MỞ ĐẦU 1 Sự cần thiết của đề tài và mục đích nghiên cứu Đời sống văn học mỗi thời đại có những dấu ấn của nó đối với tiến trình chung của văn học mỗi dân tộc Văn học Việt Nam thế kỉ XX đã được tổng kế[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài và mục đích nghiên cứu
Đời sống văn học mỗi thời đại có những dấu ấn của nó đối với tiến trình chung của văn học mỗi dân tộc Văn học Việt Nam thế kỉ XX đã được tổng kết nhưng nó không liền một mạch trong bối cảnh tiếp xúc như văn học thời trung đại Trong toàn tiến trình của văn học Việt ở thời hiện đại, văn học giai đoạn 1945 – 1975 diễn tiến trong điều kiện bất thường (chiến tranh giải phóng dân tộc), lực lượng văn hóa được tiếp xúc cũng khác (văn hóa “phe” xã hội chủ nghĩa) Hoàn cảnh này khác với thời phong kiến và cũng khác cả với ngót năm mươi năm đầu thế kỉ XX Ở các mốc thời gian đã nêu, văn học Việt chấp nhận sự phụ thuộc vào bên ngoài, đến thời kì mới này, chúng ta lại chủ động tiếp nhận luồng gió mới đến từ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga: văn hóa, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa
Trong phạm vi và nhiệm vụ đặt ra cho mình, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đã đi đến cùng những tín điều của nó Vì thế mà nó không tránh khỏi những vết đổ, những khiếm khuyết Thực ra thì mỗi thời kì văn học, cùng với thế ưu trội của nó, người ta luôn phát hiện thấy những mặt chưa được, đó như là một quy luật trong đời sống văn học Văn học giai đoạn 1945
– 1975 của ta cũng thế Vấn đề này Trần Ngọc Vượng đã từng đề cập: “Nền
văn học của chúng ta, ở một ý nghĩa nào đó, được đẩy tới từ phía sau, từ quán tính lịch sử, với cả những đặc trưng, nét độc đáo, và cả bởi những phương diện yếu kém và hạn chế của nó” [83, tr.46-47] Đánh giá một giai
đoạn văn học phải có tiêu chí, chúng tôi đồng tình với các tiêu chí mà Nguyễn
Văn Long đã đề nghị trong cuốn sách Văn học Việt Nam trong thời đại mới:
- Tác dụng của văn học với thời đại, nói khác đi, là sự đáp ứng của văn học đối với những đòi hỏi bức thiết của thời đại
Trang 2- Giá trị mà văn học mang đến cho con người ở mọi thời đại, nói cách khác, là tính nhân loại phổ quát của nó
- Vai trò của văn học trong tiến trình chung, nghĩa là nó có kế thừa truyền thống văn học dân tộc, văn học nhân loại để tạo nên chỗ đứng cho mình một mặt vẫn thúc đẩy văn học đi lên hay không?
Cho đến nay, khi đã ở một thế kỉ mới, giới nghiên cứu văn học cũng đã giải quyết được vấn đề đánh giá văn học cách mạng Việt Nam trong hai cuộc chiến lớn ở thế kỉ XX dựa trên những tiêu chí trên, đặc biệt là trong điều kiện
từ sau quá trình Đổi mới văn học (Đại hội VI của Đảng – 1986) Rất nhiều công trình có giá trị góp tiếng nói tích cực cho việc nhìn nhận những bước đi của văn học dân tộc
Tuy nhiên, đánh giá thành tựu của một giai đoạn văn học còn xem xét đến đóng góp của các thể loại văn học, trên chân dung tinh thần của nó, chân dung đó không gì khác là hình ảnh con người trên các trang viết Theo chúng
tôi, con người mới trong văn học cách mạng Việt Nam và văn học Xô-viết có
những điểm riêng biệt cần được ghi nhận lại, nhất là nhìn từ giác độ của người tiếp cận văn học trong thời bình và dưới góc độ văn hóa Với tư cách là
một chân dung văn học, con người mới cần được đánh giá như chúng ta đã
từng đánh giá các nhân vật của văn học lãng mạn, văn học hiện thực phê phán
giai đoạn trước 1945 Do vậy, tiến hành khảo sát đề tài Ảnh hưởng của văn học Xô viết đối với việc xây dựng hình tượng “con người mới” trong văn xuôi Việt Nam 1945 – 1975 chúng tôi cũng không nằm ngoài mục đích nhận
chân giá trị của một hình tượng văn học Có thể người tiếp nhận văn học hôm nay vẫn còn đánh giá hình tượng bằng việc nhận định những mặt còn tồn tại của nó nhưng với chúng tôi “con người mới” là một chân dung văn học, nó cũng có vai trò nhất định đối với việc giúp con người khám phá bản thân,
Trang 3khám phá cuộc sống, nhất là khi chúng ta đã ở một thời điểm khác của lịch sử nhân loại
Vấn đề được mang ra bàn bạc của chúng tôi lại không phải là nhân vật trong tất cả các thể loại văn học mà chỉ ở phạm vi của văn xuôi Với chúng tôi, con người trong văn xuôi cách mạng phong phú hơn, đa diện hơn so với con người trong thơ ca (mặc dù vẫn phải thừa nhận hai thể loại này có công không nhỏ đối với quá trình vận động của văn học dân tộc và lịch sử dân tộc) Với tư cách là một trong những thể loại “chủ lực” của văn học cách mạng dân tộc ta, văn xuôi khoảng 30 năm đấu tranh chống ngoại xâm đã để lại những hình tượng đẹp mà ở thời bình này chúng ta cần khám phá lại, cần đúc rút những kinh nghiệm quý báu (mà trong giới hạn của những cuộc chiến kéo dài văn học dân tộc không tránh khỏi những vấp váp) cho bước đi tiếp theo, đầy hứa hẹn hơn của văn chương nước nhà Trong bối cảnh đã có, ảnh hưởng của văn học các nước xã hội chủ nghĩa đối với văn chương Việt một thời là không nhỏ, mà trực tiếp và sâu sắc không thể nào không kể đến văn học Xô-viết
Do đó, chúng tôi mong muốn qua những điều được bàn bạc, đánh giá của đề tài, sẽ một lần nữa bình giá một cách khách quan một hình tượng văn học, đối sánh với thế giới nhân vật của các giai đoạn trước và sau nó để nhận thấy vị trí, vai trò của nó
2 Phạm vi nghiên cứu
Với mục tiêu đã xác định như trên, hai đối tượng được chúng tôi khảo sát là những tác phẩm văn xuôi Việt Nam 1945 – 1975 và tác phẩm văn xuôi Xô-viết có cùng cảm hứng, cùng hình tượng
Văn học Xô-viết, bộ phận văn học ra đời sau cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga – Xô-viết 1917 là một bộ phận trong toàn bộ tiến trình văn học Nga thế kỉ XX Có thể ngày nay, khi đã có điều kiện tìm hiểu đầy đủ hơn, người tiếp cận văn học cho rằng nó chỉ có những giá trị cấp thời, so với bộ
Trang 4phận văn học Nga lưu vong, bộ phận văn học Nga bị cấm đoán dưới thời nhà nước Xô-viết nhưng gạt bỏ nó, phủ nhận nó thì lại không phải là điều dễ dàng Trên thực tế, văn học thời Xô-viết ở Nga (có thể kể từ khi nó được tuyên bố chính thức vào năm 1934 cho đến lúc nhà nước Xô-viết sụp đổ vào năm 1991) phức tạp, đa phong cách hơn nhiều Ảnh hưởng của nó đối với văn chương các nước xã hội chủ nghĩa lại hết sức mạnh mẽ, ngay cả đối với một
số nước phương Tây Tư bản chủ nghĩa cũng thế Tuy nhiên, do yêu cầu chính trị một thời, nhiều nước (trong đó có Việt Nam) đã du nhập, học hỏi văn học Xô-viết một cách cắt xén, bảo thủ khiến cho nó trở nên xơ cứng Nhưng cũng phải thừa nhận rằng chính sự du nhập đó đã giúp văn chương các nước đấu tranh cho hòa bình và tự do của con người một thời đạt được mục tiêu lớn nhất của mình Trong số nhiều tác phẩm văn học Xô-viết được dịch ở Việt Nam ngày trước (phần nhiều là các tác phẩm văn xuôi), hai đề tài lớn đã được chuyển tải vào trang viết là đề tài chiến tranh giải phóng và đề tài lao động xã hội chủ nghĩa Gặp gỡ với văn xuôi Xô-viết, văn xuôi Việt Nam 30 năm bền
bỉ kháng Pháp rồi kháng Mỹ cũng đã tái hiện hình tượng con người thời đại một cách công phu, đa diện
Với văn xuôi Việt Nam, từ sau ngày toàn quốc kháng chiến (1946), những con người mới đã được thể hiện Chúng tôi gọi các nhân vật văn học
lúc này là những con người mới bởi họ mang một thân phận khác, một cuộc
đời khác, có tự do hơn từ sau ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 và từ đó về sau họ luôn ý thức về việc giành lấy từ tay kẻ thù xâm lược cuộc đời của mình, tự do của mình và hòa bình cho dân tộc mình Tuy nhiên, trong văn
học, hình tượng con người mới trở nên là đề tài quán xuyến nhất và được tập
trung thể hiện nhiều nhất là từ khi miền Bắc Việt Nam bắt tay vào xây dựng Chủ nghĩa xã hội, góp phần cùng miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà Trong bối cảnh đó, văn học hai miền Nam-Bắc (đặc biệt là văn học miền Bắc)
Trang 5đều đã ghi nhận những vẻ đẹp của con người thời chiến và đều học tập từ kinh nghiệm của văn học Xô-viết, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa
Cho nên, chúng tôi xác định khu vực tìm hiểu của mình là một số tác phẩm văn xuôi Xô-viết và Việt Nam (giai đoạn 1945 – 1975) một thời tạo được tiếng vang của nó đối với độc giả một thời
3 Lịch sử vấn đề
Giai đoạn văn học chúng tôi xác định và hình tượng nhân vật trung tâm của nó đã có nhiều công trình bàn bạc, đánh giá Ở những năm còn trong không khí sục sôi của hai cuộc chiến của dân tộc, nhất là từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, với nhu cầu cổ vũ cho những thắng lợi khác nhau của cách mạng Việt Nam, sau đó là khẳng định sức mạnh tinh thần dân tộc, nhiều
bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học nhiều năm liền đã đề cao vai
trò của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, đề cao vẻ đẹp con người thời chiến Sau đại thắng mùa xuân 1975, âm hưởng cuộc chiến lớn của
dân tộc còn vang vọng, trước thời kì Đổi mới, nhiều nhà nghiên cứu đã có
những công trình mang tính chất tổng kết đóng góp của văn học hiện thực xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, có thể kể đến: Cuộc sống và tiếng nói nghệ thuật, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ, Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa của Phong Lê… Đến khi văn học chuyển
sang thời bình với đúng nghĩa của nó, tinh thần dân chủ được đặt ra, nhiều tác giả đã hướng đến việc nhìn nhận văn học cách mạng và nhân vật trung tâm của nó trong thế nhiều chiều, tức là có cả những mặt mạnh và có cả những hạn chế của nó, đó là cách làm có ý nghĩa Bởi vì, trong giới hạn của những cuộc chiến liên tiếp nhiều nhà văn không chuẩn bị tâm thế cầm súng nhưng đã
