MỞ ĐẦU 1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, với sự kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đất nước ta bước vào một thời kì mới, hòa bình, ổn định nhưng đồng thời cũng đối[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CH ỌN ĐỀ TÀI
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, với sự kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đất nước ta bước vào một thời kì mới, hòa bình, ổn định nhưng đồng thời cũng đối diện với nhiều khó khăn thách thức của thời hậu chiến Cuộc sống mới với nhiều đổi thay đòi hỏi văn học
cũng phải có sự chuyển mình biến đổi để kịp thời đáp ứng những yêu cầu của thời đại Từ một nền
văn học “chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước” suốt trong những năm tháng chiến tranh từ 1945 đến 1975, văn học Việt Nam sau 1975 đã
từng bước chuyển sang một giai đoạn mới Đặc biệt kể từ năm 1986, hòa cùng công cuộc đổi mới
của đất nước, văn học Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trên nhiều phương diện để làm nên
một diện mạo mới cho văn học nước nhà, trong đó sự vận động theo “khuynh hướng dân chủ hóa, mang tính nhân b ản, nhân văn sâu sắc” trở thành một đặc điểm nổi bật
Trong quá trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam qua hai giai đoạn nêu trên, Nguyễn Minh Châu có vinh dự trở thành một trong số ít những nhà văn mà sáng tác đã trở thành
hiện tượng tiêu biểu cho văn học ở cả hai chặng đường Đến với văn học vào thời điểm mà cả dân
tộc đang dồn sức cho cuộc chiến đấu chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu nhanh chóng khẳng định chỗ đứng của mình trong lòng bạn đọc qua một loạt tác phẩm nóng hổi hơi thở đời sống chiến tranh và cách mạng Những Cửa sông, Dấu chân người lính, Những vùng trời khác nhau… đã góp thêm cho
văn học trước 1975 những trang viết hào sảng về những tháng ngày hào hùng của lịch sử đất nước
Không chỉ là cây bút văn xuôi có nhiều đóng góp quan trọng cho văn học thời kì kháng chiến
chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu còn thuộc trong số những người mở đường cho công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 Trong cuộc chuyển mình đầy khó khăn của văn học những năm đầu
thời kì đổi mới, bằng một sự “dũng cảm rất điềm đạm” (Vương Trí Nhàn), ông đã đã từng bước
thay đổi lối nghĩ, lối viết, lặng lẽ nhận lãnh vai trò của một người lính tiên phong trong việc vượt lên chính mình, tìm một hướng đi mới cho mình và cho cả một nền văn học Những tập truyện ngắn
của ông ra đời trong những năm 80 của thế kỉ XX đã trở thành một hiện tượng văn học thu hút được nhiều sự quan tâm của dư luận
Là nhà văn có quá trình sáng tác tiêu biểu cho sự chuyển mình của văn học Việt Nam qua hai giai đoạn, 1945 – 1975 và sau 1975, sáng tác của Nguyễn Minh Châu đương nhiên có những chuyển
biến trong tư tưởng và bút pháp Đó là những chuyển biến như thế nào? Phải chăng có một mối quan hệ nhân – quả giữa chuyển biến về tư tưởng (nhân) và chuyển biến về bút pháp ( quả) trong
sáng tác của nhà văn này? Việc tìm hiểu và trả lời một cách thỏa đáng những câu hỏi này sẽ giúp ích nhiều cho nhà nghiên cứu trong việc tìm kiếm sự vận động mang tính qui luật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu nói riêng và các nhà văn thế hệ ông nói chung
Trang 2Nguyễn Minh Châu cũng là tác giả có tác phẩm truyện ngắn được đưa vào giảng dạy trong
chương trình trung học (trước đây là Bức tranh – THCS, Mảnh trăng cuối rừng – THPT; sau này là
B ến quê – THCS, Chiếc thuyền ngoài xa – THPT) Việc nghiên cứu bước chuyển trong tư tưởng và
bút pháp của ông sau 1975 sẽ giúp cho việc giảng dạy phân tích tác phẩm truyện ngắn của ông trở nên đúng hướng, sâu sắc, thỏa đáng hơn
Đây cũng chính là những lý do chủ yếu khiến người viết lựa chọn đề tài “Những chuyển biến
v ề tư tưởng và bút pháp trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975” để thực hiện luận văn cao
học của mình
2 L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Là một trong những tác giả có vị trí quan trọng trong văn xuôi hiện đại Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới, Nguyễn Minh Châu và sáng tác của ông đã được các nhà nghiên cứu chú ý tìm hiểu trên nhiều phương diện Tính cho đến nay, đã có hàng trăm bài viết đăng trên các báo và
tạp chí cùng rất nhiều những chuyên luận, công trình nghiên cứu về cuộc đời và tác phẩm của ông Theo cuốn sách Nguyễn Minh Châu – về tác gia và tác phẩm, thư mục tài liệu nghiên cứu tác gia,
tác phẩm Nguyễn Minh Châu ghi nhận có đến 150 bài viết và công trình nghiên cứu lớn nhỏ Sáng tác của Nguyễn Minh Châu còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều luận văn tốt nghiệp bậc đại học, cao học
Trên cơ sở khảo sát những tài liệu hiện có trong tay, chúng tôi nhận thấy các bài viết về Nguyễn Minh Châu đã tiếp cận khá kĩ lưỡng cả hai phương diện con người và tác phẩm của nhà văn Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, sau đây, chủ yếu người viết sẽ chỉ điểm qua những ý kiến
và công trình nghiên cứu có liên quan đến truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
Như đã nêu, cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn là thể loại đem lại nhiều thành tựu cho sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu Sức hấp dẫn của từng thiên truyện ngắn đã lôi cuốn các nhà nghiên cứu đi sâu phâ n tích, mổ xẻ, đánh giá…Trong số những bài viết quan tâm đến truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu, có thể kể đến những ý kiến đáng chú ý của Nguyễn Kiên, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Long, Lại Nguyên Ân, Phạm Vĩnh Cư, Bùi Việt Thắng, Nguyễn Trọng Hoàn, Tôn Phương Lan, Trịnh Thu Tuyết, Huỳnh Như Phương, Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Ngọc Hiến, Hoàng Thị Văn,…
Về các tác phẩm trong đó có truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu thời kì chống Mĩ, các ý
kiến tỏ ra khá thống nhất khi đánh giá về cảm hứng sáng tác và bút pháp của tác giả thể hiện trong các tác phẩm Tiêu biểu là ý kiến của Mai Hương trong Lời giới thiệu Nguyễn Minh Châu toàn tập
(Nxb Văn học, H.,2001) : “Suốt trong những năm chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu đã dành trọn vẹn
n ửa đời văn của mình đi sâu khám phá, phản ánh những “đề tài sinh tử” trong mảng hiện thực chi ến tranh và người lính cách mạng… Những tác phẩm nóng hổi hơi thở đời sống, như còn sặc
Trang 3mùi thu ốc súng, khói bom…đã phản ánh được khát vọng tinh thần cháy bỏng của của cả dân tộc,
th ời đại – khát vọng độc lập, tự do – góp phần tái hiện bức tranh lịch sử hoành tráng của dân tộc trong cu ộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại… Những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trong chiến tranh thường nghiêng về vẻ đẹp hào hùng và tươi tắn của cả cộng đồng, nghiêng về những sự kiện vĩ đại,
nh ững người anh hùng và được thể hiện với bút pháp trữ tình đậm đà, giàu chất thơ Ở đó, cảm
h ứng trữ tình hòa nhập, giao thoa nhuần nhị với cảm hứng anh hùng” Truyện ngắn Mảnh trăng
cu ối rừng sáng tác ở giai đoạn này cũng thu hút được nhiều ý kiến giảng bình mà trong đó đa phần
là nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn con người trong chiến tranh và chất thơ trữ tình của thiên truyện
Đặc biệt, trong những năm 80, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã thu hút được sự quan tâm sâu rộng từ phía bạn đọc và giới nghiên cứu
Vào tháng 6 năm 1985, báo Văn nghệ đã tổ chức một cuộc Trao đổi về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nh ững năm gần đây Trong cuộc hội thảo này, có những ý kiến vẫn còn tỏ ra băn khoăn,
nghi ngờ về những tìm tòi đổi mới của ông, cho rằng trong tác phẩm còn có điều gì đó “mung lung”,
“h ụt hẫng”, “khó nắm bắt”, “kém đi vẻ chân thực sinh động ” Nhiều ý kiến khác thì đánh giá cao
những tìm tòi, trăn trở trong ngòi bút của ông, ghi nhận tác phẩm của ông “có nhiều thành tựu, có nhi ều đóng góp rất đáng quý” [58, tr.288-311]
Sau cuộc hội thảo, nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu tiếp tục bàn luận về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, dần dần đi tới những thống nhất trong đó có sự khẳng định quá trình đổi mới tích cực và đầy hiệu quả của ông Về những tập truyện ra đời trong giai đoạn sau này, có thể kể đến
những ý kiến của Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân,
Trần Đình Sử nhận xét rằng: “Bắt đầu từ truyện ngắn Bức tranh, rồi tập Người đàn bà trên chuy ến tàu tốc hành và nay là tập Bến quê, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện như là
m ột hiện tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới… Đặc sắc của tập Bến quê chủ yếu là
s ự thể nghiệm một hướng trần thuật có chiều sâu…, phát hiện các hiện tượng đời sống trong chiều sâu tri ết học và lịch sử, thể hiện nhu cầu chiêm nghiệm, tự đối thoại với chính mình và với ý thức
c ủa mình… Có thể nói thiên hướng muốn nắm bắt hiện thực ở bề sâu ẩn kín là một đặc điểm nổi bật
m ới mẻ của phong cách Nguyễn Minh Châu” [78, tr.505-508]
Lại Nguyên Ân, “khi nhận xét về xu hướng triết lí nhận thức trong những truyện ngắn gần đây của Nguyễn Minh Châu”, đã tạm xếp thử các truyện ấy vào một số dạng chính, “Từ loại truyện
“t ự thú” mà trung tâm thường là một nhân vật đang sám hối,…nhà văn chuyển sang thể nghiệm
lo ại truyện tuy có dạng thức tự nhiên khách quan nhưng phê phán gay gắt những lối sống vô ý
th ức… Thêm một mức nữa, nhà văn đi tới loại truyện cũng có dạng khách quan tự nhiên, nhưng không ph ải để lên án phê phán đối tượng cụ thể nào mà chủ yếu để nhận thức những tình thế,
nh ững khía cạnh trái ngược vốn có trong đời sống con người…” [58, tr.269]
Trang 4Một số ý kiến khác như của Ngọc Trai, khi nhận xét đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu, đã cho rằng : “Phần lớn các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là loại truyện luận đề -
nh ững luận đề về đạo đức, nhân văn, về tâm lí xã hội…” [58, tr.325] Ngoài ra, còn có nhiều bài viết
khác đi vào bình giá, phân tích giá trị của từng truyện ngắn cụ thể, trong đó có sự ghi nhận những tìm tòi đổi mới của nhà văn ở cả hai phương diện tư tưởng và bút pháp thể hiện
Những năm sau khi Nguyễn Minh Châu mất, trong số những bài viết tiếp tục nghiên cứu về truyện ngắn của ông, có nhiều bài viết đi theo một lối tiếp cận mới mà theo đánh giá của Đỗ Lai
Thúy (trong Phê bình thi pháp h ọc như là sự thay đổi hệ hình ) thì “bài viết về Phiên chợ Giát của
Đỗ Đức Hiểu có ý nghĩa mở đường” [45, tr.109] Đỗ Đức Hiểu đánh giá rất cao về truyện ngắn cuối
cùng của Nguyễn Minh Châu khi cho rằng: “ Phiên chợ Giát có một tầm cỡ lớn”;…“một truyện
m ở; từ cái logic của ngôn ngữ trên bề mặt, truyện đi tới ngôn ngữ thứ hai, ngôn ngữ biểu tượng xiêu v ẹo, những ảo giác, với những cơn sốc, những nghịch lí, tức là một thế giới quyện nhòe giữa
hư và thực… Sự hóa thân người / bò của ông lão Khúng / Khoang Đen, sự phân đôi nhân cách ấy,
s ự kết hợp hai ý thức con người / con vật ấy, là bi kịch của nhân vật, của thời đại…” [30, tr.256]
Hoàng Ngọc Hiến thì cho rằng: “Truyện này là một giả thuyết văn học về bản chất và thân phận người nông dân…” [26, tr.237]
Có nhiều bài viết đi vào khai thác về một khía cạnh nào đó trong thế giới nghệ thuật của tác
phẩm như không gian nghệ thuật (Lê Văn Tùng), những hình ảnh biểu tượng (Dương Thị Thanh Hiên)…
Dưới góc độ thi pháp thể loại, Bùi Việt Thắng đi vào tìm hiểu cấu trúc và tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, phân chia ra các dạng cơ bản là tình huống – tương phản, tình
hu ống – thắt nút, tình huống – luận đề [58, tr.313] Cũng nhìn dưới góc độ thể loại, Phạm Vĩnh Cư
phát hiện ra “những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu” [58, tr.346]
Thời gian gần đây, tiếp tục có những ý kiến bàn về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Nguyễn
Trọng Hoàn, trong bài Tiếp tục hành trình đọc Nguyễn Minh Châu [58], đã dành nhiều trang viết về
truyện ngắn của ông và nhìn chung là các ý kiến ở đây khá nhất quán với những nhận định đã có trước đó
Trong công trình Truy ện ngắn Việt Nam, lịch sử - thi pháp – chân dung do Phan Cự Đệ chủ
biên, in 2007, khi viết về đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, người viết đã khái quát lại trong hai luận điểm lớn Đó là:
- Xu hướng ôm trùm những thể loại lớn
- Ch ất luận đề tan hòa vào tình huống và nhân vật
Theo chúng tôi, đây là những gợi mở đáng chú ý, có thể suy nghĩ để nghiên cứu thêm
Trang 5Ngoài những bài viết đề cập trực tiếp đến truyện ngắn nêu trên, không thể không nhắc đến hai chuyên luận nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu là Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
(Nxb KHXH, 2002) của tác giả Tôn Phương Lan và Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn
h ọc Việt Nam sau 1975 (Nxb ĐHSP, H 2007) của các tác giả Nguyễn Văn Long – Trịnh Thu
Tuyết Những công trình này, dù có đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau, nhưng đều dành nhiều dung lượng cho phần nghiên cứu mảng truyện ngắn
Cuốn Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, như tên gọi của nó, không phải là công
trình nghiên cứu chuyên biệt về truyện ngắn, nhưng rõ ràng để khái quát và nhận diện phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, không thể không nghiên cứu truyện ngắn Trong công trình này, Tôn Phương Lan đã đi vào tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật cũng như quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh Châu, tìm hiểu hệ thống nhân vật cũng như nghệ thuật trần thuật, những đặc điểm về ngôn ngữ và giọng điệu…, từ đó phác họa được những nét cơ bản về phong cách nghệ thuật của nhà văn
Cuốn Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 đặt vấn đề
nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong sự vận động của văn xuôi đương đại (chủ yếu từ 1975 trở đi) Người viết đã cố gắng chỉ ra quá trình vận động đổi mới của sáng tác Nguyễn Minh Châu, tất nhiên trong đó có cả truyện ngắn, trên ba bình diện:
-Về quá trình đổi mới ý thức nghệ thuật mà trọng tâm là quan niệm nghệ thuật về con người:
từ con người được thể hiện chủ yếu ở bình diện xã hội trong những mô hình giản đơn và vận động xuôi chiều đến con người cá nhân trong đời thường với những mối quan hệ phức tạp, đa dạng
