bức xúc của nông dân còn chậm Công tác tham mưu, đềxuất, kiến nghị với Đảng, Nhà nước về chủ trương, cơ chế, chính sách, đốivới nông dân còn hạn chế; các cấp Hội chưa chủ động đề xuất với cấp ủy,chính quyền tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất và đời sống của hội viên,nông dân

- Công tác xây dựng tổ chức Hội còn một số bất cập: tổ chức bộ máycán bộ cấp tỉnh, huyện chưa có văn bản hướng dẫn để thống nhất trong cảnước; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ

- Chất lượng và hiệu quả 3 phong trào lớn của Hội một số nơi còn thấp.Việc hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp,nông thôn còn hạn chế; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấucây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm có giá trị và sức cạnh tranh cao cònchậm Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ

Trang 11

II Liên hệ thực tiễn địa phương đồng chí đang sinh sống hoặc công tác?

1 Tình hình nông dân: tình hình đội ngũ cán bộ, hội viên và đời sống

của người nông dân cơ bản ổn định, luôn chấp hành tốt các chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có tinh thần đoàn kết cao,khắc phục mọi khó khăn Tích cực tham gia phòng, chống dịch bệnh Covid-

19, tham gia phòng, chống dịch tả lợn Châu Phi, bệnh viêm da nổi cục ở trâu,

bò, tham gia phòng chống lũ bão, giảm nhẹ thiên tai, tích cực làm giao thông,thủy lợi mùa khô; tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tiếp tục duytrì, xây dựng và nhân rộng các chuỗi giá trị hàng hóa nông sản; chấp hành vàthực hiện phát triển vùng nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến trên địabàn (chè, sữa, cà phê, mía, sắn, ); đời sống của một bộ phận người nông dântích cực được cải thiện, tỷ lệ hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi tăng cao,

tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, góp phần tích cực vào chủ trương cơ cấu lạingành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới

2 Tình hình nông nghiệp: đại dịch Covid-19, thiên tai ảnh hưởng lớn

đến sản xuất, đời sống của nhân dân và tình hình phát triển kinh tế - xã hộicủa tỉnh, nhưng với nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống chính trị, các cấp, cácngành và người nông dân đã nỗ lựcthực hiện có hiệu quả “nhiệm vụ kép” vừađảm bảo phòng, chống dịch Covid-19, vừa duy trì phát triển sản xuất, kinhdoanh; sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vượt qua khó khăn về thiên tai,dịch COVID -19 ở người, dịch bệnh ở gia súc, gia cầm để duy trì và phát triểnsản xuất ổn định Kinh tế duy trì ổn định, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩmtrên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh năm 2021 ước đạt 7.644,16 tỷđồng, tăng 7,19% so với năm 2020 Giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp

và thủy sản theo giá so sánh năm 2010 ước đạt 14.835,054 tỷ đồng, tăng 7,6%

so với năm 2022; Khu vực công nghiệp - xây dựng ước đạt 9.395 tỷ đồng,tăng 4,46%; Khu vực dịch vụ ước đạt 11.918 tỷ đồng, tăng 3,14%.Sản xuấtnông, lâm nghiệp, thủy sản: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt214.706 ha, tăng 0,8%; Tổng diện tích cây lâu năm: 98.927ha, tăng2,6% ;Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 75.423 tấn ; diện tíchrừng trồng đạt 3.577 ha, tỷ lệ che phủ rừng tăng 46,4%; diện tích nuôi trồngthủy sản đạt 2.769 ha, tăng 1,4% Tổng sản lượng thủy sản đạt 8.550 tấn

3 Tình hình nông thôn: Cơ cấu kinh tế nông thôn có sự chuyển dịch

tích cực theo hướng nâng cao dần tỷ trọng các ngành phi nông lâm nghiệp vàthủy sản Kết cấu hạ tầng nông thôn tiếp tục được quan tâm đầu tư, bổ sung,hoàn thiện cả về số lượng và chất lượng Diện mạo nông thôn tiếp tục cónhiều đổi mới Tình hình an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bànnông thôn được giữ vững Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nôngthôn mới đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao đời sống người dânkhu vực nông thôn; hệ thống chính trị ở nông thôn và tổ chức hội nông dântiếp tục được củng cố Truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, ý thức

Trang 12

trách nhiệm cộng đồng ở nông thôn tiếp tục được phát huy; giá trị văn hóanông thôn tiếp tục được giữ gìn và phát triển.

