1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khóa luận giá trị biểu hiện của các đoạn độc thoại nội tâm trong việc thể hiện nội dung trong các truyện ngắn của trần thuỳ mai, nguyễn thị thu huệ, phan thị vàng anh, võ thị hảo

113 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khóa luận giá trị biểu hiện của các đoạn độc thoại nội tâm trong việc thể hiện nội dung trong các truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo
Tác giả Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học, Văn học Việt Nam
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 617,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 1 1 Cơ sở thực tiễn Truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến nay phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng với hàng loạt những cuộc thi sáng tác, những tác ph[.]

Trang 1

Đặc biệt từ năm 1985 trở lại đây, nhờ vào công cuộc đổi mới và khôngkhí dân chủ cởi mở, truyện ngắn Việt Nam có được bước đột khởi Mật độ cáccuộc thi truyện ngắn 1985 - 2000 tăng rất nhiều, kéo theo đó là một loạt tên tuổimới làm truyện ngắn Việt Nam trở nên đa dạng hơn bao giờ hết:

Nguyễn Huy Thiệp, Trần Thuỳ Mai, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị ThuHuệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo… cùng với các tác giả trẻ, truyện đã mởrộng biên độ, nội dung phản ánh, cách viết và hình thức truyện Trong số đókhông thể không kể đến sự đổi mới cách viết và một yếu tố làm truyện ngắnthành công về nghệ thuật đó là việc tìm tòi, đổi mới và sử dụng khéo léo nghệthuật độc thoại nội tâm của các nhà văn

Tìm hiểu các cách thức thể hiện ngôn ngữ độc thoại nội tâm và hiệu quảcủa chúng trong các văn bản nghệ thuật là một trong những phương hướngnghiên cứu không chỉ để làm rõ phong cách tác giả, làm rõ hơn phong cách nhânvật mà còn giúp người đọc tiếp cận sâu sắc, mới mẻ, thâm nhập lí thú vào tácphẩm văn học nghệ thuật và khơi dậy được những cảm xúc tinh tế của bản thân,

từ đó người đọc dễ hoà đồng với tác phẩm, tác giả hơn, nắm bắt được tư tưởngchủ đề tác giả thể hiện trong tác phẩm Vì vậy việc tìm tòi, khảo sát cách thểhiện ngôn ngữ độc thoại nội tâm là rất cần thiết

Độc thoại nội tâm là một thủ pháp nổi trội trong văn bản nghệ thuật củanhiều nhà văn Tuy nhiên, thủ pháp này có những đặc thù riêng về kết cấu vàcách thức thể hiện nội dung ở mỗi nhà văn Trong số các nhà văn hiện đại, đặcbiệt từ năm 1985 trở lại đây Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Hụê, Phan Thị

Trang 2

Vàng Anh và Võ Thị Hảo là những cây bút được nhận xét là có khả năng làm

"nóng bầu không khí văn chương" nước nhà Nhiều độc giả biết đến họ bởiphong cách riêng, độc đáo và cuốn hút mà họ đã tạo dựng được ở tác phẩm củamình Đặc biệt bốn cây bút trên đều sử dụng khá nhiều độc thoại nội tâm để khaithác các khía cạnh tâm lí nhân vật, phát triển câu chuyện theo tâm lí nhân vật…Song ở mỗi nhà văn lại có cách thể hiện độc thoại nội tâm riêng Những nhânvật ở mọi tầng lớp, lứa tuổi với cách sống, cách nghĩ, cách yêu khác nhau đượcbốn nhà văn thể hiện hết sức phong phú, sinh động dưới thủ pháp độc thoại nộitâm

Nghiên cứu độc thoại nội tâm trong văn bản nghệ thuật của bốn cây bút

nữ hiện đại (Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ ThịHảo), nhằm giúp độc giả một cách tiếp cận để cảm nhận đúng hơn, sâu hơn vềcác tác phẩm văn học đương đại trước những biến đổi đa dạng của các tác phẩmvăn xuôi hiện đại Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn cho mình đề tài khoá luậnnày

Chúng tôi hi vọng việc khảo sát độc thoại nội tâm theo cách nhìn ngônngữ học sẽ đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào việc nghiên cứu giá trị đónggóp về mặt phát triển ngôn ngữ văn xuôi Việt Nam của các nhà văn thuộc thế hệtrẻ

1.2 Cơ sở lí luận:

Xã hội hiện đại ngày càng phát triển nhanh chóng, cùng với nó là sự pháttriển của các ý niệm (khoa học và mỹ thuật) về đời sống tâm lý con người, vềmức độ tự phân tích tâm lí hoàn toàn có thể đạt tới được Do đó, giới hạn vàhình thức độc thoại nội tâm cũng dần dần biến đổi, đa dạng xác định hơn Chính

vì vậy mà hiện nay độc thoại nội tâm đang là một vấn đề được các nhà lí luậnvăn học quan tâm

Độc thoại nội tâm là một dạng hoạt động nói năng của nhân vật văn học

Lí luận và thao tác phân tích độc thoại nội tâm chưa nhiều.Thực hiện đề tài trên

Trang 3

là nhằm học tập tiếp thu các lí luận hiện đại về yếu tố này vào khảo sát cụ thểcác tác phẩm của các nhà văn nữ trẻ

Những lý thuyết và phương pháp phân tích độc thoại nội tâm thật sự rấtcần thiết không chỉ với các nhà văn, các nhà lí luận văn học, lí luận ngôn ngữvới bạn đọc nói chung mà còn rất bổ ích đối với học sinh phổ thông và giáo viêngiảng dạy truyện ngắn trong nhà trường Xuất phát từ yêu cầu lí luận và thựctiễn thực tiễn giảng dạy văn học ở phổ thông đặt ra trên đây Chúng tôi chọn đềtài này làm khoá luận tốt nghiệp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận là các đoạn, câu độcthoại nội tâm của các nhân vật trong 27 truyện ngắn tiêu biểu của 4 cây bút nữ:Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo

Cụ thể là:

+ 19 truyện ngắn in trong tập Truyện ngắn bốn cây bút nữ, NXB Văn học,

2002

+ 2 truyện ngắn in trong tập Gió thiên đường, NXB Văn học, 2004.

+ 6 truyện ngắn in trong tập Biển đời người,NXB Công an nhân dân, 2003.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Trang 4

- Tìm hiểu các công trình nghiên cứu, các sách báo viết về độc thoại nộitâm, từ đó giới thiệu những lý thuyết cơ bản về độc thoại nghệ thuật và kháiniệm liên quan.

- Khảo sát thống kê các đoạn độc thoại nội tâm của các nhân vật trong 27tác phẩm của bốn cây bút nữ Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan ThịVàng Anh, Võ Thị Hảo

- Phân loại các nội dung độc thoại trong các cảnh huống khác nhau mànhân vật thể hiện

- Khảo sát, phân tích đặc trưng riêng ngôn ngữ độc thoại nội tâm.Từ đónêu lên giá trị biểu hiện của ngôn ngữ độc thoại nội tâm trong 27 tác phẩm vănhọc của bốn cây bút nữ

5 Phương pháp nghiên cứu.

- Khoá luận sẽ sử dụng phương pháp thống kê, phân loại, mô tả, so sánh,

và phân tích ngôn ngữ ở hai mặt, cấu trúc hình thức của các đoạn độc thoại vànội dung thể hiện các đoạn độc thoại nội tâm

- Phân tích tính cách nhân vật độc thoại nội tâm, cũng thông qua đó tìmhiểu phong cách riêng của bốn nhà văn nữ (Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị ThuHuệ, Võ Thị Hảo)

- Kết hợp phương pháp của ngôn ngữ học với phương pháp phân tích,bình giảng, nghiên cứu văn học trong quá trình khảo sát ngôn ngữ độc thoại nộitâm

6 Ý nghĩa và đóng góp của khoá luận:

- Đóng góp một cách nhìn cụ thể chi tiết, tương đối đầy đủ về độc thoạinội tâm, thông qua đó giúp người đọc dễ đi vào khám phá tâm hồn nhân vật,thâm nhập cảm thụ sâu sắc tác phẩm văn học, hiểu tác phẩm, chân thực sinhđộng hơn

Trang 5

- Thông qua việc khảo sát ngôn ngữ độc thoại nội tâm làm rõ phong cáchviết truyện ngắn của bốn cây bút nữ nổi trội hiên nay(Trần Thuỳ Mai, NguyễnThị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh) Từ đó giúp độc giả thấy được giá trị củangôn ngữ độc thoại nội tâm trong tác phẩm văn học, thấy được sự phát triển mới

mẻ của ngôn ngữ văn học Việt Nam hiện đại Và từ đó có hướng tiếp cận mới,tích cực với các tác phẩm văn xuôi hiện nay

- Góp thêm kĩ thuật phân tích nhân vật và cảm thụ tác phẩm văn xuôi ởphổ thông trung học tốt hơn, sâu sắc hơn.Trong khoá luận này người viết muốnthử nghiệm một cách phân tích văn bản nghệ thuật với tư cách nghệ thuật từ

7 Bố cục khoá luận.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khoá luận có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Khảo sát ngôn ngữ độc thoại nội tâm trong 27 truyện ngắn củabốn cây bút nữ: Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, VõThị Hảo

Chương 3: Giá trị biểu hiện của các đoạn độc thoại nội tâm trong việc thểhiện nội dung trong các truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ,Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo

Trang 6

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI.

1.1 Về độc thoại nội tâm và các khái niệm có liên quan.

1.1.1 Ngôn ngữ nhân vật

Ngôn ngữ nhân vật là lời trực tiếp do nhân vật nói lên trong tác phẩm (trong thế đối sánh ở mức tương đối với lời gián tiếp- lời trần thuật, miêu tả, lời

tác giả)

Ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn xuôi có nhiều chức năng:

- Chức năng phản ánh hiện thực ở ngoài nhân vật

- Chức năng tự bộc lộ của nhân vật cho thấy sự tồn tại của nó

- Chức năng như một hành động, một sự kiện đối với nhân vật khác

- Chức năng của thực tại lời nói bên ngoài ý thức tác giả, đối tượng suy tư củatác giả

- Chức năng biểu hiện nội tâm, thế giới bên trong của nhân vật …v.v.[11;331]

Trang 7

Trong tác phẩm văn xuôi, ngôn ngữ nhân vật tồn tại ở hai dạng thức: Lời nộitâm (là đối tượng khảo sát của khoá luận) và lời thoại (lời đối thoại).

1.1.2 Độc thoại

Độc thoại chiết tự có nghĩa là "Nói một mình"; trong ngôn ngữ học, độcthoại còn được gọi là đơn thoại Đó là hình thức giao tiếp trong đó chỉ có mộtbên nói còn một bên tiếp nhận Không có phản ứng của một người thứ hai vàkhông bị tác động và chi phối bởi các nhân tố ngôn cảnh của một cuộcthoại.Thoại trường ở đây không có các vai cùng tham gia với tư cách các thamthoại

Theo Đỗ Hữu Châu độc thoại là một quá trình giao tiếp ở đó "người nhận

bị trừu tượng hoá, xem như không có mặt nhưng không có ảnh hưởng gì tới việc nói và viết cả" và "nó xuất phát từ nguyên lý câu chỉ có một chiều: Người nói (viết)- câu" [1; 227].