-Về thế giới nhân vật: Trước 1975, chủ yếu là dạng nhân vật loại hình, sau 1975, có các
dạng nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách, nhân vật thế sự Nghệ thuật xây dựng nhân vật được đổi
mới nhờ vào các thủ pháp tăng cường độc thoại nội tâm; miêu tả nhân vật qua những chi tiết tâm lí chân thực, tinh tế; khắc họa nhân vật qua những chi tiết ngoại hình sinh động
-Về đổi mới kết cấu và nghệ thuật trần thuật: từ cốt truyện có hành động bên ngoài chiếm ưu
thế (trước 75) chuyển sang cốt truyện không có biến cố; một số đổi mới ở các hình thức trần thuật từ ngôi thứ ba và ngôi thứ nhất; một số đổi mới về nhịp điệu trần thuật, giọng điệu trần thuật…
Như vậy, có thể nói hai cuốn sách trên đã đề cập đến được nhiều phương diện trong sáng tác
của Nguyễn Minh Châu, tuy nhiên, chúng không phải là những công trình nghiên cứu riêng biệt về
Trang 6truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong những bài nghiên cứu về văn học Việt Nam giai đoạn sau
1975 mà luận văn không thể nêu hết Những công trình nêu trên đã cho thấy sự quan tâm sâu sắc
của giới nghiên cứu đến sáng tác Nguyễn Minh Châu Sức hấp dẫn của tác phẩm Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là mảng truyện ngắn chắc chắn sẽ còn cần thêm nhiều công trình nghiên cứu khác quan tâm làm rõ
3 GI ỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Những bài viết đề cập trực tiếp đến truyện ngắn Nguyễn Minh Châu mà tác giả luận văn đã nêu
ở phần trên, nhìn chung đã khai thác được khá đầy đủ nhiều phương diện trong truyện ngắn của ông Tuy nhiên, những bài viết trên, do chỉ đề cập đến một vài khía cạnh nào đó hay chỉ đi sâu vào một vài tác phẩm cụ thể nên chưa nói hết được những đặc trưng của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
một cách đầy đủ, cũng như chưa có một sự đánh giá toàn diện về những chuyển biến về tư tưởng và bút pháp trong truyện ngắn của ông sau 1975 Những công trình nghiên cứu về phong cách nghệ thuật hay sự đổi mới trong sáng tác Nguyễn Minh Châu đã nêu cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ
thể những đặc trưng của thể loại truyện ngắn như là một vấn đề nghiên cứu chuyên biệt
Đặt vấn đề nghiên cứu đề tài “Những chuyển biến về tư tưởng và bút pháp trong truyện ngắn Nguy ễn Minh Châu sau 1975”, luận văn muốn đi vào tìm hiểu truyện ngắn của ông dưới góc độ thể
loại, thấy được những nét chuyển biến trong tư tưởng và bút pháp nghệ thuật qua quá trình vận động
và đổi mới suốt chiều dài sự nghiệp sáng tác, đồng thời góp phần hiểu rõ hơn những đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Với định hướng như vậy, trong phạm vi của đề tài, luận văn sẽ tập trung vào việc xem xét, đối chiếu đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn trước
và sau 1975, từ đó làm rõ quá trình vận độn g chuyển đổi về quan niệm nghệ thuật và phương thức
biểu hiện trong truyện ngắn của nhà văn giai đoạn sau 1975 cùng những đóng góp của ông cho văn
học thời kì đổi mới
Trên cơ sở đào sâu những phát hiện của những nhà nghiên cứu đi trước, luận văn cố gắng hệ
thống hóa và phân tích kĩ một số đặc điểm của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn sáng tác trước và sau 1975, thấy được những đổi mới trong cách cảm nhận hiện thực và con người,
thấy được cùng với sự thay đổi về tư duy nghệ thuật là sự thay đổi từ loại hình truyện ngắn sử thi hóa sang loại hình truyện ngắn tiểu thuyết hóa, thấy được những đóng góp của nhà văn về phương
diện nghệ thuật biểu hiện cho thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 7Phương pháp xã hội học được dùng để làm rõ sự tác động cũng như ảnh hưởng của hoàn
cảnh xã hội đối với quá trình vận động đổi mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước và sau
Phương pháp so sánh được dùng như là một phương pháp chủ yếu để thấy được những đổi
mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 so với giai đoạn trước đó
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thi pháp học, tự sự học và các thao tác nghiên
cứu hỗ trợ như thống kê, phân tích, tổng hợp
5 C ẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn, ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tham khảo, Phụ lục, được tổ chức triển khai
Trong đó, chương 2 và chương 3 tập trung giải quyết một số nội dung chuyên sâu
Chương 2 tập trung giải quyết hai nội dung chính:
- Bước chuyển về quan niệm nghệ thuật: khước từ văn chương “minh họa” để đến với văn chương thực sự là cây đời; từ hứng thú với con người sử thi đơn phiến đến hứng thú với con người thường nhật phức tạp, bí ẩn chưa biết hết,…
- Bước chuyển về nội dung tự sự: từ tự sự về “bài ca ra trận” của cộng đồng với những phẩm
chất huyền thoại của người anh hùng đến tự sự về những bi kịch, những nỗi đau, những lời sám hối, những khủng hoảng, và cả hoài nghi…
Chương 3 tập trung làm rõ ba nội dung:
- Chuyển biến về kĩ thuật thể loại (tiểu thuyết hóa, phức thể hóa truyện ngắn)
- Chuyển biến về phương thức tự sự: phương thức khắc họa nhân vật, phương thức sử dụng
biểu tượng nghệ thuật, phương thức trần thuật (dịch chuyển, phối hợp điểm nhìn, vai kể,…)
Trang 8- Chuyển biến trong cách sáng tạo ngôn từ: đa dạng hóa, phức điệu hóa lời văn nghệ thuật (các
loại diễn ngôn kể, diễn ngôn thoại, diễn ngôn trữ tình ngoại đề; tổ chức lời văn nghệ thuật,
giọng điệu nghệ thuật…)
Trang 9Chương 1:
TRUY ỆN NGẮN TRONG SÁNG TÁC VĂN HỌC
1.1 Vài nét v ề cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu
1.1.1 Cu ộc đời nhà văn Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20 tháng 10 năm 1930 tại làng Thơi, xã Quỳnh Hải, thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Từ nhỏ, Nguyễn Minh Châu đã được tạo điều kiện học hành khá chu đáo Học ở quê rồi vào Huế, học tiếp đến năm 1945 thi đỗ bằng Thành Chung Những năm đầu
cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Minh Châu tiếp tục học trung học trong vùng kháng chiến Đầu năm 1950, khi đang là học sinh chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ Tĩnh, Nguyễn Minh Châu tình nguyện vào quân đội, theo học trường sĩ quan Trần Quốc Tuấn Sau đó, Nguyễn Minh Châu về công tác ở sư đoàn 320 Năm 1961, ông theo học Trường Văn hóa quân đội ở Lạng
Sơn Từ năm 1962 cho đến khi mất, Nguyễn Minh Châu làm việc tại tạp chí Văn nghệ quân đội
Ông mất ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội
Vốn là một sĩ quan tham mưu trong quân đội, Nguyễn Minh Châu sống và làm việc trước hết
với tư cách là một người lính, nhưng lại là một người lính viết văn Cũng như đối với nhiều nhà văn
mặc áo lính cùng thời, công việc sáng tác đòi hỏi người cầm bút phải có nhiều lăn lộn thực tế ở
những nơi đầu sóng ngọn gió, ông đã tham gia nhiều chiến dịch, đã từng trải qua những khó khăn gian khổ ở rừng Trường Sơn Hòa bình lập lại, ông cũng đi nhiều nơi, vào thành phố Hồ Chí Minh
rồi trở ra Hà Nội, nhưng có lẽ dải đất miền Trung mới là miền đất để lại cho ông nhiều yêu thương
nhất Hình ảnh cái làng quê nghèo ven biển miền Trung cứ trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm của ông như một nỗi ám ảnh khôn nguôi Những năm cuối đời, ông còn ấp ủ dự định viết một cuốn tiểu thuyết về cuộc chiến ở thành cổ Quảng Trị, rất tiếc nó không thể hoàn thành vì ông đã đột ngột ra đi khi đang ở giai đoạn tài năng chín muồi nhất Sau hơn một năm trời vật lộn với cơn bệnh ung thư máu hiểm nghèo, ông đã vĩnh viễn chia tay với cuộc đời vào ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Viện Quân y 108 Hà Nội
Những người thân, những người bạn của ông cùng với nhiều người trong giới nghiên cứu
đương thời luôn dành cho ông một sự yêu quý và kính trọng sâu sắc Họ nhìn thấy ở ông “một sự
d ũng cảm rất điềm đạm” (Vương Trí Nhàn), “một chiến sĩ chiến đấu đến cùng cho điều mình nhận
th ức là đúng” (Thái Bá Lợi), với vẻ ngoài “hiền lành, có khi lại còn nhút nhát nữa, nhưng bên trong dường như có một ngọn lửa, ngọn lửa ấy luôn luôn tạo ra sức nóng ở nơi đầu ngọn bút” (Ngô Vĩnh
Bình)… Đọc những bài viết của họ về ông, ta hình dung ra một Nguyễn Minh Châu thâm trầm lặng
lẽ, ít nói nhưng giàu lòng thương yêu, luôn sống trung thực với chính mình và mọi người Ông không thích ồn ào, không thích bon chen tranh đoạt mà lặng lẽ nhẫn nại theo đuổi những công việc
Trang 10và mục đích mình đã lựa chọn Có cảm giác như ông luôn ngơ ngác giữa dòng đời xuôi ngược đầy
những hệ lụy phiền toái Nhưng ông rất nhạy cảm và quyết liệt với những gì được coi là cái xấu, cái
ác, làm tổn hại đến con người Và trên hết, Nguyễn Minh Châu là một người có ý thức sâu sắc về thiên chức của nhà văn, về trách nhiệm và lương tâm của người cầm bút
Ở góc độ một công dân, ông đã làm hết sức mình để sống một cuộc sống có ích cho xã hội và
những người xung quanh mình Ở góc độ một nhà văn, bằng tài năng và tấm lòng nhiệt tình yêu nghề, với thái độ điềm đạm nhưng cũng hết sức dũng cảm, ông cũng đã dành trọn cuộc đời mình để
cống hiến hết thảy cho những mục tiêu cao đẹp của văn chương nghệ thuật, xứng đáng là “niềm hãnh di ện của những người cầm bút về một đời văn trong sáng và trọn vẹn” (Nguyễn Khải)
1.1.2 Sáng tác văn học của Nguyễn Minh Châu
Con đường sáng tác văn chương của Nguyễn Minh Châu bắt đầu tương đối muộn, mãi đến năm 1960 mới bắt đầu có sáng tác đầu tiên, và chỉ thực sự được bạn đọc biết đến với tiểu thuyết
C ửa sông in năm 1967 Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, Nguyễn Minh Châu đã để lại 9 cuốn
tiểu thuyết, 4 tập truyện ngắn, 1 tập tiểu luận phê bình và một số bút kí, truyện ngắn khác đăng rải rác trên các báo, tạp chí
Các tác phẩm đã xuất bản gồm : Cửa sông (tiểu thuyết, 1967), Những vùng trời khác nhau
(tập truyện ngắn, 1970), Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972), Từ giã tuổi thơ (tiểu thuyết viết
cho thiếu nhi, 1974), Miền cháy (tiểu thuyết, 1977), Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977),
Nh ững ngày lưu lạc (tiểu thuyết viết cho thiếu nhi, 1981), Những người đi từ trong rừng ra (tiểu
thuyết, 1982), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện ngắn, 1983), Đảo đá kì lạ (tiểu
thuyết viết cho thiếu nhi, 1985), Bến quê ( tập truyện ngắn, 1985), Mảnh đất tình yêu ( tiểu thuyết, 1987), C ỏ lau (tập truyện, 1989), tập tiểu luận phê bình
Có thể nói với một khối lượng sáng tác tương đối dày dặn như trên, Nguyễn Minh Châu đã
kịp ghi tên mình vào lịch sử văn học Việt Nam hiện đại như một tên tuổi hết sức quan trọng
Trang giâý tr ước đèn
Là một nhà văn quân đội, tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu viết nhiều về đề tài chiến tranh như là một điều tất yếu Tác phẩm “Dấu chân người lính” của ông từ lúc mới ra đời
đã được bạn đọc và giới nghiên cứu đánh giá cao, được xem như là một trong những tiểu thuyết tiêu
biểu viết về chiến tranh chống Mĩ Bám sát hiện thực đời sống những năm chiến tranh, các sáng tác
của Nguyễn Minh Châu trước 1975 (Cửa sông, Những vùng trời khác nhau, Dấu chân người lính…) đã cho chúng ta một cái nhìn tương đối trọn vẹn về một thời kì hào hùng của cả dân tộc
Sau 1975, hiện thực cuộc sống mới đòi hỏi văn học phải có sự nhìn nhận toàn diện và thấu đáo hơn Là một nhà văn luôn có ý thức gắn bó với đời sống, nhạy cảm với những đổi thay của thời
cuộc, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những vấn đề mới của đất nước ngay vào thời điểm chuyển giao từ chiến tranh sang hòa bình Trong các tiểu thuyết Miền cháy, Những người đi từ
Trang 11trong r ừng ra, Mảnh đất tình yêu…, mảng hiện thực quen thuộc về chiến tranh cách mạng và người
lính vẫn tiếp tục được ông quan tâm nhưng các vấn đề đặt ra trong tác phẩm đã cho thấy ở nhà văn
một cách nhìn khác trước Ngòi bút nhà văn hướng đến nhiều vấn đề đặt ra ở thời kì hậu chiến như
việc tổ chức lại cuộc sống và làm ăn kinh tế trong thời kì mới, vấn đề giải quyết hậu quả và hàn gắn
những vết thương chiến tranh, vấn đề chống lại những tiêu cực mới nảy sinh trong cuộc sống hôm nay…
Trước đây, ngay trong những năm tháng chiến đấu chống Mĩ ác liệt, Nguyễn Minh Châu đã
từng băn khoăn : “Ngòi bút của chúng ta sẽ trở nên phản bội người chiến sĩ nếu chỉ biết cái lúc họ vác súng ra m ặt trận với một tâm hồn phơi phới mà không biết cái lúc buồn bã, đau đớn, những lúc đói rét, những lúc nằm giữa đồng đội chết và bị thương, trong bùn lầy, trong mưa bom bão đạn… ”
[14, tr.190] Sau chiến tranh, cái nhìn sử thi lí tưởng hóa về con người của văn học một thời tỏ ra không còn phù hợp khi đối mặt với thực tế bộn bề, phức tạp của cuộc sống thường nhật Ý thức hướng tới một thứ văn chương sâu sắc hơn đã trở thành một nhu cầu hết sức bức xúc trong ông, đòi
hỏi ở ông một sự thay đổi quyết liệt hơn Với tiểu luận “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn ngh ệ minh họa” (1987), Nguyễn Minh Châu đã mạnh dạn đề nghị đoạn tuyệt với lối văn chương
minh họa “chỉ quen với công việc cài hoa kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn”, quyết
tâm chọn cho mình một hướng đi mới, tiếp cận đời sống và con người dưới góc độ nhân bản Nhà văn lặng lẽ và kiên trì thực hiện một loạt những cuộc đối chứng lại với quá khứ để nâng tầm tác
phẩm, tạo ra trong tác phẩm của mình một chiều sâu suy nghĩ và nhận thức mới về con người Ông
muốn tác phẩm văn chương phải làm “hiện lên những mẫu người của xã hội với tất cả da thịt và hơi
th ở, với tất cả những mầu vẻ của những mối quan hệ xã hội bên ngoài và những gì đang được giấu kín và c ũng đang giao tranh với nhau ở bên trong: những lý tưởng và dục vọng, trí tuệ và bản năng, thi ện và ác, những phần con người ý thức được và những phần vô thức của con người mà chỉ ngòi bút nhà văn mới có thể soi sáng, lý giải và báo hiệu” [14,tr.345]
Bằng tài năng và tâm huyết của một nhà văn luôn trăn trở với sự nghiệp văn học nước nhà, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện những thay đổi trong tư duy nghệ thuật của mình qua một loạt tác
phẩm có nhiều tìm tòi, khám phá Những truyện ngắn viết vào những năm 80 của thế kỉ XX in trong các tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Cỏ lau của ông đã tạo nên một hiện
tượng mới lạ trong văn học đương đại Bạn đọc từng biết đến Nguyễn Minh Châu như một cây bút