Đến hết năm 2021, toàn tỉnh có 54 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tang 5

xã so với năm 2020, bằng 98,2% so với kế hoạch, 5 xã đạt chuẩn nông thônmới nâng cao, tăng 2 xã so với năm 2020 Toàn tỉnh có 702 hợp tác xã, trong

đó trên 30% hợp tác xã có ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước, nhà lưới,nhà kính, áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt

Năm 2021, có thêm 03 sản phẩm nông sản của tỉnh được Cục Sở hữu trítuệ cấp văn bằng bảo hộ, nâng tổng số các sản phẩm được cấp văn bằng bảo hộtrên địa bàn tỉnh là 24 sản phẩm, trong đó có 03 chỉ dẫn địa lý , 18 nhãn hiệuchứng nhận , 03 nhãn hiệu tập thể (Chè Tà Xùa Bắc Yên, Sơn La; Mật ong SơnLa; Khoai sọ Thuận Châu, Sơn La); trong đó, có 02 sản phẩm được bảo hộ tạinước ngoài (Sản phẩm chè Shan tuyết Mộc Châu và sản phẩm xoài tròn YênChâu) Tiếp tục triển khai Chương trình mỗi xã một sản phẩm; tính đến naytoàn tỉnh có 83 sản phẩm (trong đó: Sản phẩm OCOP đạt 5 sao: 01 sản phẩm; 4sao: 31 sản phẩm; 3 sao: 51 sản phẩm)

Bên cạnh những mặt tích cực và kết quả đạt được, người nông dân và khuvực nông thôn còn có một số khó khăn đó là: Đời sống của một bộ phận nôngdân còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộcthiểu số Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19,giá một số sản phẩm nông sảnthấp, chi phí đầu vào trong sản xuất nông nghiệp tăng cao (phân bón NPK,giống, nhiên liệu, ) Tiềm năng, thế mạnh ở khu vực nông thôn (đất đai, laođộng, ) chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả Sản xuất nhỏ, manh mún,thiếu sự liên kết vẫn còn là khâu yếu ở một số địa phương; kết quả xây dựngcánh đồng lớn còn hạn chế; tỷ lệ người nông dân được đào tạo nghề thấp; làngnghề phát triển chậm; số lượng hợp tác xã hoạt động tốt, đúng Luật còn hạn chế.Tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái có xu hướng gia tăng;việc thu gom, xử

lý chất thải, rác thải ở khu vực nông thôn còn nhiều bất cập; tình trạng sử dụngthuốc bảo vệ thực vật không đúng cách còn phổ biến ở một số địa phương Một

bộ phận người nông dân vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ củaĐảng, Nhà nước, vươn lên thoát nghèo Liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cònchưa chặt chẽ; sản xuất nông nghiệp còn phân tán, nhỏ lẻ chưa hình thành nhiềuvùng sản xuất hàng hóa tập trung, nhất là các sản phẩm chủ lực đặc trưng của địaphương

4 Kết quả công tác hội và phong trào nông dân

4.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, đề xuất

Thực hiện tốt việc quán triệt, triển khai các nghị quyết, chỉ thị và vănbản chỉ đạo của Đảng Tham mưu ban hành văn bản để chỉ đạo thực hiện cácnghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, hướng dẫn, của Trung ương, củaTỉnh, cụ thể:

Trang 13

- Tham mưu, đề xuất với Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủycác giải pháp tháo gỡ, khó khăn vướng mắc trong tổ chức và hoạt động củaTrung tâm Hỗ trợ nông dân tỉnh; cho chủ trương để Hội Nông dân tham giathực hiện các chương trình, dự án của tỉnh, tham gia đào tạo nghề cho các nhàmáy chế biến trên địa bàn tỉnh; xây dựng Quy chế phối hợp với UBND tỉnh,Quy chế phối hợp với các huyện ủy, thành ủy.

- Tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh Sơn La giao cho Hội Nông dântỉnh chủ trì xây dựng Đề án xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuấtnông nghiệp đảm bảo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, ứng dụng chế phẩm sinhhọc, sản xuất nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiếntrong hội viên Hội Nông dân các cấp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021 - 2025trong Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp của tỉnh Sơn La giai đoạn 2021

- 2025

- Phối hợp với các ngành tham mưu để trình cấp có thẩm quyền banhành các chính sách hỗ trợ người nông dân, cụ thể như: Chính sách hỗ trợ hỗtrợ đầu tư các cơ sở sơ chế, chế biến, bảo quản sản phẩm nhãn và nông sảnkhác

- Tham mưu, đề xuất với Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo tỉnh giaocho Hội Nông tỉnh thực hiện một số chương trình, dự án trong tổ chức triểnkhai thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội

về phê duyệt tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu

số và miền núi giai đoạn 2011 - 2030

- Phối hợp tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định số QĐ/UBND, ngày 02/11/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh về ban hành Kế

2671-hoạch phát động phong trào thi đua “Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình

và nông dân tỉnh Sơn La sản xuất kinh doanh nông nghiệp giỏi” giai đoạn

toàn lại Trung tâm Hỗ trợ nông dân tỉnh, theo Nghị định số 120/2020/NĐ-CP

của Chính phủ (số lượng dự kiến 15 người lao động, là đơn vị tự chủ về tài chính); Trình UBND tỉnh phê duyệt Đề án quản lý, khai thác, sử dụng tài sản

công tại Trung tâm Hỗ trợ Nông dân tỉnh theo Nghị định số 151/2017/NĐ-CP;Trình UBND tỉnh phê duyệt Phương án tự chủ về tài chính của Trung tâm Hỗ

trợ Nông dân tỉnh (theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP); Trình UBND tỉnh sửa đổi,

bổ sung danh mục sự nghiệp công theo Nghị định định 32/NĐ-CP

4.2 Công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội và giai cấp nông dân Việt Nam trong sạch, vững mạnh.

Trang 14

- Về công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng: Các cấp

Hội đã tiếp tục triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về chủ trương,nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các nghị quyết, chỉthị của Hội đến hội viên, nông dân; tích cực tuyên truyền, cổ động các ngày

kỷ niệm, sự kiện chính trị trong đại của đất nước, của tỉnh và của Hội Bêncạnh đó, các cấp Hội đã tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về các hoạt động và

kết quả thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực

hiện Nghị quyết số 04/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóaXII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái

về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tựchuyển hoá”; trong nội bộ Chú trọng, tăng cường tuyên truyền các gương

