1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nêu khái niệm, ý nghĩa, nguyên tắc áp dụng, điều kiện áp dụng của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự xây dựng một tình huống cưỡng chế cụ thể làm rõ biện pháp trên

16 15 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nêu khái niệm, ý nghĩa, nguyên tắc áp dụng, điều kiện áp dụng của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự xây dựng một tình huống cưỡng chế cụ thể làm rõ biện pháp trên
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại bài tập nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 34,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 2 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 2 1 1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của cưỡng chế thi hành án hình sự 2 1 2 Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế t.

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 2

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của cưỡng chế thi hành án hình sự 2

1.2 Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 4

1.3 Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 5

2 XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG 7

2.1 Tình huống 7

2.2 Giải quyết tình huống 8

3 MỘT SỐ HẠN CHẾ, VƯỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐINH PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 12

3.1 Một số hạn chế, vướng mắc khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 12

3.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 13

C KẾT LUẬN 14

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Xét xử và thi hành án là hai mặt của một quá trình thống nhất, thể hiện quyền lực nhà nước Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh nhà nước, quyết định của Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại khi được chấp hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật nhà nước Việc tự nguyện thi hành án của các đương sự được coi là biện pháp quan trọng nhất trong hoạt động thi hành án dân sự Tuy nhiên trong nhiều trường hợp người phải thi hành án có đủ điều kiện thi hành án những vẫn không tự nguyện thi hành trong thời hạn cơ quan thi hành án ấn định, tìm cách trì hoãn, trốn tránh việc thi hành án Trong trường hợp này, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án , cơ quan thi hành án sẽ

áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự là hoạt động thường xuyên được thực hiện và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác thi hành án Ngoài ra, hoạt động cưỡng chế thi hành án còn tác động sâu vào quan hệ xã hội giữa người được thi hành án và

người phải thi hành án Do vậy, nhóm 3 lớp K7D xin lựa chọn đề số 2: “Nêu khái niệm, ý nghĩa, nguyên tắc áp dụng, điều kiện áp dụng của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự? Xây dựng một tình huống cưỡng chế cụ thể làm rõ biện pháp trên” làm bài tập nhóm vì đây là vấn đề cần phải được nghiên

cứu kỹ lưỡng để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đã cố gắng để xây dựng bài làm hoàn thiện nhất, tuy nhiên không tránh khỏi những sai sót nhất định, nên mong nhận được ý kiến đóng góp từ thầy để bài làm được tốt hơn Nhóm 3 xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

B NỘI DUNG

1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của cưỡng chế thi hành án hình sự

1.1.1 Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự

- Cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những việc trái với ý muốn của họ Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản

lý nhà nước và là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nước

- Thi hành án dân sự là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các đương sự đã được xác định trong các bản án, quyết định được đưa ra thi hành

Như vậy, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ, do chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án.

1.1.2 Đặc điểm biện phạm cưỡng chế thi hành án dân sự

Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền năng đặc biệt của nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của nhà nước Thứ hai, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của tòa án

Thứ ba, đối tượng của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc hành vi của người phải thi hành án

Thứ tư, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, người bị áp dụng ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ trong bản án, quyết định do tòa án tuyên họ còn phải chịu mọi chi phí cưỡng ché thi hành án dân sự

Trang 4

Thứ năm, các biện pháp cưỡng chế được chấp hành viên quyết định áp dụng không những có hiệu lực đối với người phải thi hành án dân sự mà còn có hiệu lực cả đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan

1.1.3 Ý nghĩa của cưỡng chế thi hành dân sự

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là giải pháp có hiệu quả nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án, bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước thái độ không chấp hành của người phải thi hành án Thực tế cho thấy trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án nếu không

áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thì sẽ không thể thi hành án được

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là công cụ quan trọng để bảo

vệ triệt để quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án Bởi lẽ các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng sẽ buộc người phải thi hành án phải thực hiện một cách thực tế, đầy đủ nghĩa vụ dân sự của họ, từ đó thực sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án Ngoài ra trong chừng mực nào đó thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án còn có ý nghĩa kết thúc việc thi hành án, tránh cho người phải thi hành án không phải chịu những tổn phí về tiền lãi suất do việc chậm thi hành án đem lại Việc thực thi các bản