tiểu thuyết tên tuổi giờ đây còn phát hiện ở ông một tài năng viết truyện ngắn hết sức tài hoa, độc đáo Đánh giá về vai trò của Nguyễn Minh Châu đối với văn học sau 1975, nhà văn Nguyên Ngọc trân trọng khẳng định: “Thời gian, nhà phê bình nghiêm khắc và công bằng ấy rồi sẽ xác định lại đúng đắn hơn nữa vị trí của Nguyễn Minh Châu Song tôi nghĩ, hôm nay có lẽ cũng đã có thể nói
Trang 12không sai r ằng Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất
c ủa văn học ta hiện nay”
Các bài phê bình, tiểu luận cùng với những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao ra đời trong
thập kỉ 80 là minh chứng rõ nét cho bước chuyển âm thầm mà quyết liệt của hành trình đổi mới ở Nguyễn Minh Châu, đem đến cho ông một vị trí không thể thay thế trong giai đoạn quá độ của văn
học Việt Nam sau 1975
Không chỉ trong sáng tác, ông còn lưu lại dấu ấn cá nhân của mình qua những trang tiểu luận phê bình hết sức sâu sắc được viết rải rác suốt một khoảng thời gian dài, sau này được tập hợp lại trong cuốn Trang giấy trước đèn Các bài tiểu luận của ông đã đề cập đến nhiều phương diện trong
quá trình văn học: từ tác dụng của văn học đến mối quan hệ giữa văn học và đời sống chiến tranh cách mạng, mối quan hệ giữa nhà văn – nhân vật – bạn đọc, vai trò và trách nhiệm của người cầm bút, chân dung nhà văn, kinh nghiệm sáng t ác… Những bài viết của ông cũng đã góp phần không
nhỏ vào việc tạo nên một không khí sôi nổi trong đời sống văn học những năm cuối thế kỉ XX, đồng
thời giúp cho người đọc hôm nay hiểu thêm về con người và sáng tác của ông, một trong những nhà văn đi đầu công cuộc đổi mới văn học
Đời văn của Nguyễn Minh Châu được khép lại với thiên truyện ngắn nổi tiếng Phiên chợ Giát Được viết trên giường bệnh trong những ngày cuối đời, thiên truyện đặt dấu chấm hết cho một đời văn đầy nhọc nhằn nhưng cũng rất đáng tự hào của ông
1.2 Truy ện ngắn và hành trình đổi mới của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Với những đóng góp sau ba mươi năm
miệt mài cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã vinh dự được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật (đợt II, năm 2000)
1.2.1 Truy ện ngắn và truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
1.2.1.1 Truy ện ngắn (khái niệm – đặc trưng – ưu thế thẩm mĩ)
Truyện ngắn hiện đại là một thể loại hết sức quen thuộc và gần gũi nhưng để tìm một định nghĩa duy nhất, đầy đủ và chính xác về nó thì không dễ Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện
ngắn được xác định như sau: “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm
h ầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truy ện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [23, tr.370] Mục Truy ện ngắn trong cuốn 150 thuật ngữ văn học cũng ghi nhận đây là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi… Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng…” [1,
tr.345]
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất nhận dạng truyện ngắn trước hết ở dung
lượng và tính chất của nó “Hình thức tự sự nhỏ, ngắn” trở thành đặc điểm hàng đầu và cũng là dấu
hiệu đầu tiên để người đọc nhận ra diện mạo của truyện ngắn
Trang 13Cũng chính do dung lượng ngắn là yếu tố thuộc về bản chất nên khác với các hình thức tự sự
cỡ lớn, truyện ngắn có tính cô đọng, hàm súc cao
Với dung lượng câu chữ giới hạn, truyện ngắn giúp người đọc có thể tiếp nhận liền mạch trong một khoảng thời gian ngắn Đây cũng là thế mạnh của những hình thức tự sự cỡ nhỏ, tỏ ra hết
sức phù hợp với xu thế của thời đại bùng nổ thông tin hiện nay
Thông thường, một truyện ngắn có thể kéo dài từ vài ba trang đến mấy chục trang Số chữ trung bình trong một truyện ngắn khoảng từ 10.000 đến 12.000 chữ nhưng có thể nhiều hoặc ít hơn Trong cuốn Truyện ngắn: lí luận, tác gia và tác phẩm, tác giả Lê Huy Bắc có ghi nhận là : “Dung
lượng truyện ngắn kéo dài từ vài chục chữ đến khoảng 20.000 chữ” [3, tr.28]
Bên cạnh đặc điểm “ngắn”, các nhà nghiên cứu còn khu biệt truyện ngắn ở tính chất giới hạn trong việc phản ánh đời sống và ở hiệu quả nghệ thuật mà nó tạo ra khi so sánh với một thể loại gần
gũi là tiểu thuyết
Cùng thuộc về loại hình tự sự hư cấu bằng văn xuôi, truyện ngắn và tiểu thuyết tuy gần gũi nhưng vẫn có những đặc trưng thẩm mĩ khác nhau Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn ít nhiều bị
hạn hẹp trong khuôn khổ của một không gian, thời gian có tính giới hạn “Khác với tiểu thuyết là thể
lo ại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng
t ới việc khắc họa một hiện tượng, phác họa một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm h ồn con người…” [23, tr 370]
So với truyện ngắn, tiểu thuyết thường có cấu trúc phức tạp với nhiều nhân vật trung tâm, nhiều chủ đề, nhiều tuyến cốt truyện đan xen nhau Trong khi đó, mỗi truyện ngắn thường xoay quanh một chủ đề tập trung, có xu hướng ưu tiên cho những cốt truyện có quy mô nhỏ, có tính khám phá, gợi vấn đề, số lượng nhân vật cũng ít hơn
Chỉ là một “lát cắt đời sống”, nhiệm vụ chính của truyện ngắn cũng không phải là trình bày đầy đủ một bức tranh xã hội rộng lớn mà chủ yếu là tập trung thể hiện một khoảnh khắc, một bước ngoặt quan trọng nào đó của đời sống, của đời người
Do vì ngắn mà vẫn không phải là tiểu thuyết rút ngắn nên chất lượng nghệ thuật của truyện
ngắn thường được yêu cầu cao ở sự chọn lọc, cô đúc, tiết kiệm Một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn vẫn có
thể có những đoạn tầm thường, những phần dàn trải nhưng truyện ngắn thì không được phép như
thế Ở đây, mỗi chữ mỗi câu, mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết đều phải đáng giá Vì thế khi sáng tác truyện ngắn, nhà văn cần chọn lựa ngôn từ, tìm kiếm các chi tiết tiêu biểu có giá trị biểu đạt cao
nhằm tạo nên một chiều sâu chưa nói hết cho nhân vật, cho tác phẩm Kết cấu của một truyện ngắn hay đòi hỏi phải có sự chặt chẽ, đảm bảo sự thống nhất cao độ để có thể tạo nên một hiệu quả nghệ thuật duy nhất, từ đó tạo nên một ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc Nói như Nguyễn Minh
Châu : “Ch ỉ cần ít trang văn xuôi… có thể làm nổ tung trong tình cảm và ý nghĩ người đọc những
Trang 14điều rất sâu xa và da diết của con người, khiến người đọc phải nhớ mãi, suy nghĩ mãi, đọc đi đọc
l ại vẫn không thấy chán” [14, tr.313]
Là thể loại có khả năng cập nhật và thích ứng linh hoạt, trong quá trình phát triển của mình, truyện ngắn hiện đại cũng đã dung chứa và bao hàm những đặc điểm của nhiều thể loại khác Nhìn sang tiểu thuyết, kịch, thơ trữ tình, bút kí…, truyện ngắn đã biết chọn cho mình mọi kiểu dung lượng, mọi phong cách khác nhau để làm tròn vai trò của một thể loại nhanh nhạy, đi đầu trong việc đáp ứng những yêu cầu của đời sống xã hội
1.2.1.2 Truy ện ngắn Nguyễn Minh Châu trong sự nghiệp văn học của ông
Như đã nêu, nếu xét về số lượng trang viết, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu nghiêng về thể loại tiểu thuyết hơn là thể loại truyện ngắn Tuy nhiên, không vì thế mà nói rằng truyện ngắn ít có vai trò hơn trong việc làm nên tên tuổi của ông Nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư, trong một bài viết của mình về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, tuy không phủ nhận những thành
tựu của mảng tiểu thuyết nhưng vẫn cho rằng: “…cái mà nhà văn để lại cho đời lại không phải là
nh ững tác phẩm dài hơi ấy, mà là dăm ba truyện ngắn in rải rác trên báo chí, trong các tập truyện
cu ối đời của anh” [58, tr.346] Đi vào tìm hiểu sự nghiệp sáng tác văn chương của Nguyễn Minh
Châu qua hai giai đoạn, nhất là giai đoạn sau 1975, ta thấy truyện ngắn có một vị trí đặc biệt trên nhiều bình diện: lượng, chất, nhịp độ chuyển biến, khả năng thể hiện tư tưởng nghệ thuật đáp ứng tinh th ần “tiên phong” trong hoạt động sáng tác của nhà văn,… Khảo sát hành trình đổi mới trong
sáng tác Nguyễn Minh Châu, chỉ cần nhìn vào quá trình sáng tác ở mả ng truyện ngắn, ta đã có thể
nhận thấy được một cách rõ nét những chuyển biến trong tư tưởng và bút pháp của nhà văn qua hai giai đoạn trước và sau 1975, nếu không nói là nổi bật và dễ nhận thấy hơn là ở mảng tiểu thuyết
Nguyễn Minh Châu mở đầu nghiệp văn của mình bằng một truyện ngắn và kết thúc cũng
bằng một truyện ngắn Truyện ngắn đầu tay “Sau một buổi tập” của Nguyễn Minh Châu được in
trên tạp chí Văn nghệ quân đội vào năm 1960 Tiếp sau đó là một loạt các truyện ngắn khác cũng
được đăng trên tạp chí này Theo tài liệu mà người viết có trong tay, tính đến 1975, ông có tất cả 19 truyện ngắn, gồm 7 truyện in trong tập “Những vùng trời khác nhau”, 11 truyện khác đăng trên tạp
chí Văn nghệ quân đội (Xem Phụ lục, Nguyễn Minh Châu toàn tập, tập 5, Nxb Văn học, 2001) và 1
truyện in trong tập “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” (1983) nhưng thời gian sáng tác là năm
1967 (truyện Mùa hè năm ấy ) Ngoài ra còn phải kể thêm “ Ký sự hai bờ đất” mà tác giả luận văn
cho là có tính chất của một truyện ngắn hơn là một bài kí Nhìn chung, chất lượng của các truyện
ngắn giai đoạn này không đồng đều Những truyện ngắn ở giai đoạn đầu như Sau một buổi tập, Con đường đến trường học, Buổi tập cuối năm…chỉ có tính chất thử nghiệm, chất lượng nghệ thuật chưa
cao Những truyện hay hơn đã được tuyển chọn vào tập Những vùng trời khác nhau, trong số đó có
Trang 15M ảnh trăng cuối rừng được xem là truyện hay nhất và cũng tiêu biểu nhất cho cảm hứng và bút
pháp trữ tình, lãng mạn của nhà văn
Sau 1975, Nguyễn Minh Châu có 23 truyện ngắn, gồm 8 truyện in trong tập “Người đàn bà trên chuy ến tàu tốc hành”, 9 truyện in trong tập “Bến quê”, 3 truyện in trong tập “Cỏ lau”, 3 truyện đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội (Chú chim, Chợ Tết, Sân cỏ Tây Ban Nha – xem Phụ lục , Nguy ễn Minh Châu toàn tập, tập 5)
Điểm qua quá trình sáng tác truyện ngắn của ông, ta có thể nhận thấy số lượng truyện ngắn
viết sau 1975 dù không nhiều hơn bao nhiêu nhưng có chất lượng vượt trội so với các truyện viết
trước 1975 Những truyện được đánh giá cao như Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chi ếc thuyền ngoài xa, Khách ở quê ra, Cỏ lau, Phiên chợ Giát…đều thuộc về giai đoạn
thứ hai này
Căn cứ vào thời gian ra đời và những chuyển đổi trên nhiều phương diện nghệ thuật, có thể
coi B ức tranh là tác phẩm đánh dấu bước ngoặt trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu qua hai giai
đoạn trước và sau 1975 Thiên truyện này được viết từ 1976, ngay sau khi kết thúc chiến tranh nhưng mãi đến 1982 mới được in Dù không phải là tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Minh Châu nhưng truyện ngắn này đã cắm một cột mốc quan trọng trong hành trình sáng tạo văn học của nhà văn, dự báo cho sự ra đời những tác phẩm tiếp theo với một quan niệm, một mô hình, một bút pháp hoàn toàn mới Từ đây, cái nhìn của nhà văn đã thay đổi theo hướng tiến gần đến sự thực hơn, quan tâm nhiều hơn đến hiện thực đời thường với số phận của con người cá nhân
Xuất phát từ mối quan tâm lo lắng của nhà văn về những vấn đề phức tạp nảy sinh trong cuộc
sống mới thời hậu chiến, mỗi truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu thời kì này thường ngầm chứa
một bức thông điệp nào đó về đạo đức, lối sống, về quan niệm nhân sinh Cùng với Bức tranh, một
loạt truyện ngắn ra đời sau đó đã cho người đọc thấy được nhiều ưu tư trăn trở của ông về cuộc sống
và con người, trong đó nổi bật lên vấn đề về sự thức tỉnh của lương tâm để hướng tới cái đẹp và sự hoàn thiện nhân cách Ông lưu ý mọi người về sự độc ác hồn nhiên ngoài ý muốn (Đứa ăn cắp),
nhắc nhở về lối ứng xử của con cái đối với cha mẹ (Mẹ con chị Hằng), cảnh báo về hậu quả của lối
sống gia trưởng (Giao thừa), ông day dứt về hậu quả của sự đánh mất bản thân mình ( Sắm vai),
mong muốn mỗi người hãy luôn tự đối chứng, tự vấn lương tâm (Bức tranh, Hạng)…
Tiếp theo những thể nghiệm bước đầu trong tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, các
tập Bến quê, Cỏ lau ra đời sau đó càng được dư luận đặc biệt chú ý, được xem “như là một hiện
tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới” Lấy số phận con người làm tiêu điểm cho lăng kính nghệ thuật của mình, Nguyễn Minh Châu đi sâu khám phá những tầng vỉa sâu thẳm của thế
giới bên trong con người Trong các truyện ngắn của ông, xu hướng triết lí nhận thức ngày càng rõ nét hơn, con người trong tác phẩm luôn khao khát nhận thức, chiêm nghiệm đời sống, tự đối thoại
Trang 16và tự nhận thức mình trong mối tương quan với tự nhiên và xã hội Đằng sau những câu chuyện đời
thường trong Dấu vết nghề nghiệp, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa, Một lần đối chứng… là những
chiêm nghiệm sâu sắc về lẽ đời, là những suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời sống
Các truyện như Khách ở quê ra, Sống mãi với cây xanh, Cỏ lau, Phiên chợ Giát… còn như
muốn bao quát thêm nhiều vấn đề có tính lịch sử vào trong cái nhỏ bé của một đời người Về nội dung phản ánh, ở các truyện này vấn đề không chỉ là “một lát cắt của đời sống” mà đã có tham vọng
muốn tái hiện diễn tiến của một cuộc đời, một số phận với nhiều mối quan hệ đan xen phức tạp Nhà văn dường như muốn thông qua câu chuyện về một cuộc đời mà gợi lên những vấn đề có tầm vóc dân tộc, thời đại
Muôn mặt đời thường đã đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, đem lại cho tác phẩm của ông sự đóng góp quan trọng trong việc nỗ lực lấp đầy một khoảng trống của văn chương trước đó
bằng cái hằng ngày, bằng những số phận cá nhân trong đời sống cộng đồng Ông quan niệm: “Con người vừa dễ hiểu vừa đầy bí ẩn Chúng ta đào bằng ngòi bút cho đến cùng đáy cái thật chứa đầy bí
ẩn, đầy nỗi niềm nguồn cơn của con người đất nước mình thì sẽ gặp con người nhân loại, sẽ gặp cái nhân b ản của nhân loại, con người Việt Nam sẽ giao hòa với nhân loại” [14,tr.144] Việc tìm tòi,
khám phá, đào sâu vào bản chất con người cũng là con đường để tác phẩm của ông vươn đến tiếp
cận với những giá trị vĩnh hằng của cuộc đời
Song song với việc mở rộng diện phản ánh dưới một góc nhìn mới, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 cũng có nhiều thay đổi về bút pháp thể hiện Quan niệm nghệ thuật về con người thay đổi tất yếu kéo theo nhiều sự thay đổi về nghệ thuật biểu đạt: từ nhân vật đến cốt truyện, tình huống, giọng điệu, ngôn ngữ … Một điều đáng ghi nhận nữa là về mặt dung lượng, một số truyện ngắn sau 1975 có xu hướng mở rộng số trang nhiều hơn thông thường Có khá nhiều truyện dài trên 60 trang (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Sống mãi với cây xanh, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam, Phiên chợ Giát ), đặc biệt có truyện dài đến cả 100 trang như Người đàn bà trên chuy ến tàu tốc hành Có lẽ vì vậy mà nhiều người đã gọi những truyện này là truyện vừa chứ