Theo Lại Nguyên Ân: Độc thoại là phát ngôn dài dòng, rườm rà, không

dự tính

Nhà lí luận văn học Nga G.N Pôpêlốp cũng viết:

"Lời độc thoại là lời không nhằm hướng tới người khác và tác động qua

lại giữa người và người" [3; 224]

Như vậy có thể nói đặc thù của độc thoại là hình thức giao tiếp một chiều:Chủ đề, bố cục, diễn biến theo mạch nội dung hoàn toàn có thể tuân theo mộtlôgic định trước của người nói (viết).Độc thoại có cũng có nhiều kiểu loại, hìnhthức khác nhau Chúng ta thường gặp 1 loại độc thoại đặc biệt rất phổ biến trongvăn bản nghệ thuật (các tác phẩm văn học) đó là độc thoại nội tâm lời độc thoạinội tâm là lời xuất phát từ tâm sự của chính nhân vật tự sự và rất tự nhiên, không

gò bó

Vì thế mà ngôn ngữ độc thoại nội tâm có hình thức khá đa dạng, phongphú.Vậy độc thoại nội tâm thường dùng trong hoàn cảnh nào? Với mục đích gì?

Trang 8

có những kiểu dạng và cấu trúc như thế nào? đó cũng là những nội dung chính

mà khoá muốn làm rõ trước khi tiến hành khảo sát ngôn ngữ độc thoại nội tâm

1.1.3 Độc thoại nội tâm.

- Độc thoại nội tâm (tiếng Pháp: Monlogue int'erieur; tiếng Anh: Interionmonologue; tiếng Nga (đã chuyển ngữ sang la tinh): Vnoutrenni monolog)

Lịch sử khái niệm này bắt đầu từ kịch cổ đại, độc thoại nội tâm đã xuấthiện như một hiện tượng đặc biệt trong kịch Sếcxpia Trong văn tự sự cận đại,độc thoại nội tâm vẫn còn mang tính chất sân khấu, giống như một sự tự bộc lộ,

“ chân thành”, “khách quan” Nhưng sang đến sáng tác của L.Tônxtôi thì độcthoại nội tâm được truyền đạt gần như không có sự can thiệp của tác giả, phảnánh được cả ý thức lẫn vô thức của nhân vật Đến thế kỷ XX, độc thoại nội tâm

có xu hướng xuất hiện dưới dạng dòng ý thức (đây là một biểu hiện cực đoancủa độc thoại nội tâm)

Độc thoại nội tâm là một loại độc thoại tồn tại chủ yếu trong văn bản nghệthuật (tiểu thuyết, truyện ngắn….) là phương thức để truyền đạt tư tưởng, tìnhcảm nên các nhà văn thường sử dụng độc thoại nội tâm như một thủ pháp nghệthuật, nhằm thể hiện chân thực, sống động, nhân cách con người, với những suynghĩ, tâm tư, tình cảm thường thấy trong xã hội loài người Khi sử dụng độcthoại nội tâm tức là nhà văn muốn sử dụng một ngôn ngữ riêng, bỏ qua ngườiđối thoại trực tiếp để đào sâu tính cách, tâm hồn của nhân vật Có thể coi đó làhành vi “mượn lời”(mượn lời nhân vật) để thể hiện ý đồ của tác giả; điều nàylàm hoạt động ý thức của nhân vật sinh động hơn, nhân vật được khai thác sâuhơn, chân thực và sống động hơn

Lời nội tâm là một dạng đặc biệt của lời trực tiếp Thực chất nó khôngphải là lời giao tiếp, mặc dầu nhân vật có thể hướng đến ai đó hoặc là lời đượccấu tạo theo cách của lời tự nhiên Lời nội tâm (độc thoại nội tâm) thường được

chỉ ra bằng các từ “tự nhủ”, “thầm nghĩ”… và không phải bao giờ cũng rành rọt

mà thường rối ren, lộn xộn, chắp nối Đó chính là hình thức tái hiện tính tự phátcủa dòng ý thức và cảm xúc.Tác giả Trôvenxki trong cuốn “Lý luận văn học”

Trang 9

định nghĩa “Độc thoại nội tâm là hình thức ngôn ngữ của tư duy và ấn tượng

nhân vật Trong cấu trúc của nó có thể xuất hiện hai khuynh hướng: Muốn dẫn dắt trật tự suy nghĩ và ấn tượng nhân vật, và phản ánh chúng trong những hình thức giao tiếp Mặt khác lại muốn tái hiện dòng ý thức về trật tự rối rắm trong hình thức nội tại của nó” (dẫn theo 9; 8)Độc thoại nội tâm thường là những suy

nghĩ, toan tính, tâm tư về cách sống, về gia đình, bạn bè, và bản thân của nhânvật mà chỉ một mình nhân vật biết , không được thể hiện bằng âm thanh Nhưng khi thể hiện dưới dạng viết nó mang đậm tính khẩu ngữ tự nhiên (Có sựsắp xếp để đạt mục đích riêng của nhà văn).Vì thế các phát ngôn trong các đoạnđộc thoại nội tâm là rất phong phú Có thể là đoản ngữ, câu đơn, câu phức…Phản ánh tâm lí, phương ngữ, phong tục, văn hoá từng vùng…

Thông thường trong văn bản nghệ thuật, các đoạn độc thoại nội tâm đượcphát hiện thông qua các hình thức khác nhau của các phát ngôn đứng trước nónhư:

Dạng phát ngôn kể, phát ngôn lập luận: (X) “tự hỏi rằng”, “nghĩ rằng” ,

“cho rằng như thế là…”, “có sao không nhỉ?”…v v

Dạng cảm thán : “chao ơi! mình mà, “ khốn thay” “ mình lại”…

Hoặc dưới dạng hồi ức : “Hồi đó”, “nhớ lại hồi xưa”…v v

Tuy nhiên không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định được các đoạn độcthoại nội tâm Ngày nay khi các ý niệm (trong khoa học và mỹ học ) về đờisống tâm lí con người phát triển mạnh mẽ thì cách thức sử dụng độc thoại nộitâm (một thủ pháp các nhà văn thường dùng để miêu tả diễn biến tâm lí củanhân vật) cũng có nhiều biến đổi, nhiều hình thức phong phú và khó xác địnhhơn Cụ thể là: ranh giới giữa độc thoại nội tâm với “dòng ý thức”, “bình luậnngoại đề”, “ngôn từ nửa trực tiếp” và ngay cả “đối thoại” ngày càng có xuhướng đan xen vào nhau, khiến người đọc và ngay cả nhà nghiên cứu cũng khóphân biệt rạch ròi.Ở các phần sau của chương1, chúng tôi có đề cập rõ hơn vấn

đề này

Trang 10

Để có được hiểu biết đúng đắn về thủ pháp nghệ thuật độc thoại nội tâmcùng với giá trị biểu đạt của nó, dưới đây chúng tôi tiếp tục tìm hiểu một sốthuật ngữ có liên quan.

1.1.4 Ngôn từ nửa trực tiếp

Đây là biện pháp diễn đạt lời văn có hình thức là lời tác giả nhưng về mặtnội dung và phong cách lại thuộc ngôn ngữ nhân vật (dẫn theo 2;160) Đây cũng

là phương thức tu từ sử dụng phổ biến trong văn xuôi nhằm gây ấn tượng về sự

“hiện diện” của ý thức nhân vật cho người đọc và cho phép người đọc xâm nhậpvào ý nghĩ thầm kín của nhân vật Khi ngôn từ, giọng nói của người kể chuyệnlẫn với giọng điệu nhân vật ngay tại vỏ ngôn từ thì ngôn từ nửa trực tiếp trùngvới độc thoại nội tâm

1.1.5 Bình luận ngoại đề:

Đây là một trong những yếu tố ngoài cốt truyện: một bộ phận của ngônngữ người kể chuyện trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự Trong đó tác giảhoặc người kể chuyện trực tiếp bộc lộ những tư tưởng, tình cảm, quan niệm củamình đối với cuộc sống và nhân vật được trình bày qua cốt truyện [2; 319]

Trữ tình ngoại đề có thể là những đoạn văn nằm xen vào giữa những quátrình diễn biến của các sự kiện và nhân vật trong cốt truyện, từ khi cốt truyệnđược bắt đầu triển khai cho đến khi kết thúc Chính việc nằm xen kẽ này khiếncho lời bình luận nhiều khi rất khó xác định Nhất là khi giọng điệu bình luậncủa tác giả lại tồn tại rõ nét đằng sau những suy nghĩ và dưới lớp vỏ ngôn từ củanhân vật

Trang 11

xúc, liên tưởng bất chợt luôn luôn lấn át nhau và đan bện vào nhau một cách kỳquặc, “phi logic”(…) “Dòng ý thức” là mức tới hạn, là dạng cực đoan của độcthoại nội tâm…(dẫn theo 4; 122)

Một tác phẩm được xây dựng theo kiểu dòng ý thức khi mà “nhà văn cố ývứt bỏ tính nhất quán và hoàn chỉnh của cốt truyện” không chú ý bối cảnh, ngoạicảnh câu văn (…) đồng thời nhà văn sáng tạo nhiều phương pháp nghệ thuậtmới: đảo ngược thời gian, đồng hiện hoà trộn thực hư, hiện tại, quá khứ, tươnglai

1.1.7 Đối thoại

“Lời đối thoại là lời trong giao tiếp song phương mà lời này xuất hiện nhưmột phản ứng đáp lại lời nói trước Lời nói đối thoại bộc lộ thuận lợi nhất khihai bên đối thoại có sự tiếp xúc phi quan phương và không công khai, không bịcâu thúc, trong không khí bình đẳng về mặt đạo đức của người đối thoại Lời đốithoại thường kèm theo các động tác cử chỉ biểu cảm và tạo nên bởi phát ngôncủa nhiều người” [2; 159]

Khi bàn về lời thoại nhân vật, M Bakhtin có nhận xét “ Lời nói của conngười mang tính đối thoại, tính đối thoại là thuộc tính phổ quát của ngôn từ và

tư duy của con người Nói tức là nói với ai đấy Ngay khi nói với mình, nó cũngđược trả lời Khi nói với ai đó cái gì, ta cố gắng nói thế nào để vừa diễn đạtđược cái ta muốn nói vừa nhận được lời đáp như ta mong đợi Lời nói của ta,với tất cả các đặc điểm, sắc thái không chỉ phụ thuộc vào điều ta muốn nói màcòn phụ thuộc rất nhiều vào người đối thoại với ta Đây cũng là thí dụ đơn giảnnhất về tính đối thoại của lời nói”[22; 18]

Trong tác phẩm văn học, lời đối thoại và độc thoại có thể thâm nhập vào nhauđặc biệt trong kịch Lời độc thoại trần thuật có thể bao hàm đối thoại Trong lýthuyết hội thoại hiện đại, đối thoại được xem là bản chất bao trùm quan trọngnhất của hoạt động lời nói Do vậy đối thoại cũng được coi là một dạng thể hiệnnhững diễn biến đấu tranh của nội tâm

Trang 12

1.2 Một số quan niệm hiện nay về sự biến đổi của “độc thoại nội tâm”:

Như trên đã nói, do có sự phát triển trong các ý niệm( khoa học và mỹhọc) về đời sống tâm lý con người…mà giới hạn và hình thức độc thoại nội tâmdần dần biến đổi.Độc thoại nội tâm là một hình thức thường có nhiều cách hiểulẫn lộn nhất trong số những dạng thức lời thoại của nhân vật Thuật ngữ độcthoại nội tâm cũng như việc xác định các đoạn độc thoại nội tâm trên văn bảnthường bị lẫn lộn, bị đồng nhất với ngôn từ trực tiếp, bình luận ngoại đề, dòng ýthức hơn nữa nó còn được coi là một biến thể của đối thoại

Trong các nghiên cứu của các tác giả: Đặng Anh Đào, Nguyễn Thái Hoà,Phùng Văn Tửu… đều đề cập đến phạm trù độc thoại nội tâm Dưới đây chúngtôi xin nêu một số quan niệm tiêu biểu:

Phùng Văn Tửu đưa định nghĩa về độc thoại nội tâm như sau: “Độc thoại

nội tâm là ngôn từ trực tiếp không diễn tả thành lời của nhân vật” [5; 169].