tự giác cầm súng, điều này đã phần nào “khuôn” lại sức sáng tạo Mặt khác, lại cũng nhờ vào không gian sáng tác bất thường đó mà văn học thời chiến đã hoàn thành nhiệm vụ của nó một cách đáng tự hào Hướng vào đánh giá văn
Trang 6học chiến tranh cách mạng trong tư thế đó có một số công trình đáng chú ý
như: Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới (1991), Chặng đường mới của văn học Việt Nam (1998) do Hà Minh Đức chủ biên, 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (1996) do Đại học quốc gia
Hà Nội, Trường viết văn Nguyễn Du và Tạp chí Văn nghệ quân đội hợp tác
xuất bản Đặc biệt với 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, cuốn sách đã tập hợp một lực lượng lớn các tác giả tham gia bàn luận,
có giới nghiên cứu, có cả những nhà văn mặc áo lính một thời Vào đầu thế kỉ
XXI, với công trình Nhìn lại Văn học Việt Nam thế kỉ XX (2001) cũng do
Hà Minh Đức chủ biên, người tiếp cận văn học của thế kỉ mới có dịp nhìn nhận văn học hiện đại Việt Nam trong bức tranh toàn cảnh của nó trong nhiệm vụ hiện đại hóa văn học, gìn giữ và phát huy truyền thống và cả trong nhiệm vụ chính trị của nó Vài năm sau, khoảng năm 2003, hai công trình
đáng chú ý là Văn học Việt Nam trong thời đại mới của Nguyễn Văn Long
và Văn học Việt Nam hiện đại - Lịch sử và lý luận của Phong Lê ra đời;
chúng nhằm vào mục tiêu hoàn thiện một cách nhìn về văn học hiện đại Việt Nam trong đó có văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Các tác giả đã vạch ra từng chặng đường phát triển của văn học dân tộc ở thế kỉ XX, ghi nhận thành tựu và hạn chế của nó Và từ đó đến nay, dường như bàn về văn học cách mạng Việt Nam cũng chưa đến hồi kết, nhất là trong điều kiện nghiên cứu, trao đổi, bình luận văn học được mở rộng ở cả phạm vi mạng điện tử như hiện nay Không khó để người theo dõi văn học tìm cho mình một bài viết thuộc phạm trù này trên các trang mạng in-tơ-nét Tuy nhiên, theo chúng tôi, tất cả chỉ bàn đến văn học 30 năm ấy với tư cách một nền văn học, ở bề rộng (tức là
ở diện của nó) chứ chưa tìm hiểu nó trong thế giới nhân vật chính của nó (tức
là khai thác điểm) thông qua nhân vật trung tâm của thời đại và với một số thể
loại chủ yếu
Trang 7Do vậy, chúng tôi đặt ra cho mình công việc ấy Thêm vào đó, chúng tôi
xác định một trọng tâm cho mình là con người mới, một hình tượng với tư
cách một chân dung văn học Các công trình đã nêu đã gợi dẫn cho chúng tôi
Chúng tôi xem xét con người mới trong lịch sử thế giới các nhân vật văn học
Việt Nam thế kỉ XX trong đó không thể nào không kể đến cảm hứng thời đại của nó Một điều có thể nhận thấy là “trong thời đại hiện nay rất khó tìm hình ảnh quy tụ duy nhất của con người thời đại” (Hà Minh Đức) so với các giai đoạn văn học trước và sau Cách mạng tháng Tám Cho nên chúng tôi thấy là việc khảo sát sẽ giúp có một hướng đi phù hợp hơn cho văn học trong kỉ nguyên mới
4 Phương pháp nghiên cứu
Xác định đề tài và mục đích nghiên cứu như trên chúng tôi lựa chọn một
số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử - xã hội, nghĩa là tìm hiểu đối tượng trong môi
trường phát sinh, vận động của nó và trong những điều kiện xã hội mà nó tham gia Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, như đã nêu ở trên, đã vận động khác với trước 1945 và sau 1975 Do vậy, ngược trở lại quá khứ để bình giá một hiện tượng, chính phương pháp lịch sử - xã hội sẽ giúp ta không lạc điệu, không áp đặt quan điểm Thêm nữa, đây đã là phương pháp được thừa
nhận về tính khoa học của nó (Nguyễn Văn Dân trong cuốn sách Phương
pháp luận nghiên cứu văn học đã đề cập vấn đề này)
- Phương pháp hệ thống, tức là đi tìm hiểu đối tượng trong những hệ
thống chứa nó Đối tượng mà chúng tôi xác định ở trên có nhiều cấp độ và được đặt trong những hệ thống khác nhau Trước hết là cấp độ thể loại: các tác phẩm được chọn là các phẩm thuộc thể loại văn xuôi Thứ đến là cấp độ
đề tài: đề tài chiến đấu và đề tài lao động xã hội chủ nghĩa Tiếp theo là cấp
độ hình tượng: hình tượng con người mới Các hệ thống đã xác định đều nằm
Trang 8trong phạm vi phản ánh của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa của Việt Nam
và Xô-viết ở một thời đoạn nhất định
- Phương pháp so sánh, tìm hiểu hai nền văn học có cùng phương pháp sáng tác cũng chính là đi tìm điểm giao nhau giữa chúng Phương pháp so
sánh giúp định vị một hiện tượng Thêm vào đó, nằm trong dụng ý đánh giá hình tượng “con người mới” trong văn xuôi cách mạng Việt Nam, chúng tôi còn mong muốn từ các kết quả so sánh để đi đến khẳng định đặc trưng của khuynh hướng sáng tác một thời của văn học dân tộc mà có lẽ từ đó về sau không thể tìm ở một giai đoạn khác Ở đó, văn học sử đã ghi nhận dấu ấn riêng trong cảm hứng sáng tạo của văn nghệ sĩ Việt Nam trong hai cuộc chiến
thần thánh là cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi
Các phương pháp trên luôn được đặt trong quá trình phân tích, bình giá, điều tra, đối chiếu để góp phần làm sáng tỏ cách nhìn đối với một hình tượng văn học trong quá khứ
5 Đóng góp của luận văn
Lật lại một vấn đề không mới, chúng tôi nhận thấy công trình chưa thực
sự là một công trình hoàn toàn mới Tuy nhiên, khi xác định bàn bạc về hình
tượng con người mới chúng tôi nhận thấy đã làm được một số việc hữu ích
sau:
- Góp thêm một cách nhìn của người tiếp nhận văn học ở thế kỉ XXI về mặt mạnh và hạn chế của hình tượng nhân vật qua đối sánh với thế giới các nhân vật văn học của hai giai đoạn trước và sau nó Theo đó, chúng tôi khẳng
định con người mới cũng là một chân dung văn học, cùng với nó, thế giới các
nhân vật trong văn học dân tộc là một vườn hoa nhiều sắc để người đọc có thể thưởng thức, khám phá
- Tiến hành đối sánh với hai giai đoạn văn học khác về môi trường tiếp xúc với văn học cách mạng là để làm sáng rõ đóng góp lớn lao của văn học
Trang 9cách mạng Việt Nam đối với lịch sử và văn học dân tộc, điều mà nhiều công trình, hoặc chỉ đối sánh với văn chương thời thuộc Pháp, hoặc chỉ đối sánh với văn chương đương đại Việt Nam trong cuộc vươn mình ra bên ngoài
- Bày tỏ niềm mong muốn về những đóng góp thực sự đỉnh cao hơn của văn chương Việt mà chính văn học quá khứ là một kinh nghiệm vô giá cho tương lai văn học dân tộc Điều này có lần nhà nghiên cứu Phong Lê đã trăn
trở: “Văn học Việt Nam thế kỉ XX quả có những đóng góp thật lớn và quý giá
cho cộng đồng dân tộc và văn hóa dân tộc Nhưng cũng đã đến lúc cần tính đến những đóng góp cho nhân loại Cần nâng tiếng nói dân tộc được kết tinh trong tiếng nói văn học ra thế giới…” [35, tr.71]
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 90 trang Ngoài phần Mở đầu (10 trang), Kết luận (5 trang), Thư mục tham khảo (7 trang), nội dung luận văn được xây dựng từ
Chương 2: HÌNH TƯỢNG “CON NGƯỜI MỚI” TRONG VĂN HỌC HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1945 – 1975 QUA MỘT
SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI TIÊU BIỂU (31 trang) Đây là chương thực
Trang 10hành việc đối sánh một số tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của Việt Nam được sáng tác theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa với một số tác phẩm văn xuôi Xô-viết mà nó chịu ảnh hưởng Bằng công việc này, chúng tôi chỉ ra điểm gặp gỡ về nội dung và cách thức xây dựng hình tượng của các tác giả, tác phẩm Quan niệm rằng lấy đối tượng được ảnh hưởng để đối chiếu với đối tượng chịu ảnh hưởng để thấy sức ảnh hưởng cho nên chúng tôi nghiêng vấn
đề về một số tác phẩm một thời của văn học Việt Nam tạo được sự quan tâm của dư luận Từ đó, chúng tôi dẫn dắt vấn đề đến chương còn lại
Chương 3: NHÌN NHẬN VÀ ĐÁNH GIÁ HÌNH TƯỢNG “CON NGƯỜI MỚI” TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM 1945 – 1975 (16 trang)
Xem xét một hình tượng văn học trong quá khứ vốn lại là hình tượng ra đời trong nhu cầu bức thiết của cuộc đấu tranh cách mạng, cho nên sẽ không tránh khỏi thiếu sót Do vậy, nhìn nhận và đánh giá “con người mới” chúng tôi tiến hành đặt trong thế so sánh với các hình tượng văn học các giai đoạn trước và sau nó để có thể bình giá, cho ý kiến một cách khách quan Với những ưu trội
và bất cập của nó, văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 đã phát huy vai trò ra sao, để lại bài học gì cho văn học các giai đoạn sau nó? Chúng tôi hướng đến khẳng định sức đóng góp lớn lao của văn học thời chiến nhưng cũng lưu ý về việc đúc rút những kinh nghiệm cho bước đi hiện tại của văn học nước nhà
Trang 11Chương 1
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
1.1 Khái lược về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa
Tìm hiểu bất kì một nền văn học, một hiện tượng văn học nào cũng phải đặt trong dòng chảy của thời đoạn mà nó tồn tại Trong lịch sử văn học nhân loại, mỗi giai đoạn, mỗi thời kì có những dòng văn học và phương pháp sáng tác riêng đóng vai trò chủ đạo
Ở mỗi thời đại và tùy vào bước đi của mỗi quốc gia, văn học dự phần tích cực vào việc thay đổi diện mạo đời sống tinh thần Cho đến trước thế kỉ
XX, văn học Việt Nam đi trong xu thế chung của khu vực là chủ nghĩa Cổ điển Đến đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa Hiện thực phê phán và chủ nghĩa Lãng mạn phương Tây đã vào Việt Nam, đưa văn học nước ta gia nhập quỹ đạo văn học hiện đại thế giới