“người tốt, việc tốt” trong tổ chức Hội, gương nông dân sản xuất kinh doanhgiỏi, các mô hình, điển hình tiêu biểu, phổ biến các tiến bộ khoa học, kỹ thuật,công nghệ mới; tuyên truyền, vận động hội viên nông dân từng bước khắcphục khó khăn do dịch bệnh Covid-19 trong tình hình mới Đã tổ chức Hộinghị nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII củaĐảng và triển khai thực hiện các Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnhkhoá XV, nhiệm kỳ 2020-2025; công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và Hộiđồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 cho 260 cán bộ Hội Nông dâncác cấp; sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính

trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” Tổ chức tuyên truyền về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội

đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026 theo tinh thần Chỉ thị số45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểuQuốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; Chỉ thị

số 02/CT-TTg ngày 14/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ; Kế hoạch số KH/HNDTW ngày 18/8/2020 của Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dânViệt Nam, Chỉ thị số 01-CT/TU ngày 30/9/2020 của Ban Thường vụ tỉnh ủy.Tập trung nâng cao chất lượng tuyên truyền công tác hội và phong trào nôngdân trên Báo Sơn La; Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Nông thôn ngàynay xây dựng các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền về các hoạt động vềcông tác hội và phong trào nông dân, các gương điển hình tiên tiến; Nâng caochất lượng tin, bài trên Trang thông tin điện tử của Hội Phát động và tổ chức

230-trao giải báo chí và thi sáng tác ca khúc về “Nông dân Sơn La đổi mới và phát triển” Hưởng ứng Lời kêu gọi “Toàn dân tham gia phòng, chống Covid-19”

của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Sơn La, Ban Thường vụ HộiNông dân tỉnh đã tuyên truyền, vận động các cấp Hội và hội viên nông dântrong tỉnh tham gia ủng hộ; chỉ đạo Hội Nông dân các huyện, thành phố và cơ

sở thành lập Tổ công tác chung tay cùng cộng đồng giúp đỡ hội viên, nôngdân vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19, ưu tiên hội viên nông dân đangthực hiện giãn cách xã hội và cách ly tập trung

Trang 15

- Công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội: Thực hiện Nghị quyết số

06-NQ/HNDTW ngày 05/8/2021 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trungương Hội (khóa VII) về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội Nông dânViệt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, đã tập trung chỉ đạocác cấp hội chủ động tham mưu, đề xuất với cấp uỷ kịp thời kiện toàn cán bộchủ chốt của Hội các cấp Chỉ đạo các cấp Hội tiếp tục củng cố, kiện toàn, bầu

bổ sung Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và các chức danh còn thiếu theo đề

án đã được duyệt, nhất là sau Đại hội Đảng bộ các cấp và sau bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân các cấp Triển khai quy trình rà soát, bổ sung quy hoạchcán bộ lãnh đạo quản lý cơ quan Hội Nông dân tỉnh và quy hoạch ủy viên BanChấp hành, ủy viên Ban Thường vụ và chức danh chủ chốt Hội Nông dân tỉnhnhiệm kỳ 2018 -2023 và các nhiệm kỳ tiếp theo Xây dựng Phương hướngcông tác nhân sự ban chấp hành, ban thường vụ và các chức danh chủ chốtcủa Hội Nông dân tỉnh nhiệm kỳ 2023 - 2028 với số lượng dự kiến 39 ủy viênban chấp hành, 13 ủy viên ban thường vụ, đã triển khai xong quy trình giớithiệu nhân sự người thay thế, hiện nay đang tiếp tục hoàn thiện quy trình vàtrình phê duyệt theo quy định

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội theo hướngthiết thực gắn với quyền lợi, nhu cầu, nguyện vọng của hội viên, nông dân;đổi mới hình thức sinh hoạt chi, tổ hội theo hướng thiết thực gắn với sản xuất

và đời sống của hội viên, nông dân; đẩy mạnh thành lập chi hội, tổ hội nôngdân nghề nghiệp; quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng và động viên các chi hộitrưởng tiếp tục thực hiện nhiệm vụ và khắc phục những khó khăn, bất cậptrong thực hiện Nghị quyết 120/2020/NQ-HĐND ngày 12/12/2020 củaHĐND tỉnh Đa dạng hóa các hình thức tập hợp, thu hút và kết nạp hội viên,

đã kết nạp được 4.200 hội viên mới, nâng tổng số hội viên toàn tỉnh là 169.883 hội viên.