Theo ông độc thoại nội tâm còn có một dạng khác là “độc thoại bên trong ở đó

giọng nói của nhân vật bị xẻ làm đôi thành hai giọng đối nghịch”

Theo Đặng Anh Đào, ngôn từ nửa trực tiếp chỉ “khoác giọng điệu từ vựng

của nhân vật” sẽ trở thành độc thoại nội tâm Trong cuốn Đổi mới nghệ thuật

tiểu thuyết phương Tây, bà cũng nêu lên ranh giới khó xác định giữa độc thoại

nội tâm và bình luận ngoại đề Đó là trường hợp sự giao hoà giọng điệu của haichủ thể phát ngôn (người kể chuyện và nhân vật) chỉ mới nửa chừng Lối nói vàgiọng nói của nhân vật chưa trực tiếp Điều này khiến người đọc khó phân biệt

cụ thể lời lẽ của tác giả hay của nhân vật

Có ý kiến cho rằng độc thoại nội tâm và dòng tâm tư (dòng ý thức) là sựchuyển hoá của độc thoại ở kịch sang tiểu thuyết, truyện ngắn Cơ sở của ý kiếnnày là điểm giống nhau rất lớn giữa độc thoại nội tâm và độc thoại đó là tínhhướng nội, là sự tái hiện ý nghĩ của nhân vật Tuy nhiên người ta vẫn có thểphân biệt độc thoại nội tâm với độc thoại ở tính chất hành động (Độc thoạithường gắn liền với hành động còn độc thoại nội tâm thiên về mô tả nhiều hơn)

Trang 13

Hoặc ở tính chất “không thốt lên lời”(Độc thoại nội tâm thường không thốt nên

lời còn độc thoại thì có thể nói thành tiếng) Mặc dù tồn tại một số điểm phânbiệt như vậy,song trong những tác phẩm hiện đại thì ranh giới giữa độc thoại nộitâm và độc thoại cũng không dễ xác định.Chẳng hạn,đoạn độc thoại nội tâm

dưới đây của nhân vật Robert, trong tác phẩm Chuông nguyện hồn ai

( Hemingway), thể hiện một ranh giới khó xác định giữa độc thoại với độc thoạinội tâm :

“ Hãy nghĩ tới những người đã ra đi, anh nói: nghĩ tới họ đang đi qua rừng, nghĩ tới họ đang đi qua suối, nghĩ tới họ trên mình ngựa, trong rừng dầy, nghĩ tới họ đêm nay đi suốt canh thâu, nghĩ tới họ ngày mai phải ẩn mình Nghĩ tới họ Mẹ kiếp! Hãy nghĩ tới họ Đó là tất cả cái điều mà ta có thể làm được nghĩ tới họ, anh nói.”

Rõ ràng Robert khi bị thương rất nặng đã coi ý nghĩ là một hành động duy

nhất mà anh có thể làm và phải cố gắng làm bằng được Khi anh “ nghĩ tới họ”

tức là anh đang cùng họ tiếp tục công cuộc vật lộn với chiến tranh, giành sựsống ở phía trước Vì thế mà độc thoại nội tâm ở đây vẫn toát lên tính chất hànhđộng của độc thoại

Các tác giả M.Bakhtine, Đặng Anh Đào Nguyễn Thái Hoà còn đặc biệtnhấn mạnh việc đổi mới độc thoại nội tâm dưới hình thức của “dòng ý thức” và

“ đối thoại”

Trước kia chúng ta thường phân biệt độc thoại nội tâm và dòng ý thức ởchỗ: độc thoại nội tâm chỉ xuất hiện trong một số tình huống nhất định còn dòng

là dòng chảy triền miên làm nên cốt truyện (dẫn theo 6; 81).Độc thoại nội tâm

có sự quy chuẩn về văn phạm, dòng ý thức bất chấp quy chuẩn của văn phạm

Các tác giả hiện đại ngày càng nhận thấy sức mạnh của độc thoại nội tâmnằm ở tính chất tức thì của dòng tâm tư Vì vậy sự đổi mới của nghệ thuật độcthoại nội tâm so với các thế kỷ trước nhằm vào việc khiến dòng suy nghĩ đượchình dung ngay trên lối viết.Thế nên nhiều trường hợp, không chỉ giọng điệucủa nhân vật được khôi phục nguyên si, các ý nghĩ thầm kín, mơ hồ lộn xộn nhất

Trang 14

của nhân vật được ghi lại mà cách viết bất chấp cú pháp, qui ước văn phạm (câudài không chấm phẩy…) cũng giúp nhà văn thể hiện trung thành suy nghĩ củanhân vật.

Đọc các tác phẩm văn xuôi hiện đại, quan sát kỹ lời thoại nhân vật ta sẽthấy những quy ước chuyển tiếp ở thế kỷ trước như: mở ngoặc kép, gạch ngang

đầu dòng, hoặc lời dẫn chuyện “nó nghĩ”, “anh nghĩ”…dần dần bỏ Thay vào

đó là lối dẫn thẳng từ lời người kể chuyện sang độc thoại nội tâm nhân vật Điềunày khiến dòng suy nghĩ trào ra, tự nhiên hơn, chân thật hơn Đây là những điểmđổi mới của lối viết độc thoại nội tâm, khiến nó thực sự trở thành dòng tâm tưkhông thể lẫn lộn với độc thoại của kịch

Sự đổi mới của độc thoại nội tâm đặc biệt được thể hiện dưới hình thứcđối thoại của nhân vật Theo Đôxtôjevxki : Tâm hồn có tính tự do, tính khôngthể kết thúc còn độc thoại thì luôn có giới hạn, có tính kết thúc.Vì thế nếu chỉ sử

dụng độc thoại để miêu tả tâm hồn là không đủ (dẫn theo7; 295).Theo ông: “Sự

sống đích thực của nhân cách chỉ có thể hiểu bằng cách thâm nhập vào nó dưới dạng đối thoại, một sự đối thoại mà cá nhân tự nó sẽ bộc lộ bản thân một cách

tự do để được đáp lại” [8;49].

Nguyễn Thái Hoà cũng cho rằng: Thực ra, độc thoại nội tâm cũng là hìnhthức đối thoại của nhân vật, trong đó người đối thoại cũng chính là mình Nóicách khác, đó là một sự phân thân, mình nói chuyện với mình, một mình đóng

cả hai vai người nói và người nghe và nói lại bằng một giọng khác, một cách suynghĩ khác

Các ý kiến trên rất có lí, bằng chứng là đã có khá nhiều tác phẩm thể hiệnhình thức độc thoại nội tâm bằng đối thoại.Chẳng hạn độc thoại nội tâm thể

hiện dưới dạng đối thoại tâm linh như trong các tác phẩm : Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tầu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, hay gần đây, như lời

độc thoại bằng đối thoại ngầm với chính mình, định hướng giải thích cho mình

của nhân vật, trong tác phẩm si tình của Phan Thị Vàng Anh.

Trang 15

Trước những chuyển biến và đổi mới nói trên, chúng ta thấy rằng độcthoại nội tâm là một phương tiện rất khó sử dụng với người sáng tạo, càngkhông dễ xác định với người tiếp nhận tác phẩm văn học

Độc thoại nội tâm trong văn bản nghệ thuật được thể hiện dưới dạng viếtkhi lời độc thoại nội tâm là một đoạn văn, tức là nó mang trong mình tất cả cáchình thức liên kết của văn bản cả về hình thức lẫn nội dung Do vậy trong khoáluận này chúng tôi không chỉ trả lời những câu hỏi như : Trong các đoạn độcthoại nội tâm, tác giả đề cập tới những vấn đề gì ? Những vấn đề đó đặt ra tronghoàn cảnh nào ? Tác giả sử dụng thứ ngôn ngữ nào ? Có dễ nhận biết haykhông? Tác giả đã tổ chức và chi phối độc thoại nội tâm như thế nào để đạt đượcmục đích đề ra? mà chúng tôi còn đi vào thông kê, phân tích cấu trúc hình thức,phân tích câu độc thoại nội tâm, nêu lên những hình thức thể hiện đoạn độc thoạinội tâm như :cách thức nhập đề, cách thức kết thúc, cấu trúc ngôn ngữ…

Độc thoại nội tâm là một thủ pháp thể hiện ý đồ sáng tạo của nhà văn ,chủ đề của tác phẩm và là yếu tố quan trọng làm nên đặc trưng phong cách tácgiả

1.3 Tiểu kết

Độc thoại nội tâm trong văn bản nghệ thuật (truyện, tiểu thuyết …) là mộthình thức độc thoại đặc biệt, phong phú về hình thức,đa dạng về cách thức thểhiện và hoàn cảnh sử dụng

Các nhà văn ngày càng ý thức được lợi thế, tác dụng quan trọng của thủpháp nghệ thuật này trong việc xây dựng nhân vật và biểu đạt tư tưởng.Đã cónhiều nhà văn sử dụng độc thoại nội tâm như một thủ pháp nghệ thuật độc đáo ,đặc sắc của mình Do đó trong tác phẩm văn học độc thoại nội tâm không ngừngđổi mới, chuyển biến Nó không chỉ góp phần thể hiện tư tưởng, chủ đề tácphẩm mà còn làm nên phong cách riêng của mỗi nhà văn

Trong làng truyện ngắn Việt Nam (1985 lại đây) các cây bút nữ đangchiếm ưu thế không chỉ về số lượng tác phẩm mà còn phong phú về phong

Trang 16

cách.Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo lànhững cây bút có khả năng làm nóng bầu không khí văn chương hiện nay Mỗingười trong số họ đều để lại phong cách riêng thu hút độc giả, đặc biệt là cách

sử dụng độc thoại nội tâm của mỗi tác giả đã đem lại hiệu quả nghệ thuật caocho các tác phẩm của họ Trên cơ sở nhận thức lí thuyết đã lựa chọn nghiên cứu

và xem xét ở chương này, chúng tôi sẽ đi vào khảo sát , phân tích cách thể hiệnngôn ngữ trong các đoạn độc thoại nội tâm mà bốn nhà văn nữ đã xây dựngthành công trong tác phẩm của mình

Từ nhận thức lý luận đến áp dụng vào phân tích cụ thể các đoạn độc thoạinội tâm trong các tác phẩm của các nhà văn nữ là cả một quy trình Nó đòi hỏingười nghiên cứu phải dạn dày, trải nghiệm Khoá luận này chỉ là bước đầu thửnghiệm Nhiệm vụ chủ yếu của khoá luận là tri nhận và phân tích được giá trịnghệ thuật ngôn từ của các đoạn độc thoại nội tâm trong các tác phẩm của bốnnhà văn nữ - những cây bút đóng góp vào sự đổi mới văn xuôi tiếng việt hiệnnay

Trong số các nhà văn nữ hiện đại, Trần Thuỳ Mai là một cây bút có tuổi

văn khá dày dạn, với nhiều tác phẩm đoạt giải, đã in riêng thành tập như "Biển

đời người", "Đêm tái sinh", "Quỷ trong trăng", "Gió thiên đường", "Thị trấn hoa quỳ vàng"…Nữ nhà văn thuộc thế hệ thứ tư (cùng với Nguyễn Huy Thiệp,

Trang 17

Bảo Ninh) này có một phong cách rất nữ tính và độc đáo Những trang viết củaTrần Thuỳ Mai thường hướng về cuộc sống đời thường, về tình yêu, hôn nhân,

về những băn khoăn trước cuộc sống Nhẹ nhàng mà sâu sắc, truyện ngắn ThuỳMai luôn có cái nhìn nhân ái và niềm tin sâu xa ở bản chất tốt đẹp của cuộcsống, của tình người