không phải truyện ngắn
Để lí giải cho việc Nguyễn Minh Châu chuyên tâm về thể loại truyện ngắn trong giai đoạn
thập niên 80, ta cần phải nhắc đến ý kiến của ông trong cuộc trao đổi do tuần báo Văn nghệ tổ chức:
“Cái đời sống của ngày hôm nay nó bắt tôi phải quan tâm…, tôi muốn dùng ngòi bút tham gia trợ
l ực vào cuộc giao tranh giữa cái tốt và cái xấu bên trong mỗi người…” Và theo như lời ông nói:
“M ỗi truyện ngắn tôi nêu ra một trường hợp cụ thể và xen vào mạch kể chuyện, tôi bàn bạc về quan
ni ệm sống hoặc báo động một điều gì” [58, tr.294]
Như vậy, lí do chính nằm ở tính kịp thời và khả năng tác động mạnh mẽ của truyện ngắn trong việc thể hiện những vấn đề nóng hổi của cuộc sống hằng ngày Mặt khác, tính hàm súc và khả
Trang 17năng khái quát ở chiều sâu của truyện ngắn giúp cho nhà văn vẫn có thể biểu hiện được những vấn
đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn qua những câu chuyện đời thường
Phát huy thế mạnh của thể loại, truyện ngắn chính là nơi chuyên chở những tư tưởng nghệ thuật mới của Nguyễn Minh Châu Sự đầu tư của ông cho thể loại truyện ngắn đã thu được nhiều thành quả tốt đẹp, đồng thời góp phần tạo nên một diện mạo mới cho văn học nước nhà
1.2.2 Hành trình đổi mới của truyện ngắn N guyễn Minh Châu trong hành trình đổi
m ới văn xuôi Việt Nam (từ văn học thời chiến sang văn học thời hậu chiến và thời hội nhập)
1.2.2.1 Văn xuôi Việt Nam – từ văn học thời chiến sang văn học thời hậu chiến (sau 1975)
Năm 1975 là một mốc son lịch sử đánh dấu một thời kì mới của đất nước Chiến tranh đã đi qua và đất nước bước vào thời kì xây dựng trong hòa bình Văn học cũng như nhiều lĩnh vực đời
sống xã hội khác đứng trước yêu cầu cần phải có sự thay đổi để giải quyết những vấn đề mới nảy sinh từ cuộc sống sau chiến tranh
Quá trình phát triển của văn học Việt Nam sau 1975 có thể chia ra làm hai chặng đường tiếp
nối nhau: từ 1975 đến 1985 là chặng đường có tính chất chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh sang văn học thời hậu chiến; từ 1986 trở đi, văn học chính thức bước vào giai đoạn đổi mới
một cách toàn diện
Những năm đầu sau 1975, văn học về cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật và
những cảm hứng chủ đạo trong thời kì chiến tranh trước đó Tuy nhiên, trong khoảng thời gian giao
thời này, ở một số cây bút nhạy cảm với những vấn đề của đời sống, ý thức muốn đổi mới đã bộc lộ qua việc thay đổi cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời sống
So với thơ ca, văn xuôi có nhiều khởi sắc hơn Một loạt các sáng tác của Nguyễn Khải (Gặp
g ỡ cuối năm, Thời gian của người), Nguyễn Mạnh Tuấn (Đứng trước biển, Cù lao Tràm), Ma Văn Kháng (Mùa lá r ụng trong vườn), Nguyễn Minh Châu (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê)… ra đời và được bạn đọc hoan nghênh đón nhận Các sáng tác nói trên đã khởi ra một hướng
tiếp cận mới, chú ý nhiều đến mảng hiện thực đời thường, đặc biệt là các vấn đề đạo đức – thế sự
Từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), văn học thật sự bước vào thời kì đổi mới Đường
lối đổi mới của Đảng đã tạo động lực lớn lao cho sự chuyển biến mạnh mẽ của đời sống văn học nghệ thuật nước nhà, mở ra một thời kỳ mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy
và nhìn thẳng vào sự thật Không khí dân chủ được đề cao hơn
Văn xuôi tiếp tục khởi sắc với nhiều tác phẩm có chất lượng nghệ thuật cao như Thời xa
v ắng của Lê Lựu, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh, Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp…Tiếp tục hướng đi đã được khai mở ở chặng trước, nhiều cây bút đã đi vào “thể hiện mọi khía cạnh của đời
Trang 18s ống cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc sống đời thường phồn tạp mà vĩnh hằng”
[45, tr.12] Hiện thực đời sống được khám phá trên nhiều phương diện, nhất là đời sống nội tâm con người với những trăn trở, khát vọng thầm kín mà trước đây văn học thời chiến tranh chưa có điều
kiện nói đến Tinh thần nhân văn, ý thức cá nhân đã trở thành cảm hứng sáng tạo cho các văn nghệ
1.2.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu: từ loại hình truyện ngắn sử thi hóa sang loại
hình truyện ngắn tiểu thuyết hóa có tính tổng hợp cao
Cho đến nay vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về phân loại truyện ngắn Dựa vào tiêu chí phân loại là tư duy nghệ thuật, có thể chia truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước và sau 1975 theo các loại hình truyện ngắn sử thi hóa và loại hình truyện ngắn tiểu thuyết hóa
Khảo sát sơ bộ về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong quá trình sáng tác, có thể thấy trong giai đoạn đầu, truyện ngắn của ông được sáng tác theo hướng sử thi hóa, chuyển sang giai đoạn sau
1975 là những truyện ngắn được sáng tác theo hướng tiểu thuyết hóa
Cũng như nhiều sáng tác của giai đoạn 1945 – 1975, một giai đoạn mà văn học “có đặc điểm
g ần gũi và mang “tính tương đồng” về chất liệu và nội dung phản ánh hiện thực” [19, tr.314],
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu mang đậm tính chất sử thi trên nhiều phương diện
Nói đến truyện ngắn sử thi hóa không phải là muốn đề cập đến quy mô sử thi của tác phẩm
mà chủ yếu muốn nói đến tính chất sử thi trong tư duy nghệ thuật, trong cách nhìn nhận con người
và đời sống hiện thực Biểu hiện của truyện ngắn sử thi hóa là ở sự chiếm lĩnh và bao quát những
vấn đề hiện thực lớn lao của dân tộc, của đất nước; giọng điệu chủ yếu trong tác phẩm là ngợi ca,
khẳng định; nhân vật được khai thác chủ yếu ở những nét đẹp tiêu biểu cho phẩm chất và ý chí của
cộng đồng; trong truyện luôn tồn tại một “khoảng cách sử thi” [2, tr.35,38] giữa nhân vật và chủ thể
trần thuật…
Hoàn cảnh đất nước ta trong giai đoạn 1945- 1975 là một hoàn cảnh đặc biệt Đối mặt với hai
cuộc chiến tranh ác liệt chống Pháp và chống Mĩ, vấn đề được quan tâm hàng đầu là sự sống còn
của cả dân tộc Yêu cầu đặt ra cho tất cả mọi người lúc này là phải lấy trách nhiệm công dân, nghĩa
Trang 19vụ đối với đất nước làm phương châm hành động, là thước đo cao nhất để định giá mọi giá trị Văn
học giai đoạn này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lấy việc phục vụ chính trị, phục vụ cách mạng làm nhiệm vụ hàng đầu Ý thức công dân cùng với nhiệt tình của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng đã thúc giục các nhà văn hòa mình vào cuộc sống chiến đấu lao động của nhân dân, kịp thời
phản ánh và biểu dương những việc làm tốt, những tấm gương anh hùng Những vấn đề khác trong
cuộc sống của con người tạm thời được gạt sang một bên, hoặc có được đề cập đến thì cũng chỉ là
để thêm chút “gia vị” làm cho hình ảnh “con người mới” thêm sinh động Những vấn đề của cuộc
sống đời thường được nâng lên tầm sử thi, được soi chiếu theo góc nhìn của các quan hệ chính trị
Xét truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giai đoạn trước 1975, ta thấy nhà văn đề cập chủ yếu đến hai mảng hiện thực lớn là cuộc sống chiến đấu chống giặc ngoại xâm, công cuộc xây dựng chế
độ mới và những khoảnh khắc đời thường của con người trong bối cảnh của cuộc sống thời chiến Không khí chiến trường không chỉ có ở nơi tiền tuyến mà còn hiện diện ở cả hậu phương, trong thao trường huấn luyện và cả trong những giây phút riêng tư của cuộc sống gia đình Có thể nói đây cũng
là những không gian mang màu sắc sử thi của thời đại
Bám sát hiện thực đời sống chiến tranh, Nguyễn Minh Châu kịp thời có nhiều truyện ngắn
viết về đủ loại quân binh chủng, từ những người lính phòng không (Những vùng trời khác nhau, Câu chuy ện trên trận địa…), những chiến sĩ hải quân (Lá thư vui), bộ đội giao thông, thanh niên xung phong (M ảnh trăng cuối rừng)… Bên cạnh những truyện ngắn viết về cuộc chiến chống Mĩ
cứu nước, nhà văn cũng còn mở rộng sang những mảng đề tài khác như câu chuyện về cuộc nổi dậy
của những người dân quê năm đói Ất Dậu (Những hạt thóc lép), một người phụ nữ với cuộc đời mới
ở một nông trường khai hoang (Đất rừng)… Dù viết về đề tài gì thì chung quy lại vẫn không nằm
ngoài những vấn đề được quan tâm hàng đầu của cả đất nước lúc bấy giờ
Qua những câu chuyện dù bình thường hay bất ngờ, đầy kịch tính, cái đích cuối cùng vẫn là
biểu dương vẻ đẹp của con người sống hết mình cho lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH Các nhân
vật như Nguyệt, Lãm (Mảnh trăng cuối rừng), Sơn, Lê (Những vùng trời khác nhau), Ngạn (Nguồn
su ối),…được xây dựng như là những biểu tượng cho vẻ đẹp của con người thời đại Họ đều là
những con người giàu lòng yêu nước, yêu lí tưởng cách mạng Cuộc đời riêng của họ hòa vào cuộc đời chung của dân tộc Những suy nghĩ riêng tư của họ nếu có thì cũng hướng về cái chung, vì lợi ích của tập thể, của số đông Những câu chuyện của họ cũng là của nhiều người, bên cạnh họ luôn
có sự hiện diện của tổ chức, của đồng đội, của nhân dân sẵn sàng ủng hộ, giúp đỡ Tính cách của nhân vật vì vậy có tính nhất quán, được khai thác chủ yếu ở các khía cạnh tích cực Nhà văn dùng
những lời lẽ hết sức trân trọng để ca ngợi vẻ đẹp của họ Giọng điệu chính trong tác phẩm là giọng
ngợi ca, tự hào, khẳng định
Trang 20Trong những truyện ngắn sử thi này, chiều hướng vận động của cốt truyện nhìn chung đều phát triển theo mô hình đơn nhất Số phận của nhân vật thường trải qua những biến cố bất lợi ban đầu nhưng cuối cùng đều kết thúc trong thắng lợi hoặc tạo ra một niềm tin lạc quan về sự chiến
thắng Chính điều này cũng góp phần tạo nên âm hưởng lãng mạn hào hùng cho hầu hết các tác
phẩm
Một điều đáng lưu ý là bên cạnh những truyện ngắn đậm chất sử thi được đánh giá cao như
M ảnh trăng cuối rừng, ở một số truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giai đoạn này còn xuất hiện màu
sắc đời tư rõ nét Ở các truyện như Chuyện đại đội, Lá thư vui, Đất rừng, chất đời tư thể hiện qua
những chi tiết gần gũi ấm áp tình người, những cảm xúc cùng sự quan tâm mà con người dành cho nhau Đấy là những chi tiết xoay quanh sự ra đời của chú nghé con trong doanh trại của một đại đội, chi tiết về những giây phút hồi hộp đầy thương yêu của cô trò lớp mẫu giáo khi nhận được nhhững
bức thư từ tiền tuyến, chi tiết về cảnh ngộ éo le trước khi lên công trường khai hoang của cô Ngàn trong Đất rừng Chất đời tư trong những tác phẩm này một mặt có tác dụng điểm xuyết để câu
chuyện thêm sinh động, mặt khác làm cho chất sử thi trong truyện mang một nét mới không còn
giống với đặc điểm sử thi truyền thống Riêng trong truyện Đất quê ta, cách nhìn cùng vấn đề mà
tác giả đặt ra hoàn toàn khác các tác phẩm vừa nêu Qua câu chuyện về cô diễn viên điện ảnh tên Hương mải mê chạy theo những ảo ảnh phù hoa để rồi gia đình tan vỡ, tác giả muốn đặt ra vấn đề
về sự tha hóa trong nhân cách con người, sự lựa chọn của mỗi người để đem lại hạnh phúc cho mình
và người thân Dĩ nhiên truyện ngắn này trở thành tiếng đàn lạc điệu trong dàn đồng ca sử thi thời
ấy, nhưng đã hé lộ một hướng đi sẽ được nhà văn triệt để khai thác sau này
Khác với tư duy sử thi, tư duy tiểu thuyết “là một cách nhìn, cách tiếp cận với thế giới và con người hết sức tỉnh táo, phi huyễn hoặc, phi thành kính, xóa bỏ mọi khoảng cách, đó là sự cảm thụ
s ống động tính phức tạp vô tận, tính mâu thuẫn nội tại và sự biến động liên tục của sinh tồn, đó là
s ự phát hiện ra con người nhiều chiều, con người không đồng nhất với chính mình, không thể hóa thân đến cùng vào cái thân xác xã hội – lịch sử hiện hữu của mình, với những mối quan hệ biện
ch ứng chằng chịt giữa tính cách và hoàn cảnh của nó” [58, tr.348]
Trong giai đoạn sau 1975, đặc biệt từ những năm 80, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu chuyển dần sang xu hướng tiểu thuyết hóa mà biểu hiện chủ yếu là sự quan tâm đến những vấn đề
của đời thường, của số phận con người trong những mối quan hệ đa dạng, phức hợp của đời sống;
cảm hứng ngợi ca, khẳng định được thay bằng cảm hứng suy tư, chiêm nghiệm; nhân vật được khám phá ở chiều sâu tâm lí cùng với những mâu thuẫn giằng xé phức tạp; khoảng cách trần thuật
giữa nhân vật và chủ thể trần thuật dần thu hẹp; tính thống nhất sử thi đã bị phá vỡ, thay vào đó là
sự đa giọng điệu với nhiều tiếng nói khác nhau…
Trang 21Lấy thể tài đời tư, đời thường làm trung tâm cho cảm quan nghệ thuật, nhà văn hướng cái nhìn của mình vào hiện thực bề sâu trong số phận con người Những vấn đề lớn lao của cuộc sống sau chiến tranh được xu hướng tiểu thuyết hóa kéo xuống mặt bằng đời thường Trong truyện ngắn
của Nguyễn Minh Châu sau 1975, đề tài chiến tranh vẫn tiếp tục được khai thác nhưng bắt đầu được nhìn với những góc độ khác trước Trong Bên đường chiến tranh, dù vẫn tiếp tục sử dụng bút pháp
trữ tình quen thuộc trước đó nhưng câu chuyện tình của An và Hạnh đã mang một sắc thái khác Chiến tranh đã để lại một dấu ấn buồn lên cuộc tình đẹp của họ trong sự chờ đợi mỏi mòn đến tận
cuối đời của nhân vật Đến Cơn giông, Cỏ lau… bộ mặt chiến tranh còn hiện ra ở cả mặt trái khốc
liệt của nó với những mất mát, đau thương không gì bù đắp nổi, con người hiện ra không chỉ với lòng dũng cảm cao thượng mà còn ở những ích kỉ nhỏ nhen, cả ở sự phản bội
Những vấn đề đời tư tạm gác lại trong giai đoạn trước, bây giờ lại được đặt ra cụ thể với sự thôi thúc quyết liệt hơn Đó là các vấn đề hạnh phúc cá nhân, những cô đơn, nỗi buồn của con người, những nguyên tắc ứng xử giữa con người trong mối quan hệ phức tạp của đời thường…Nhà
văn quan tâm đến mọi chi tiết nhỏ nhặt trong đời sống thường ngày như trong các truyện Mẹ con
ch ị Hằng, Hương và Phai, Lũ trẻ ở dãy K…Nhà văn nhập thân vào nhân vật, nói lên tiếng nói bên
trong của nhân vật với nhiều suy tư ngẫm ngợi về bản thân và cuộc đời Nhân vật không còn là
những mô hình trùng lặp mà trở nên sinh động hơn trong tính toàn vẹn chỉnh thể của nó và cũng chính vì vậy mà không hề đơn giản dễ hiểu Các nhân vật như Quỳ (Người đàn bà trên chuyến tàu
t ốc hành), lão Khúng (Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát) sẽ còn tiếp tục làm nhiều thế hệ người đọc