án, quyết định không chỉ bảo đảm quyền, lợi ích của các đương sự, người có quyền, lợi ích liên quan trong bản án, quyết định đó mà còn ảnh hưởng đến việc đảm bảo trật tự an toàn xã hội; quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan Từ đó, để đảm bảo lợi ích chung của xã hội thì Nhà nước phải có biện pháp phù hợp để người phải thi hành án thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định nếu có điều kiện thi hành án, trong

đó cưỡng chế thi hành án dân sự biện pháp được áp dụng cuối cùng nhưng cũng

là biện pháp hữu hiệu nhất để đảm bảo thi hành án, đảm bảo quyền bình đẳng của các chủ thể trong xã hội Vì vậy, thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành

án dân sự được coi là cơ chế bảo đảm quyền, lợi ích của các đương sự, tổ chức,

Trang 5

cá nhân khác và lợi ích của Nhà nước nói chung và trong thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật theo thủ tục thi hành án dân sự nói riêng

Ngoài hai ý nghĩa trên việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân

sự còn có tác dụng lớn trong việc răn đe giáo dục ý thức pháp luật cho mọi công dân, nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền pháp luật trong việc thi hành

án đồng thời là cơ sở để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự nhằm làm cho các quy định pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự đi vào cuộc sống và trở thành những hành vi thực

tế của đương sự, các cá nhân, cơ quan và tổ chức liên quan trong thi hành án dân

sự Ngoài ra nó còn góp phần nâng cao ý thức pháp luật về thi hành án dân sự của đương sự, cá nhân, tổ chức liên quan và góp phần tăng cường pháp chế, hiệu quả của công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án dân sự

1.2 Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

Để áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS, cần phải đáp ứng các điều kiện nhất định:

Thứ nhất, người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định

được đưa ra thi hành của Tòa án, quyết định của trọng tài, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc phải nộp phí THA

Thứ hai, người phải THA có điều kiện THA nhưng không tự nguyện THA

và người có thẩm quyền THA đã xác minh và khẳng định là người phải THA có

đủ điều kiện THA

Thứ ba, đã hết thời gian tự nguyện THA mà người phải THA không tự

nguyện THA hoặc chưa hết thời gian tự nguyện THA nhưng để ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ THA được quy định tại khoản

2 Điều 45 LTHADS

Từ những điều kiện trên, cho thấy biện pháp cưỡng chế THADS chỉ được áp dụng khi người phải THA có nghĩa vụ phải thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền và có thái độ, hành vi không tự nguyện thi hành mặc dù có điều kiện THA Có điều kiện THA được hiểu là trường hợp người phải THA có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người

Trang 6

khác thực hiện nghĩa vụ THA (khoản 6 Điều 3 LTHADS) Theo quy định tại khoản 1 Điều 45 LTHADS, thời hạn tự nguyện THA là 10 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA

1.3 Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự là sử dụng quyền lực của nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện bản án, quyết định của tòa án nên không thể tùy tiện, thiếu thống nhất mà ngược lại phải tuân theo các nguyên tắc do pháp luật thi hành án dân sự quy định Theo quy định tại điều 45, điều 46 và Điều 71 luật thi hành án dân sự thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải tuân theo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, chỉ chấp hành viên mới có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng

chế thi hành án dân sự

Việc cưỡng chế thi hành án dân sự phải đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của cả người được thi hành án và người phải thi hành án Do vậy chủ thể tiến hành biện pháp này phải là những người am hiểu luật pháp, có tư cách đạo đức

và được nhà nước tin cậy cao quyền để thực thi công lý Theo pháp luật hiện hành thì chấp hành viên là người được nhà nước giao trọng trách trọng quyền tổ chức thi hành các bản án quyết định dân sự và là chủ thể có quyền quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự để thi hành án Ngoài chấp hành viên được nhà nước trao quyền thì việc các chủ thể khác tự tổ chức việc cưỡng bức thi hành án bằng sức mạnh để “xiết nợ”, “bắt nợ” đều được coi là trái pháp luật