Tiếp tục quan tâm đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ hội cáccấp, đến nay có 241 cán bộ hội chuyên trách có trình độ trung cấp lý luận chínhtrị trở lên, trong năm đã có 11 đồng chí được học trung cấp lý luận chính trị Chỉđạo các huyện, thành phố rà soát đăng ký nhu cầu bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụcông tác hội năm 2021 đã có 12/12 huyện, thành phố đăng ký số lượng 458 đồngchí có nhu cầu đào tạo; đã phối hợp với Trường cán bộ Hội Nông dân Việt Nam

tổ chức lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho 50 cán bộ, công chức trong nguồnquy hoạch Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện; tổ chức tập huấn về kiến thứcnông nghiệp cho cán bộ

- Công tác kiểm tra, giám sát của Hội: Công tác kiểm tra, giám sát

được triển khai thực hiện thường xuyên, đảm bảo theo hướng dẫn của Trungương và theo chương trình đã được ban hành Tích cực tham gia giám sát,phản biện xã hội theo Quy định 217-QĐ/TW và Quy định 218-QĐ/TW.Trong năm 2021, Hội Nông dân các cấp đã kiểm tra được 1.088 cuộc, nộidung tập trung kiểm tra thực hiện Điều lệ Hội, Chỉ thị, Nghị quyết, việc xây

Trang 16

dựng, quản lý, sử dụng Quỹ Hỗ trợ nông dân, các hoạt động dịch vụ hỗ trợvốn cho nông dân; Kiểm tra việc thực hiện chương trình, dự án, các mô hình

do Hội quản lý và việc thực hiện ủy thác qua Ngân hàng chính sách - xã hội,việc thực hiện phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn;công tác củng cố, kiện toàn và hoạt động của Ủy ban Kiểm tra Hội Nông dâncác cấp; việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Hội

Chỉ đạo thành lập Ủy ban Kiểm tra Hội Nông dân huyện Quỳnh Nhai;ban hành quyết định công nhận Ủy viên ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm ủy bankiểm tra Hội Nông dân huyện Quỳnh Nhai khóa XI, nhiệm kỳ 2018 -2023.Đến nay có 12/12 huyện, thành phố và 199/199 cơ sở hội lập ủy ban kiểm tra.Căn cứ Đề án lựa chọn nhân sự tùy theo tình hình thực tế của địa phương đểlập Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cơ sở gồm 3 đồng chí, cơ cấu thành phầnđúng theo Đề án và hướng dẫn lập Ủy ban Kiểm tra

Hội Nông dân tỉnh đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Quyếtđịnh số 81/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; chỉ đạo Hội Nông dân cáchuyện, thành phố xây dựng kế hoạch triển khai chỉ đạo các cấp Hội trong tỉnhthực hiện tốt việc phối hợp với các ban ngành và ủy ban nhân dân cùng cấptrong việc tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.Các cấp Hội phối hợpvới các ngành liên quan tham gia tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được

340 lượt người;trong đó số đơn thư phối hợp giải quyết là 94 đơn thư khiếunại; về công tác hòa giải các cấp Hội tham gia hòa giải 203 vụ, phối hợp hòagiải thành là 191 vụ Trong năm không có các vụ việc do hội viên khiếu kiệnđông người, phức tạp, kéo dài

- Công tác thi đua, khen thưởng: Trong năm Ban Thường vụ Hội

Nông dân tỉnh đã khen thưởng đột xuất cho 10 cá nhân có thành tích xuất sắctrong công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19:đề nghị UBND tỉnh tặngBằng khen cho 06 cá nhân, 03 tập thể; Trung ương Hội Nông dân Việt Namtặng Bằng khen cho 15 cá nhân, 21 tập thể; Hội Nông dân tỉnh tặng bằng khen

cho 34 tập thể, 25 cá nhân Trao khen thưởng Chương trình “tiếp sức nhà nông cho con đến trường” tại huyện Mai Sơn cho 20 hộ nông dân (xã Cò Nòi 10 hộ,

xã Hát Lót 10 hộ) số tiền thưởng là 04 triệu đồng/hộ Trao tặng kỷ niệm

chương “Vì giai cấp Nông dân Việt Nam” năm 2021 cho 100 cán bộ, hội viên,nông dân có công lao đóng góp xây dựng tổ chức Hội Nông dân Việt Nam, ỦyBan Mặt Trận tổ quốc Việt Nam tặng bằng khen cho 01 tập thể, 01 cá nhân,UBND tỉnh tặng 01 tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chốngdich bện Covid- 19 Đề nghị Hội Liên hiệp Khoa học và kỹ thuật tỉnh tặngBằng lao động sáng tạo cho 02 đồng chí

- Xây dựng giai cấp nông dân và người nông dân thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế: Tuyên truyền, vận động cán

bộ, hội viên nông dân tiếp cận với sản xuất nông nghiệp áp dụng công nghệ

thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano vào sản xuất, xây dựng nền

Trang 17

nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hànghoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảmbảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài Xây dựngnông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế vàcác hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanhcông nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàubản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảovệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường.Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thứcvững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa; tăng cường nghiên cứu và chuyển giao khoa học - công nghệ tiêntiến, tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực; tăng cường công tác xoá đói,giảm nghèo.