Với thủ pháp độc thoại nội tâm, Trần Thuỳ Mai đã xây dựng nên các nhânvật với những cung bậc cảm xúc, diễn biến tâm lí của đời thường nhưng đượcphát hiện ở những góc độ hết sức tinh tế, độc đáo, giàu triết lí Nhân vật củaTrần Thuỳ Mai có khi là một cô gái đang bước vào tình yêu với đủ các cung bậc

cảm xúc vui, buồn, nhớ nhung, hờn giận (My - "Gió thiên đường’’), là người phụ nữ bất hạnh nhưng giàu đức hi sinh (Hạnh - "Trăng nơi đáy giếng"), hoặc là chàng trai yêu chân thành, bao dung, nhân ái (Măng - "Biển đời người")…

Những suy nghĩ, tình cảm đó ở các nhân vật được Thuỳ Mai thể hiện qua cácđoạn độc thoại nội tâm đã để lại những cảm xúc sâu lắng trong độc giả

So với Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ là thế hệ đàn em song cây bútnày không hề xa lạ với độc giả Với phong cách khá ấn tượng, "luôn có haimặt" Đó là: "bụi bặm" trong tả chân và trữ tình đằm thắm.Thu Huệ lôi cuốn độcgiả bằng lối văn vừa táo tợn lại vừa thanh khiết Đặc biệt với cách thể hiện linhhoạt, phong phú các đoạn độc thoại nội tâm, các nhân vật của Nguyễn Thị Thu Huệ

đã thực sự gây ấn tượng với người đọc bởi sự sinh động, đa dạng của các nét trongnhân cách: Lúc bạo liệt, khi thật thà, khi thâm trầm triết lí, khi đỏng đảnh và có khidịu dàng đến bất ngờ Điều này chúng ta có thể tìm thấy trong rất nhiều tác phẩm

của Nguyễn Thị Thu Huệ, tiêu biểu như: "Hậu thiên đường", "Thiếu phụ chưa

chồng", "Tân Cảng", "Xin hãy tin em".v.v…

Bên cạnh Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh là một tácgiả rất trẻ và có sức sáng tạo cao Cây bút nữ này đã không ngừng đổi mới nghệthuật viết truyện của mình Độc thoại nội tâm dưới ngòi bút của Phan Thị VàngAnh vì thế mà vô cùng biến ảo Có khi nó giống như sự đối thoại giả (lời độcthoại đặt trong ngoặc kép) hoặc có khi nó diễn ra liên miên, kéo dài như dòng ýthức…Đây chính là yếu tố quan trọng làm nên phong cách đặc biệt của Phan

Thị Vàng Anh: "Biết cách lạ hoá những điều quen thuộc… làm cho da diết

Trang 18

những điều tưởng như nhạt nhẽo" và "… là một cây bút truyện ngắn biến ảo"

(dẫn theo 21;1)

Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc đến Võ Thị Hảo, người được mệnh danh

"người kể chuyện cổ tích hiện đại", nhà văn nữ trẻ tuổi và xinh đẹp này có kiểu

sáng tác truyện ngắn "điểm huyệt hiện thực bằng cách nắm bắt những tình

huống cho phép phơi bày cái chủ yếu nhưng lại bị che giấu trong muôn mặt cuộc sống hàng ngày" (dẫn theo21; 1-2).Độc thoại nội tâm trong tác phẩm của

Võ Thị Hảo tuy không nhiều và không diễn ra liên miên như ở tác phẩm củanhiều tác giả hiện đại Nhưng Võ Thị Hảo đã vận dụng khéo léo, hiệu quả cácđoạn độc thoại nội tâm khiến chúng giống như những lời tự đối thoại xoáy sâuvào tình huống hiện thực mà tác giả khai thác Chúng ta có thể tìm thấy các đoạn

độc thoại như thế trong nhiều tác phẩm của Võ Thị Hảo như: Dây neo trần gian, vầng trăng mồ côi, Vũ địa địa ngục.v.v…

Sử dụng độc thoại nội tâm chỉ là một khía cạnh trong nghệ thuật viếttruyện của bốn cây bút nói trên Nhưng chính điều này là yếu tố rất quan trọng

để xây dựng phong cách nghệ thuật , tạo nên thành công của các nhà văn đó

Lựa chọn trong 27 truyện ngắn, chúng tôi đã thống kêđược trên 100 đoạn độc thoại nội tâm Dưới đây là bảng thống

kê cụ thể số lượng đoạn độc thoại nội tâm trong các tác phẩmcủa bốn nhà văn được khảo sát:

thoại nội tâm

Trang 19

Qua bảng thống kê trên, chúng tôi thấy: Số lượng tác phẩm khảo sáttương đương nhau (mỗi tác giả 7 tác phẩm),còn số lượng các đoạn độc thoại nộitâm lại chênh lệch nhau.Các đoạn độc thoại nội tâm trong các tác phẩm củaNguyễn Thị Thu Huệ chiếm số lượng nhiều nhất (44 đoạn).Các đoạn độc thoạitrong các tác phẩm của Võ Thị Hảo có số lượng ít nhất (14 đoạn) Mặc dù sựphân bố về số lượng của các đoạn độc thoại nội tâm trong các tác phẩm của mỗinhà văn không đều nhưng vai trò của chúng ở mỗi tác phẩm là không đổi.Chúng đều có giá trị nhất định trong việc thể hiện tư tưởng, tình cảm và gópphần tạo nên phong cách riêng của các tác giả

2.2 Các phát ngôn cấu thành các đoạn độc thoại nội tâm:

Qua lựa chọn, khảo sát 27 truyện ngắn in trong 3 tập truyện Truyện ngắn bốn cây bút nữ (NXB Văn học, Hà Nội, 2002); Gió thiên đường (NXB Văn học, 2001); Biển đời người (NXB Công an nhân dân, 2003) của 4 tác giả nữ

Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo chúngtôi đã thống kê được hơn 100 đoạn độc thoại nội tâm với 380 phát ngôn độcthoại

Hình thức thể hiện cũng như cách thức tổ chức phát ngôn trong các đoạnđộc thoại nội tâm nói trên rất phong phú, đa dạng Dưới đây là bảng thống kêcác dạng phát ngôn trong các đoạn độc thoại:

Trang 20

hoặc sau nó.Đây là một số ví dụ về ngữ trực thuộc mà chúng tôi đã khảo sátđược:

Ví dụ 1:Cũng phải thôi.[T2;16]

Ví dụ 2:Thế đấy.[T9;254]

Ví dụ 3:Vậy mà bây giờ [T9;281]

Ví dụ 4:Thôi, xong rồi.[T12;301]

Ví dụ9:Bao giờ thì chìm xuống đáy? [T12;313]

Ví dụ 10:Không hiểu từ đâu nhỉ? [T14;115]

Ví dụ 11:Thà làm việc gì đó thật điên rồ, còn hơn không làm gì [23;119]

Ví dụ 12:Đâu cứ phải có ba đầu sáu tay hay phồng mang trợn mép lên là giữ

được [ T9;262]

Ví dụ13:Thời xa xưa ấy, nghĩ lại làm gì [ T11;288]

Ví dụ14: Rồi về nhà [T12;305]

Ví dụ15: Cũng chẳng ngăn được mà chỉ làm con lạnh thôi [T12;316]

Ví dụ16: Nếu thiếu mắt thì nhìn bằng cái gì?

Ví dụ17: Chẳng lẽ một phút xiêu lòng mà lại khốn khổ đến thế này

sao?[T12;307]

Ví dụ18: Đến lúc nào, sẽ là một cái hang sâu hun hút [T12;310]…

Các câu ghép chiếm tỉ lệ nhiều thứ hai sau câu đơn, kiểu câu này xuấthiện với tần suất cao trong các tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh.Thậm chítrong một số tác phẩm của tác giả này, có những đoạn độc thoại chỉ toàn câu

ghép chuỗi.Chẳng hạn: “Mười giờ đêm, khách đã bắt đầu lục đục ra về, anh và

Trang 21

em đã bắt đầu ngáp vặt, (chúng mình thân quá mà, điều này đâu còn phải là cái

để gọi là "xúc phạm nhau" như hồi mới quen cách đây hai năm!)”.[T16;50].

Trong các tác phẩm của 3 tác giả Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, câughép thường được sử dụng xen kẽ với các kiểu câu khác nhằm tạo nên sự sinh

động, phong phú trong diễn đạt tâm lí nhân vật.Chẳng hạn: “Vậy mà nhiều lần

mình bảo anh ấy đi yêu người khác, anh ấy không chịu Anh ấy không nỡ Rồi đây, lấy nhau, cuộc sống sẽ hết sức tẻ nhạt…”[T22;104].

Trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ, câu ghép thường xuất hiện xen kẽ vớicác dạng câu khác và thường là câu ghép có quan hệ từ diễn tả quan hệ tươngphản

Ví dụ19: Cuộc đời dài lắm, mà những cái hoan lạc mà con người ai cũng trải

Các phát ngôn độc thoại nội tâm là câu đơn (gồm câu đơn ngắn, câu đơn

mở rộng thành phần) chiếm tỉ lệ nhiều nhất tổng số các phát ngôn độc thoại.Nhất là trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ, với hơn 170 câu đơn chiếmgần 45% tổng số phát ngôn Các câu đơn phân bố dày đặc trong các đoạn độcthoại nội tâm, có nhiều đoạn chứa toàn câu đơn chẳng hạn:

Ví dụ22: Tôi sai rồi, còn oán ai Người ta là vợ chồng, đã có con cái Còn tôi…

“tôi chỉ là một vật thừa”.[T4;165]

Ví dụ23: Cô gái này là ai?Cô ta định làm gì ở đây?Hưng chậm chạp nghĩ

[T6;57]

Ví dụ24: Thôi mình yêu Hưng mất rồi Làm sao mà Mại có thể quên Hưng được

nữa Mà tại sao, bỗng nhiên Hưng lại xưng anh với Mại bằng một giọng yêu thương đến thế.[T11;294]

Trang 22

Những câu đơn độc thoại nằm xen kẽ với các câu khác thường là câu đơnngắn Thể hiện nội dung nhận xét ngầm hoặc lời kể mở đầu cho toàn bộ diễnbiến nội tâm tiếp theo.Chẳng hạn như:

Ví dụ25: Con tôi lớn thật rồi.[T12;;305]

Ví dụ26: Con gái vẫn chưa về.[T12;306]

Ví dụ27: Mình hư hỏng mất rồi.[T11;291]…

Bên cạnh việc sử dụng các dạng phát ngôn phong phú về cấu trúc ngữpháp nói trên, các tác giả nữ còn sử dụng nhiều từ ngữ, nhiều câu hỏi thể hiệncác hành vi hỏi và các mục đích khác của nhân vật khi độc thoại nội tâm(hỏi đểnghi vấn, hỏi để khẳng đinh, hỏi để cảm thán…).Trong 27 tác phẩm đã khảo sát,chúng tôi đã thống kê được 75/380 câu hỏi chiếm 19.7%tổng số phát ngôn độcthoại Các câu hỏi không chỉ đa dạng về hình thức mà còn phong phú về nộidung thể hiện

Về hình thức, các câu hỏi thường được cấu tạo bởi các từngữ chuyên dùng để hỏi và kết thúc câu bằng dấu chấm hỏi,dưới đây là bảng thống kê một số cấu trúc câu hỏi cơ bản trongcác đoạn độc thoại nội tâm :

STT Cấu trúc câu

mục đích của câu hỏi và Nội dung độc thoại

1

“Lẽ nào…như

thế?” Nhưng lẽ nào con gái mà tuôn ra

những lời rủa sả như thế?[T1;10]

Về hành độngcủa chủ thểphát ngôn

Trang 23

Hỏi để bộc lộtâm trạng

[T11]

Hỏi, nghi vấn

về hiệu quảcủa hành động

8 “… gì ?” Kim xem tôi là hạng người gì?[T7] Hỏi để nghi

vấn

9 “Tại sao…?” Tại sao Dương không phải là người

yêu của cô mà lại là chồng chị Hảo?