phải tranh luận mà không dễ đi đến những thống nhất Trong cái nhìn không còn bị ngăn cách bởi
những quan niệm, định kiến cũ kĩ, nhà văn nhìn thấy trong mỗi con người là một thế giới riêng với
biết bao điều vừa giản dị vừa phức tạp, vừa tầm thường vừa hết sức cao thượng, đẹp đẽ
Bên cạnh sự chuyển đổi từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 còn có xu hướng tổng hợp vào bản thân mình đặc điểm của các thể loại khác Có thể
gọi đây là xu hướng phức thể hóa, tức là ngoài những yếu tố thuộc về bản chất của thể loại, truyện
ngắn còn pha trộn thêm các yếu tố của tiểu thuyết, trữ tình, kịch…
Rõ nét nhất là sự pha trộn với chất tiểu thuyết mà biểu hiện trước hết là sự nới rộng về kích thước và phạm vi phản ánh Phạm vi cuộc sống được phản ánh không còn bó hẹp trong một không gian, thời gian giới hạn Dung lượng truyện nở rộng cho phép tái hiện không chỉ là một khoảnh khắc
của đời sống mà còn là câu chuyện về một đời người, một thế hệ, một dòng họ…
Lấy Phiên chợ Giát làm ví dụ Đọc truyện này ta dễ dàng nhận thấy nó không đơn giản chỉ là
một “lát cắt” của cuộc đời, mà là một cuộc đời thật sự, vắt mình qua nhiều giai đoạn của lịch sử đất nước Nhiều vấn đề có ý nghĩa tầm cỡ đã được gợi lên từ câu chuyện của một gia đình nông dân, không chỉ là chuyện một đời, một người mà còn là chuyện của một thời, một đất nước Tuy nhiên,
Trang 22tác phẩm này không là tiểu thuyết mà vẫn là một truyện ngắn nhờ vào cách tổ chức có tính dụng ý
của tác giả Nội dung câu chuyện có thể mở ra nhiều chiều kích đa dạng nhưng vẫn được khéo léo khuôn vào trong một tình huống cụ thể – cái tình huống của hành trình giải thoát cho con Khoang đen chợt nảy lên trong suy nghĩ bất chợt của lão Khúng có được từ những giấc mơ đầy ám ảnh Và khi gấp sách lại, người đọc vẫn không thể nào dứt bỏ khỏi tâm trí mình hình ảnh cái giây phút trớ trêu khi người chủ và con bò nhìn nhau ảo não, phiền muộn Chính tình huống truyện và cái ấn tượng mạnh mẽ mà nó đem lại đã đảm bảo cái chất “ngắn” cho thiên truyện Nói cách khác, truyện mang trong mình cái tham vọng của tiểu thuyết muốn khái quát cuộc đời ở một tầm vóc lớn lao hơn nhưng về cấu trúc vẫn có tính chặt chẽ của một truyện ngắn
Tầm khái quát được nâng lên một mặt đòi hỏi truyện ngắn phải tăng cường độ nén để có thể
ôm chứa được nhiều đề tài, chủ đề, đặt ra nhiều vấn đề về các phạm trù đạo đức, lí tưởng, thân phận con người…, mặt khác phải có sự biến hóa về khuôn khổ Chính vì thế mà trong nhiều truyện ngắn
của Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau này có sự tăng vọt về số trang
Khảo sát sơ bộ truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (dựa vào bản in trong Nguyễn Minh Châu toàn t ập), người viết nhận thấy ở giai đoạn trước 1975, truyện có số trang ít nhất là 8 trang (Con
đường đến trường học), truyện có số trang nhiều nhất là 30 trang (Đất rừng), đa số còn lại dao động
từ khoảng 20 trang đến dưới 30 trang Sau 1975, tình hình đổi khác rất nhiều Trong số 23 truyện,
có đến 11 truyện có độ dài từ 30 trang trở lên Trong đó có một số truyện có tầm vóc của một truyện
vừa, nếu căn cứ vào độ dài, gồm Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (103 trang), Khách ở quê
ra ( 49 trang), S ống mãi với cây xanh ( 83 trang), Cỏ lau ( 90 trang), Mùa trái cóc ở miền Nam (74 trang), Phiên ch ợ Giát ( 68 trang)
Sự khảo sát trên chỉ có tính tương đối ( dựa trên bản in trong Nguyễn Minh Châu toàn tập,
Nxb Văn học, 2001, khổ 14 x 20,5 cm, in cỡ chữ lớn), mục đích chính là để thấy được sự thay đổi
về độ dài truyện ngắn của ông qua hai giai đoạn Nếu dựa vào bản in trong Tuyển tập truyện ngắn Nguy ễn Minh Châu, Nxb Văn học, 2006, khổ 14,5 x 20,5, gồm 25 truyện, in cỡ chữ nhỏ, thì số
lượng trang có rút ngắn so với trên Ví dụ: Mảnh trăng cuối rừng (trong toàn tập) dài 25 trang thì ở
tuyển tập còn 18 trang, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành ở tuyển tập chỉ còn 69 trang, Cỏ lau
Trang 23sâu vào thế giới nội tâm, xen lẫn vào mạch truyện những đoạn bình luận ngoại đề giúp tạo nên chất
trữ tình triết luận cho tác phẩm
Như vậy, trong sự tương tác với các thể loại khác, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ngày càng có xu hướng hiện đại hơn so với trước Chất hiện đại trong truyện N guyễn Minh Châu sau 1975 còn là ở chỗ nhà văn không cố khuôn vào một kiểu loại cụ thể T ùy vấn đề mà có cách tổ
chức khác nhau, không cứ ngắn hay dài, chặt chẽ hay lỏng lẻo, quan trọng là hình thức đó phải chuyển tải được những nghiền ngẫm của nhà văn, tùy thuộc vào độ lớn của cái điều ông muốn nói
ra thông qua những câu chuyện hết sức gần gũi
Nguyễn Minh Châu thuộc vào số những nhà văn mà trong hành trình sáng tác của mình, gắn
với sự đổi thay của đất nước qua từng giai đoạn, đều có những tác phẩm xuất sắc nói lên được
những vấn đề của thời cuộc Sự chuyển đổi từ loại hình truyện ngắn sử thi hóa sang loại hình truyện
ngắn tiểu thuyết hóa, phức thể hóa trong sự nghiệp sáng tác của ông dường như là một sự vận động
tất yếu để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Vấn đề đáng nói là ở Nguyễn Minh Châu, sự vận động chuyển đổi đó diễn ra quyết liệt và đúng vào thời điểm mà văn học rất cần một tiếng nói tiên phong
để cất lên giọng điệu đổi mới, thay đổi cái giọng đồng ca mà một thời rất cần thiết nhưng nay đã đến lúc không thể giữ nguyên như cũ
Trang 24Chương 2:
NH ỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VÀ N ỘI DUNG TỰ SỰ TRONG TRUY ỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU (sau 1975)
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù hết sức quan trọng trong sáng tác của
bất kì nhà văn nào “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên t ắc, phương tiện, biện pháp, hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật trong đó”
[78, tr.59] Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người là cốt lõi tư tưởng, là cách nhìn nhận, thể
hiện con người bằng nghệ thuật của tác giả Tìm hiểu về sự thay đổi trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trước và sau 1975 không thể không xét đến những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật
về con người của ông Sự thay đổi về quan niệm nghệ thuật tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về nội dung tự sự và bút pháp thể hiện trong quá trình sáng tạo tác phẩm văn học của nhà văn
2.1 Bước chuyển về quan niệm nghệ thuật
Quá trình nhà v ăn khước từ văn chương “minh họa” để đến với văn chương thực sự là cây đời; từ hứng thú với con người sử thi đơn phiến đến hứng thú với con người thường nhật phức tạp,
bí ẩn chưa biết hết,…
2.1.1 Sáng tạo nghệ thuật là một thứ lao động hết sức nhọc nhằn, vất vả và luôn phải tự làm
mới mình để tồn tại và phát triển Trong hành trình sáng tạo ấy, người nghệ sĩ phải dám chấp nhận
dứt bỏ những giá trị cũ khi chúng đã lỗi thời và không còn nhiều ý nghĩa Đây là điều hết sức khó
khăn nhưng cũng hết sức cần thiết
Vượt lên chính mình đã khó, vượt lên cả một hệ thống còn khó khăn gấp bội Trong bối cảnh
của những năm sau 1975, khi văn học có dấu hiệu “chững lại và không ít người viết lâm vào tình
tr ạng bối rối” [45, tr.10], những trăn trở, tìm tòi đổi mới của Nguyễn Minh Châu thực sự là những
nỗ lực đáng trân trọng Lời kêu gọi “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”
được coi như là một tuyên ngôn nghệ thuật của ông, có thể có tính cực đoan nhưng trên hết đó là sự khát khao thay đổi hết sức mạnh dạn và quyết liệt
Trước đây, trong những năm chiến tranh, với ý thức về trách nhiệm của một nhà văn – chiến
sĩ, Nguyễn Minh Châu từng tâm niệm: “Lẽ nào có thể làm ngơ được ? Lẽ nào chúng ta có thể viết
nh ững câu văn trái với điều nhiều người chung quanh hiện đang phải lo nghĩ để chiến thắng giặc ?
Trong cu ộc kháng chiến chống Mĩ, mỗi người viết văn đang tự chứng tỏ tư cách ngòi bút của mình trên m ặt trận cứu nước Chưa lúc nào bằng lúc này, thái độ nhà văn trước vận mệnh chung
c ủa dân tộc lại đặt ra cấp bách và nghiêm khắc đến như thế” [14, tr.28] Trong nhận thức và tìn h
cảm của nhà văn, viết để góp phần chống giặc cứu nước là một lẽ sống hết sức tự nhiên Từ tâm
Trang 25niệm ấy đã xuất hiện những trang viết chứa đầy nhiệt huyết của thời đại (Cửa sông, Dấu chân người lính, Nh ững vùng trời khác nhau…), góp phần không nhỏ vào thàn h tựu chung của nền văn học
cách mạng
Được định hướng bởi những quan điểm chỉ đạo về văn nghệ của Đảng, nội dung tác phẩm
của Nguyễn Minh Châu, trong đó có truyện ngắn, luôn bám sát những vấn đề chính trị - xã hội của đất nước Nhà văn xây dựng các nhân vật chủ yếu nhằm khái quát vẻ đẹp của con người thời đại,
biểu dương lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam Những Nguyệt, Lãm (Mảnh trăng cuối rừng), Sơn, Lê (Những vùng trời khác nhau)… là những hình tượng đẹp có tính chất điển
hình mà nhà văn đã đóng góp cho văn học thời chống Mĩ Có thể dễ dàng nhận ra ở trong họ những
phẩm chất tiêu biểu nhất cho vẻ đẹp của con người thời đại bấy giờ như giàu lòng yêu nước, say mê
lí tưởng, gan dạ dũng cảm, sẵn sàng hi sinh tình cảm cá nhân, lợi ích riêng tư cho lợi ích của cộng đồng, dân tộc
Quán triệt định đề văn học phải phản ánh đời sống, phục vụ chính trị, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trước 1975, dù muốn hay không, ít nhiều cũng là những bức tranh minh họa cho những
chủ trương, đường lối văn nghệ của Đảng Mỗi nhân vật của ông đều có đời sống riêng, đều được
khắc họa trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau, tuy nhiên, sự phong phú ấy không nhằm nói lên
sự đa dạng phức tạp trong tính cách, số phận con người mà chủ yếu là muốn cho thấy bộ mặt nhiều
vẻ của dân tộc, nhân dân trong sự đồng lòng quyết tâm thực hiện những nhiệm vụ cao cả chống giặc ngoại xâm, giành lại độc lập tự do cho đất nước Chiến tranh là nền cảnh chủ yếu của đời sống cộng đồng, có vai trò như một không gian khung, một sân khấu để nhân vật hoạt động Qua nhân vật, nhà văn thể hiện sự quan sát, đánh giá, bày tỏ tình cảm thái độ về cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc Đời sống cá nhân của con người chưa thực sự trở thành đối tượng chủ yếu để nhà văn phản ánh mà
chỉ là một yếu tố trong bức tranh hiện thực lịch sử xã hội của tác phẩm
Có lẽ lúc bấy giờ, trong ông chưa xuất hiện khái niệm “văn nghệ minh họa”, tuy nhiên cũng ngay trong những tháng ngày mơ mộng và hào hùng ấy, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những
bất cập: “Hình như cuộc chiến đấu anh hùng sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca đôi khi tráng lên m ột lớp men “trữ tình”hơi dày, cho nên ngắm nó thấy mỏng mảnh, bé bỏng và óng chuốt quá khi ến người ta phải ngờ vực” [14, tr.33]
Những manh nha về một bước chuyển trong nhận thức nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, như vậy đã có từ sớm nhưng phải đến những năm sau 1975, xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống, đặc
biệt là trong không khí đổi mới từ Đại hội VI thì mới được bộc lộ một cách triệt để
Khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống dần trở lại với nhịp sống bình thường của nó thì cũng là lúc có nhiều vấn đề mới nảy sinh Con người không chỉ biết mỗi việc là cầm súng đánh giặc mà còn
phải biết làm kinh tế, phải biết tổ chức lại cuộc sống của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh của
Trang 26thời bình Cuộc sống thay đổi làm cho các nhu cầu của con người cũng thay đổi, những vấn đề cơm
áo, gạo tiền, địa vị xã hội… trở thành những mối lo âu thường trực trong suy nghĩ của nhiều người Đối mặt với hiện thực đời thường, ý thức cá nhân trong mỗi con người được thức tỉnh, đòi hỏi phải được đáp ứng, phải được quan tâm Quan hệ đời sống cũng trở nên phức tạp hơn, các ranh giới, khuôn mẫu trong thời chiến nay đã bị xóa nhòa hoặc biến dạng Bên cạnh cái tốt, cái thiện, bắt đầu
xuất hiện những cái xấu, cái ác nấp trong những vỏ bọc không dễ phát hiện Lối sống bao cấp trong nhiều năm dài làm cho con người quen với những nếp nghĩ đơn giản, khiến cho họ không khỏi có
những bỡ ngỡ, va vấp khi đối diện với những thực tế hoàn toàn khác trước Trong hoàn cảnh ấy, văn
học cũng cần phải có sự điều chỉnh để nhìn lại mình và tìm tòi một hướng đi mới, một cách tiếp cận
mới đối với hiện thực đời sống và con người
Với mong muốn làm cho tác phẩm phải tiếp cận được với chân lí đời sống, Nguyễn Minh Châu tâm niệm: “Cái ngày hôm nay với những khó khăn không cho phép chúng tôi, những người đã
n ếm trải chiến tranh, đã biết như thế nào là cái nghiêm khắc của chiến tranh, cầm bút một cách điệu đàng, ca ngợi và vuốt ve đời sống một cách dễ dãi” [14, tr.110]
Giống như Nam Cao, Nguyễn Minh Châu quan niệm nghệ thuật phải được bắt rễ từ cuộc
sống hiện thực, người nghệ sĩ không được dễ dãi với những cách nhìn đơn giản một chiều mà “phải đào bằng ngòi bút cho đến cùng đáy cái thật chứa đầy bí ẩn” để có thể hiểu và cảm thông với số
phận vất vả của người lao động Cái nhìn đa chiều giúp cho nhà văn có điều kiện đào sâu phát hiện
những mạch ngầm bí ẩn trong thế giới tinh thần của con người, những khoảng tối khuất lấp, “những
gì đang được giấu kín và cũng đang giao tranh với nhau ở bên trong: những lý tưởng và dục vọng, trí tu ệ và bản năng, thiện và ác, những phần con người ý thức được và những phần vô thức của con người” [14, tr.345], tức “đào sâu vào hiện thực ở cái tầng đáy của đời sống”[14, tr.337]
Hiện thực trong tác phẩm không còn chỉ là hiện thực cách mạng với các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà còn là hiện thực của đời sống thường ngày với các mối quan hệ thế sự phức
tạp, đan xen Dịch chuyển phạm vi nhận thức và phản ánh hướng vào hiện thực của đời sống hằng ngày, nhà văn chú ý nhiều đến đời sống cá nhân của mỗi người Con người vẫn được đặt trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử xã hội, tuy nhiên hoàn cảnh lịch sử xã hội chỉ là cái nền để nhà văn khai thác những khía cạnh của số phận cá nhân trong những trăn trở đời thường, trong quan hệ với
gia đình, những người xung quanh, với chính bản thân mình Trong Cỏ lau, Phiên chợ Giát…, số
phận con người cũng được đặt trong những bối cảnh hiện thực rộng lớn với nhiều biến cố, nhiều sự
kiện lịch sử phức tạp chi phối mạnh mẽ đến cuộc sống của mỗi cá nhân Tuy nhiên, điều đáng nói là