4.3 Vận động nông dân phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và giảm nghèo bền vững

- Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững

Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúpnhau làm giàu và giảm nghèo bền vững là một trong ba phong trào thi đua lớnđược xác định là phong trào trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với tỉnh Sơn La.Trên cơ sở kết quả đánh giá tổng kết và rút kinh nghiệm từ Hội nghị tổng kếtPhong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làmgiàu và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2015 - 2020 đã tiếp tục đẩy mạnh triểnkhai phong trào theo hướng thiết thực, hiệu quả; nghiêm túc điều chỉnh, rútkinh nghiệm những hạn chế trong giai đoạn 2015 - 2020; trên cơ sở các môhình đã có và quy hoạch phát triển vùng kinh tế và sự hỗ trợ từ các nguồn vốn,các cơ sở Hội đã tổ chức phát động sâu rộng phong trào sản xuất kinh doanhgiỏi tới toàn thể cán bộ, hội viênđể phong trào trở thành phong trào chủ chốtcủa Hội Nông dân từ tỉnh đến cơ sở Đã ban hành kế hoạch chỉ đạo xây dựng

mô hình điểm trong công tác Hội và phong trào nông dân năm 2021.Toàn tỉnh

có 100.682 hộ đăng ký thi đua đạt danh hiệu hộ nông dân SXKD giỏi các cấp,trong đó có trên 80.173 hộ đạt danh hiệu sản xuất kinh doanh giỏi; có 580 hộđược Tỉnh uỷ, Huyện uỷ, Hội Nông dân tỉnh vinh danh nhân dịp ngày thành lậpĐảng Cộng sản Việt Nam 3/2 và các đợt tổng kết thi đua của Hội Nông dântỉnh

Toàn tỉnh đã trồng mới 7.980 ha cây ăn quả, duy trì và phát triển 196chuỗi tiêu thụ nông sản, 181 mã vùng trồng đã được cấp Đồng thời, đã trìnhUBND tỉnh chuyển giao cho Hội Nông dân tỉnh Sơn La sở hữu quyền khaithác và sử dụng hệ thống nhận diện sản phẩm (bản quyền) đối với Chứng

Trang 18

nhận nhãn hiệu “Xoài Sơn La”, “Chanh leo Sơn La”, “Nhãn Sơn La”, “MậuSơn La” để phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu Tỉnh uỷ Sơn La, UBND tỉnh đãgiao Hội Nông dân tỉnh Sơn La trực tiếp tham gia xây dựng vùng nguyên liệucho các nhà máy chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh Ban Thường vụ HộiNông dân tỉnh đã tổ chức ký kết giao ước thi đua thực hiện 10 triệu bao tráivới Hội Nông dân các huyện, thành phố; đồng thời tổ chức ký kết việc tiêuthụ sản phẩm với các doanh nghiệp trong vào ngoài tỉnh và đưa sản phẩmnông sản lên sàn thương mại điện tử, đến hết năm 2021 dự kiến khoảng 100sản phẩm nông sản được Hội Nông dân hỗ trợ lên sàn thương mại điện tử.

- Xây dựng, phát triển các mô hình kinh tế có hiệu quả và vận động, hướng dẫn, hỗ trợ nông dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp.

Các cấp Hội tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham giachương trình mỗi xã một sản phẩm; hướng dẫn, hỗ trợ triển khai thực hiệnQuyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018- 2020 (OCOP).Cáccấp hội đã chỉ đạo triển khai các dự án xây dựng mô hình về liên kết sản xuất,phát triển kinh tế; mô hình ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuất nôngnghiệp theo hướng an toàn sinh học; mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị gắnsản xuất với tiêu thụ sản phẩmđạt kết quả tốt Các cấp hội đã triển khai Nghịquyết số 10-NQ/HNDTW của Ban Chấp hành Trung ương Hội về Hội Nôngdân Việt Nam tham gia phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nôngthôn giai đoạn 2020 - 2025 Đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn, Liên minh Hợp tác xã tỉnh trong thực hiện chương trình phối hợp,trực tiếp vận động, hướng dẫn, thành lập mới các hợp tác xã,đã vận độngthành lập mới được 19 hợp tác xã, 58 tổ hợp tác, góp phần nâng tổng số hợptác xã trong lĩnh vực nông nghiệp

Chỉ đạo các cơ sở hội thành lập chi, tổ hội nông dân nghề nghiệp, toàntỉnh đã thành lập được 24 chi hội nông dân nghề nghiệp, 167 tổ hội nông dân

nghề nghiệp Hướng dẫn thành lập chi hội nông dân nghề nghiệp (Hợp tác xã hợp lực Pản Phong) tại bản Híp, xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La có 15 hộ

hội viên nông dân tham gia.Phối hợp với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam

và Hội Nông dân huyện Thuận Châu, Đảng ủy, UBND, Hội Nông dân xã Long

Hẹ hướng dẫn xây dựng và tổ chức lễ ra mắt Mô hình điểm Chi hội nông dânnghề nghiệp và HTX nông nghiệp Chà Mạy, xã Long Hẹ, huyện Thuận Châu;Các cấp hội đã chỉ đạo triển khai các dự án xây dựng mô hình về liên kết sảnxuất, phát triển kinh tế; mô hình ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong sản xuấtnông nghiệp theo hướng an toàn sinh học; mô hình sản xuất theo chuỗi giá trịgắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm đạt kết quả tốt Thông qua mô hình Chi HộiNông dân nghề nghiệp, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp thể hiện sự đổi mớiphương thức tập hợp hội viên, khắc phục được phần lớn những nhược điểm,