Đêm trước của cuộc cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo, trong địa hạt văn chương, ở thế kỉ XIX, nhất là từ những năm 40 trở đi, nhu cầu miêu tả cuộc sống như chính nó vốn có đã được các nhà văn đặt ra bằng các sáng tác theo khuynh hướng hiện thực và với cảm hứng phê phán Ở đó, các nhà văn đặt ra vấn đề tái tạo đời sống “trong những hình thức của bản thân đời sống”
và văn học thế giới đã ghi nhận những tên tuổi sáng giá của dòng văn học hiện thực như Bandắc, Gôgôn, L Tônxtôi, Đốtxtôiépxki v.v… Đến giữa thế
kỉ XX, lịch sử nhân loại chuyển mình, việc tồn tại hệ thống xã hội chủ nghĩa đối trọng với tư bản chủ nghĩa đã dẫn đến sự ra đời dòng chủ lưu của văn học các nước xã hội chủ nghĩa mà phương pháp sáng tác mới nhất được khẳng định lúc ấy là Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (từ đây sẽ viết tắt CNHT
Trang 12XHCN) Vào những thập niên đầu thế kỉ XX chủ nghĩa hiện thực vẫn tiếp tục đảm đương vai trò trọng yếu của nó đối với văn chương thế giới, tuy vậy, sự xuất hiện của trào lưu HT XHCN đã tạo được thế đối trọng với các phương pháp sáng tác mới, chủ yếu được trọng dụng ở nước tư bản phương Tây khác biệt về thể chế chính trị Vào thời điểm CNHT XHCN ra đời và vào những năm phát triển nhất của nó, nó được văn học các nước XHCN coi là một phương pháp ưu việt của ý thức vô sản, của nhân sinh quan cộng sản
CNHT XHCN, xét về phương diện một phương pháp sáng tác, có những đặc điểm chính sau đây:
1.1.1 CNHT XHCN – Phương pháp sáng tác gắn với một thể chế chính trị
Đây là một hiện tượng hiếm khi xảy ra trong lịch sử văn hóa nhân loại Xưa nay, chưa từng thấy có một phương pháp sáng tác nào mà ngay từ đầu đã được đặt tên, hơn nữa là, cái tên ấy gắn với tên của một hình thức nhà nước Cho nên, phương pháp sáng tác này, về nguyên tắc, tất yếu hàm chứa bên
trong mình tính chất giới hạn về thời gian và không gian Xét về giới hạn
thời gian, nó có một đời sống gắn liền với sự hình thành, phát triển và kết cục của một hình thức nhà nước; xét về giới hạn không gian, nó được coi là dòng chủ lưu chỉ ở các nước XHCN Sự giới hạn này không quan sát thấy trong các phương pháp, trào lưu sáng tác khác trên thế giới
Cùng với sự ra đời của nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới, và sau này là cả một hệ thống các nước XHCN, một nền văn học nghệ thuật mới ra đời – đó là nền văn học vô sản Riêng nội hàm “văn học vô sản” đã cho thấy đây là một nền văn học được xác định như một hình thái hoạt động của ý thức
hệ Ý thức hệ đó có tính chất đối lập với ý thức hệ của giai cấp tư sản – giai cấp mà cách mạng vô sản vừa đánh đổ Cho nên việc phê phán quan điểm văn học tư sản của CNHT XHCN sẽ được thể hiện trong cả nội dung lẫn thủ pháp
Trang 13nghệ thuật của văn học, được quy định chặt chẽ bởi lập trường giai cấp của người viết Từ đó, “chìa khoá vạn năng” để khám phá tác phẩm văn chương cũng như thế giới tư tưởng của tác giả chính là “tâm lí giai cấp”
Ngày 30/12/1922, một quốc gia mới được thành lập gọi là “Liên bang
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô-viết” (gọi tắt là Liên Xô) Nhằm nhà nước
hóa các hoạt động văn nghệ và khoa học, ngày 23/04/1932 Bộ Chính trị Đảng
Cộng sản Liên Xô ra Nghị quyết về việc thống nhất tất cả các nhóm văn học
vào một tổ chức duy nhất gọi là Hội các nhà văn Xô-viết, nằm dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Từ đây, Hội các nhà văn và các Viện nghiên
cứu văn học ở Liên Xô trở thành những cơ quan phát ngôn cho tiếng nói
chính thống của Đảng và Nhà nước
Ngày 16/10/1932, trong một cuộc tọa đàm văn học, Stalin đã xác định
phương hướng sáng tác của văn học Xô-viết: “Nhà nghệ thuật cần phải miêu
tả chân thực cuộc sống Nếu như anh ta miêu tả cuộc sống thì anh ta không thể không chú ý và không thể không phản ánh cuộc sống đang hướng về CNXH Đó chính là CNHT XHCN” [dẫn theo 72, tr.78] Đó là lần đầu tiên
thuật ngữ “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” được nêu ra Tiếp theo, trong Đại hội các nhà văn Liên Xô lần thứ nhất (tháng 8/1934), CNHT XHCN được tuyên bố chính thức là phương pháp sáng tác cơ bản của văn nghệ Liên
Xô M Goócki, trong Đại hội đó, đã khẳng định vai trò, vị trí của nhà văn:
“Vị trí của chúng ta (nhà văn Xô-viết – tác giả luận văn) không chỉ là vị trí
những người phê phán việc đời và mọi người […] chúng ta còn có quyền tham gia trực tiếp vào việc xây dựng cuộc sống mới, việc cải tạo cuộc đời”
[22, tr.49] Như vậy, có thể thấy rất rõ là, phục vụ chính trị được xem là sứ mệnh cao quý của nền văn nghệ và là trách nhiệm hàng đầu của các nhà văn Xô-viết, những nhà văn cách mạng Ước vọng cũng vừa là tham vọng cải tạo thế giới chính các nhà văn Xô-viết cũng đặt ra cho mình
Trang 14Sau Thế chiến II, hệ thống các nước XHCN ra đời Cùng với nó, nền văn học vô sản và phương pháp sáng tác HT XHCN được hình thành, trong đó có Việt Nam Phương pháp sáng tác này tồn tại như một phương pháp độc tôn cho sáng tạo nghệ thuật ở Liên Xô trong suốt hơn nửa thế kỉ Cùng với sự sụp
đổ của Liên bang Xô-viết và sự tan rã của khối các nước XHCN Đông Âu, nền văn học vô sản cùng phương pháp sáng tác HT XHCN dần dần trở thành
hiện tượng lịch sử: “Mươi năm trở lại đây, không tìm thấy tạp chí nào còn
đăng những bài viết về hiện thực xã hội chủ nghĩa Ở nước Nga, hầu như không có trường đại học nào sử dụng các bộ giáo trình của những tác giả rất đỗi quen thuộc với độc giả Việt Nam như G L Abramôvich, L.V Sêpilôva, S.M Pêt’rôp, L.I Timôphâyep…” [46, tr.76].
Sơ lược lại sự hình thành và kết thúc của nền văn học HT XHCN, chúng
ta có thể khẳng định tính chất giới hạn về không gian và thời gian của một phương pháp sáng tác từng gắn với một thể chế chính trị Tính chất gắn bó với chính trị này sẽ quy định cách phản ánh hiện thực trong văn học mà chúng tôi xin trình bày dưới đây
1.1.2 CNHT XHCN – Phương pháp sáng tác có những nguyên tắc riêng trong quan niệm phản ánh hiện thực
Như một đòi hỏi mang tính tất yếu, ở thế kỉ XX, trong công cuộc đấu tranh chống kẻ thù phát xít, đế quốc, nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa đã tìm thấy ở văn học một thứ khí giới tinh thần hữu hiệu để sử dụng Bước lên
vũ đài chính trị thế giới, giai cấp vô sản phải xây dựng một ý thức hệ cho mình và do vậy cũng cần xây dựng nền văn học nghệ thuật của riêng mình
Nền văn học ấy có những nguyên tắc riêng của mình trong cách phản ánh
hiện thực Đó là cách tái hiện một cuộc sống cụ thể, lịch sử, cách mạng,
nghĩa là nó phải như cuộc sống vốn có đồng thời lại luôn hướng về tương lai
Bằng văn học và qua văn học, nhà văn phải hướng đến việc cải tạo hiện thực,
Trang 15con người, điều này đồng nghĩa với việc văn học phải coi chức năng quan
trọng nhất của nó là nhận thức và giáo dục Nói chung thì, CNHT XHCN,
với tư cách là phương pháp sáng tác chủ yếu ở các nước xã hội chủ nghĩa, đã đặt ra nguyên tắc đối với văn học nghệ thuật các nước này là: văn học – nghệ thuật không chỉ nhận thức thực tại, nhận thức cuộc sống mà còn góp phần cải tạo xã hội, cải tạo con người
Viết về bất kì đề tài nào, xây dựng nhân vật ra sao thì nhà văn cũng phải xuất phát từ những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết của cách mạng Tư cách nhà văn đồng hành cùng tư cách người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa văn
nghệ Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, vì thế, là nền văn học gắn bó mật thiết với cuộc sống, rất nhạy bén với những vấn đề xã hội nóng hổi, nó mang tính thời sự và tính chiến đấu…
Đối tượng miêu tả đồng thời cũng là nội dung phản ánh của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là cuộc sống và những con người của thế giới mới; phương thức miêu tả trong văn học là kiểu miêu tả giống như thực; cảm hứng
lãng mạn, anh hùng ca cũng được thể hiện và do đó, âm hưởng chủ đạo của
nền văn học này là âm hưởng lạc quan Tất cả đều cùng hướng vào việc đấu
tranh cho lí tưởng của chủ nghĩa xã hội được xem như là ánh sáng, là niềm tin
đối với loài người lúc bấy giờ Do vậy, “các thử nghiệm và phát hiện về nghệ
thuật của các trào lưu chủ nghĩa tiền phong, chủ nghĩa hiện đại đều bị coi là
xa lạ, có hại…” (dẫn theo Lại Nguyên Ân)
Những điều diễn giải ở trên là để chứng minh định nghĩa của Lại
Nguyên Ân: “CNHT XHCN là hiện tượng đặc thù trong văn hoá nghệ thuật
nhân loại thế kỉ XX: đây là lần đầu tiên một số nguyên tắc về khuynh hướng nghệ thuật được đề ra như một chuẩn mực mang tính pháp quy, được coi là độc tôn trong toàn bộ đời sống của các nền văn học dân tộc CNHT XHCN là một trong những nhân tố bề sâu để cấu thành một thiết chế văn học đặc biệt,
Trang 16mang tính nhà nước rõ rệt…” [3, tr.92-93]
Với tư cách là hiện tượng quốc tế một thời, CNHT XHCN là một phong trào, một hệ thống nghệ thuật thế giới thống nhất ở thế kỉ XX chủ yếu trong phạm vi cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa anh em CNHT XHCN đã tạo được tiếng vang lớn trong thời đại của nó Có thể đến nay nó chỉ còn là những
kí ức thi thoảng được nhắc đến nhưng không thể phủ nhận sức ảnh hưởng của
nó ngay từ khi mới ra đời và trong suốt thời kì xã hội chủ nghĩa được xác lập như một hệ thống chính trị sừng sững Có những giáo điều, cứng nhắc trong việc chính trị hóa văn học đã bị phủ nhận trong một thời gian dài chính là để người thưởng thức văn học nhận chân những giá trị, để đời sống văn học nhân loại phong phú hơn, đa sắc hơn và ngày một mới mẻ hơn Nhận xét như nhà nghiên cứu Phong Lê sau đây thể hiện sự suy nghĩ đúng đắn hơn cả về một phương pháp đã một thời là quan trọng nhất của văn hóa, văn học nhân loại:
xã hội chủ nghĩa hoặc văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa quả có những điểm mới, khác, mang giá trị cách tân ở thời kỳ đầu theo quy luật chung của sự phát triển nghệ thuật…”; “Hiện thực xã hội chủ nghĩa thế kỉ XX, đúng như tên gọi của nó, là sản phẩm trực tiếp của cách mạng vô sản và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, để trở thành tiếng nói đại diện và chính thống của một
hệ thống chính trị – thay vì là sự tiếp tục trong nguồn mạch lịch sử chính bản thân sự phát triển tự nhiên của ý thức nghệ thuật” [85]
Trong khả năng và nhiệm vụ đặt ra cho mình, văn học HT XHCN đã hướng đến những giá trị tốt đẹp của con người và cuộc sống Ở đó văn học đã
“coi việc đấu tranh nhằm khẳng định bằng nghệ thuật những cái mới, tích
cực, tiên tiến, tốt đẹp trong cuộc sống là nhiệm vụ chủ yếu […] đồng thời không xem nhẹ việc mô tả những cái tiêu cực, lạc hậu, xấu xa nhằm mục đích xóa bỏ chúng” [27, tr.81] Như vậy, ý nghĩa mà văn học HT XHCN hướng
Trang 17đến đã mang lại cho con người niềm mơ ước tốt đẹp là không thể chối bỏ Trong lịch sử văn học, từ khi văn học chưa thành văn đến lúc bắt đầu có chữ viết để sáng tác và bắt đầu khẳng định vị trí của nó trong đời sống tinh thần con người, có một nền văn học nào lại không hướng đến việc khẳng định những giá trị cao đẹp? Nhắc lại hiện tượng văn học một thời đã qua, chúng tôi muốn khẳng định những nỗ lực mà một thời CNHT XHCN đã dốc toàn bộ tinh lực cho những thay đổi lớn của lịch sử loài người Dù sao, người tiếp nhận văn học hôm nay, trong một thế giới đã bớt đi việc các nước lớn hòng
thôn tính nước bé, một thế giới tạm gọi là an ninh, một thế giới phẳng trong tinh thần hợp tác, vẫn phải thừa nhận rằng CNHT XHCN là phạm trù, là sản
phẩm của một tất yếu lịch sử Dư âm của nó vẫn còn vang vọng bởi lẽ các sáng tác của các nước XHCN ngày trước hẳn vẫn còn chiếm được tình cảm nhiều trái tim độc giả
Những bước đi cụ thể của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và các nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa có liên quan đến phạm vi tìm hiểu của
đề tài chúng tôi lần lượt điểm qua ở phần 1.2
1.2 Sự ra đời nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
và Việt Nam
1.2.1 Nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
Nước Nga thời kì Xô-viết là quê hương của cách mạng Tháng Mười từng
“lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” vào những thập niên đầu thế kỉ XX Nước Nga ngày nay đã rẽ sang một ngả khác từ khi Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô-viết tan rã vào năm 1991 Tuy vậy, nghĩ về cái nôi của cách mạng vô sản quốc tế ta lại khó lòng quên ở đó còn là cái nôi của văn học vô sản một thời, nền văn học với những thành tựu không thể chối bỏ giờ đây chỉ còn trong quá vãng
Trang 18Vào buổi đầu của cuộc cách mạng do giai cấp vô sản Nga thực hiện, những sáng tác của M.Goócki đã cổ vũ một cách mạnh mẽ tinh thần của giai
cấp đang lên (mà nhiều người vẫn nhắc đến tác phẩm Người mẹ của ông)
Con chim ưng đầu đàn ấy đã sản sinh một loạt những tác phẩm viết về những con người tiên tiến của thời đại, về những điều đang sẽ trở thành hiện thực trên một đất nước đấu tranh cho hòa bình và tiến bộ của loài người Và cũng chính M Goócki đã được xem như là người có công đầu đối với nền văn học
vô sản Xô-viết Nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở nước Nga – Xô-viết
đã ra đời trong cuộc bão táp cách mạng tháng 10 (lịch cũ của Nga) năm 1917 Như trên đã nói, sau khi Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô-viết được thành lập (1922), với mục tiêu thống nhất các tổ chức văn nghệ thành một cơ quan duy nhất trên toàn liên bang đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản, nhằm “đưa các nhà văn có xu hướng nghệ thuật và trình độ chính trị
khác nhau đi vào đại lộ của nền văn học Xô viết là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” [38, tr.92], Đại hội Hội nhà văn Liên Xô được tiến hành vào năm
1934 Ở đó, điều lệ của Hội đã xác định chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa
là phương pháp sáng tác chủ đạo trong văn học Xô viết Từ đó, văn học vô sản Nga đã phát huy vai trò của một nền văn học xã hội chủ nghĩa mới mẻ nhưng đầy xung kích đối với văn học thế giới trong mục tiêu đấu tranh cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Nhà văn Xô-viết, để dự một phần lớn vào
“cuộc tái sinh màu nhiệm” trong văn học và trong cuộc sống, nhất thiết phải
trở thành và phải thực sự là nhà văn – chiến sĩ Đó là đòi hỏi của đất nước, và
dường như, cả đối với nhà văn Nhà văn và nền văn học ấy buộc phải chuyển mình, phải vào cuộc, đáp ứng những đòi hỏi cấp thời
Với vai trò là người anh cả trong cộng đồng thế giới mới lúc bấy giờ, văn học Nga – Xô-viết đã đi đầu bằng các tác phẩm có sức lôi kéo hàng triệu con người trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung ở những năm nửa đầu thế
Trang 19kỉ XX, trong công cuộc lao động, kiến thiết đất nước nhằm tạo dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội Các nhà lí luận ở Nga – Xô-viết đã đúc kết thành những luận thuyết và từ đó CNHT XHCN được dùng như một kiểu thước đo, một tiêu chuẩn mang tính pháp quy để điều chỉnh sự phát triển của văn học nghệ thuật
Ở thế kỉ XX, văn học Nga chia thành nhiều dòng khác nhau, có bộ phận văn học đầu thế kỉ mà hiện nay giới nghiên cứu đang thừa nhận rằng nó phân hóa khá phức tạp, có bộ phận văn học vô sản (giai đoạn nhà nước Xô viết,
phải kể từ năm 1934 đến 1991), có dòng văn học Nga ở hải ngoại, “một đại
lục văn hóa tinh thần đầy mâu thuẫn […] thù địch về mặt chính trị (với nhà
nước Xô-viết – tác giả luận văn) nhưng đồng thời cũng toát lên nỗi đau nhức
nhối và lòng yêu mến quê hương đất nước mình mà một lúc nào đó đã buộc phải từ giã ra đi” [11, tr.74] và có cả một bộ phận văn chương đầy giá trị đã
từng bị cấm đoán dưới thời Xô-viết, bộ phận tự phát hành với những tên tuổi
đã vinh danh cho văn học hiện đại Nga như Paxtécnắc, Bungacốp v.v… Ngày nay, có nhiều cách đánh giá khác nhau về bộ phận văn học vô sản Nga (bộ phận được sáng tác và xem phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa
là chủ đạo) Có lẽ đó cũng là một quy luật trong lịch sử văn học: cái tích cực, thực giá trị sẽ được thừa nhận, cái xơ cứng, ấu trĩ sẽ phải cân nhắc đánh giá lại Nền văn học xã hội chủ nghĩa ở Nga ngày ấy đã đi đến cùng trong nhiệm
vụ tự đặt ra cho mình (mà cũng có lẽ là do ước vọng cải tạo thế giới theo tinh thần của chủ nghĩa cộng sản lớn hơn khả năng thực tế lúc ấy nên nó rơi vào khủng hoảng) cho nên nó đậm tính chính trị, đồng nhất văn học với chính trị Văn học bị chính trị hóa, vì thế mà, nó đã trở nên cực đoan, đã bỏ qua những tên tuổi và những tác phẩm xứng đáng, tất cả đã vượt ra khỏi biên giới một nước (chẳng hạn trường hợp Paxtécnắc) Nhưng đặt ra vấn đề bác bỏ văn học
Xô viết một thời cũng là điều cần phải được xem xét thấu đáo Thiết nghĩ chỉ
Trang 20nên thừa nhận rằng văn học Nga thế kỉ XX không chỉ có văn học thời Xô-viết
và không nên xem văn học Xô-viết là đỉnh cao của văn học Nga thế kỉ XX Những phát hiện mới khác về các tác phẩm văn học Nga thế kỉ XX sẽ giúp sáng tỏ vấn đề trên Thực tế đã chứng minh được rằng văn học của những giai đoạn tiếp theo luôn được tiếp mạch từ các giai đoạn trước nó, xét theo tinh thần biện chứng thì “cái mới không ra đời từ hư vô” Văn học Xô-viết, vì thế, cũng đã có sự chuẩn bị từ những thế kỉ trước nó, từ quá khứ rực rỡ của văn học nước nhà, đồng thời nó đã để lại những kinh nghiệm quý báu cho sự vận động của văn học các giai đoạn sau
Ngược trở lại thời kì văn học xã hội chủ nghĩa, đánh giá vai trò của nó một cách công tâm, chúng ta thấy ý kiến sau đây của Thúy Toàn khá xác
đáng: “[ ] nền văn học ấy tràn đầy niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng
của loài người; nó thấm nhuần tư tưởng chống đế quốc, chống phát-xít, chống mọi áp bức bốc lột; nó khẳng định tình hữu nghị giữa các dân tộc, tình đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản và những người lao động…” [73, tr.67]
Chính tính đảng và tính nhân dân trong đề xuất của Lênin đối với các tác
phẩm hiện thực xã hội chủ nghĩa đã mang đến cho văn học lúc bấy giờ tinh thần mà Thúy Toàn đã nêu ra Đọc lại các tác phẩm của M Goócki, Sôlôkhốp, Phađêép, N Ốxtơrốpxki,… chắc hẳn độc giả sẽ đồng tình với quan điểm trên
Từ đó, thiết nghĩ, nhìn nhận các tác phẩm văn học Nga – Xô-viết theo
cách nhìn của Đào Tuấn Ảnh là phù hợp hơn cả Bà nói : “Không nên xổ toẹt
giá trị của các tác phẩm văn học Nga – Xô viết đã từng được dịch ở Việt
Nam, nhưng cũng không nên đề cao quá mức” (Báo Thanh niên điện tử
nhân kỉ niệm 90 năm Cách mạng Tháng Mười Nga) Đề cập đến vấn đề
này, chúng tôi hướng vào nhiệm vụ chính của đề tài: tìm hiểu sự gặp gỡ giữa văn học Việt Nam và văn học Xô-viết trong xây dựng hình tượng “con người
Trang 21mới” Bởi lẽ, liên quan đến việc xây dựng hình tượng “con người mới” trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa chúng ta không thể không bàn đến nền văn học Xô-viết và các tác phẩm một thời có sức vang của nó Một thời, như