ở đây, nhà văn không có chủ ý nhằm vào việc tái hiện bộ mặt lịch sử Điều nhà văn quan tâm thể
hiện là những số phận cá nhân với những biến động, những cảm xúc bên trong thế giới tinh thần
con người
Trang 27Ở những truyện cuối đời như Cỏ lau, Sống mãi với cây xanh, Phiên chợ Giát, từ số phận cá
nhân, tác giả mở rộng suy ngẫm, chiêm nghiệm về những vấn đề mang tính thời cuộc, mang ý nghĩa nhân sinh đối với đời người…Như lối dự cảm của người nông dân, đôi khi mơ hồ nhưng lại chính xác, Nguyễn Minh Châu đặt ra nhiều vần đề cho mai sau: vấn đề môi trường, cách ứng xử với thiên nhiên, việc quy hoạch và chính sách đối với nông thôn và nông dân… Những vấn đề ấy cho đến nay
vẫn còn ý nghĩa thời sự nóng hổi, vẫn là những vấn đề hết sức bức xúc mà xã hội cần quan tâm và
giải quyết
Từ lối văn chương minh họa của một thời để đến được với những tác phẩm tràn đầy nhựa
sống của cây đời, từ lối viết dễ dãi chủ yếu ngợi ca một chiều đến việc day dứt suy ngẫm về số phận con người, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã đi được một chặng đường dài, ngày càng cận nhân tình hơn
2.1.2 Trước 1975, trong bối cảnh đất nước đang diễn ra những sự kiện lịch sử trọng đại,
cảm hứng sử thi anh hùng là cảm hứng chủ đạo chi phối cách nắm bắt và thể hiện vấn đề của Nguyễn Minh Châu Con người trong truyện ngắn giai đoạn này được soi chiếu và nhận diện chủ
yếu trên những bình diện xã hội, trong mối quan hệ với giai cấp, với cộng đồng, với dân tộc, được đặt vào trong những hoàn cảnh điển hình, là những hoàn cảnh của các biến cố lịch sử, những xung đột xã hội mà trung tâm là cuộc chiến tranh hào hùng của dân tộc chống đế quốc Mĩ xâm lược Nhân vật mang trong mình những phẩm chất cao đẹp, ý chí và sức mạnh phi thường, kết tinh những
vẻ đẹp tinh thần và lí tưởng cao cả của một dân tộc anh hùng
Quan niệm về con người sử thi chi phối cách cảm nhận về con người trong mối quan hệ với
hiện thực đời sống Cũng giống như trong nhiều tác phẩm của các nhà văn khác, con người trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975 được cảm nhận không bao giờ tách rời với các sự kiện chính trị, các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của đất nước Ta bắt gặp hình ảnh những sĩ quan, những
người lính ngày đêm ra sức tập luyện để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sắp tới trong Sau một buổi
t ập, Con đường đến trường học, Trên vùng đất sỏi, hình ảnh những người lính dũng cảm đang đối
mặt với kẻ thù trong cuộc chiến bảo vệ mảnh đất quê hương trong Những vùng trời khác nhau, Câu chuy ện trên trận địa, hình ảnh đôi trai gái gan dạ bình tĩnh trên cung đường Trường Sơn bị đánh phá
ác liệt trong Mảnh trăng cuối rừng, hình ảnh bà mẹ nén đau thương động viên giúp đỡ bộ đội chiến đấu trong Người mẹ xóm nhà thờ… Ở những truyện không trực tiếp đề cập đến cuộc chiến tranh
chống Mĩ thì câu chuyện trong tác phẩm cũng không nằm ngoài những vấn đề chung của đất nước
trước đó Trong Những hạt thóc lép, câu chuyện về gia đình bác Chắm cũng là câu chuyện chung
của nhiều người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu, không chịu nằm chờ chết đói, họ
đã nổi dậy đấu tranh để tìm đường sống Truyện đã tái hiện được không khí quyết liệt của cuộc đấu tranh chống địa chủ tay sai cho giặc, sự tất yếu của con đường cách mạng mà người dân làng Truồi
Trang 28lựa chọn vào thời điểm năm 1945 lịch sử Các truyện Nguồn suối, Đôi đũa trúc thì đề cập đến vần
đề xây dựng chính quyền mới tại những bản làng miền núi Bên cạnh nhiệm vụ chống giặc cứu nước, công tác xây dựng chính quyền, hiện thực hóa các chính sách của Đảng và nhà nước, thu phục lòng dân cũng là nhiệm vụ chính trị hết sức quan trọng
Chất sử thi bao trùm lên cả các quan hệ đời tư, thế sự Những tình cảm riêng tư của nhân vật
trong Ngu ồn suối, Nhành mai, Mảnh trăng cuối rừng…không hề tách rời bối cảnh của nhiệm vụ
chính trị mà nhân vật phải thực hiện Những câu chuyện về nỗi mất mát chia li trong Người mẹ xóm nhà th ờ, Kí sự hai bờ đất… cũng không hề xa lạ với hoàn cảnh của biết bao gia đình “nửa trong
Nam, nửa ngoài Bắc”
Trong các truyện vừa nêu, cuộc đời của nhân vật gắn liền với các nhiệm vụ cách mạng mà
cộng đồng, dân tộc đang gánh vác, đồng thời vận động theo chiều hướng của khát vọng, ý chí mà
cộng đồng mong đợi Con người chỉ tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình trong sự nghiệp chung
Những người thanh niên như Nguyệt, Lãm (Mảnh trăng cuối rừng), Sơn, Lê (Những vùng trời khác nhau) hăm hở lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, lấy việc phục vụ cho đất nước làm
lẽ sống của đời mình Vẻ đẹp tâm hồn của họ được khám phá qua quá trình trưởng thành cùng với chiều dài cuộc chiến chống giặc ngoại xâm Sự đổi đời của các nhân vật như Ngàn trong Đất rừng
chỉ có thể xảy ra trong bối cảnh của cuộc sống mới, trong môi trường đầy tình thương yêu của anh
em đồng đội ở một đội khai hoang nơi công trường Tây Bắc Những người dân của bản Pa-khen
(Ngu ồn suối) hay của một bản Mèo vùng cao (Đôi đũa trúc) có được tự do, được làm chủ cuộc đời
mình nhờ giác ngộ đi theo Bác, theo cách mạng Truyện cho thấy người dân ở đây có thể đến với cách mạng một cách dễ dàng và tự giác hoặc hết sức khó khăn nhưng kết quả cuối cùng vẫn là
khẳng định thắng lợi tất yếu của con đường cách mạng
Gắn với cộng đồng, dân tộc, con người trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giai đoạn trước 1975 là những con người đại diện, những con người nhiệm vụ Họ phát ngôn hoặc hành động trước hết không phải cho bản thân mình mà là cho một quan điểm, một lối sống, lối suy nghĩ hoặc ý chí khát vọng của nhiều người Họ hoặc là đại diện phát ngôn cho lí tưởng cộng đồng hoặc là hòa tan mình vào đám đông để tạo nên một sức mạnh tập thể, nói lên tiếng nói của tập thể Ở một số truyện viết về người lính, ta hay thấy xuất hiện nhân vật người cán bộ chính trị, thường là lãnh đạo
và lớn tuổi như chỉ huy Trần Việt (Trên vùng đất sỏi ), chính ủy Quang ( Vừng sáng ở chân trời)
đóng vai trò là người điều chỉnh, uốn nắn những thiếu sót, kh uyết điểm của người khác đồng thời
cũng người phát ngôn cho những quan điểm của cấp trên Nhìn chung, nhân vật bao giờ cũng được
thể hiện thông qua các nhiệm vụ, bộc lộ tính cách của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ hoặc ý
thức về nhiệm vụ mà mình nhận lãnh
Trang 29Đọc truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu giai đoạn này, không thể nào không nhắc đến hình
ảnh của một cô Nguyệt trẻ trung xinh đẹp trong Mảnh trăng cuối rừng Cô gái được giới thiệu là
“m ột cô học sinh miền xuôi mới rời ghế nhà trường đi kiến thiết miền Tây”, “đang làm ở ngầm, một nơi rất ác liệt” Sẵn sàng lấy thân mình che đạn cho Lãm vì theo suy nghĩ của cô, đơn giản chỉ là:
“Anh b ị thương thì xe cũng mất, anh cứ nấp đó!” Nhân vật Bính trong Đôi đũa trúc là một cán bộ
miền xuôi lên công tác tại một bản Mèo vùng cao, có nhiều lúc anh nhớ gia đình da diết nhưng đã
cố dằn lòng để làm tốt công việc của mình Ở một loạt truyện ngắn đầu tay như Sau một buổi tập, Con đường đến trường học, Buổi tập cuối năm…, nhân vật trong truyện hoặc là một sĩ quan đang
làm công tác huấn luyện hoặc là một tân binh Họ được miêu tả như là những con người tận tụy với công việc, luôn cố gắng vượt qua mọi khó khăn, nhất là những khó khăn nảy sinh trong quan hệ,
trong tư tưởng tình cảm để hoàn thành nhiệm vụ Trong truyện Nhành mai, tình yêu giữa Thận và
Lương nảy nở trong quá trình công tác cách mạng, được bồi đắp cho dày dặn thêm qua những gian
khổ mất mát Lúc chia tay nhau sau một trận chống càn, cô gái hẹn người yêu: “Anh chóng lành để
tr ở về giết thật nhiều giặc nhé – Anh đừng quên em!” Tình yêu của họ thật trong sáng nhưng không
thể vượt quá giới hạn của công việc, những cảm xúc riêng tư phải được nén lại để nhường chỗ cho
những nghĩa vụ cao cả và quan trọng hơn
Mang trong mình những phẩm chất ưu tú, con người sử thi tron g truyện ngắn giai đoạn này được xây dựng như những người anh hùng của cộng đồng, dân tộc Nhưng khác với những anh hùng trong sử thi truyền thống, con người ở đây còn có thêm những nét đời thường, là những phiên
bản khác nhau về hình tượng con người bình thường mà anh hùng trong kháng chiến chống Mĩ
Xuất hiện ở những môi trường và hoàn cảnh đa dạng, người anh hùng không chỉ được miêu tả trong
những giây phút có ý nghĩa trọng đại mang tầm vóc lịch sử mà cả trong những khung cảnh bình dị
của đời thường Chuyện đại đội kể về những người lính luôn chấp hành kỉ luật, hết sức có trách
nhiệm trong công tác nhưng cũng thật bình dị trong sinh hoạt hàng ngày Xung quanh chuyện một chú nghé con ra đời, ta phát hiện ở họ những nét đẹp của người nông dân chân chất, yê u thương đồng đội, yêu quý loài vật như con người Đáng yêu nhất là hình ảnh anh chàng lính trẻ tên Chi, vì
sợ trả phép muộn nên vừa đi vừa chạy đến nỗi làm cho nải chuối biếu thủ trưởng rơi rụng hết ở dọc đường Trong một số truyện khác, nhân vật cũng có những lo toan cho bản thân, cho gia đình, cũng
có những giây phút chạnh lòng hay xao xuyến trong sâu thẳm tâm hồn Ông lão Kết (Ký sự hai bờ đất) sống ở bờ bắc sông Hiền Lương với hai con trai, nửa gia đình còn lại gồm vợ và con gái bị kẹt
ở bờ nam “Mười lăm năm lão tưởng đã quên được cái cuộc sống gia đình hàng ngày có người đàn
bà, hóa ra ch ẳng thể nào quên! Chao, một người đàn bà Đôi khi ông lão đã nghĩ một mình, có thể
r ồi đến khi lão chết mà vẫn không được gặp người vợ già nua và thân yêu của lão” [56, tr.472] Tuy
nhiên, những cảm xúc cá nhân như vậy, nếu có thì chỉ là những phần rất nhỏ được nhìn nhận thoáng
Trang 30qua như những chi tiết có tác dụng điểm xuyết làm nổi bật hơn nữa những phẩm chất đẹp đẽ của con người anh hùng Chịu sự chi phối bởi cảm hứng sử thi và bút pháp trữ tình lãng mạn, những suy
tư ngẫm ngợi của nhân vật chủ yếu hướng về những vấn đề lớn lao của cộng đồng, dân tộc và thường mang màu sắc mơ mộng nhiều hơn Nhân vật suy tư ngẫm ngợi chủ yếu là về người khác
chứ không phải về mình Vẻ đẹp tâm hồn của con người vì vậy được phát hiện chủ yếu qua cái nhìn
từ bên ngoài, chưa có sự tự khám phá, tự bộc lộ
Xuất phát từ cảm quan nghệ thuật thiên về khám phá và ca ngợi những nét đẹp trong tâm hồn con người, Nguyễn Minh Châu ít đi sâu miêu tả những nét tâm lí có tính tiêu cực Những hạn chế trong mỗi người được đánh giá theo tiêu chuẩn của nhiệm vụ, trách nhiệm đối với cái chung Những
biểu hiện chưa tốt, thực ra chỉ là sự quá đà trong lối nghĩ, lối làm việc nhiệt tình trong công tác Nhân vật tôi trong Sau một buổi tập luôn khắt khe, cứng nhắc khi hướng dẫn tân binh tập luyện
cũng chỉ vì lòng nhiệt tình muốn hoàn thành tốt công tác huấn luyện Những suy nghĩ hẹp hòi với cái nhìn lạnh lùng thiếu thiện cảm của Lê đối với Sơn khi mới gặp lần đầu (Những vùng trời khác nhau) cũng xuất phát từ băn khoăn về động cơ nhập ngũ của người mới đến Thái độ ấy thay đổi
ngay sau đó khi Lê nhận ra: “Thằng này đánh nhau được!” Dạng nhân vật phản diện có những tính cách đối lập với nhân vật chính hầu như không có, chỉ một vài nhân vật như Quốc Hùng trong “Trên vùng đất sỏi” là bắt đầu có manh nha trong mình những nét tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân Điều
này hoàn toàn khác với giai đoạn sau, khi bóng dáng của Quốc Hùng hiển hiện rõ nét và hết sức
sinh động trong các nhân vật Hạng (Hạng), Quang (Cơn giông), Toàn (Mùa trái cóc ở miền Nam)
Bị quy định bởi cái khung sử thi của các sự kiện lịch sử xã hội, những cảnh đời tư, thế sự chỉ
là nền cảnh, là sự cụ thể hóa để bộc lộ trọn vẹn con người mang vẻ đẹp lí tưởng của thời đại Cách
thể hiện con người nhìn chung là một chiều, tất cả mọi phương diện trong đời sống con người đều được đưa về một hệ quy chiếu đơn nhất Hoàn cảnh chiến tranh tạo cho con người nếp nghĩ đơn
giản, sống với những ảo tưởng, có phần dễ dãi trong nhận định phán xét Trong trận tuyến đối đầu
giữa “ta” và “địch” có tính chất một mất một còn, trước một vấn đề mới nảy sinh, con người không
thể có nhiều lựa chọn, cũng không thể do dự băn khoăn mà buộc phải có sự phân định rạch ròi, thái
độ yêu ghét cũng phải hết sức dứt khoát Chính vì vậy, con người trong văn học giai đoạn 1945 –
1975 phần nào có tính công thức và sơ lược Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu cũng không là trường
hợp ngoại lệ Trong truyện của ông cũng có nhiều chi tiết còn gượng gạo Ví như chi tiết một anh tân binh tự ra kỉ luật cho bản thân mình là đúng nửa năm mới về thăm nhà, hoặc chi tiết vợ Kiên
cảm thấy không bằng lòng khi người khác tỏ ra thông cảm, chia sẻ với việc chồng chị phải nhận nhiệm vụ xa nhà trong “Vừng sáng ở chân trời”
Một phần do sự chi phối bởi đường lối văn nghệ của Đảng và yêu cầu của hoàn cảnh chung,
một phần có thể cũng do những hạn chế ở chính ngòi bút tác giả, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ở
Trang 31giai đoạn này chưa có được nhiều những hình tượng con người đa diện mạo, được khám phá trọn
vẹn ở chiều sâu của mọi mối quan hệ đời sống như truyện ngắn giai đoạn sau 1975 Tuy nhiên cần
phải ghi nhận những nỗ lực không nhỏ của tác giả trong việc tìm tòi, phát hiện và xây dựng bước đầu hình tượng con người đời thường, tạo nền móng để tư tưởng nhân đạo trong cách nhìn con người của nhà văn đạt đến một tầm mức sâu sắc hơn trong những năm sau này
2.1.3 Có thể xem truyện ngắn “Bức tranh” (viết năm 1976) như là một cột mốc đánh dấu sự
thay đổi trong nhận thức nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau 1975 Đặc biệt, với một
loạt truyện ngắn ra đời đầu những năm 80 in trong tập “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”,
quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn của ông đã thay đổi một cách rõ rệt Trong tập truyện này, ngoài truyện Mùa hè năm ấy được ghi là sáng tác năm 1967 nên xếp vào giai đoạn trước, còn có một truyện vẫn giữ phong cách cũ là Bên đường chiến tranh Đọc Bên đường chiến tranh ta dễ dàng nhận thấy truyện vẫn còn phảng phất hơi hướng sử thi và bút pháp trữ tình quen thuộc của giai đoạn trước đó Mặc dù trong truyện nhà văn đã dành nhiều trang viết về những xao xuyến riêng tư trong nỗi niềm thầm kín của hai nhân vật chính nhưng cơ bản con người ở đây vẫn là con người của nghĩa vụ, của trách nhiệm Suy nghĩ và hành động của họ vẫn không vượt thoát ra ngoài những lề lối cũ Ngoài hai truyện trên, những truyện còn lại như Bức tranh, Hạng, Người đàn