Trang 19

hạn chế, khó khăn, yếu kém trong sinh hoạt chi hội, tổ hội truyền thống, gópphần xây dựng tổ chức cơ sở Hội ngày càng vững mạnh

- Vận động nông dân tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và bảo vệ môi trường

Đã bám sát chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh để ban hành các vănbản triển khai thực hiện phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới.Các cấp Hội đã tích cực vận động nông dân tham gia thực hiện các tiêu chí vềxây dựng nông thôn mới; vận động, hướng dẫn, hỗ trợ hội viên, nông dân tích

cực tham gia tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật

nuôi Nhiều địa phương đăng ký thực hiện các hoạt động, công trình cụ thể,góp phần đẩy mạnh kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới, nâng cao chất

lượng các tiêu chí, đưa việc xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu bền vững hơn, tích cực xây dựng mô hình nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; triển khai thực hiện hiệu quả các dự án hỗ trợ nông dân xây

dựng nông thôn mới ở các địa phương Triển khai xây dựng “Mái ấm Nông dân”59 nhà, trao cho 59 hộ Hội viên nông dân nghèo, trị giá 25-30 triệu đồng/nhà.Chỉ đạo các cấp Hội tổ chức thực hiện Tết trồng cây “Đời đời nhớ

ơn Bác Hồ” xuân Tân Sửu gắn với chương trình trồng cây phân tán của tỉnh

được trên 36.700 cây xanh các loại

Tích cực triển khai thực hiện công tác xã hội với các nội dung phong phú,hình thức đa dạng đã góp phần tập hợp đông đảo nông dân ở cơ sở hưởng ứngtham gia, có 164.515 hội viên nông dân tham gia bảo hiểm y tế Tích cực vậnđộng hội viên, nông dân xây dựng gia đình văn hóa, tham gia xây dựngthôn,bản, tiểu khu, xã văn hóa, đồng thời tuyên truyền, vận động hộ nông dânđăng ký phấn đấu danh hiệu Gia đình văn hoá năm 2021, tổng số hộ hội viênđăng ký là 112.463 hộ Các cấp Hội đã tổ chức vận động, hướng dẫn cán bộ, hộiviên, nông dân tham gia cải tạo cảnh quan, bảo vệ tài nguyên, môi trường nôngthôn, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu như: hưởng ứng Ngày môi trườngthế giới, có 158 cơ sở Hội xây dựng được mô hình bảo vệ môi trường nông thôn,thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững

- Đổi mới và nâng cao hiệu quả các hoạt động tư vấn, hỗ trợ, dịch vụ, đào tạo nghề cho nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh

+ Kết quả phát triển nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân: Chỉ đạo Hội

Nông dân các huyện, thành phố tiếp tục phát triển và nâng cao hiệu quả hoạtđộng Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp Trong năm 2021, nguồn vốn Quỹ HTND

toàn tỉnh phát sinh tăng 5.004,61triệu đồng, đạt 128% chỉ tiêu kế hoạch giao,

trong đó: nguồn ngân sách tỉnh cấp là 1.500 triệu đồng; nguồn ngân sáchhuyện, thành phố cấp 3.650 triệu đồng; nguồn vận động, ủng hộ của các tổchức, cá nhân và cán bộ, hội viên nông dân đóng góp 1.244,61triệu đồng Lũy

kế đến thời điểm báo cáo, tổng nguồn Quỹ Hỗ trợ Nông dân toàn tỉnh đạt

Trang 20

62.514,40 triệu đồng, đầu tư cho 209 dự án, 1.679 hộ vay, với số tiền

59.018,2 triệu đồng

+ Thực hiện chương trình phối hợp với Ngân hàng CSXH: Các cấp Hội

đã chủ động phối hợp với Chi nhánh NHCSXHđẩy mạnh công tác tuyên truyềnphổ biến đến người dân các chủ trương, chính sách tín dụng ưu đãi của Chínhphủ đối với hộ nghèo và đối tượng chính sách khác Triển khai thực hiện tốt 06công đoạn ủy thác đã ký kết với Ngân hàng Chính sách xã hội; tập trung đônđốc thu hồi nợ gốc, lãi; thu nợ quá hạn; thẩm định đối với các dự án vay mới vàđịnh kỳ giao ban với ngân hàng Tính đến thời điểm báo cáo tổng dư nợ thông

qua tổ chức Hội Nông dân quản lý là: 1.346.571triệu đồng Tổng số Tổ

TK&VV thành lập và quản lý: 1.060 tổ; Số tổ được ủy nhiệm thu lãi: 1.060tổ;

Số thành viên tham gia Tổ TK&VV: 33.511thành viên;

+ Thực hiện chương trình phối hợp Ngân hàng Nông nghiệp&PTNT:

Phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnhSơn La tổng kết đánh giá kết quả thực hiện Văn bản thỏa thuận số740/VBTT/HND-NHNoSLa ngày 18/10/2016 giữa AGRIBANK và Hội Nôngdân tỉnh Sơn La về thực hiện Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nôngnghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 củaChính phủ giai đoạn 2016 – 2021 Tính đến thời điểm báo cáo, toàn tỉnh có 307

tổ vay vốn, với 100% xã có tổ vay vốn do Hội Nông dân quản lý, tổng dư nợcho vay là 972.463,91triệu đồng với 9.274 hộ được vay vốn

+ Tổ chức đào tạo nghề cho nông dân: Xác định đào tạo nghề là nhiệm

vụ quan trọng cho hội viên nông dân và phát huy được hiệu quả dự án đầu tưxây dựng Trung tâm Hỗ trợ nông dân của Trung ương Hội, năm 2021 HộiNông dân tỉnh đã chuyển hướng sang đào tạo nghề theo nhu cầu thiết thựctrên địa bàn tỉnh Qua khảo sát thực tế cho thấy, một số nghề đem lại hiệu quảkinh tế rõ rệt cho người nông dân, do vậy Hội Nông dân tỉnh đã lựa chọn 02ngành nghề chính đó là: (1) Nghề sơ chế, bảo quản, chế biến nông sản; (2)Nghề trồng trọt Đã xây dựng và ký kết Chương trình phối hợp với Học việnNông nghiệp Việt Nam Cử các đoàn cán bộ đi làm việc với các doanh nghiệpđầu tư nhà máy chế biến nông sản trên địa bàn để khảo sát nhu cầu lao động

và lấy ý kiến vào khung chương trình đào tạo để người nông dân khi được đàotạo ra được doanh nghiệp chấp nhận Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19,Hội Nông dân tỉnh đã đào tạo xong 01 lớp với 30 lao động tại Trung tâm Hỗtrợ nông dân, hiện nay Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đang giao cho Hội Nông dân tỉnhđào tạo khoảng 2.000 nông dân cho các nhà máy chế biến Phối hợp với Công

ty TNHH dịch vụ và thương mại VICTORY VINA Trường Cao đẳng Khoáng sản Việt Nam xây dựng bộ tài liệu về thông tin thị trường lao độngtrong nước và nước ngoài Tổ chức được 05 hội nghị tư vấn việc làm, xuấtkhẩu lao động, 5 bàn tư vấn miễn phí cho 250 lượt hội viên nông dân thamgia tại 05 huyện, thành phố Đã giới thiệu được 50 lao động về Công ty làm

Trang 21

Than-động đang trong giai đoạn học việc, thử việc và ký hợp đồng, các công ty hỗtrợ 500.000 đồng/lao động.

+ Hoạt động cung ứng vật tư, thiết bị nông nghiệp: Phối hợp với các

công ty trong và goài tỉnh triển khai các chương trình cung ứng phân bón, câygiống trả chậm cho nông dân (liên kết với Công ty Cổ phần QLXD và sản xuấtViệt Tín (Phân bón lá Nga), Viện nghiên cứu Ngô khu vực Tây Bắc thuộc ViệnNgô TW, Công ty TNHH MTV biotech Quế Lâm thuộc Tập đoàn phân QuếLâm… ) ký hợp động trách nhiệm với Công ty cổ phần Việt Tín, Công ty CPcon Cò Vàng, trạm nghiên cứu và chuyển giao TBKT ngô vùng Tây Bắc… đãtriển khai xây dựng mô hình ký hợp đồng cung ứng phân bón tại huyện cáchuyện

+ Hỗ trợ hội viên, nông dân tiếp cận tiến bộ khoa học, công nghệ: Hỗ

trợ, hướng dẫn xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng khoahọc, công nghệ mới theo chuỗi giá trị đạt tiêu chuẩn chất lượng Vietgap Đẩymạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao theo hướngsản xuất hàng hoá tập trung, thâm canh cao, ứng dụng nhanh khoa học, kỹthuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, đồng thời xây dựng mối liên kết chặtchẽ giữa người sản xuất, người chế biến và người tiêu thụ sản phẩm, tạo nguồnsản phẩm hàng hoá lớn chất lượng cao Chỉ đạo Hội Nông dân các huyện,thành phố phối hợp với các cơ quan chức năng chỉ đạo các cơ sở Hội tuyêntruyền cho hội viên, nông dân về chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhànước về phát triển kinh tế tập thể; tổ chức tập huấn, kết hợp thăm quan học tậpkinh nghiệm tại các các mô hình sản xuất rau, củ, quả tiêu biểu trên địa bàntỉnh cho hội viên; hướng dẫn, vận động nông dân tham gia phát triển sản xuấttheo mô hình HTX, Tổ hợp tác