Hỏi để bộc lộtâm trạng bấtbình, ghen tịcủa nhân vật

12 “… nào ?” Lâu nay tôi cứ trượt trên những cái

dốc nào?[T12] Hỏi -nghi vấn

và nỗi bấthạnh

Trang 24

“Bao giờ

thì…?” Bao giờ thì chìm xuống đáy?

Hỏi để giãibày tâmtrạng(thấtvọng, xót xa)

16 -“…ai?” Cô gái này là ai?[T6] Hỏi-nghi vấn

18

“…sao còn…? Bim ơi lớn rồi sao còn nói ngơ ngơ?

[T2]

Hỏi để bộc lộcảm xúc, xúcđộng

Mặc dù các câu hỏi trong bảng thống kê trên đều có đặc điểm bản chấtchung là có hành vi hỏi, nhưng các lời độc thoại dạng câu hỏi của nhân vậttrong truyện ngắn của bốn cây bút nữ có sự thay đổi phong phú trong việc thểhiện những ý nghĩa tiềm ẩn, nằm ngoài phát ngôn.Sự khác nhau đó thể hiện rõ ởcách thể hiện thái độ, tình cảm của người phát ngôn độc thoại với nội dung độcthoại và sự kiện trong phát ngôn.chẳng hạn:

- Với cách dùng nhóm từ hỏi là “sao, tại sao…” thường hàm chứa thái độ ngạc

nhiên,sửng sốt.Những phát ngôn này, người nói nhận thức được sự mâu thuẫn,

vô lý trong hiện thực.Người ta hỏi để tìm nguyên nhân nhưng cũng có khi là bày

tỏ sự than vãn hoặc một sự bất bình, ghen tị nào đó Cách cấu trúc vị trí của từ

để hỏi trong câu cũng làm thay đổi ý nghĩa của các phát ngôn dạng này(xembảng thống kê cấu trúc câu hỏi)

Ví dụ28: Tại sao Dương không phải là người yêu của cô mà lại là chồng chị

Hảo?[T13] Nhân vật My trong truyện ngắn Thiếu phụ chưa chồng ý thức

được sự xinh đẹp trẻ trung của mình,nên tỏ ra bất bình ghen tị vì mình không cóngười chồng tốt như chị

Trang 25

- Cách sử dụng nhóm từ hỏi “ai, ở đâu, bao giờ, có…không?” thường dùng để

khám phá hiện thực Hiện thực trong phát ngôn luôn là những điều chưa biết:

Ví dụ29: Anh ở đâu?[T9]

Ví dụ30: Cô gái này là ai?[T6]

- Còn cách sử dụng nhóm từ hỏi “hay, có hay không,chẳng lẽ…? ”thể hiện thái

độ băn khoăn của người nói

Ví dụ31: Con trai hay con gái?[T9]…

2.3 Cách thức tổ chức các đoạn độc thoại nội tâm.

2.3.1 Cấu trúc hình thức.

Để có được hiệu quả trong việc sử dụng ngôn ngữ độc thoại nội tâm, mỗitác giả phải có khả năng tạo được những cấu trúc hình thức nhất định để biểu đạtnội dung tư tưởng tác phẩm của mình Qua khảo sát các đoạn độc thoại nội tâmcủa bốn cây bút nữ nói trên, chúng tôi thấy những cấu trúc hình thức thườngdùng để xây dựng đoạn văn độc thoại nội tâm như: Cấu trúc hỏi, cấu trúc cúpháp, cấu trúc liệt kê, diễn giải Trong phần này chúng tôi đặc biệt quan tâm tơicấu trúc hỏi, cấu trúc diễn giải và cấu trúc liệt kê Đây là những kiểu cấu trúcthường xuất hiện ở tác phẩm của bốn nhà văn nữ nói trên và giàu giá trị biểu đạtnội dung tác phẩm

*Cấu trúc hỏi :

Ví dụ32:Hưng sửng sốt Trông cô gái như vầng trăng, lồ lộ, nõn nà Có một sắc

đẹp như thế mà chịu mở áo cho người xem thân thể chỉ vì một chầu ốc nóng? [T6;58]

Trong đoạn độc thoại nói trên, Trần Thuỳ Mai đã sử dụng cấu trúc hỏi đểthể hiện nhận định chủ quan của nhân vật độc thoại đối với khách thể Cách sửdụng loại cấu trúc này không chỉ diễn đạt được thái độ ngạc nhiên của nhân vậttrước những sự vật hiện tượng hoàn toàn mới lạ trong tác phẩm mà còn bộc lộđược cảm xúc, sự băn khoăn của nhân vật.Nhờ vậy mà đoạn độc thoại tạo ra sựcuốn hút tự nhiên đối với người đọc

Trang 26

Loại cấu trúc này xuất hiện nhiều trong tác phẩm của Trần Thuỳ Mai , NguyễnThị Thu Huệ Chúng tôi đã liệt kê được tương đối nhiều ví dụ về kiểu cấu trúcnày:

Ví dụ33: Bao năm nay Từ lúc linh cảm về sự ra đi của chị Ban đầu là thể xác.

Rồi đến tinh thần Lúc nào anh cũng ám ảnh về chuyện này để rồi bây giờ, anh lại chẳng tại sao?[[T13;161]

Ví dụ35:Đàn ông, cái sự quên hay nhớ của họ đều có ý thức Họ đã không muốn

cái gì thì đừng cố mà giữ Đâu phải có ba đầu sáu tay hay phồng mang trợn mép lên là giữ được? Anh không đến Nghĩa là anh không muốn Vậy Lụa tìm để làm gì? [T8;262]

Ví dụ36: Con tôi lớn thật rồi Sao đến bây giờ tôi mới biết điều đó nhỉ? Những

người đàn ông đi qua tôi như thể bất chợt họ gặp cơn mưa rào mà họ thì không mang vải nhựa để che Tôi là một cái hiên rộng để họ có thể chạy vào đó, yên tâm, tưng tửng chờ cơn mưa qua Rồi về nhà Hoá ra lâu nay, tôi đi đường tôi, còn con gái thì tự tìm một đường mà đi Liệu nó có đi lại con đường của tôi không nhỉ?[T12;305]…

Hiện nay, với sự đổi mới của nghệ thuật độc thoại nội tâm, đặc biệt là xuhướng tới thể hiện dòng ý thức trong truyện hiện đại khiến cấu trúc của các đoạnđộc thoại nôi tâm ngày càng thay đổi với cách viết bất chấp cú pháp, quy ướcvăn phạm như câu dài, ít sử dụng dấu chấm… để nhằm bộc lộ trung thànhnhững suy nghĩ thầm kín, mơ hồ, sâu lắng của nhân vật Cách viết câu dài,không có chấm câu trong toàn đoạn độc thoại nội tâm ở một số tác phẩm củaPhan Thị Vàng Anh và Võ Thị Hảo (hai cây bút trẻ rất có triển vọng hiện nay)

là một ví dụ cho xu hướng sử dụng cấu trúc này:

Ví dụ37: …Cái đề này thật khó viết, khó vì tôi không hiểu cái mà mình đang nói

có phải là yêu không, hay mới chỉ là một trò lạ cho cả hai người, một thằng bé mới lớn lần đầu “vào đời”, và cho tôi đã quá âm u, giờ loá mắt bởi sự trong sáng?[T18;270]

Ví dụ38: Cậu bỗng có cảm giác ân hận, có thể vì cậu và những người bạn của

cậu, những người khác nữa, trên cuộc đời này đã quá tham lam, đã nhìn thấy

Trang 27

quá nhiều, đã lạm dụng ánh sáng để làm những điều xằng bậy, nên đã dồn đêm tối cho một vài người bất hạnh như cô hàng xóm mù xinh đẹp kia chăng? [T27;

159]

Cùng với cấu trúc trên thì các tác giả hiện đại còn có xu hướng sử dụngđoạn độc thoại nội tâm mang tính chất đối thoại, một sự đối thoại ngầm, mình

tự đáp lại mình bằng một giọng khác Trong tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh

có rất nhiều đoạn độc thoại nội tâm có hình thức như trên:

Ví dụ39: Em cũng nghi lắm (kinh thật, sao em có thể chịu đựng được tình trạng

phập phồng này trong suốt hai năm nhỉ?)[T16]

Ví dụ40:Người hiền kia lại đến, gõ lạch xạch vào cái cổng tôn han rỉ phủ đầy ti

gôn rồi lí nhí mời em đi “uống nước” (Anh ấy không dám dùng từ “cà phê”, sợ rằng sẽ xúc phạm em Tội nghiệp!)”.[T16]

Cấu trúc độc thoại mang tính chất đối thoại trong tác phẩm của Phan Thị VàngAnh thường được thể hiện dưới dạng một phát ngôn trần thuật, có nội dung nhậnxét, kể về một sự tình Còn phát ngôn đặt cạnh phát ngôn tường thuật được đặttrong ngoặc đơn diễn tả một giọng điệu khác, một suy nghĩ khác

Như vậy, cấu trúc hình thức của các đoạn độc thoại nội tâm là đa dạng, phong

phú và có sự biến đổi phù hợp với nhu cầu “bộc lộ bản thân một cách tự do”

(chữ dùng của Doxtojevxki) của nhân vật văn học mà các nhà văn hiện đại

muốn xây dựng để “nhằm miêu tả toàn bộ chiều sâu tâm hồn con người” (bởi vì

nếu chỉ sử dụng cấu trúc độc thoại đơn thuần thì chưa đủ để có thể miêu tả bảnchất của con người - vốn là thứ không có giới hạn).Các cấu trúc hình thức nàykhi được nhà văn chọn sử dụng đúng và chính xác với đối tượng mà nhà văn cầnmiêu tả sẽ không chỉ tạo ra tính mạch lạc trong tác phẩm, cho các đoạn độc thoạinội tâm mà còn giúp diễn tả tinh tế, sâu sắc những cảm xúc mơ hồ, những cungbậc tình cảm hết sức phong phú của các nhân vật trong cuộc sống hiện tại

Trần Thuỳ Mai và Nguyễn Thị Thu Huệ thiên về sử dụng những cấu trúcdiễn giải thể hiện suy lí vừa giản đơn vừa phức tạp của những con người bìnhthường khi trải qua diễn biến của cuộc sống hiện đai Thì Võ Thị Hảo, Phan ThịVàng Anh lại hướng tới sử dụng cấu trúc độc thoại dưới dạng dòng ý thức hoặc

Trang 28

dạng đối thoại để thể hiện sinh động, phong phú những suy tư, tình cảm phứctạp trong tình yêu, tình người trước cuộc đời.