là sự ghi công văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Nga đối với tiến trình văn
học thế giới, các nhà Nga học chính thống đã xem nền văn học ấy từng “đưa
con người vào những vấn đề xã hội – chính trị nóng bỏng, truyền cảm cho độc giả niềm tin vào sức mạnh cải tạo xã hội của triệu triệu quần chúng lao động đang vươn dậy” (Nguyễn Kim Đính) Nhìn về văn học vô sản mà văn
học nước Nga – Xô-viết là trụ cột chính là để chúng ta soi rõ mình hơn trong những bước chuyển của quá khứ mà ngày ấy ta vẫn theo sát từng bước đi của người anh lớn Liên Xô, và đặc biệt, thấy được lịch sử dân tộc và lịch sử văn học một thời, để hiểu ta vẫn rất cần bạn để làm mới mình, để hiểu mình hơn Một điều đã được thừa nhận chắc chắn là, văn học cách mạng Việt Nam trong hai cuộc trường chinh chống Pháp, chống Mỹ đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi văn học Nga – Xô-viết
1.2.2 Nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tiến trình của văn học Việt Nam gần giống với tiến trình văn học thế giới và nhiều điểm gần gũi với bước đi của văn học Nga, mỗi một giai đoạn luôn có một phương pháp sáng tác giữ vai trò trọng yếu Trước Cách mạng tháng Tám 1945, chúng ta tiếp xúc với văn hóa Pháp trong tinh thần không hoàn toàn tự nguyện, dù vậy trong văn học ta đã đạt được những đỉnh cao với các tác phẩm thuộc chủ nghĩa hiện thực phê phán Sau năm 1945, với tư cách
là một quốc gia độc lập và sẵn sàng đương đầu với bất kì những trở lực bất nghĩa nào là rào cản đối với con đường khẳng định quyền tự do và độc lập của dân tộc, chúng ta cũng khẳng định sự lựa chọn của mình trong những bước đi của nền văn hóa mới Sau Thế chiến II, nhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam, thoát khỏi ách thuộc địa, đã chọn con đường của CNXH, và văn học Việt
Trang 22Nam lựa chọn con đường của văn hoá Nga – Xô-viết Đây là một sự lựa chọn không vì bị khuất phục bằng vũ lực hay vật chất mà là vì sự chinh phục của tư duy khoa học, của ánh sáng nhân văn Đi theo con đường XHCN là tin ở những gì tai nghe mắt thấy, ở thành quả thực tiễn ở Liên Xô Thành tựu của hơn 20 năm xây dựng xã hội mới ở Liên Xô đã khích lệ Việt Nam tin vào một tương lai tốt đẹp, tương lai của những chủ nhân mới đất nước là người lao
động Nguyễn Khải lí giải: “Học thuyết Mác-xít vốn xa lạ với người nông dân
Việt Nam, nhưng tác động của nó tới đông đảo quần chúng thật mãnh liệt và tức thì Lần đầu tiên một học thuyết nổi danh dám suy tôn những người thất học và bần cùng là nhân vật chính của lịch sử hiện đại, là chủ nhân ông đích thực của đất nước họ trong hiện tại và trong tương lai Rằng họ có sức mạnh dời non lấp biển, có thể đánh bại mọi kẻ xâm lược và kiến tạo một xã hội công bằng nhất trong lịch sử loài người” [32, tr.64]
Đề cương văn hóa của Trường Chinh ra đời năm 1943 rồi sau đó là Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam năm 1948 đều hướng vào khẳng định văn
hóa, văn nghệ là một lực lượng quan trọng phục vụ sự nghiệp kháng chiến Quan điểm này rất gần với quan điểm của các nhà quản lý văn học nghệ thuật Xô-viết sau Cách mạng tháng Mười Trong trước tác năm 1943 của Trường
Chinh xuất hiện thuật ngữ tả thực xã hội chủ nghĩa khi đề cập đến khuynh
hướng mới của một nền văn nghệ phục vụ kháng chiến Đến 1948, thuật ngữ này được chính thức đổi thành CNHT XHCN
Tắt đèn, Giông tố rồi Bước đường cùng khiến cho người nghệ sĩ cảm
thấy ngột ngạt, tù đọng trong tinh thần, họ thấy cần phải thoát khỏi trạng thái
ấy Đó là điều có thật một thời Không khí sục sôi sau Cách mạng tháng Tám khiến người nghệ sĩ có nhu cầu nhập cuộc bởi họ mang cảm giác “Đứng riêng tây ta thấy mình có lỗi” (Chế Lan Viên) Thêm nữa, khi tuyên bố ta sẽ “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để bảo vệ nền độc lập vừa
Trang 23có được thì cũng đồng thời cả dân tộc Việt Nam tự thấy mình đã đứng cùng chiến tuyến với các lực lượng tiến bộ lúc bấy giờ Đất nước Việt Nam, văn nghệ sĩ Việt Nam đã tìm đến quê hương Cách mạng tháng Mười và nền văn
học của nó như một sự lựa chọn duy nhất và hoàn toàn tự nguyện
Nhiều nhà nghiên cứu xem các sáng tác của Nguyễn Ái Quốc viết trong những năm hoạt động ở nước ngoài trước năm 1945 nằm trong khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa Các tác phẩm của Tố Hữu khi bắt đầu đến với
“mặt trời chân lí” cũng nằm trong khuynh hướng ấy Cuộc tranh luận của Hải Triều trước Cách mạng cũng nhằm xác định sự ra đời của khái niệm hiện thực
xã hội chủ nghĩa Nhưng, xem phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa là một phương pháp sáng tác của nền văn nghệ cách mạng của ta phải kể đến quan
điểm của Trường Chinh mà chúng tôi đã nêu Ngay sau Cách mạng tháng
Tám, văn học Việt Nam đã xác định cho mình một hướng đi Điều này khác với quá trình ta đương đầu với phương Tây, với Pháp trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, ngày ấy ta không có sự lựa chọn
Tiếp tục cuộc đánh trả đế quốc Pháp mưu đồ thôn tính nước ta lần nữa, văn học nghệ thuật dự một phần trong công cuộc thử thách cam go ấy Chúng
ta nhận thấy ở người bạn lớn Liên Xô một nền học thuật cần cho mình, ta tiếp nhận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như một phương pháp sáng tác tốt nhất lúc này Ta cảm thấy mình là một bộ phận của cuộc đấu tranh chung của nhân loại, cùng đi trên con đường lớn của nền văn hóa tiến bộ của loài người, khác với kiểu văn hóa phản động, ru ngủ mà ta ngộ ra lúc này, ta thấy cần phải có cuộc “lột vỏ”, cuộc “nhận đường” (đương nhiên là với cái buổi đầu còn bỡ ngỡ ấy, ta tự thấy văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô khởi xướng là ánh sáng duy nhất tỏ lối cho ta trong cuộc dò tìm con đường mới) Ngày trước ta đã tìm đến Cách mạng tháng Mười như đi về phía mặt trời thì lúc này văn học ta cũng tự nhận mình cùng chiến tuyến với văn học được sản
Trang 24sinh từ Cách mạng tháng Mười Bằng thực tế các tác phẩm (đặc biệt là từ năm
1948 trở đi), từ sau Đôi mắt của Nam Cao, văn học Việt Nam đã đi vào quỹ
đạo của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa mà hai đề tài xuyên suốt là chiến đấu và lao động trở thành những trăn trở không nguôi nghỉ đối với người nghệ sĩ Nguyễn Đình Thi đã từng bộc bạch trong Nhận đường: “Làm thế nào
để chúng ta hiểu được tâm hồn những lớp nhân dân đông đảo đang chiến đấu, làm thế nào sống được những tình cảm ý nghĩ của những lớp người xưa nay cách hẳn ta, làm thế nào để trở thành những con người của tầng lớp khác
để sống được sự sống của họ” [70, tr.29] Người nghệ sĩ thấy cần phải cất
tiếng nói của thời đại mới, về những con người mới – con người của một đất nước có chủ quyền, những con người “có trong đầu lý tưởng cách mạng” (Nguyễn Đăng Mạnh) Văn học nghệ thuật lúc này phải là một mặt trận, người nghệ sĩ phải là một chiến sĩ Với tâm thế đó, văn học Việt Nam 30 năm đấu tranh cách mạng cũng đồng thời là văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa,
không dày nhưng nền văn học ấy biết lấy “Lợi ích Tổ quốc là trên hết […]
Mọi lợi ích khác đều tạm thời phải gác lại, phải hy sinh đi” [41, tr.50]
Khi hòa bình lập lại trên miền Bắc, nửa tuyến đất nước bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, là hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam thì, văn học miền Bắc thể hiện rõ nét hơn cả tinh thần của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trên hai bình diện đề tài: chiến đấu và lao động Không khí sáng tác, số lượng các tác phẩm, các nhà văn đã trở nên sôi nổi, phong phú hơn rất nhiều
Những điều kiện lịch sử - xã hội nêu trên cho thấy khuynh hướng khuyến khích việc phản ánh trực tiếp và trực diện hiện thực đang diễn ra, buộc chất liệu phục tùng tư tưởng đã định sẵn của phương pháp sáng tác
HT XHCN, đã tìm thấy mảnh đất thích hợp để nền văn học Việt Nam mới phát triển
Trang 25Một thuận lợi cho văn học Việt Nam lúc này là chúng ta không cần phải
dò dẫm đi tìm cho mình những định thức, thuyết lý cho sáng tác, tức là về mặt
lý luận Tất cả, ta học từ Liên Xô Vả lại, những đòi hỏi tức thời của cuộc cách mạng không tạo nhiều điều kiện về thời gian và không gian cho người nghệ sĩ có thể nghiền ngẫm về những gì đang diễn ra Bằng chất liệu của mình và công thức của người bạn chí tình, những tác phẩm nóng hổi hơi thở cuộc sống liên tiếp ra đời, thể loại cũng hết sức đa dạng, phong phú: thơ ca,
truyện ngắn, tiểu thuyết, kí sự, tùy bút… Ba mươi năm văn học mới chưa có
tiền lệ đã “thực sự là một chứng nhân của một quá trình lịch sử hết sức hào
hùng” (Nguyễn Văn Long) Không tránh khỏi những cái mà với tư cách là người tiếp nhận tức thời chúng ta chưa thể sàng lọc ngay được những thô ráp
mà văn học nước bạn đã mắc phải (nghĩa là ta chưa chuẩn bị tâm thế đi tiếp nhận cái mình được tiếp nhận), chúng ta cũng đã lại rơi vào một loay hoay khác khi áp dụng một cách rập khuôn những định thức, những mô hình cho nền văn học mới của mình
Ngót nghét 10 năm cho cuộc đối đầu với Pháp và một khoảng thời gian không ngắn vừa kiến thiết vừa chiến đấu với Mỹ, tổng cộng dân tộc ta và văn học ta có 30 năm để tỏ rõ bản lĩnh, sức vươn của mình Cái thời kì có một không hai ở thế kỉ XX ấy, cái thời mà lịch sử dân tộc ta bây giờ và mãi mãi về sau không bao giờ muốn tái diễn, đã định vị cho một dòng văn học, cũng đã tạo nên không ít tên tuổi (và dĩ nhiên, cũng giống với văn học Nga – Xô-viết, chúng ta đã mắc bệnh không thể không chữa trị: chính trị hóa văn học)