+ Hỗ trợ hội viên, nông dân quảng bá và tiêu thụ sản phẩm: Hội Nông

dân tỉnh đã thành lập Tổ Công tác tiêu thụ nông sản gồm 10 đồng chí, đã phâncông cán bộ đi trực tiếp các huyện khảo sát vùng trồng, lựa chọn các hợp tác

xã có nhu cầu hỗ trợ, đủ các điều kiện, tiêu chuẩn, bao bì, nhãn mác để kýhợp đồng nguyên tắc trong hỗ trợ và tiêu thụ nông sản an toàn Hội Nông dân

tỉnh, huyện trực tiếp tiêu thụ được 4.950,6 tấn xoài và mận hậu (riêng xuất khẩu được 2.650 tấn xoài): Hội Nông dân tỉnh trực tiếp hỗ trợ 1.611 tấn xoài, mận; Hội Nông dân các huyện thành phố 689,6 tấn xoài, mận(trong đó: Xoài Đài Loan 4.292,6 tấn, xoài Úc 10 tấn, xoài tròn 60 tấn, mận hậu 595 tấn):

Giá thu mua cho nông dân thông qua hợp tác xã: Cao hơn giá thị trường từ30-40%, cụ thể: Mận hậu loại 1: 55.000 đồng/kg, loại 2: 50.000 đồng/kg; loại3: 10.000 đồng/kg Xoài tròn Yên Châu 15.000 đồng/kg, xoài Úc:15.000

đồng/kg, xoài Tượng da xanh (GL4): 10.000 đồng/kg (giá xuất khẩu 6.000 đồng/kg) Đã hỗ trợ vận động nhân dân tiêu thụ hết sản lượng 112.968 tấn

nhãn; 195ha với sản lượng trên 500 tấn thanh long trong toàn tỉnh.Đã hỗ trợcác doanh nghiệp, hợp tác xã đi nghiên cứu các vùng trồng, làm việc với các hợptác xã sản xuất nông nghiệp để liên kết, tiêu thụ xoài, mận: Đã tiêu thụ cho nông

Trang 22

dân khoảng 31.700 tấn xoài, mận Giúp Hội Nông dân tỉnh Hà tỉnh tiêu thụ

nông sản bưởi Phúc Trạch trên 4.000 quả Chỉ đạo các huyện, thành phố giúp

Hội viên Nông dân tiêu thụ các loại nông sản khác (ngô, sắn, chè, cà phê, sơn tra, rau củ quả các loại, ).

+ Kết quả công tác tư vấn, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp

lý cho nông dân: Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng, tuyên

truyền phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho hội viên, nông dân,góp phần đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp chính đáng của hội viên, nông dân.Phối hợp với ngành Công an hướng dẫn thực hiện công tác phòng chống tộiphạm, tội phạm mua bán người đến các cơ sở hội và thực hiện xây dựng các

mô hình tự quản về an ninh trật tự; phối hợp giải quyết tốt các tranh chấp mâuthuẫn trong nội bộ nhân dân, không để xảy ra phức tạp khiếu kiện kéo dài.Trong năm, các cấp Hội đã phối hợp tổ chức tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp

lý được 691 buổi cho trên 42,951 lượt hội viên, nông dân tham gia

+ Hiệu quả hoạt động của Trung tâm Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh: Trung tâm

Hỗ trợ nông dân đã tổ chức được nhiều hoạt động tư vấn, hỗ trợ, dịch vụ, đàotạo, tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, xây dựng mô hình trình diễn ứngdụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ cao để hội viên, nông dân học tập,nhân rộng; Thông qua các hoạt động của Trung tâm góp phần hỗ trợ nông dân,nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho nôngdân; phát huy vai trò, vị thế, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội

để thu hút nông dân vào tổ chức Hội, hội viên ngày càng gắn bó với tổ chứcHội

Chủ động nghiên cứu, tham mưu với Trung ương Hội bàn giao tài sản

sau đầu tư của Trung tâm Hỗ trợ nông dân về cho tỉnh quản lý (Sơn La là tỉnh được giao nghiên cứu đề xuất phương án chung cho các địa phương và là tỉnh đầu tiên Trung ương bàn giao tài sản sau đầu tư về cho tỉnh) Đã chủ động

phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Đề án sắp xếp, kiện toàn lạiTrung tâm Hỗ trợ nông dân tỉnh theo Nghị định số 120/2020/NĐ-CP của Chính

phủ (số lượng dự kiến 15 người lao động, là đơn vị tự chủ về tài chính); Trình

UBND tỉnh phê duyệt Đề án quản lý, khai thác, sử dụng tài sản công tại Trungtâm Hỗ trợ Nông dân tỉnh theo Nghị định số 151/2017/NĐ-CP; Trình UBNDtỉnh phê duyệt Phương án tự chủ về tài chính của Trung tâm Hỗ trợ Nông dân

tỉnh (theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP).

4.4 Tham gia phòng, chống dịch bệnh Covid-19

Hưởng ứng Lời kêu gọi “Toàn dân tham gia phòng, chống Covid-19”của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Sơn La, Ban Thường vụ HộiNông dân tỉnh đã tuyên truyền, vận động các cấp Hội và hội viên nông dântrong tỉnh tham gia ủng hộ; chỉ đạo Hội Nông dân các huyện, thành phố và cơ

sở thành lập “Tổ công tác” chung tay cùng cộng đồng giúp đỡ hội viên, nông

Ngày đăng: 03/03/2023, 14:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w