2.3.2 Các cách thức nhập đề của các đoạn độc thoại nội tâm

Trước khi khảo sát, phân tích cách nhập đề của các đoạn độc thoại nội

tâm , chúng tôi muốn phân biệt rõ khái niệm dẫn thoại và thoại dẫn Đây là hai

khái niệm thể hiện rõ nhất mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ người kể chuyện

(tác giả, nhân vật kể chuyện) và ngôn ngữ nhân vật.Dẫn thoại là việc người viết(

người nói) dùng ngôn ngữ để thuật lại, dẫn lại lời thoại của người khác trongthực tế hội thoại vào diễn ngôn của mình Nhờ sự dẫn thoại mà chúng ta có các

thoại dẫn trong diễn ngôn nói và viết Thoại dẫn là lời thoại vốn có trong hội

thoại được đưa vào diễn ngôn Trong thực tế hội thoại, một lượt lời có rất nhiềuyếu tố ngoài ngôn ngữ, đó có thể là những yếu tố kèm lời (giọng điệu, cáchthức, tình cảm, thái độ, trạng thái…) và những yếu tố phi lời (điệu bộ, cử chỉ,ánh mắt…) Những yếu tố này được dẫn lại một phần hoặc hoàn toàn trong lờidẫn thoại của người dẫn thoại

Cách thức nhập đề của các đoạn độc thoại nôi tâm cũng một hình thứcdẫn thoại của tác giả Có nhiều hình thức nhập đề phong phú, tuỳ thuộc dụng ýcủa các nhà văn, hình thức nhập đề có thể là: Dẫn thoại trực tiếp, dẫn thoại giántiếp hoặc đan xen giữa dẫn thoại trực tiếp và gián tiếp.Chẳng hạn:

Dẫn thoại gián tiếp thực chất chính là việc người viết dùng ngôn ngữ của

mình để thuật lại lời thoại của người khác.Ví dụ41: Cô Hạnh chỉ lặng lẽ nhìn:

người đàn ông này đã là người cô yêu thương, tôn thờ cho đến nửa đời người Trước đây, mỗi cái nhìn của ông là mệnh lệnh đối với, vậy mà nay cô phải trái ý đông Ý nghĩa đó làm cho rơm rớm nước mắt.[T4;165] Đoạn độc thoại nội tâm

trong tác phẩm của Trần Thuỳ Mai ở trên có ngôi độc thọai là ngôi thứ ba “CôHạnh”, người viết đóng vai trò quan sát và kể lại những ý nghĩ diễn ra đằng saucái nhìn của cô Hạnh Như vậy dẫn thoại gián tiếp có dấu hiệu cụ thể là câu trầnthuật ở đầu đoạn , các phát ngôn sau đó cũng vẫn là ngôn ngữ của người viết kể

về suy nghĩ của nhân vật

Trang 29

Dẫn thoại trực tiếp thực ra chính là cách nhà văn để lời thoại dẫn của nhân vậtbộc lộ tự nhiên mà không cần có lời dẫn chuyện, không có ngôn từ, giọng điệu

của tác giả kiểu như (anh nghĩ, nó nghĩ)xuất hiện đằng trước đoạn độc thoại.

Ví dụ42:

Mình hư hỏng mất rồi Ai lại có thể ngủ với một người đàn ông chỉ gặp nhau

loáng thoáng trong những cuộc họp của công ty Ngày mai, ngày kia và sau này nữa, mỗi lần gặp Hưng, mình sẽ thế nào? Và nhỡ mình yêu Hưng thì sao?Trời

ơi, thật khủng khiếp vì sẽ chẳng bao giờ có điều đó cả.Hưng ào đến bên mình, cuồng si với mình chẳng qua Hưng con trẻ quá Lại là đàn ông nữa.Và chẳng bao giờ Hưng yêu mình cả Thật khủng khiếp.[T11;291]

Dẫn thoại gián tiếp xen kẽ với trực tiếp là trường hợp ngôn ngữ, giọng điệu củanhân vật chỉ được dẫn ra một phần, người đọc vẫn cảm nhận được giọng điệungôn từ của tác giả ẩn trong lời thoại của nhân vật

Ví dụ43: Đời thật chó má Đàn bà chửa là cửa mả Đàn bà đẻ là vượt cạn một

mình Một mình Một mình vượt cạn Một mình đau đớn giằng xé Một mình quyết định mổ mình giữa những người xa lạ.[T13;323]

Đoạn độc thoại của My trong tác phẩm Thiếu phụ chưa chồng của Nguyễn Thị

Thu Huệ, chỉ có một vài phát ngôn mang giọng điệu, ngôn từ của nhân vật như

“Đời thật chó má”, còn các phát ngôn dài ở sau không phải ngôn từ giọng điệu

của nhân vật, đó không phải ngôn ngữ của một cô gái nông thôn thuần phác mà

là lời bình xen kẽ của tác giả được đặt lẫn trong lời độc thoại của nhân vật

Đối với các tác phẩm văn xuôi hiện đại, nếu đọc và quan sát kĩ,

ta sẽ thấy những quy ước về dẫn thoại ở thế kỉ trước kiểu như

mở ngoặc kép với lời dẫn chuyện “anh nghĩ”, “nó nghĩ”…dầndần bỏ, lối dẫn thẳng từ lời người kể chuyện sang độc thoại nộitâm ngày càng xuất hiện nhiều hơn.Vì thế trong tác phẩm củabốn cây bút nữ hiện đại số lượng các đoạn độc thoại nội tâmđược thể hiện trực tiếp luôn chiếm tỉ lệ cao hơn Đây là bảngthống kê các hình thức nhập đề của các đoạn độc thoại nội tâmtrong tác phẩm bốn cây bút nữ:

Trang 30

Trong tác phẩm của Trần Thuỳ Mai rất ít xuất hiện đoạn dẫn thoại đanxen giữa dẫn thoại trực tiếp hoặc dẫn thoại gián tiếp, xuất hiện nhiều nhất là cácđoạn dẫn thoại trực tiếp: 15/25 tổng số đoạn độc thoại nội tâm của Trần ThuỳMai mà chúng tôi khảo sát trong khoá luận:

Các đoạn dẫn thoại trực tiếp trong tác phẩm Trần Thuỳ Mai như:

Ví dụ44:“Dã Thảo ơi, ta sẽ không bao giờ còn đến đây Từ biệt khung cửa sổ

mênh mông và gió Và những bản nhạc mà Hiếu Thích Giờ đây tôi hiểu vì sao Hiếu không thích nghe nhạc tiền Chiến Trong đó không có cách yêu, cách nghĩ của Hiếu Thôi đừng nghĩ đến Hiếu, đừng nghĩ nữa…”[T1;14]

Ví dụ45: “Tôi bỗng ngượng ngùng không khóc được nữa Ừ, đã cho thì

cho đứt luôn, sao tôi đã nói hi sinh mà còn tiếc nuối, Nhưng là người có máu thịt, làm sao bỗng chốc cắt lìa? Tôi đâu phải là thánh mà một phút dứt bỏ một nửa cuộc đời…không, không phải một nửa cuộc đời, anh là cả cuộc đời tôi…”

[“T4.16]…

Trong các đoạn độc thoại kiểu này, Trần Thuỳ Mai thường để lời phát

ngôn của nhân vật ở ngôi thứ nhất: “Tôi”, “Ta” Việc sử dụng dẫn thoại trực tiếp

như vậy khiến cảm xúc, suy tư của nhân vật được bộc lộ trực tiếp, rõ nét và đemđến cho Trần Thuỳ Mai một lối văn độc đáo, nữ tính và rất giàu tình cảm, cuốnhút với độc giả

Trang 31

Trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ các đoạn độc thoại nội tâmđược dẫn nhập phong phú hơn với nhiều đoạn dần thoại trực tiếp, dẫn thoại giántiếp và cả đoạn xen giữa dần thoại trực tiếp với gián tiếp Tuy nhiên dẫn thoạitrực tiếp vẫn xuất với 23/40 tổng số đoạn độc thoại nội tâm của Nguyễn ThịThu Huệ

Cách dẫn thoại trực tiếp của Nguyễn Thị Thu Huệ không chỉ sử dụng đại

từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất mà cả ngôi thứ hai “anh”, “chị”, nhưng không vì

thế mà nội tâm nhân vật không được bộc lộ một cách chân thành, sâu sắc nhất:

Ví dụ46: Tại sao? Tại sao? Hôm qua anh không vứt bỏ lòng tự ái, ghen

tuông và tha thứ cho chị Thậm chí van xin chị nghĩ lại? Tại sao anh luôn lường trước những rủi ro cho những hợp đồng kí với đối tác cả Ta lẫn Tây mà lại không lường trước được các rủi ro của ngày hôm nay? Tại sao đến hôm qua anh vẫn nghĩ sự chia tay sẽ không có thật? Chỉ là một câu chuyện đùa? Tại sao

cơ chứ?”[T14;155]

Ví dụ47:Mẹ vì con Thôi thà để hắn ôm con cho ấm còn hơn là mẹ chỉ có

thể thành gió để ngăn con Cũng chẳng ngăn được mà chỉ làm con lạnh thôi.”[T12;316]

Ví dụ48: Thế là xong Chỉ có nó, một mình nó là đủ Cầu mong cho nó

giống Dương, vì dù sao lúc này sống với Dương cũng ổn thoả nhất.[T13;33]

Nếu các đoạn dẫn thoại trực tiếp trên(thể hiện ở lời độc thoại đặt ở ngôithứ nhất, giọng điệu, ngôn ngữ đều là của nhân vật) giúp việc miêu tả tâm línhân vật xác thực hơn, các thắc mắc đẩy lên cao trào hơn, tạo nên phong cáchtáo tợn trong tả chân thì các đoạn dẫn thoại gián tiếp trong các tác phẩm củaNguyễn Thị Thu Huệ lại giúp việc miêu tả tâm lí nhân vật có chất chữ tình, dịu

dàng, nhẹ nhàng hơn, với cách sử dụng đại từ nhân xưng ở ngôi thứ ba: “nàng”,

Trang 32

ong, để nhảy vào cuộc sống xa lạ với cơm áo gạo tiền, bếp núc Có lẽ hai đứa trẻ bình thường rất ngoan ngoãn kia lo sợ nàng sẽ cướp mất người bố, chiếm căn nhà và tống chúng nó ra ngoài đường như bao cảnh con chung con riêng nên mới đối xử như thế với nàng Chúng thật đáng thương và tội nghiệp.

[T10;284]

Ví dụ50: Bao lần ngồi một mình uống nước đợi mẹ, nó đều ước giá có em

ngồi cùng Thằng bé sẽ chạy chơi trên những bài cỏ xanh và khô Nó sẽ gọi cho

em một cốc kem sẽ cùng em đếm những chiếc tàu vào ra mê mải Vậy mà đến giờ Chưa một lần nó cho em đến được Tân cảng.[T14;155]

So với Trần Thuỳ Mai và Nguyễn Thị Thu Huệ thì tỉ lệ đoạn độc thoại nộitâm có dẫn thoại gián tiếp và xen kẽ giữa dẫn thoại trực tiếp với gián tiếp, trongtác phẩm của Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo xuất hiện nhiều hơn Trong tácphẩm của Phan Thị Vàng Anh, dẫn thoại gián tiếp xuất hiện 5/30 lần, dẫn thoạitrực tiếp xen kẽ gián tiếp xuất hiện 8/30 lần

Những đoạn độc thoại nội tấm sử dụng đan xen dẫn thoại trực tiếp và giántiếp có nhiều ở tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh như:

Ví dụ51:Nhưng khi ngồi vào bàn ăn, nhìn thấy mẹ mình yêu thương và sợ sệt gắp thức ăn cho chồng, nó tủi thân một cách trẻ con: “À, cái đám mắt lồi chúng mình đây được yêu thương chẳng qua chúng mình là sản phẩm của ông

bố này Mẹ yêu bố gấp đôi tụi mình Nếu bây giờ có một đám cháy, cho mẹ cứu một người duy nhất, chắc hẳn là mẹ sẽ cứu bố”.[T15;20]

Vídụ52: Rồi tủi thân, ông loạng choạng đạp xe giữa cây cỏ hai bên

đường “Mình chết đi, nó có khóc không?[T15;23]