Những tên tuổi ấy, như Phan Cự Đệ đã một thời tổng kết: “Chúng ta có cái
đẹp nhẹ nhõm, thanh thoát, trong sáng của Nguyễn Đình Thi, cái xù xì gân guốc, phong phú đến mức rậm rạp của Nguyên Hồng, cái hóm hỉnh, thông minh, tinh tế và thơ mộng của Tô Hoài, cái tỉnh táo sắc sảo đầy tính chất phát hiện của Nguyễn Khải, cái đôn hậu ấm áp điểm vẻ huy hoàng tráng lệ của
Trang 26Nguyễn Huy Tưởng, cái dân gian mà lại hiện đại của Nguyễn Thi, cái hùng tráng thi vị của Nguyễn Trung Thành, cái trữ tình tha thiết đến độ say đắm của Anh Đức, cái trí tuệ, hài hòa và cân đối đến mức cổ điển của Phan Tứ…”
[14(1), tr.155-156] Dù ngày nay cũng có nhiều luồng ý kiến khi nhìn nhận văn học cách mạng một thời, nhưng chắc hẳn nhiều người khó lòng bác bỏ
tổng kết nho nhỏ trên của tác giả công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Trong khuôn khổ sự quan tâm của chúng tôi, và cũng trong phạm vi nhân vật trung tâm của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, hình tượng “con người mới” có một ý nghĩa đặc biệt của nó đối với văn học Một thời nó đã chiếm được cảm tình của nhiều trái tim người đọc, và cũng một thời, nhờ nó
mà một khuynh hướng văn học được xác lập mà có lẽ sau nó chúng ta đã
không tìm thấy lần nữa: khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
1.3 “Con người mới”: nhân vật trung tâm của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa
Khi chúng ta tiếp xúc với văn hóa và văn học Trung Hoa, truyền thống
phương Đông quy định việc tiếp cận và thể hiện con người trong văn học Kẻ
sĩ phong kiến với cái khí phách rất kẻ sĩ và cách tự vẽ mình trên trang viết đã
tạo những dấu ấn riêng nơi Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát Vả lại, chúng ta vẫn nằm trong khuôn khổ của một nhà nước phong kiến, cho nên kẻ sĩ ấy là người anh hùng thời phong kiến Đó là nói về con người trong văn học trung đại quá khứ (bên cạnh kẻ sĩ với tư cách là những thân phận thanh cao còn có không ít những con người “dưới đáy” khác) Chúng ta đã có một bề dày những sáng tác và những gương mặt được liệt vào hàng “cổ điển” của văn học nước nhà thời trung đại
Sang thế kỉ XX, nền văn hóa Pháp mang đến cho ta một kinh nghiệm trong việc thể hiện con người Ảnh hưởng mạnh mẽ của chủ nghĩa hiện thực thế giới mà các tác giả của dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 đã
Trang 27dày công học hỏi từ nhà trường Pháp, con người trong văn học Việt Nam lúc
bấy giờ là những con người bé nhỏ, những con người cảm thấy mình trở nên
thừa thãi, vô nghĩa, bơ vơ ngay trên chính quê hương mình, những con người luôn mang một bi kịch nào đấy trong tâm hồn Nhưng khi âm hưởng Cách mạng tháng Mười Nga vọng đến, nền văn học khác về chất so với trước đã được hình thành, nhân vật trung tâm trong văn học cũng khác trước Đó không phải là kiểu hiệp sĩ như nhân vật của Xécvantéc thời Phục hưng ở Châu
Âu, không phải là kiểu anh hùng Từ Hải của Nguyễn Du, lại càng không phải anh hùng cứu quốc với cái “số đỏ” luôn hậu thuẫn như nhân vật Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng trong văn học hiện thực phê phán Họ là những anh
hùng với nghĩa đầy đủ, toàn vẹn của từ này Họ được gọi bằng cái tên con người mới
Con người mới lúc này là sản phẩm của nền văn học cách mạng, được sản sinh từ sau cuộc đối đầu lịch sử giữa hai lực lượng chính trị Ngày trước, khi chưa có Cách mạng tháng Mười (ở Việt Nam thì từ sau Cách mạng tháng Tám), họ mang một thân phận khác, một tinh thần khác Từ đó trở đi, cả trong đời sống và trong văn chương, con người đều được nhìn nhận và đánh giá chủ yếu dựa trên những phẩm chất chính trị Con người mới tồn tại đồng thời cùng với quá trình bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trong văn học ở các nước xã hội chủ nghĩa Họ chiến đấu và lao động quên mình vì bản thân mình, vì dân tộc mình và còn vì nhân loại lúc ấy Phải lùi lại những ngày sôi sục của nước Nga trong và sau Cách mạng tháng Mười, của Việt Nam những ngày tổng khởi nghĩa tháng Tám và khi có được nền cộng hòa đầu tiên thì không khó để lí giải những điều trên
Trong thực tế, những con người này là những người lao động, chiến đấu bình thường nhưng đầy hăng hái, tràn niềm tin vào cuộc sống mà họ dần được làm chủ từ khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng trên quê hương họ Đi vào
Trang 28văn học, họ được xem như những người con ưu tú, tiên tiến nhất thời đại (dĩ nhiên là trong nhãn quan của các nhà lãnh đạo, các nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa) Và do vậy, con người mới – những con người của cách mạng – cũng đồng thời là động lực cho cách mạng, cho cuộc đấu tranh vì thắng lợi của chủ nghĩa xã hội mà Liên Xô khởi xướng ở thế kỉ XX Và cũng do vậy,
họ được ghi nhận, được mô tả như những con người đẹp nhất, lớn lao nhất, giàu tính tranh đấu nhất… nói chung là, bằng cảm hứng ngợi ca, lạc quan Họ được thừa nhận là những con người sống có lý tưởng, có mục đích, “hiểu việc mình làm và con đường mình đang đi”; những con người đứng ở mũi nhọn nóng bỏng nhất trong cuộc chiến đấu vì lợi ích chính trị thiêng liêng của Tổ quốc
Đi vào các tác phẩm văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, để nhân vật trung tâm của mình mang những đặc điểm như đã chỉ ra ở trên về nền văn học
vô sản, các nhà văn tạc họ thành những bức tượng đẹp đẽ, toàn bích Con người mới trong văn học luôn lớn hơn con người đời thường của họ, bởi bút pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải miêu tả trong quá trình phát triển cách mạng của nó Vì thế công thức, môtíp cho xây dựng nhân vật chính của các nhà văn lúc này là như nhau Bởi vì nhiệm vụ của văn học là miêu tả cho hay, cho hùng hồn những con người mới như động viên của chủ tịch Hồ Chí
Minh Nói như Trường Chinh thì con người mới “Đó là những người anh
hùng mới của thời đại chúng ta, những con người dũng cảm trong lao động
và đấu tranh, một lòng một dạ yêu nước, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội”
[9, tr.259]
Con người mới lúc này phải làm nên những điều vĩ đại Trước hết nó cần
phải có phẩm chất vĩ đại mà theo Tố Hữu thì con người mới vĩ đại “không
phải ở chỗ nó không có sai lầm, khuyết điểm, mà ở chỗ nó kiên quyết sữa chữa những sai lầm, khuyết điểm, khắc phục những yếu đuối của mình để tiến
Trang 29lên và tiến mãi không ngừng” (Báo cáo đọc trước Đại hội văn công toàn
quốc – 1955) Cái khác biệt nhất của con người mới so với những nhân vật
văn học trước đó là khả năng làm chủ: làm chủ tập thể và làm chủ bản thân Văn học Xô-viết cũng đã từng đặt ra vấn đề này M Goócki đã từng nêu ý kiến trong Đại hội Nhà văn Xô viết lần thứ nhất (1934) về con người mới như
sau: “Con người thời đại thấy tỉnh dậy trong lòng mình cái ý thức về nhân
phẩm và tự xem mình là một lực lượng thực sự cải tạo thế giới” [22, tr.39]
Có thể nói không ngoa rằng đấy cũng là một kiểu người khổng lồ (như cách nghĩ của Mác) Theo yêu cầu và chủ trương của Đảng, những nhân vật văn học đi chệch những điều đã được quy thành công thức thì được xem là thiếu tính đảng, không đúng với bút pháp, tinh thần hiện thực xã hội chủ nghĩa Nhà văn không được phép thể hiện trên tác phẩm những yếu tố, những biểu tượng mang tính “hai mặt”, như thế họ chưa thực sự là những nhà văn chiến sĩ Nhiều nhà văn, vì thế, phải điều chỉnh tác phẩm của mình, thậm chí còn hứng chịu những hình thức xử lý không nhẹ nhàng dành cho người cầm bút, nhà văn Xô-viết và nhà văn Việt Nam đều thế
Con người mới trên trang viết về đề tài chiến tranh thường là những người lính Trong đề tài lao động, sản xuất, họ là những anh hùng lao động Những con người mới ấy thường là những đoàn viên, đảng viên cộng sản
Nếu như ngày trước ở Nga cũng như ở Việt Nam, để xây dựng kiểu con
người nhỏ bé, con người thừa, người ta không đưa ra những tiêu chuẩn nhất
định, thì lúc này, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi những chuẩn
mực dành cho việc tạo dựng con người mới Được thể hiện trong nhãn quan, cách nhìn, lập trường của các nhà văn kiểu mới (nhà văn – chiến sĩ như đã
nói), con người mới lúc này mang một tâm thế thường trực, tâm thế của một người làm chủ hoàn cảnh, làm chủ cuộc đời Theo đánh giá của các nhà Nga
học chính thống thì con người mới mang những phẩm chất cơ bản như: niềm
Trang 30gắn bó thiết tha, máu thịt với nỗi đau, với khát vọng của giai cấp, của nhân loại cần lao; lòng yêu nước sâu sắc kết hợp với tình cảm quốc tế rộng lớn; lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng; tính chiến đấu sôi nổi, hăng say… Còn trong cách nhìn của các nhà lãnh đạo văn nghệ của ta một
thời thì tư tưởng đối với lao động, chiến đấu, ý thức về chủ nghĩa tập thể, thái
độ đối với nhân dân, với chủ nghĩa xã hội được định ra đối với các nhân vật mới này Theo chúng tôi thì, tất cả, đều là nếp nghĩ của giai đoạn lịch sử nhất
định: thời chiến tranh kéo dài
Có nhiều định nghĩa, nhiều khái niệm được dùng để bàn đến con người mới và cũng có cả việc bàn cãi một thời trong các nhà văn, các nhà nghiên
cứu về những nhân vật mới hoặc không mới Ở đây chúng tôi không đặt nặng
vấn đề đi tìm hiểu quá trình tranh luận ấy Một số ý kiến, cách nhìn chúng tôi
nêu ra ở trên có thể xem như là các cách định nghĩa về con người mới Với