bà trên chuy ến tàu tốc hành …đã thực sự đem đến cho người đọc một cái nhìn hết sức mới mẻ về
cuộc đời và con người
Đến các tập “Bến quê”, “Cỏ lau”, sự chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật về con người
của Nguyễn Minh Châu không còn là những tìm tòi, thể nghiệm mà đã đi vào chiều sâu và định hình trong phong cách Từ con người được xem xét chủ yếu trong mối quan hệ với cộ ng đồng, dân
tộc trước đây, điều mà nhà văn quan tâm giờ đây là con người ở phương diện cá nhân, chủ yếu dưới góc độ đời tư – thế sự
Con người trong truyện ngắn của ông không còn mang vẻ đẹp lí tưởng hoàn hảo, không còn được “tắm rửa trong bầu không khí vô trùng” như trước nữa Không còn là những mô hình đơn
giản, xuôi chiều, con người trong truyện ngắn giai đoạn sau này được nhìn nhận trong một cái nhìn toàn diện và đa dạng, được soi chiếu dưới nhiều mối quan hệ phức tạp của đời sống Đó là những
con người cá nhân với những thăng trầm của số phận, những diễn biến phức tạp của tính cách,
những góc khuất bí ẩn trong tâm hồn Con người với thế giới tâm hồn đầy phức tạp và bí ẩn trở thành nguồn cảm hứng chủ yếu của nhà văn, đúng như ông từng thổ lộ: “niềm hạnh phúc lớn nhất
và c ũng đồng thời là cái điều khổ ải nhất trần đời của một anh cầm bút xưa nay vẫn là công việc khám phá ra t ất cả những cái gì khó nắm bắt nhất, xảy ra nơi cái thế giới bên trong con người” [14,
tr.108]
Trang 32Con người được nhìn nhận như là một thực thể đa dạng, sinh động với nhiều mối quan hệ đan xen phức tạp, được khám phá ở nhiều bình diện, nhiều cấp độ khác nhau Nhân vật đã thực sự
trở thành một phương tiện đắc lực để khái quát đời sống trong sự muôn màu muôn vẻ của nó, đồng
thời qua đó chuyển tải được những vấn đề có ý nghĩa triết lí nhân sinh mà nhà văn từng trăn trở nghiền ngẫm Thông qua những tình huống đời sống mà nhân vật tham dự vào, nhà văn muốn lên
tiếng “bàn bạc về quan niệm sống hoặc báo động một điều gì” Trong Bức tranh, qua cuộc tự thú
của người họa sĩ, nhiều vấn đề đã được gợi ra trong đó nổi bật là sự thức tỉnh của lương tri và khát
vọng tự hoàn thiện nhân cách của con người Đây cũng là vấn đề được đặt ra trong Một lần đối
ch ứng Quan sát tỉ mỉ hành vi của hai con mèo, một mèo hoang và một mèo nhà, nhân vật nhà văn
trong truyện muốn “nhân danh loài người, thử làm một cuộc đối chứng với loài vật – một cuộc đối
ch ứng giữa thiện và ác, giữa lí trí, trí tuệ và bản năng mù quáng (Cũng là một cuộc đối chứng giữa hai m ặt nhân cách và phi nhân cách, giữa cái hoàn thiện và cái chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng và
nh ững khoảng bóng tối vẫn còn rơi rớt bên trong tâm hồn mỗi người – miếng đất nương náu và gieo m ầm của lỗi lầm và tội ác)” [13, tr.364] Những trăn trở, chiêm nghiệm của Nhĩ trong Bến quê
hay của ông lão thủ thành trong Dấu vết nghề nghiệp cũng chính là những trăn trở, chiêm nghiệm
của tác giả về lẽ sống ở đời mà nhà văn tha thiết muốn gửi gắm cho bạn đọc
Cái nhìn đa chiều giúp nhà văn phát hiện ở con người thường nhật những khía cạnh nhiều
khi đối lập nhau Trong mỗi con người luôn có cả “rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ”
Cái tốt và cái xấu đặt cạnh nhau, trộn lẫn vào nhau Con người, trong những mối quan hệ khác nhau,
có sáng suốt và sai lầm, thực dụng nhưng cũng đầy mơ mộng, có niềm tin và có cả những phút giây
yếu đuối, luôn tỉnh táo nhưng cũng có những khoảng mờ ảo của tâm linh Nhưng chính nhờ vậy mà con người hiện lên thật chân thực và gần gũi Những giấc mơ hãi hùng của lão Khúng, những cơn
mộng du của cô Quỳ, những mơ mộng của nhân vật trong Sân cỏ Tây Ban Nha … cho thấy bên
trong con người luôn tồn tại những điều bí ẩn mà nếu nhìn đơn giản, phiến diện thì không thể nào
hiểu hết được
Quan niệm nghệ thuật về con người thường nhật bí ẩn, phức tạp dẫn dắt ngòi bút nhà văn tìm đến những mẫu hình nhân vật mới mà trước đó không có Xuất hiện với tư cách là những cá thể
phức tạp, trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 xuất hiện những con người có nét dị biệt,
khác thường Đó là những trường hợp như Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, lão Khúng trong Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát… Xa rời nguyên tắc điển hình hóa vốn quen thộc
trong các sáng tác văn học giai đoạn 45 – 75, nhà văn xây dựng nhân vật không phải để khẳng định cho một hình mẫu cố định với những phẩm chất đã định hình từ trước nên có thể gây ra cảm nhận
“khác thường, dị biệt” trong tâm lí tiếp nhận của người đọc trước đây
Trang 33Khi mới xuất hiện, cô y sĩ Quỳ đã làm cho bạn đọc hết sức bất ngờ, phân vân khó hiểu vì nhân vật có rất nhiều điểm không giống với những nữ chiến sĩ ở Trường Sơn từng được biết đến trong các câu chuyện chiến tranh Trong con người chị là cả một khối mâu thuẫn lớn, có thể rất nhạy
cảm, dịu dàng, giàu lòng thương yêu nhưng đôi khi ích kỉ và hồ đồ đến mức khó tin Những “nhầm
lẫn và dại dột” của Quỳ, theo như cắt nghĩa của người kể chuyện là tại vì chị luôn “muốn làm một thánh nhân” V ới cá tính mạnh mẽ, khác thường và “cơn khát cháy lòng của một tâm hồn đàn bà quá ham h ố”, suốt đời mình, chị đáp những “con tàu mộng du lang thang đi tìm kiếm cái chân trời
c ủa những giá trị tuyệt đối hoàn mĩ, những con người tuyệt đối hoàn mĩ, cái điều chẳng bao giờ có” Thực ra, những phức tạp trong con người nhân vật Quỳ cũng là những phức tạp có thể tìm thấy trong cõi sâu thẳm của cá nhân con người Tính cách dị biệt của Quỳ chính là khái quát lí tưởng của nhà văn về một nhân cách đẹp trong hành trình khao khát tìm kiếm những giá trị hoàn mĩ, vượt lên trên cái dung tục tầm thường
Nhân vật lão Khúng cũng là một tính cách dị biệt mà Nguyễn Minh Châu đã dày công xây
dựng và gửi gắm vào đấy nhiều quan niệm mới mẻ của mình về hình ảnh người nông dân Việt Nam trong giai đoạn mới Ở lão có cả những nét vừa “quen” vừa “lạ” của người nông dân Việt Nam Lão
là một người cần mẫn, chí thú làm ăn, yêu thương gia đình, đất đai, cây cỏ, súc vật Lão cũng có đầu
óc tư hữu hay thói gia trưởng, độc đoán như nhiều người nông dân điển hình khác Chất dị biệt ở lão
thể hiện trước hết trong cách nghĩ, cách làm khác người, không giống ai ở vào những thời điểm khó khăn do hoàn cảnh đem lại Con người rất nặng lòng với quê hương, làng xóm ấy đã dám một mình
bỏ làng để đến một vùng đất hoang vu “chó ăn đá, gà ăn sỏi ” tìm miếng ăn, tạo dựng cuộc sống
mới Cũng con người rất yêu kính tổ tiên, dòng họ, mồ mả cha ông ấy đã từng cả gan báng bổ thần linh dám cho dựng nhà trên cái nền đất của ngôi đền linh thiêng nhất làng Trong khi mọi người đồng tâm nhất trí gia nhập hợp tác xã để thực hiện ước mơ tiến lên chủ nghĩa xã hội thì lão – dinh
lũy cuối cùng của sự làm ăn cá thể, lặng lẽ nhưng hết sức kiên quyết không chịu tham gia vào Ngay
cả cách nghĩ: “Làm ra con người khó đếch gì?” và ý muốn đẻ thật nhiều con của lão cũng thật là trái
khoáy Cái cách lão đồng ý lấy Huệ, chấp nhận và yêu thương đàn con có cả “tẻ - nếp lẫn vào” cũng
là một điều khác thường đối với số đông nhiều người
Tác giả không khắc họa lão Khúng để nhằm nhấn mạnh một phương diện nào đó trong
những phẩm chất xã hội của người nông dân Nhân vật được nhìn nhận chủ yếu ở góc độ con người
cá nhân với tất cả những khía cạnh phức tạp của đời sống bên trong Con người lão Khúng là sự trộn
lẫn những gam màu khác nhau trong một bức chân dung tính cách vừa thống nhất vừa đối lập Ở lão
vừa có sự bảo thủ trì trệ vừa có cả tư duy đổi mới, thực dụng nhưng cũng rất đa cảm, ranh mãnh láu
cá nhưng cũng có khi ngây thơ cả tin, mạnh mẽ quyết đoán nhưng cũng có lúc yếu đuối đến tội
Trang 34nghiệp… Ngòi bút nhà văn còn lách sâu vào đến tận cùng thế giới vô thức với những bí ẩn tâm linh
mà chính lão cũng không thể giải thích nổi
Ở một số nhân vật khác như người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa, lão Đất trong Ch ợ Tết, tuy chưa có được dày dặn như những nhân vật trên nhưng họ cũng đã kịp ghi dấu ấn
cho sự hiện diện của mình bằng những nét tính cách hết sức khác biệt
Chú ý nhấn mạnh những nét cá biệt nhưng tác giả không hề muốn giới thiệu một kiểu người quái dị nhằm thu hút sự quan tâm của bạn đọc Nhân vật tự trong sâu xa vẫn là một con người hết
sức chân thực và gần gũi, hiện lên vô cùng sinh động và có sức thuyết phục mạnh mẽ
Từ hứng thú với con người sử thi đơn phiến chuyển sang hứng thú với con người thường
nhật bí ẩn, phức tạp, ngòi bút nhà văn cũng có sự thay đổi rõ rệt trong cách khai thác, khám phá vẻ đẹp trong bề sâu tâm hồn con người
Trong truyện ngắn sau 1975, Nguyễn Minh Châu chú ý nhiều đến quá trình thức tỉnh, tự ý
thức trong mỗi con người Đã có một thời, con người trong tác phẩm văn học chỉ được xem như là
những chiếc loa phát ngôn cho ý tưởng của tác giả, khuôn mặt tinh thần của con người thường bị chìm lấp trong dòng sự kiện ào ạt bủa vây xung quanh nên chưa cất lên được tiếng nói của riêng mình Con người cũng có đời sống riêng nhưng lối suy nghĩ, nói năng hành động thường không vượt ra khỏi một số khuôn mẫu nhất định Đã đến lúc phải thay đổi điều này, nói như Nguyễn Minh
Châu là “r ồi trước sau con người cũng đã leo lên trên các sự kiện để đòi quyền sống” [14, tr.54] Sự
xuất hiện kiểu con người tự ý thức trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 vừa phù hợp với nhu cầu của cuộc sống vừa giúp cho ý đồ nghệ thuật muốn khám phá thế giới bên trong con người
của ông có một hướng đi đắc địa
Quá trình tự ý thức của con người được biểu hiện dưới các hình thức tự vấn, sám hối hoặc suy tư, chiêm nghiệm Đó có thể là quá trình con người tự đấu tranh với c hính mình trong bi kịch
đánh mất bản thân như trường hợp của Hạng, Sắm vai Trong các truyện như Bức tranh, Người đàn
bà trên chuy ến tàu tốc hành, Dấu vết nghề nghiệp, Cỏ lau , sự tự vấn đến như là một nhu cầu tự
thân, xuất phát từ sự thức tỉnh của lương tâm, bắt nguồn từ một lỗi lầm nào đó trong quá khứ Sự phán xét của tòa án lương tâm cũng đồng thời giúp soi rọi rõ hơn những xung đột khó thấy bên trong tâm hồn con người Ở Một lần đối chứng, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa , quá trình tự ý
thức xảy ra gắn với những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời, con người
Có một điều dễ nhận thấy, con người trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thường hay suy
tư ngẫm ngợi, ưa triết lí Gắn với quá trình tự ý thức, con người trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 dường như càng lúc càng được tô đậm bởi chất suy tư triết lí, giúp đem lại một vẻ đẹp mới cho tác phẩm của ông
Trang 35Suy tư triết lí cũng chính là tự ý thức, khi con người suy tư thì cũng là lúc anh ta đắm chìm trong thế giới nội tâm của riêng mình, sòng phẳng và trung thực với chính mình Suy tư triết lí cũng
là một dấu hiệu của sự trưởng thành trong nhân cách con người, một mặt chứng tỏ sự độc lập trong suy nghĩ, mặt khác chứng tỏ khả năng phát triển cao về mặt trí tuệ Nếu suy tư là những giây phút con người để tâm hồn lắng đọng lại với những ngẫm ngợi thầm kín bên trong thì sự triết lí chỉ có được khi con người trải qua một quá trình chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, đòi hỏi phải có một năng lực khái quát nhất định để từ những hiện tượng cụ thể của đời sống mà tự rút ra những bài học cho riêng mình Một điều nữa, việc suy tư triết lí giúp con người có thể tự điều chỉnh, tự phục hồi
những giá trị tốt đẹp của bản thân chống lại sự tha hóa đến từ những tác động của cái xấu, cái ác
Sự suy tư triết lí của con người trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu thường đến cùng với hành trình con người tự khám phá về bản thân mình, đồng thời cũng là một cách để chiêm nghiệm
lẽ đời Con người, theo ông “vừa dễ hiểu vừa đầy bí ẩn”, và cũng theo quan niệm của ông, cuộc đời
thì “đa sự” mà con người thì “đa đoan” Để hiểu mình có lẽ cũng khó như hiểu người vậy Đôi khi,
con người phải đi hết cả chiều dài của cuộc đời mình mới có thể nghiệm ra được những điều tưởng
chừng như rất giản dị, bình thường
Trong B ến quê, Nhĩ là một người đàn ông từng trải, có địa vị, đi rộng, biết nhiều, “đã từng đi không sót m ột xó xỉnh nào trên trái đất ”, thế mà lại “chưa hề bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông
H ồng ngay trước cửa sổ nhà mình” Bao cảnh đẹp chốn gần xa trên thế giới anh đều từng được
chiêm ngưỡng, thế mà những cảnh vật gần gũi nơi bến quê thì mãi cuối cuộc đời, khi bị cột chặt trên giường bệnh Nhĩ mới nhận ra Cũng như vậy, sau bao năm, lần đầu tiên Nhĩ mới phát hiện ra được
những điều quý giá ở người vợ: “Cũng như cánh bãi bồi nằm phơi mình bên kia, tâm hồn Liên vẫn
gi ữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa, và cũng chính nhờ có điều
đó mà sau nhiều ngày tháng bôn tẩu tìm kiếm… Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong nh ững ngày này” Sự chiêm nghiệm của Nhĩ trong truyện là sự chiêm nghiệm có tính chất
tổng kết của cả một đời người: “con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, Họa chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót khắp mọi chân tr ời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, c ả trong những nét tiêu sơ ” [13, tr.326] Giá trị cuộc sống nằm trong những lí tưởng đẹp đẽ
mà con người suốt đời theo đuổi nhưng cũng có khi nằm trong những đi ều hết sức giản dị và gần
Trang 36Người đàn bà hàng chài lam lũ, tội nghiệp bất ngờ làm cho vị quan tòa sửng sốt bởi những phát biểu
hết sức sâu sắc về lẽ đời mà chỉ người trong cuộc mới thấu hiểu Trong chiều sâu bí ẩn của tâm hồn
họ là một thứ hạt ngọc lấp lánh vẻ đẹp của ánh sáng trí tuệ, một trí tuệ của minh triết dân gian
Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu có sự
biến đổi rõ rệt qua hai giai đoạn sáng tác Bước chuyển từ con người sử thi đến con người thường
nhật trong quan niệm của nhà văn không phải là điều mới mẻ và cá biệt nhưng đã cho thấy được sự tiên phong của ông trong nỗ lực tìm tòi một hướng đi mới để tìm về với những giá trị đích thực của văn chương và cuộc đời