Loại độc thoại nội tâm được dẫn trực tiếp xen gián tiếp này giúp việc thểhiện lời độc thoại linh hoạt, tự nhiên, liên tục, không bị gián đoạn Qua đó,chúng ta thấy được nhân vật nghĩ gì, nhân vật đó thuộc tầm lứa tuổi nào từ đóthúc đẩy khả năng cảm nhận của độc giả về nhân vật, về sự trình diễn ra trongtruyện và thấy được tâm tư tình cảm, suy nghĩ về tình yêu, gia đình, các mốiquan hệ của từng thế hệ, từng lứa tuổi của con người trong xã hội hiện đại

Trang 33

Và bằng cách sử dụng nhiều những đoạn thoại xen kẽ dẫn thoại trực tiếp

và gián tiếp như trên Phan Thị Vàng Anh đã thể hiện một lối viết biến ảo, lạ hoánhững cái quen thuộc như nếp sống gia đình với những diễn biến tâm lý của lứatuổi mới lớn, tuổi đang yêu của lớp trẻ, nếu không để ý, không biết thì chúng ta

sữ không bao giờ thấy được.Đây cũng chính là một thành công mà Phan ThịVàng Anh đã đạt được khi sử dụng nhiều đoạn dẫn thoại xen kẽ trực tiếp và giántiếp

Khác với ba tác giả trên, Võ Thị Hảo sử dụng nhiều đoạn độc thoại đượcdẫn gián tiếp Độc thoại gián tiếp xuất hiện 7/14 lần trên tổng số đoạn độc thoạinội tâm của Võ Thị Hảo:

Ví dụ53: Sao trước đây nàng chưa bao giờ để ý đến những mẹt lá đa đong

đầy cháo nhỉ? Đựng vào bát không xuể, người ta phải đong vào lá để đủ ban phát cho những hồn côi?”[T23;110]

Ví dụ54: Cậu bỗng có cảm giác ân hận, có thể vì cậu và những người bạn

của cậu, những người khác nữa, trên cuộc đời này đã quá tham lam, đã nhìn thấy quá nhiều, đã lạm dụng ánh sáng đề làm những điều xằng bậy, nên đã dần đêm tối cho một vài người bất hạnh như cô hàng xóm mù xinh đẹp kia chăng? [T27;159]

Ví dụ55:Vậy là người - đàn - ông - của - trời đã đến Nàng thoả nguyện,

và nàng sắp chết Nàng sẽ chết trước khi Người - đàn - ông ấy kịp bỏ lại nàng bên vệ đường bụi rậm”.[T27;162]

Những đoạn độc thoại được dẫn trực tiếp nói trên cùng với việc sử dụng đại từ

nhân xưng ở ngôi thứ ba kiểu như: “Nàng”, “cậu”…Cho người đọc cảm nhận

truyện của Võ Thị Hảo giống như câu chuyện cổ tích hiện đại, cổ tích xây dựngtrên những tình huống hiện thực của cuộc sống Điều này giúp những tác phẩmcủa Võ Thị Hảo giống như sự thanh lọc, lắng động những cảm xúc thi vị, tốt đẹptrong tâm hồn con người giữa những rối ren, bận bịu của cuộc đời

Để đi vào các đoạn độc thoại nội tâm, các nhà văn đã sử dụng nhiều lờidẫn khác nhau đó có thể là một câu kể, câu đề, câu luận, câu lửng vô nhân xưnghoặc đi thẳng vào lời độc thoại của nhân vật…

Trang 34

Nếu trong văn xuôi Việt Nam từ năm 1945 trở về trước, dấu hiệu của độc

thoại nội tâm thường bắt đầu bằng câu kể kiểu như: “Y, hắn, nó nghĩ rằng” thì

đến văn xuôi hiện đại những lời dẫn như vậy chỉ có ở một vài đoạn như:

Ví dụ56: Tôi nghĩ thầm:…[T1;311]

Ví dụ57: Rồi nằm dài, một trưa, nó nghĩ:…”[T15;20]

Ví dụ58: Và không biết tự lúc nào, tôi cứ đóng đinh trong đầu ý nghĩ:…

[T24;125,126]

Ví dụ59: Hạc nghĩ:…[T17;68]

Khi xuất hiện những lời dẫn bằng câu kể như vậy chúng ta sẽ dễ dàngnhận ra đó chính là lời dẫn nhập để cho đoạn độc thoại nội tâm sắp xuất hiệnđằng sau

Ngoài ra trong 27 truyện ngắn của 4 cây bút nữ còn có rất nhiều đoạn độcthoại được dẫn và mở đầu bằng một câu đề, chẳng hạn như:

Ví dụ60:Cô Hạnh chỉ lặng lẽ nhìn: Người đàn ông này đã là người cô yêu

thương, tôn thờ cho đến nửa đời người Trước đây, mỗi cái nhìn của ông là mệnh lệnh đối với cô, vậy mà nay cô phải trái ý ông ý nghĩa đó làm cô rơm rớm nước mắt[T4;156]

Ví dụ61:Tôi nghẹn ngào ra đi, đầu óc hoang mang không sao hiểu nổi:

Tôi còn chưa vợ, trúc không có chồng, vậy mà sao chúng tôi không được sống với nhau? [T5;34]

Ví dụ62:Tôi bất giác rụt tay lại Đúng là tôi đuối sức vì công việc Đúng

là tôi có cần tiền Nhưng làm sao có thể để ông ta “bao” tôi như thế Kim xem tôi là hạng người gì?[T7;313]

Ví dụ63:Vội vã thế con Cuộc đời dài lắm, mà những cái hoan lạc mà con

người ai cũng trải qua thì ngắn Vội mà làm gì Hai mươi tư tuổi, mẹ mới biết thế nào là hạnh phúc thì lập tức một chuỗi đau khổ kéo theo Thế mới hay, ai cũng nhem nhẻm nói rằng mọi thứ đều có giá của nó Hoặc trồng cây gì thì ăn quả đấy, hay gieo gì gặt đấy Nhưng tôi Tôi có gieo gì đâu mà sao đời tôi gặt toàn cỏ dại? Chẳng lẽ một phút xiêu lòng mà lại khốn khổ đến thế này sao? [T12;307]

Trang 35

Cũng có những đoạn độc thoại được mở đầu bằng một câu luận, chẳnghạn:

Ví dụ64:Ừ, con gái thật khờ, ai cũng thế Một ngày có đến hai mươi bốn

giờ Dù có ghé sáng, trưa, chiều, cùng lắm chỉ mười tiếng đồng hồ Chỉ cần một ngày một giờ, chàng trai đủ tạo nên một huyền thoại phiêu lưu mới Và một trong những huyền thoại phiêu lưu ấy là tôi…”.[T1;14]

Ví dụ65: Mình hư hỏng thật rồi Ai lại có thể ngủ với một người đàn ông

chỉ mới gặp nhau loáng thoáng trong những cuộc họp của công ty Ngày mai, ngày kia và sau này nữa, mỗi lần gặp Hưng mình sẽ thế nào? và nhỡ mình yêu Hưng thì sao? Trời ơi, thật khủng khiếp vì sẽ chẳng bao giờ có điều đó cả… [T11;291]

Cũng dó những đoạn độc thoại nội tâm lại được mở đầu bằng một câulửng, vô nhân xưng Chẳng hạn như:

Ví dụ66: Thế đấy Cũng tại anh, giá anh quan tâm đến nó hơn một tí thì

nó đỡ phải trả giá cho cái sự thiếu kinh nghiệm của mình như thế không? cứ làm thầy rồi lại làm trò, giá đắt quá.[T9;254]

Ví dụ67: Thế là xong Chỉ có nó, một mình nó là đủ Cần mong cho nó

giống Dương, vì dù sao Dương cũng ổn thoả nhất.[T13;346]

Ví dụ68: “Sẽ quen” Phải rồi Mọi thói quen đều bắt đầu bằng vô thức Vô

thức tồn tại và thành thói quen Thói quen làm thành ngôn ngữ Thói quen tạo ra tác phong cho cá nhân và phong tục cho cả một cộng đồng Thói quen làm thành số phận và con người phải gánh số phận bằng chính hai vai mình Từ đâu nhỉ? Chắc từ hôm chị bay ra Hà Nội họp.[T14;153]

Bên cạnh những đoạn độc thoại nội tâm có lời dẫn và mở đầu như trên thìcác tác phẩm văn xuôi hiện đại còn có xu hướng đi thẳng vào lời độc thoại nộitâm của nhân vật kiểu như:

Ví dụ69: Ờ đúng rồi, mấy năm nay đã chẳng có ai đến nhặt là cho Hạc.

Tuyến lấy vợ, Nhật xuất cảnh, Chức cách đây mấy hôm thấy chạy xe vào ngoài ngã ba, chở một đứa con gái bé như cái kẹo, không ôm iếc gì cả nhưng nhìn thì biết ngay là bồ bịch”.[T17;66]

Trang 36

Ví dụ70: Ba tôi hiền lành hơn: “Con không nghĩ đến con sao? Nghĩ nhiều

lắm chớ, không phải chỉ nghĩ đến mình tôi, tôi nghĩ đến ba, mẹ, đến ông chồng tương lai của tôi, đến những đứa bé tương lai của tôi, đến những đứa bé tương lai của tôi (hai hạng nhân vật này có thể không bao giờ có!) [T18;71,72]

Những đoạn độc thoại không có lời dẫn như thế thường xuất hiện sau một

sự kiện tác động ,sau lời đối thoại của nhân vật khác với nhân vật độc thoại,khiến đoạn độc thoại nội tâm giống như dòng suy tư trực tiếp, như những lời đốithoại ngầm xuất hiện tức thì để đáp lại những tác động đó.Những đoạn độc thoạinhư thế có sức mạnh tuyệt vời trong việc bộc lộ tâm lý, bản chất của nhân vật.Đây cũng là một xu hướng phát triển tốt của Độc thoại nội tâm trong truyệnngắn hiện đại

Như vậy chúng ta thấy rằng việc các tác giả sử dụng nhiều hình thức dẫnthoại khác nhau ở các đoạn độc thoại nội tâm đều nhằm thể hiện tâm trạng nhânvật ở nhiều cấp độ, nhiều tình huống, hình thức, hoàn cảnh khác nhau Điều nàygiúp khẳng định được tính chân thực của lời độc thoại, giúp miêu tả chân thựcchân dung, suy nghĩ, lối sống của con người hiện đại Đặc biệt thông qua cáchdẫn thoại phong phú của cây bút trên mà chúng ta phần nào thấy được lối viết,cách nhận thức sự việc và cách sử dụng, phát triển ngôn ngữ văn xuôi của cácnhà văn trẻ Việt Nam, từ Trần Thuỳ Mai đến Nguyễn Thị Thu Huệ, đến Võ ThịHảo và Phan Thị Vàng Anh, bốn cây bút nữ cũng một thời đại nhưng thuộc cáclớp khác nhau Trần Thuỳ Mai là lớp trước rồi đến Nguyễn Thị Thu Huệ, rồi VõThị Hảo, Phan Thị Vàng Anh Mỗi người một phong cách riêng, nhưng thôngqua các đoạn độc thoại nội tâm trong các tác phẩm của bốn cây bút này, chúng

ta vẫn có thể thấy được phần nào sự phát triển của ngôn ngữ độc thoại nội tâmnói riêng và sự phát triển của ngôn ngữ văn xuôi Việt Nam nói chung Và từ góc

độ của ngôn ngữ học mà nói thì ngòi bút của Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị ThuHuệ, Phan Thị Vàng Anh là những ngòi bút khá độc đáo, linh hoạt, cuốn hút vàđầy triển vọng