chúng tôi, con người mới là một nhân vật văn học đã thuộc về quá khứ Hiện tại, những phẩm chất ưu tú ở họ đã hiện thành hình ở những con người thật của cuộc sống hôm nay, nhất là ở các quốc gia xác định con đường xã hội chủ nghĩa để đi lên như Việt Nam, Trung Quốc Nghĩa là văn học hôm nay vẫn cần những chất liệu nào đó từ quá khứ để có thể vẽ một cách chân thật nhất con người của cuộc sống hôm nay Chúng tôi muốn khẳng định cái cần của một kiểu nhân vật một thời đối với văn học thời đại sau nó Bởi vì, trong tinh thần biện chứng của cuộc sống, chúng ta không thể phủ định mình một cách sạch trơn, con người hôm nay vẫn cứ cần có những tiền tố cho mình trong quá trình khẳng định chính mình Nói như Vương Trí Nhàn (trên báo Tuổi Trẻ
điện tử năm 2005) thì: “Sau chiến tranh, dân mình mải mê kiếm sống, ba
mươi năm đi qua, hình như đã tới lúc người ta muốn bình tâm nhớ lại chuyện những năm chiến tranh để mà cùng suy nghĩ lại về quá khứ” [87] Nói thế
cũng có nghĩa là ta vẫn cần quá khứ, văn học lại càng cần để có thể lên tiếng
Trang 31cho những điều cuộc sống cần Có như thế thì văn học mới góp một tiếng nói tích cực đối với những ngổn ngang, những bất thường mà cuộc sống mỗi giờ, mỗi khắc vẫn cứ diễn ra
Xét lại lịch trình của những nhân vật mới thì có lẽ phải kể đến thế giới
nhân vật trên trang viết các nhà văn Tự lực văn đoàn, những cô gái mới, những thanh niên mới Tuy nhiên, phải đến khi đi vào trang viết của các nhà văn cách mạng thì nhân vật mới của một thời đại mới mới được gọi tên, được quy định thành công thức khi miêu tả, tái hiện Và do vậy, cũng giống với các
nhân vật của chủ nghĩa hiện thực phê phán, con người mới trong văn học HT
XHCN cũng có lịch trình, có bước chuẩn bị cho sự ra đời của nó
Trang 32Chương 2
HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI MỚI TRONG VĂN HỌC
HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1945-1975 QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI TIÊU BIỂU
Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa giờ đây bắt đầu trở thành hiện tượng của quá khứ, thế hệ sau vẫn nhớ về nó như một kí ức khó phai Người viết và người đọc thế hệ trước khó lòng quên các tác phẩm một thời được xem là tiêu
biểu cho văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như Thép đã tôi thế đấy (N Ôxtơrôpxki), Đội cận vệ thanh niên (A Phađâyep), Suối thép (Xêraphimôvich), Họ chiến đấu vì Tổ quốc, Khoa học căm thù, Số phận một
con người, Đất vỡ hoang (M Sôlôkhốp), Muối của đất (Mác-cốp)… Trong
thế so sánh để tìm ra điểm tương đồng với các tác phẩm văn học Xô-viết kể trên, có thể kể đến các tác phẩm văn học Việt Nam của 30 năm đấu tranh cách
mạng như Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Truyện Tây Bắc (Tô Hoài),
Vùng trời (Hữu Mai), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Bất khuất
(Nguyễn Đức Thuận), Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Bão biển (Chu Văn), Đất làng (Nguyễn Thị Ngọc Tú)… Một số tác phẩm được giới thiệu ở chương trình sách giáo khoa lớp 12 cũ và mới như Mùa lạc (Nguyễn Khải), Sông Đà (Nguyễn Tuân), Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu),
Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành),… cũng được dùng để ghi nhận thêm cho
việc tìm hiểu đề tài Đó là những tác phẩm thể hiện đậm đặc bút pháp chủ đạo của văn học cách mạng một thời của hai quốc gia đã từng chung lưng đấu cật cho một thế giới lí tưởng trong quá khứ
Văn học Việt Nam từ những ngày đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa đã tìm thấy những khuôn mẫu trong thử nghiệm của văn học Xô-viết Những thử
Trang 33nghiệm trong nội dung cũng như bút pháp của CNHT XHCN ở Liên Xô cho đến sau 1945 đã có thành quả Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trẻ tuổi đã
đón chào thành quả ấy một cách phấn khởi, bởi vì “đứng trên bình diện cảm
hứng, đó là văn học lãng mạn cách mạng, đứng trên bình diện loại hình thì đó
là văn học phổ cập, đại chúng”, bởi vì “đây là thời kì đẹp nhất của sự kết hợp giữa chính trị của giai cấp đang lên với văn học nghệ thuật trong chức năng chủ yếu của nó là khai sáng, truyền bá những tư tưởng cấp thiết của giai cấp, của thời đại” [1, tr.18]
Ảnh hưởng của văn học Xô-viết bao trùm khắp văn học miền Bắc Việt Nam, từ lí luận đến thực tiễn sáng tác, từ lĩnh vực nội dung đến phương diện
kĩ thuật, từ hệ thống đề tài đến hệ thống nhân vật Trong phạm vi đề tài, chúng tôi xin chỉ khảo sát một số sáng tác của các tác giả Việt Nam trong việc
xây dựng hình tượng con người mới, tìm ra những dấu vết ảnh hưởng từ văn
học Xô-viết về nội dung phản ánh và cách thức phản ánh
2.1 Hình tượng con người mới – những phẩm chất đặc trưng
Hệ thống nhân vật trung tâm của văn học HT XHCN Việt Nam giai đoạn
1945 – 1975 cũng chính là hệ thống nhân vật trung tâm của văn học Xô-viết:
công, nông, binh – loại hình công dân mới của nhà nước vô sản, những con
người “đại chúng”, phù hợp với quan điểm nhân dân trong lí luận văn nghệ
thời kì này – được tuyên bố rõ trong Đề cương văn hoá Việt Nam (1943) Loại nhân vật trí thức và tiểu tư sản giai đoạn này đứng lùi sau phông nền chính
Trong hoàn cảnh vừa kiến thiết đất nước, vừa đấu tranh với thế lực thù địch quốc tế, ba loại nhân vật người lính, người công nhân, người nông dân được
tổng hợp thành hai nhóm, phản ánh hai đề tài lớn của văn học là đề tài chiến
đấu và đề tài lao động Cách nhóm nhân vật lại theo hệ chủ đề sẽ bao quát
được cả những tầng khác của xã hội, như sinh viên, giáo viên, kỹ sư, bác sĩ…
Trang 34Cách thức văn học thể hiện những phẩm chất lí tưởng của hai nhóm này sẽ được trình bày dưới đây
2.1.1 Phẩm chất của con người mới trong chiến đấu
Đề tài chiến tranh yêu nước một thời đã có chỗ đứng trên văn đàn thế giới Ở Liên bang Xô-viết, đó là cuộc nội chiến ở những năm đầu thế kỉ và cuộc chiến tranh vệ quốc ở thập niên 40 Ở Việt Nam, đó là cuộc đánh trả hai
đế quốc lớn Pháp và Mỹ Và hình tượng người lính đi vào văn học như một nhu cầu bức thiết của bản thân văn học ngày ấy Họ mang trên mình những phẩm chất cao quý nhất của con người thời chiến
@ Lòng yêu nước, sống có lý tưởng, tự giác đến với cách mạng
Tinh thần yêu nước, tình cảm yêu nước vốn đã thường trực ở mỗi con người Lúc thanh bình, trên quê hương Việt Nam cất lên những điệu hát, câu
hò nơi bờ tre, gốc rạ, nơi bến nước, sân đình, nơi những sinh hoạt trong dân gian diễn ra; ở nước Nga xinh đẹp là tiếng vó ngựa của cỗ xe tam mã, là câu hát của người xà ích trên con đường mùa đông Khi quốc gia lâm trận, thì tất
cả đều trở thành chiến trường Giờ đây chỉ có hai lực lượng ta và địch, và
những con người đời thường tự nguyện trở thành người lính, họ có nhu cầu ra trận, nôn nóng có mặt tại những điểm “nóng” và nôn nóng được tiêu diệt kẻ thù Tâm trạng ấy là có thật, như Nguyên Ngọc đã có lần bộc bạch trong tạp văn của mình: được vào chiến trường là một hạnh phúc Người lính và một lớp thế hệ những người con “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, tự nguyện mặc áo lính đi vào chiến trường đã thế, nhà văn còn hăm hở hơn, bởi vì có sống với không khí chiến trận thì mới có tác phẩm nóng hổi hơi thở thời đại, mới viết về con người thời đại để còn động viên nhau, ngay cả trong thời bình, còn có cái mà nhắc, mà chiêm nghiệm Nhà văn xem đó như là một trách nhiệm, một đòi hỏi tự thân, nếu không thế lại thấy mình vô ích, vô
nghĩa Nguyên Ngọc viết: “Không hạnh phúc sao, đối với người cầm bút, khi
Trang 35nhân vật của anh chính là bạn thân anh, những người anh hùng của một cuộc chiến đấu anh hùng” [44(2), tr.202]
Nhân vật Paven Coócsaghin trong Thép đã tôi thế đấy của N
Ốxtơrốpxki trở thành tấm gương mẫu mực cho lớp người “Ra trận” ở Việt Nam Từ một thiếu niên đi qua tuổi thơ nhọc nhằn, trải qua những biến cố làm thay đổi nhân sinh quan, Paven đã đến với cách mạng, được thử lửa, là đoàn viên rồi đảng viên cộng sản, một thanh niên đã được “tôi thép” Con đường
đến với cách mạng, để cuối cùng là một người Đảng chân chính của Paven cũng là hành trình của anh hùng Núp trong Đất nước đứng lên của Nguyên
Ngọc – một tác phẩm đến bây giờ đọc lại vẫn thấy “say lòng” Chính nhà văn,
sau 30 năm, đọc lại tác phẩm, cũng đã không giấu mình: “Tôi thấy hình như
bây giờ tôi không còn có thể viết được như ngày ấy Ngày ấy tôi đã viết được những trang, đã viết được một quyển sách thật giản dị, trong sáng Và đẹp Một vẻ đẹp, chừng mực nào đó, gần như đến hoàn chỉnh (Bây giờ có lẽ mình
có thể sâu sắc hơn, từng trải hơn nhưng cũng lại rắc rối hơn, phức tạp và tối tăm hơn)” [dẫn theo 16, tr.77]
Lớn lên tại làng Kông Hoa, khi Pháp đã lần nữa đặt chân lên đất nước ta, phạm đến vùng đất Tây Nguyên hồn hậu, thuần phác, Núp mang trong mình
“cái lòng” của một người con luôn gắn bó với buôn làng Núp rất “ghét” Pháp Từ khi có những người Đảng đến với làng Kông Hoa, Núp đã cùng buôn làng xác định kẻ thù lớn nhất là Pháp, đã dần bớt tin vào Giàng mà tin
và ủng hộ bok Hồ Họ trưởng thành không ngừng trong quá trình chuẩn bị để cuối cùng đương đầu với Pháp Biết vận động nhiều làng khác đã từng theo Pháp, bị Pháp lợi dụng, cuối cùng Núp đã tập hợp được một lực lượng lớn những người con Tây Nguyên đứng lên đánh đuổi kẻ thù Cái tên tác phẩm cũng phản ánh được phần nào tinh thần toàn bộ tác phẩm Không khí Tây Nguyên đậm đặc trong từng câu chữ, hình ảnh, từng lời ăn tiếng nói, lối nghĩ
Trang 36của nhân vật đã giúp Nguyên Ngọc thành công Ông đã biết chọn cho mình một “địa bàn” để hoạt động, đã biết cộng hưởng sức mạnh từ cuộc đời thực của anh hùng Núp, từ con người Tây Nguyên vào ngòi bút tài hoa, vừa hiện