Cho đến tận muôn đời, con người với những bí ẩn trong chiều sâu tâm hồn mãi luôn là đối tượng mời gọi các nhà văn tìm hiểu khám phá Trước 1975, cảm hứng sử thi đã giúp Nguyễn Minh Châu xây dựng được những hình tượng đẹp, đầy chất lãng mạn về con người Việt Nam anh hùng Nhưng nếu chỉ có vậy, tên tuổi của ông rồi sẽ chìm khuất trong vô số những gương mặt nhàn nhạt khác Nỗ lực tự làm mới mình đã sớm đưa ngòi bút của ông tìm về với những giá trị văn chương đích thực Hướng đến con người thường nhật phong phú, đa dạng, đi sâu khám phá đời sống bên trong của con người, quan tâm đến những thăng trầm trong số phận con người, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ngày càng sâu sắc và nhân bản hơn Cái nhìn thi vị hóa của nhà văn trước kia được thay bằng một cái nhìn hiện thực nghiêm ngặt làm lộ ra vẻ đẹp tâm hồn con người ở chiều sâu nhân bản, chính vì vậy mà gần gũi hơn với đời thường Vẻ đẹp tâm hồn con người được khai thác ở góc độ đời thường tưởng chừng như làm bó hẹp phạm vi phản ánh, trên thực tế đã mở rộng tầm khái quát đến những vấn đề sâu xa mà con người hằng quan tâm, trăn trở
2.2 Bước chuyển về nội dung tự sự
Từ con người sử thi đơn phiến đến con người thường nhật bí ẩn, phức tạp là một bước chuyển hết sức quan trọng trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu Quan niệm nghệ thuật mới đã giúp nhà văn nhìn nhận con người toàn diện hơn trong nhiều mối quan hệ đời
sống Nội dung tự sự trong truyện ngắn của ông, lẽ tất nhiên, cũng thay đổi theo
Đó là bước chuyển từ tự sự về “bài ca ra trận” của cộng đồng với những phẩm chất huyền tho ại của người anh hùng đến tự sự về những bi kịch, những nỗi đau, những lời sám hối, những
kh ủng hoảng, và cả hoài nghi,…
2.2.1 Trong cuộc đời sáng tác của mình, Nguyễn Minh Châu luôn tâm niệm ước muốn đi sâu khám phá vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn con người Trước 1975, quan niệm về con người sử thi
với những phẩm chất cao đẹp của người anh hùng đã đem đến cho truyện ngắn của ông những trang
viết thật hay về thế giới tâm hồn đẹp đẽ của con người
Đối với ông, “mỗi con người quen biết mà mình từng chung sống… đều mang trong lòng biết bao điều tốt đẹp mà mình có thể học hỏi, có thể khám phá suốt đời không hết để tìm hiểu nhân dân
Trang 37mình”(C ửa sông) Đây là nguồn cảm hứng nhưng cũng là cái “tạng” riêng của ông Ngòi bút thiên
về sự quan sát tinh tế và suy tư ngẫm ngợi của ông thích hợp với việc đào sâu khám phá những cảm xúc, những bí ẩn trong thế giới nội tâm hơn là thể hiện những xung đột, những hành động quyết liệt,
mạnh mẽ Từ rất sớm, vào năm 1970, trong một bài viết về Nguyễn Minh Châu, các nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá đã có nhận xét về điều này: “Viết về quân đội, về chiến tranh, dĩ nhiên Nguy ễn Minh Châu không thể không nói đến bom rơi, đạn nổ, đến máu và lửa Nhưng, điều anh chú ý h ơn hết vẫn là ngọn lửa trong lòng người Nhân vật Nguyễn Minh Châu ít hò hét, không
ồn ào, họ tập luyện và chiến đấu lặng lẽ âm thầm Nhưng trong lòng họ là căm uất đến nghẹn ngào,
là yêu thương dào dạt” [58, tr.55] Sau này, trong Lời bạt cho tập truyện Người đàn bà trên chuyến tàu t ốc hành dịch ra tiếng Nga, nhà nhiên cứu N I Niculin cũng tiếp tục khẳng định: “Cảm hứng các tác ph ẩm của Nguyễn Minh Châu, như tự anh nói, trước hết là cố gắng “tìm cái hạt ngọc ẩn
gi ấu trong bề sâu tâm hồn con người” Và đó vẫn là chủ âm trong sáng tạo của Nguyễn Minh Châu,
v ới việc xây dựng nhân vật chính diện” [58, tr.406]
Một trong những truyện ngắn nổi tiếng, được xem là tiêu biểu nhất của Nguyễn Minh Châu trong thời kì này là Mảnh trăng cuối rừng Truyện kể về mối tình lãng mạn giữa anh chiến sĩ lái xe
tên Lãm và cô thanh niên xung phong tên Nguyệt trong bối cảnh chiến tranh trên đường Trường Sơn những năm chống Mĩ Dù vậy, nhà văn không quá nhấn mạnh đến sự gian khổ ác liệt, cũng không tìm đến những bi kịch thương đau mà tập trung hướng về vẻ đẹp của con người, về tình yêu
và tuổi trẻ Toàn bộ câu chuyện có thể được coi như là một cuộc hành trình tìm kiếm và phát hiện vẻ đẹp trong tâm hồn thế hệ trẻ Việt Nam những năm chiến tranh Trong cuộc hành trình ấy, vẻ đẹp
của cả Nguyệt và Lãm dần dần được bộc lộ ở hai hướng trái chiều nhau Nguyệt khởi hành với tâm
thế của một người tình đi đến chỗ hẹn Từ chỗ là một người tình lí tưởng, Nguyệt dần hiện ra thành
một chiến sĩ với đủ những phẩm chất tốt đẹp Đối với Lãm thì ngược lại, từ một anh chiến sĩ có
phần khắt khe, có mỗi một cô gái đi nhờ xe mà cũng cằn nhằn ca cẩm mãi, đến cuối hành trình thì
đã trở thành một người tình đa cảm, đầy mơ mộng
Vẻ đẹp của một người lính trong Nguyệt được thể hiện rõ nét khi đối đầu với hiểm nguy Trong bối cảnh ác liệt của chiến tranh, Nguyệt tỏ ra là một cô gái hết sức dũng cảm Không chỉ dẫn đường, cứu xe, lội ngầm, biến thân mình thành cọc tiêu sống để xe đi Ấn tượng đặc sắc nhất về lòng dũng cảm của cô Nguyệt xinh đẹp ấy, qua đôi mắt của Lãm, còn ở dáng ngồi thản nhiên trong
xe giữa đoạn đường đầy nguy hiểm, ở giọng nói bình tĩnh tựa hồ như không có máy bay địch quây tròn trên đầu Và nhất là ở nụ cười tươi tỉnh ngay trong lú c đã bị thương, nụ cười khiến cho anh chiến sĩ lái xe dạn dày phải “gần như mê muội” vì cảm phục Nhưng Nguyệt không chỉ là người
dũng cảm Cô còn là người biết sống vì người khác, biết hi sinh vì người khác
Trang 38Trong tất cả những điều đáng nói về Nguyệt, hình như nét đẹp đẽ nhất, kì diệu nhất chính là
“cái sợi chỉ xanh óng ánh” của niềm tin, tình yêu và lòng chung thủy mà phải mất một thời gian rất lâu Lãm mới cảm nhận thấy được Suốt câu chuyện Lãm khắc khoải suy nghĩ về tình yêu của Nguyệt như một mối tình đẹp khó tin, đậm màu huyền thoại Có đến hai lần Lãm đã suy ngẫm về cái sợi chỉ xanh nhỏ bé ấy Chính cái sợi chỉ xanh óng ánh kì lạ ấy đã dẫn cô Nguyệt, trong một đêm trăng đầu tháng, dám một mình vượt qua mọi khó khăn để mong tìm gặp được người yêu Tình yêu,
niềm tin và lòng chung thuỷ của cô đã làm cho Lãm phải ngưỡng mộ, kính phục
Dưới đôi mắt mơ mộng của Lãm, Nguyệt đã hiện lên tuyệt đẹp như hiện thân của sự thanh
sạch, tinh khiết, trẻ trung Nguyệt càng đẹp hơn dưới ánh trăng: “Trăng sáng soi thẳng vào khuôn
m ặt Nguyệt, làm cho khuôn mặt tươi mát ngời lên đẹp lạ thường !” Trăng làm ánh ngời lên từng sợi
tóc trên mái tóc dày và ngát thơm của Nguyệt Nhưng cũng có thể nói vẻ đẹp của Nguyệt không chỉ được soi sáng bằng ánh trăng, mà còn chủ yếu được soi sáng bằng ánh sáng tình yêu của Lãm Lời
văn hoà cùng ánh mắt nâng niu nhìn Nguyệt càng đẹp lộng lẫy, để rồi “ khuôn mặt đẹp lộng lẫy đầy ánh trăng” của cô gái ngập tràn trong tâm trí của Lãm trong suốt chặng đường còn lại
Cuộc chiến đấu khốc liệt của người lính Trường Sơn qua điểm nhìn trữ tình dịu dàng ấy đã
trở thành một nơi gặp gỡ của tình yêu Chiến tranh không chỉ có chết chóc, tàn phá mà còn là nơi để con người khám phá ra nhau, phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn của nhau, để yêu nhau Vẻ đẹp tâm hồn và tình yêu của người lính đã tiếp thêm sức mạnh cho họ trong cuộc chiến đấu Câu chuyện cũng là sự
khẳng định chiến thắng của tình yêu đối với chiến tranh, của lí tưởng sống đẹp đẽ trước cái chết chóc mà kẻ thù gieo rắc
Giống như nhân vật Lãm, vẻ đẹp tâm hồn của các nhân vật trong Những vùng trời khác nhau
hiện lên qua những giây phút suy tư, ngẫm ngợi Họ cũng có những hành động dũng cảm, những giây phút anh hùng khi đối mặt với kẻ thù nhưng ấn tượng đẹp của người đọc về họ là ở những lúc
họ suy nghĩ về mình, về đồng đội, về quê hương Trong suốt chiều dài câu chuyện, Lê suy nghĩ nhiều về Sơn, về những nét đẹp vừa được khám phá từ người đồng đội thân thiết Từ cảm nhận về
Sơn, anh say mê tự cắt nghĩa cho chính mình về cái nguyên cớ đẹp đẽ đã đưa họ đến với nhau, “bên nhau trên m ột khẩu pháo…,cùng chung tấm giát nằm, mặc chung nhau vài chiếc áo”, để cùng bảo
vệ vùng trời chung thiêng liêng Giàu xúc cảm nhất là đoạn diễn tả tình cảm của Lê khi bất chợt
đang trên đường hành quân bỗng nghe thấy âm thanh quen th uộc của “một giọng hò và nhịp mái chèo ” quê hương, anh “trở thành một người mơ mộng thực sự Anh nghe rất rõ tiếng mái chèo đặc
bi ệt của con sông quê anh Tiếng mái chèo đò dọc chậm rãi và uể oải xuôi sông Lam thưở lọt lòng
Lê đã nghe rồi nhớ không dứt ra được…” [13, tr.44] Qua những câu văn giàu chất trữ tình như vậy,
vẻ đẹp trong tâm hồn nhân vật càng hiện lên rõ nét hơn
Trang 39Trong truyện ngắn giai đoạn trước 1975, nhà văn luôn tạo điều kiện tối ưu để nhân vật của mình ở vào trong những hoàn cảnh hết sức thuận lợi cho việc thể hiện những phẩm chất cao đẹp
“Nhà văn dường như vượt lên khỏi cái hằng ngày và hướng về cái đẹp đẽ của cuộc đời; cái đẹp dường như được giải thoát khỏi gánh nặng của cái xấu, bay vượt lên khỏi cái thường nhật… anh đã
“t ắm rửa sạch sẽ” các nhân vật của mình, họ giống như được bao bọc trong một bầu không khí vô trùng” [58, tr.407] Đúng như N I Niculin đã nhận xét, đây là chỗ mạnh cũng là chỗ yếu của nhà văn Con người trong truyện ít khi phải lâm vào những cảnh ngộ éo le, những tình thế khó xử để có
thể làm cho họ xấu xa hay chí ít cũng trở nên nhếch nhác đi trước mắt người đọc Những năm tháng
chờ đợi trong mối tình có thể nói là đơn phương của Nguyệt đối với Lãm (Mảnh trăng cuối rừng)
không hề làm cho cô trở nên sầu úa như những nhân vật nữ trong tiểu thuyết lãng mạn, trái lại chỉ
càng làm cho “cái s ợi chỉ xanh óng ánh” trong tâm hồn cô thêm ngời sáng Cô không buồn vì còn
có đồng đội, còn có những lí tưởng cao đẹp mà mình đang theo đuổi cùng với những công việc cấp bách khác Trong trận chiến ác liệt khi cùng Lãm đối mặt với máy bay giặc, bom đạn chỉ làm Nguyệt bị thương chút xíu ở cánh tay, vết thương chỉ càng giúp cho Nguyệt trở nên đẹp hơn dưới
mắt người lái xe Trong Những vùng trời khác nhau, sau một thời gian dài xa cách, vợ chồng Lê chỉ
gặp được nhau trong chốc lát ngắn ngủi khi anh tạt về thăm nhà rồi vội vã chia tay khi có báo động
Họ chưa kịp nói với nhau một lời yêu thương nhưng không hề đau khổ bịn rịn, vì tâm trí của cả hai
đang phải dành cho nhiệm vụ Hình ảnh “khuôn mặt vợ đỏ ửng lên vì thẹn và sung sướng” khi đứng
bên Lê cạnh chái nhà chỉ chợt thoáng qua trong suy nghĩ của anh sau này, “chỉ vụt qua, lóe lên như
m ột chiếc lá mía xanh biếc”
Tình yêu trong truyện của Nguyễn Minh Châu cũng có những dang dở, éo le nhưng ma ng
một sắc thái riêng Trong Nguồn suối, mối tình của Y Khiêu dành cho Ngạn thật bền chắc và mãnh
liệt Đến lúc đã có gia đình, con đã lớn nhưng trong sâu thẳm tâm hồn chị vẫn nồng cháy một tình
cảm sâu sắc dành cho người chiến sĩ Vệ quốc đoàn mà chị cứu năm nào Cuộc gặp gỡ giữa ông
Hừng – chồng chị và Ngạn, đối với người khác có thể là một tình huống rất gượng gạo cho cả đôi bên, đã được miêu tả như là một cuộc gặp hết sức thân tình giữa những người trong gia đình Tình
cảm họ dành cho nhau thật là cao thượng Hình ảnh “đôi mắt thăm thẳm của Y Khiêu đọng một ánh
l ửa phản chiếu sáng rực không bao giờ tắt” dõi theo Ngạn ở cuối truyện thật đẹp và cũng thật lãng
mạn Có cảm giác là trong những mối tình tay ba như vậy, nhân vật của Nguyễn Minh Châu luôn
biết cách cư xử đúng mực, độ lượng và đầy cảm thông cho nhau Họ không có cái quyết liệt đến cùng của những trái tim sẵn sàng chết vì không đến được với nhau nhưng họ có cái nét đẹp của
những người tình thủy chung, trọng tình nghĩa, giàu lòng vị tha – những nét phẩm chất truyền
thống
Trang 40Trong các truyện ngắn khác như Người mẹ xóm nhà thờ, Nhành mai, Câu chuyện trên trận địa…, hình ảnh con người với những phẩm chất lí tưởng cũng được xây dựng như là những biểu
tượng đẹp cho ý chí, sức mạnh của cộng đồng Có thể tìm thấy trong bề sâu tâm hồn họ những hạt
ngọc lấp lánh vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam
2.2.2 Ở giai đoạn sau 1975, cảm hứng sử thi trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu dần phai
nhạt và nhường chỗ cho cảm hứng đời tư – thế sự Hứng thú về con người thường nhật phức tạp, bí
ẩn chi phối cảm quan sáng tạo của nhà văn, định hướng cho những thay đổi về nội dung tự sự
Bên cạnh những truyện viết về những đề tài lớn như số phận con người trong chiến tranh, số
phận người nông dân trong quá trình chuyển đổi cơ chế sản xuất, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 còn có cả một mảng viết về những chuyện vụn vặt đời thường như Mẹ con chị Hằng, Đứa
ăn cắp, Lũ trẻ ở dãy K, Hương và Phai… Qua những chuyện nhỏ nhặt tưởng như không đâu ấy, nhà
văn muốn gởi đến cho bạn đọc nhiều thông điệp có ý nghĩa hết sức sâu sắc về mối quan hệ của con người trong cuộc sống hằng ngày Viết về những vặt vãnh đời thường nhưng là để nói đến những
điều không hề đơn giản đối với mỗi người và cả mọi người
Tuy nhiên, nếu xét toàn bộ sáng tác truyện ngắn sau 1975 của ông, những truyện thành công
và có sức ám ảnh nhiều hơn cả vẫn là những câu chuyện về số phận con người với biết bao chìm nổi trong vòng xoáy của cuộc đời Xuất phát từ “nỗi lo âu lớn lao và đầy khắc khoải về con người”,
truyện của ông giờ đây nói nhiều đến những bi kịch, những nỗi đau, những lời sám hối, những
khủng hoảng và cả những hoài nghi…
Sự thay đổi ấy trước hết nằm ở ngay mảng hiện thực chiến tranh mà Nguyễn Minh Châu đã
từng rất quen thuộc Ở các truyện sau 1975 như Cơn giông, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành,
C ỏ lau…, hiện thực chiến tranh được miêu tả không phải là cái thực tại chiến tranh đang hiện hành
mà chủ yếu được tái hiện lại dưới dạng hồi cố, thông qua hồi ức của nhân vật, gắn với suy nghĩ, tâm
tư của nhân vật Các sự kiện chiến tranh được nhắc đến đều gắn với những đổi thay trong số phận con người, thông qua cảm nhận riêng của nhân vật Những nhân vật như Quỳ, Lực đã được miêu tả
ở chiều sâu với những bi kịch tinh thần hay bi kịch số phận của họ Nhân vật người lính không
xuất hiện dưới vầng hào quang chiến thắng hay được tỏa sáng bởi những phẩm chất anh hùng mà là
với những nỗi đau, những thiệt thòi, mất mát Chiến tranh không chỉ có thắng lợi, vinh quang mà còn là những mất mát không thể nào bù đắp, là những bi kịch mà chỉ những người trong cuộc mới
thấu hiểu hết Bước ra từ chiến tranh, trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện kiểu con người thương tích, mang trên mình những vết thương đau đớn, dai dẳng trong tâm hồn, theo suốt cả
cuộc đời
Trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, hình ảnh của chiến tranh được sống dậy qua
những chuyến hành trình trong tâm tưởng để trở về với quá khứ của Quỳ Chiến tranh gắn với