Thứ hai, chấp hành viên chỉ được áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành

án dân sự do pháp luật quy định

Việc cưỡng chế thi hành án nhằm bảo đảm thi hành nghĩa vụ của người phải thi hành án nhưng cũng rất dễ xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của họ và những người liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án Để tránh ảnh sự lạm quyền của các chủ thể được trao quyền trong việc cưỡng chế thi hành án dân sự pháp luật đã quy định các biện pháp cưỡng chế cụ thể các thành viên có

Trang 7

quyền áp dụng điều kiện, thủ tục, áp dụng Vậy khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án chấp hành viên chỉ được áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định Theo quy định tại điều 71 Luật thi hành án dân sự thì chấp hành viên chỉ

có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự sau: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá trị của người phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản do người thứ ba giữ, khai thác tài sản của người phải thi hành án; buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định Ngoài ra khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự chấp hành viên phải tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật về điều kiện, trình tự, thủ tục cưỡng chế

Thứ ba, không được tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự trong những thời

gian mà pháp luật quy định không được cưỡng chế thi hành án dân sự

Việc cưỡng chế thi hành án dân sự là cần thiết nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án quyết định đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của người được thi hành án Tuy nhiên, để việc thi hành án dân sự không ảnh hưởng tới trật tự công cộng, vì mục đích nhân đạo và tôn trọng phong tục truyền thống tốt đẹp của dân tộc pháp luật quy định không được tiến hành cưỡng chế thi hành án trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau, trong các ngày nghỉ theo quy định quy định của pháp luật lao động, 15 ngày trước và sau Tết Nguyên Đán, các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách là người phải thi hành án (Điều 46 luật thi hành án dân sự, Điều 8 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015)

Thứ tư, chấp hành viên có quyền áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng

chế thi hành án nhưng phải tương ứng với nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án có nghĩa vụ phải thực hiện theo bản án, quyết định của tòa án

Mục đích của cưỡng chế thi hành án dân sự là buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ để bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án Tuy nhiên việc cưỡng chế thi hành án phải bảo đảm các quyền và lợi

Trang 8

ích hợp pháp của người phải thi hành án Do vậy trách nhiệm của chấp hành viên khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án là phải xác định được biện pháp cưỡng chế tương ứng với nghĩa vụ mà người phải thi hành án phải thi hành

để không xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án

2 XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG

2.1 Tình huống

Bản án số 9/2020/DSPT 10/10/2020, của Tòa án thành phố H, tỉnh M tuyên: buộc A phải trả cho V số tiền đã vay là 1,2 tỷ đồng Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, V có đơn yêu cầu thi hành án gửi cơ quan thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh M Cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên K tổ chức thi hành Khi hết thời hạn tự nguyện, Ông A không thực hiện việc thi hành bản án Qua xác minh trong tháng 3/2021, Chấp hành viên K xác minh tài sản ông A được biết A có tài sản duy nhất là mảnh đất có diện tích 200m2 trên địa bàn thành phố H, tỉnh M, có giá trị khoảng 1,5 tỷ đồng, cho thấy ông A đủ điều kiện thi hành án Tuy nhiên, A xuất trình hợp đồng ủy quyền lập ngày 01/3/2016 lập tại phòng Công chứng nhà nước tỉnh M có nội dung: A ủy quyền cho B được toàn bộ quyền sử dụng, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp đối với quyền sử dụng mảnh đất nói trên

Ngay sau khi chấp hành viên K xác minh được thông tin nói trên, ông Vũ Văn B đã thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất nói trên cho M nhưng chưa hoàn tất thủ tục giấy tờ pháp lý Sau khi xem xét, chấp hành viên K