thực vừa bay bổng Tác giả Đất nước đứng lên chưa từng thổ lộ gì về ảnh
hưởng của văn chương Xô-viết đối với tác phẩm Nhưng, theo chúng tôi, bút pháp xây dựng nhân vật trong tác phẩm không thể phủ nhận đó là bút pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, ở cái cách nhà văn phác ra con đường vận động của đồng bào Tây Nguyên mà Núp là một cá nhân tiêu biểu Con đường đi của Núp và đồng bào Tây Nguyên có thể tóm lược như sau: Từ những con người yêu tự do, bất khuất, kiên cường chống Pháp nhưng chưa có đường lối nên thất bại, sau Cách mạng tháng Tám, được Đảng và Cách mạng dìu dắt, họ trở thành người anh hùng Công thức này rất rõ trong văn học Xô-viết một thời Xác định cùng đi trên đại lộ của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, các nhà văn của ta đều có hướng kết cấu cho nhân vật và tác phẩm của mình như thế
Sự chuyển mình của tập thể các buôn làng Tây Nguyên trong tác phẩm của Nguyên Ngọc khá giống với những vận động, biến đổi của đạo quân
Taman trong tác phẩm Suối thép của Xêraphimôvích Ở đó, nhà văn đã tái hiện được “con đường cách mạng của quần chúng nhân dân đông đảo, sự cải
tạo của họ dưới sự lãnh đạo của Đảng và giai cấp công nhân, thông qua những cuộc chiến đấu một mất một còn để bảo vệ chính quyền Xô viết” [dẫn
theo 29 - Lời nói đầu] Trong cái “suối thép” vững chãi ấy không thể thiếu
người chỉ huy có một quyết tâm phi thường, những suy tính mang tính chiến
lược, đó là Kôjukhơ, một chỉ huy “kiểu mới”: “Nếu Kôjukhơ có cái gì khác
với quần chúng của anh thì chính là ở anh những ưu điểm, những đức tính của quần chúng được nâng cao lên và tập trung hơn Lòng căm thù của anh sâu sắc và có ý thức hơn, lòng tin tưởng của anh vào chính quyền Xô viết
Trang 37sáng suốt và mãnh liệt hơn; anh nhìn thấy xa hơn mọi người…” [dẫn theo 29
– TLĐD]
Có thể nói, các nhân vật anh hùng trong những cuộc chiến gần như không cân sức luôn biết phát huy sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng trong tập thể, phát huy nội lực, quyết tâm của những người con yêu nước, quyết giữ vững những thành quả tốt đẹp có được trên đất nước Mà để làm được điều này thì, bản thân những người đứng đầu một đạo quân phải mang tính tiên phong Paven, Kôjukhơ, Núp là những con người như thế
@ Tinh thần dám hy sinh thân mình cho Tổ quốc, làm nên những chiến công phi thường
Người anh hùng trong những cuộc đối đầu lịch sử bao giờ cũng lớn lao
về tầm vóc Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi, quy định điều này
Do đó, họ phải là những cá nhân làm nên những chiến công phi thường, phải được lịch sử dân tộc, nhân dân họ ghi công
Với tinh thần đó, nhiều tác phẩm văn học Xô-viết và văn học Việt Nam miêu tả con người mới cùng với những hy sinh hoặc những chiến công như
khắc vào đá, như tạc vào tượng Chúng tôi muốn nhắc tới Họ chiến đấu vì Tổ
quốc và Khoa học căm thù của M Sôlôkhốp, Dấu chân người lính của
Nguyễn Minh Châu, Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Vùng trời của Hữu Mai,
Sống như anh (do Trần Đình Vân ghi theo lời kể của vợ liệt sĩ Nguyễn Văn
Trỗi)
Là nhà văn cộng sản trung thành và hết lòng tin tưởng vào con đường đi lên của nước Nga – Xô-viết, Sôlôkhốp đã có những tác phẩm phục vụ, theo sát từng bước đi của dân tộc mình Trực tiếp tham gia chiến trường, Sôlôkhốp đặt ra cho mình nhiệm vụ phải có mặt ở những chiến tuyến nóng bỏng nhất,
phải bắn kẻ thù bằng “trọng pháo nghệ thuật” Thế là Họ chiến đấu vì Tổ quốc
Trang 38ra đời, và Khoa học căm thù ra đời sau Tác giả xem đó như là những trọng
pháo đầu tiên được “điều lên hỏa tuyến” nhằm đánh đuổi bọn phát xít tàn bạo Những người lính trong tiểu thuyết của Sôlôkhốp chỉ nghĩ đến việc tiêu diệt địch, họ mang nhiệt huyết mà người sáng tạo nên tác phẩm đã từng ấp ủ qua tác phẩm: nêu bật nguồn gốc khí phách anh hùng của nhân dân, nhen ngọn lửa căm thù trong lòng người dân Xô-viết ở hậu phương cũng như ngoài
mặt trận Cốt truyện Họ chiến đấu vì Tổ quốc không mấy phức tạp: Mặt trận
vùng sông Đông bị chọc thủng, một trung đoàn Hồng quân làm nhiệm vụ hậu
vệ đã chiến đấu hết sức anh dũng để tiêu diệt sinh lực địch và yểm hộ cho chủ lực rút lui Trung đoàn bị thương vong nặng nề, còn lại hai mươi bảy chiến sĩ đói khát, rách rưới, mỏi mệt do một tư vụ trưởng chỉ huy đưa về tới sư đoàn
bộ Mất sức chiến đấu nhưng không mất tinh thần chiến đấu, những người lính Hồng quân gai góc, quả cảm đã giữ được quân kì, họ không bị giải tán
mà được bổ sung, tổ chức lại Những anh lính trong câu chuyện, trước khi cầm súng, là những công dân trên nông trường, nhà máy, hầm mỏ Trong số
đó, có người còn rất trẻ, nhưng đã không kịp nói lời giã từ đồng đội cho ngày
ra đi vĩnh viễn Sự hy sinh thầm lặng nhưng quả cảm của họ đã để lại một dấu
ấn khó phai mờ nơi đồng chí, đồng đội: “Là lửa chứ không còn là một thằng
thanh niên nữa! Quả là một bí thư chi đoàn xứng đáng, những thằng như thế
đi khắp trung đoàn mà tìm cũng không thấy đâu”, “Nó đã bị xe tăng đè lên, nửa người lấp đất, ngực đã dập nát […] Nó ném cái chai và đã đốt được!”
[55, tr.138] Đó là lời Lôpakhin, một nhân vật trong Họ chiến đấu vì Tổ quốc,
nhận xét về sự hy sinh của một đồng chí trẻ: đoàn viên Côtrêtưgốp của trung đoàn Sự hy sinh ấy đã giúp người chiến sĩ trẻ góp phần gìn giữ quân kì của đơn vị
Một điều rất đáng nể phục ở những nhân vật anh hùng trong chiến đấu là
họ luôn đeo đuổi mục tiêu đến cùng, luôn như bùng lên một sức nóng để đồng
Trang 39đội được “tiếp lửa” Hình ảnh người đoàn viên Kômxômôn trong chuyện kể
của Sôlôkhốp khiến ta nghĩ đến nhân vật Lữ trong Dấu chân người lính của
Nguyễn Minh Châu Lữ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ giữ đài liên lạc của đơn vị Hai trái lựu đạn bọn Mỹ ném xuống hầm liên lạc, nơi Lữ đang thực hiện nhiệm vụ, đã khiến cha anh (Kinh – chính ủy đơn vị) vĩnh viễn mất đứa con trai mà ông vẫn tự trách rằng mình chưa kịp hiểu nó Dưới ngòi bút
Nguyễn Minh Châu, sự hy sinh ấy nhẹ tựa lông hồng: “Người chiến sĩ điện
thanh ấy trước khi hy sinh còn ngẩng cao dầu lên một lần cuối cùng : Trên nền trời cao, rất cao và xanh, lá cờ đỏ mỗi lúc một thắm tươi đang bay, lá cờ mỗi lúc càng tiến dần lên trước mặt” [6, tr.267]
Để có thể lập nên kì tích, một điều không thể thiếu ở những người anh hùng trong chiến đấu là tinh thần quả cảm, là khả năng tính toán tinh nhạy để không ảnh hưởng đến tổn thất của đơn vị (dù có thể ảnh hưởng đến tính mạng
bản thân) Nhân vật Tú trong tiểu thuyết Vùng trời của Hữu Mai là một con
người như thế Anh là đại đội trưởng không quân, sau khi truy kích địch, đã gặp sự cố (máy bay hết dầu), chỉ huy sở cho phép nhảy dù Bằng quyết tâm của một người lính và kĩ năng của một chiến sĩ không quân, Tú quyết cứu lấy chiếc máy bay Nhờ tính toán chính xác và sự bình tĩnh hơn lúc nào hết, anh
đã hạ cánh an toàn Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã chắp cánh cho lí tưởng sống của các nhân vật mới trong lửa đạn Với họ, đền nợ nước, trả thù nhà là một đòn bẩy giúp họ tiến lên không ngừng trong những bước ngoặt khác nhau trong đời Các nhân vật trong một số tác phẩm đã kể mang tâm trạng ấy Và
do vậy, khi đối diện kẻ thù (có thể lớn mạnh hơn, hung bạo hơn và đầy thú tính hơn), những nhân vật mới của chúng ta luôn “hơn” kẻ thù và bọn tay sai
về sức mạnh tinh thần Người lính trong Khoa học căm thù, anh Trỗi trong
Sống như anh, người chiến sĩ Nguyễn Đức Thuận trong Bất khuất, T’nú trong Rừng xà nu,… là những con người như thế
Trang 40Lê Sơn viết về sức âm vang của văn học Xô-viết: “Bởi vậy cho nên
những tác phẩm viết về chiến tranh trong văn học Xô viết hiện đại […] là lời cảnh cáo đanh thép đối với mọi thế lực đế quốc hiếu chiến và phản động quốc
tế, kẻ thù của hòa bình, của văn minh và tiến bộ” [58, tr.401] Nhận định trên
gặp gỡ với ý kiến của Nguyễn Minh Châu khi nói về văn học ba mươi đấu
tranh cách mạng của Việt Nam: “Ít hoặc nhiều, thể loại này hoặc thể loại
khác, là những trang đã viết giữa hai trận đánh, trước hết với ý thức nóng bỏng được cùng toàn dân tham gia đánh giặc” [7, tr.21] Âm điệu chung của
các tác phẩm viết về đề tài chiến trận, vì thế, là âm điệu hào hùng, có tổn thất thì có cái bi nhưng bi mà không lụy Ở đó, hơn ai hết, chính những nhà văn
chiến sĩ đã “ghi công” những người anh hùng Một đoạn trong Dấu chân
người lính được Nguyễn Minh Châu cất lên đầy hào sảng: “Sử sách về sau sẽ ghi tên Quả đồi không tên, gần một chục chiến sĩ trẻ tuổi, tất cả đều là đoàn viên thanh niên do một đồng chí đảng viên chỉ huy, họ đã đem ngực mình dựng thành chiến lũy cản mười đợt tấn công điên cuồng của địch Họ chiến đấu đến người cuối cùng, không có một tên lính Mỹ nào bước nổi qua cái mảnh đất của Tổ quốc họ đứng, cầm súng và ngã xuống…” [6, tr.271]
@ Nêu cao đạo đức cộng sản, đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa cá nhân tư sản
Sinh ra trong bối cảnh hết sức khác thường, khi mà mỗi bờ tre, gốc rạ, mỗi giếng nước, sân đình đều mang trên mình một vết tích nào đó, những người lính Vệ quốc thời kháng Pháp, những anh bộ đội cụ Hồ thời kháng Mỹ luôn mang trên mình một quyết tâm Ngoài quyết tâm tiêu diệt kẻ thù và loại trừ bọn gián điệp phản động, họ còn mang một quyết tâm cao hơn: đấu tranh với chính mình Có đấu tranh với mình thì họ mới có thể xác định hướng đi tiếp theo trên con đường mình lựa chọn Khi đó, những công dân mặc áo lính