đã tiến hành kê biên quyền sử dụng đất trên để thi hành án đối với ông A

1 Theo anh chị, Chấp hành viên K đã tiến hành kê biên tài sản như trên là đúng hay sai? Tại sao?

2 Khi tiến hành kê biên tài sản trên thì Chấp hành viên tiến K phải tiến hành trình tự thủ tục như thế nào?

3 Trong trường hợp Tòa án ra phán quyết ông A phải trả cho V 1,2 tỷ đồng Sau khi tiến hành xác minh tài sản thì cơ quan thi hành án đã xác định ông A có một chiếc xe ô tô trị giá 1,5 tỷ đồng do ông A đứng tên; quyền sử dụng mảnh đất 200m2 trị giá 1,5 tỷ đồng đứng tên ông A và ông B Chấp hành viên K đã tiến

Trang 9

hành kê biên quyền sử dụng đất và xe ô tô của ông A để tiến hành thi hành án Anh chị hãy nhận xét việc kê biên tài sản của Chấp hành viên K là đúng say sai?

2.2 Giải quyết tình huống

2.2.1 Chấp hành viên K tiên hành kê biên tài sản là đúng vì:

Thứ nhất, xét về thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản:

Căn cứ vào điều 17 Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì chấp hành viên có quyền được tiến hành cưỡng chế cưỡng chế thi hành án dân sự

=> Chấp hành viên K có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản trong tình huống trên

Thứ hai, xét về mặt điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng kê biên tài sản:

Trong tình huống trên, Chấp hành viên K có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế (cụ thể là biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất):

- Theo Bản án số 9/2020/ DSPT 10/10/2020, của Tòa án thành phố H, tỉnh

M tuyên thì A có nghĩa vụ phải trả lại số tiền đã vay cho V là 1,2 tỉ đồng

- A có đủ tài sản để thi hành nghĩa vụ trả nợ cho V (cụ thể là mảnh đất 200m2 trị giá 1,5 tỉ đồng)

- Đã hết thời hạn thi hành án nhưng A vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V

- Ngoài ra, mặc dù hợp đồng ủy quyền giữa ông A và ông B ký trước khi có bản án với nội dung: A ủy quyền cho B được toàn bộ quyền sử dụng, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp đối với quyền sử dụng mảnh đất nói trên Tuy nhiên trên thực tế tại thời điểm thi hành án ông A vẫn là người đứng tên mảnh đất đó cho nên “quyền sử dụng đất” bị kê biên trong tình huống trên là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 110 Luật thi hành án dân sự năm 2014 về quyền sử dụng

dất được kê biên, theo đó: “Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.”

Thứ ba, xét về nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế:

Trang 10

- Tài sản này của A có thể bị kê biên theo quy định của pháp luật và không thuộc trường hợp những tài sản không được kê biên theo quy định của pháp luật theo điều 87 Luật thi hành án dân sự năm 2014

- Trường hợp của A không nằm trường hợp không được kê biên vì mục đích nhân đạo hay cần bảo đảm cuộc sống bình thường hay có nghĩa vụ nuôi dưỡng khác

- Chấp hành viên đã tiến hành kê biên trong thời gian quy định theo khoản 2 điều 46 Luật thi hành án dân sự năm 2014

Thứ tư, thời điểm ông B đã chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất cho ông

M là sau khi có bản án và đã hết thời hạn tự nguyện thi hành (cụ thể là ngay sau khi chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án) cũng như chưa hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng Căn cứ khoản 11 Điều 1 Nghị định 33/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều

của luật thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp có giao dịch về tài sản mà người phải thi hành án không sử dụng toàn bộ khoản tiền thu được từ giao dịch

đó để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc có tài sản khác nhưng không

đủ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án thì xử lý như sau: a) Trường hợp có giao dịch về tài sản nhưng chưa hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp cần tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự…”

Như vậy, với những gì đã phân tích ở trên thì việc Chấp hành viên K tiến hành kê biên tài sản như vậy là đúng

2.2.2 Thủ tục tiến hành kê biên tài sản của ông A

- Xác minh điều kiện thi hành án (cụ thể trong tình huống trên là quyền sử dụng đất của ông A): Đây là điều kiện quan trọng để Chấp hành viên K thực

hiện cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất Chấp hành viên K đã tiến hành xác

Ngày đăng: 03/03/2023, 12:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w