2.3.3 Các cách thức kết thúc các đoạn độc thoại nội tâm.

Trang 37

Cũng như cách thức nhập đề, cách thức kết thúc các đoạn độc thoại nội

tâm cũng tuỳ thuộc vào ý đồ của mỗi tác giả trong tác phẩm cụ thể

Khi khảo sát 27 truyện ngắn, chúng tôi thấy có nhiều đoạn độc thoại nộitâm ở tác phẩm của Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo đều cócách kết thúc mang tính độc lập tương đối Nhiều đoạn độc thoại nội tâm khôngphải là độc thoại nội tâm thuần tuý mà có chứa ngôn từ nửa trực tiếp và bìnhluận ngoại đề Và không phải lúc nào ngôn từ của nhân vật cũng được bộc lộtrực tiếp mà thường xen lẫn lời kể, lời bình của tác giả Điều này gây khó khăncho việc xác định đâu là lời độc thoại nội tâm, lời kể chuyện Tuy nhiên sự xen

kẽ đó lại hợp lí, hợp với logic kể chuyện

Ví dụ71: Khi người ta bới được hai mẹ con lên từ tảng đất đen to bằng

nửa gian nhà, môi vợ lão đã bị một hòn sỏi nhỏ chặn vào mép bà nhếch lên như trong một cái cười ngạc nhiên “Tại sao?” Tại sao?” Cái cười đó đã ám ảnh lão suốt cuộc đời Tại sao, và tại sao chứ, tại sao phải chết đau đớn trong khi đang uống nước chè xanh, chết lạc hồn lạc vía dưới một tảng đất đen?”[T26;144,145] Chẳng hạn ,trong đoạn trên,những câu như: “Tại sao?” Tại sao?” Cái cười đó đã ám ảnh lão suốt cuộc đời Tại sao, và tại sao chứ, tại sao phải chết đau đớn trong khi đang uống nước chè xanh, chết lạc hồn lạc vía dưới một tảng đất đen?” ta khó xác định được là lời của nhân vật hay lời của tác

giả Phải đọc kĩ ta mới nhận ra đó là lời bình của tác giả được thể hiên dưới dạngcâu hỏi , trong cách kết mở, nhằm nhấn mạnh nỗi đau chiến tranh trong quá khứcòn ám ảnh đến cuộc sống hiện tại của nhân vật Lão Nhát

Trong truyện ngắn trước đây, lời độc thoại trong các đoạn độc thoại nội tâmthường được rút ra từ một loại sự tình, nằm ở vị trí cuối đoạn độc thoại có giá trịkết thúc đoạn văn

Ví dụ72: Một lát sau, Ninh nghĩ thương em quá, Ninh lại đi tìm dong,

nhưng hết Ninh moi củ ráy, ráy nước, ăn ngứa lắm Nhưng đói còn biết gì là ngứa? Ninh đem về ăn ráy nước Đật ăn tợn lắm, chẳng thấy kêu ca gì cả Ninh rơi nước mắt Ninh dặn em “Từ giờ đừng ăn cơm nhà thằng Chúc nữa” Đật gật

Trang 38

đầu Thế mà hôm nay nó lại lần sang nhà bác Vụ Có bực mình hau không? [Từ

ngày mẹ chết”, trang 299, tập I, Nam Cao]

Còn truyện ngắn ngày nay, lời độc thoại không nhất thiết phải nằm ở cuốiđoạn mà nó có thể trực tiếp ở ngay đầu đoạn, không cần thông qua lời kể về mộtloạt những sự tình ở đằng trước Và như vậy cách kết ở truyện ngắn hiện naycũng có thể không đơn thuần là lời độc thoại nội tâm trực tiếp của nhân vật, mà

đó có thể là giọng điệu bình luận ngoại đề mang tính triết lí của tác giả Ví dụ73:

Thế nào nhỉ? Bốn mươi tuổi, tôi đã có gì cho mình Tiền tài thì vớ vẩn, chỉ đủ ăn

và giữ một cuộc sống đạm bạc(…)Không có cái gì trong tay mình là nhất cả” [T12;301] Ngay phát ngôn mở đầu đoạn đã xuất hiện dòng suy nghĩ trực tiếp

được thể hiện bằng chính ngôn ngữ, giọng điệu của nhân vật, đến phát ngôn kếtthúc đoạn thì ngôn ngữ nhân vật lại lẫn vào giọng điệu triết lí của tác giả

Thông thường thì các đoạn độc thoại nội tâm có một kết thúc tương đốiđộc lập với các sự tình khác trong truyện Tuy nhiên để tạo mối quan hệ chặt chẽgiữa các đoạn văn trong một văn bản và để cuốn hút độc giả theo những suy

tư, trăn trở của nhân vật, hồi hộp với những biến cố,sự tình sảy ra với nhân vật,các tác giả lại hay xây dựng các kết cấu mở ở các đoạn văn đối thoại, kết thúc

mà như không có kết thúc hoặc kết thúc bằng một câu lửng Những đoạn vănđối thoại nội tâm có kết cấu mở như :

Ví dụ74: Con tôi lớn thật rồi Sao đến bây giờ tôi mới biết điều đó nhỉ?

Những người đàn ông đi qua tôi như thể bất chợt họ gặp họ gặp cơn mưa rào

mà họ thì không mang vải nhựa để che Tôi là một cái hiên rộng để họ có thể chạy vào đó, yên tâm, tưng hửng chờ cơn mưa qua Rồi về nhà Hóa ra lâu nay, tôi đi đường tôi, còn con gái thì tự tìm một đường mà đi Liệu nó có đi lại con đường của tôi không nhỉ?” [T12;305]

Ví dụ75: Nếu có phép lạ đến, cô sẽ hiện ra trước mắt anh với hình dạng ra

sao đây? Với một thân hình tàn tạ bơ phờ, mát mộng du tay cầm cành liễu? Hay với bộ quần áo nâu sòng, tay chắp trước ngực: “A di đà! Phật!” ? Hay một bà chủ sang trọng tay đầy xuyến nhẫn? Hay một phóng viên tài năng vừa từ Sài Gòn bay ra? [T22;109]

Trang 39

Ví dụ76: Cái nhìn xoáy buốt làm tôi nhận ra chị thật đẹp, khuôn mặt trái

xoan, nước da rời rợi trắng - không hiểu sao người như thế mà chồng nỡ chê bỏ? [T5;34]

Ví dụ77: Tôi thầm Nghĩ: “Nếu mình mà hồng hào, hơn” Thêm một chút

một chút một chút phấn chẳng hạn, mới có thể gọi là xinh.Thế, nhưng mà kim biết vẽ Biết đâu ông ấy đã nghĩ đến cách tô màu cho con bé nhợt nhạt này…

[T7;311]…

Qua khảo sát, chúng tôi cũng nhận thấy ở các đoạn độc thoại có kết thúc

mở thì phát ngôn độc thoại ở cuối đoạn thường là một câu khẳng định, câu luận

và thường gặp nhất là câu hỏi Điều nạy tạo nên sự chú ý của độc giả, khiến độcgiả như bị cuốn đi theo diễn biến tâm lý của nhân vật Các đoạn độc thoại có kếtthúc mở buộc độc giả phải suy nghĩ, tự đánh giá về nhân vật hoặc những diễnbiến tiếp theo của sự tình Điều này cũng tạo nên sự lôi cuốn với độc giả Nhìn

từ góc độ ngôn ngữ học thì đó là một sự sắp đặt chủ quan của các tác giả nhằmmiêu tả, lý giải mọi khía cạnh phong phú của tâm lý con người trước cuộc sốnghiện đại xô bồ cùng các mối quan hệ, những diễn biến phức tạp trong cuộc sống

ấy Những đoạn độc thoại nôi tâm có kết thúc là một câu lửng như:

Ví dụ78: Sao thế hả con? Con lú mất rồi Tôi phải làm gì bây giờ hả trời?

Không phải con đáng chấp chừng ở miệng vực nữa mà đang ở trong lòng vực rồi Bao giờ thì xuống đáy?[T12;313].

Ví dụ79:Thôi, xong rồi Con gái tôi thành đàn bà mất rồi Cái mặt nó ngây

dại vì hạnh phúc, và ánh mắt nó như người có lỗi, ngượng ngùng và đờ đẫn Đấy là ánh mắt của tôi mười mấy năm về trước Lúc ấy, tôi như đi trên chín tầng mây mười tầng gió Tôi không nhìn thấy ai hết, không biết gì hết ngoài việc

là tôi đang hạnh phúc Tôi vừa bước vào một thiên đường của đời người mà anh

- người đàn ông đầu tiên trong đời đã mở cho tôi và dìu tôi vào đó Người đàn ông đó, vừa mở cửa để cho tôi kịp nhìn thấy những vòng hào quang của nỗi đam

mê thì lập tức, sau đó sáu tháng, anh ta dẫn tôi đến một cái hang sâu hun hút và đẩy tôi vào đó Đến tận bây giờ…

[T12;308]

Trang 40

Khi kết thúc các đoạn độc thoại nôi tâm bằng các câu lửng, vô nhân xưngnhư vậy, các tác giả đều có mục đích cụ thể Như trong các đoạn trên, NguyễnThị Thu Huệ sử dụng những câu lửng, vô nhân xưng ở cuối đoạn nhằm thể hiệntâm lý tuyệt vọng, lo lắng và cả nỗi đau đớn xót xa của người mẹ khi thấy cuộcđời con gái có nguy cơ lặp lại như cuộc đời đau khổ, bị lừa gạt trong tình yêunhư chính mình Điều đó khiến cho nỗi đau của người mẹ càng bị kéo dài ra,càng xoáy sâu hơn bao giờ hết

Ngoài những cách kết thúc trên, chúng ta không thể không nhắc đến cáchkết thúc như không có kết thúc ở những đoạn độc thoại nội tâm của Phan ThịVàng Anh.Xuất phát từ kết cấu khá đặc biệt ở các đoạn độc thoại nội tâm màPhan Thị Vàng Anh đã sử dụng, đó là trong phát ngôn độc thoại của nhân vật về

ẩn chứa tính chất đối thoại, giọng điệu trong lời độc thoại của nhân vật như bị xẻ

đôi thành hai giọng đối nghịch bên trong Nói như M Bakhtin thì: “trong ý thức

bản ngã của nhân vật đã có ý thức về người khác mà bó xâm nhập vào” Đây là

xu hướng phức điệu, đa thanh của tiểu thuyết, truyện hiện đại Truyện của PhanThị Vàng Anh có nhiều dấu hiệu sử dụng nhiều giọng điệu giống như đối thoạingầm trong độc thoại, những lời lẽ của cùng một nhân vật lại mang tính địnhhướng ngược chiều ở phía người nghe Nhân vật độc thoại sợ người nghe hiểulầm mình, nên rào trước đón sau, giải thích:

Ví dụ 80:Mười giờ đêm, khách đã bắt đầu lục đục ra về, em đã bắt đầu ngáp

vặt, (chúng mình thân nhau quá mà, điều này đâu còn phải là cái để gọi là “xúc phạm nhau” như hồi mới quen cách đây hai năm!)[T16]

Ví dụ81: Em cũng nghi lắm (kinh thật, sao em có thể chịu đựng được tình

trạng phập phồng này trong suốt hai năm nhỉ?)…[T16]

Rõ ràng trong những đoạn độc thoại trên,kết thúc đoạn chính là lời giảithích, lời đối thoại ngầm đặt trong ngoặc đơn Cách kết thúc như vậy tạo nên sựphong phú sinh động cho việc thể hiện tâm lý và khiến câu văn sôi sục hẳn lên.Đồng thời cách kết này cũng khiến người đọc nghĩ ngay tới những đoạn tiếptheo nối liền như dòng ý thức Bởi những lời độc thoại kiểu trên có thể xuất hiện

ở ngay những diến biến chi tiết nhỏ nhặt của đời thường: Sau cái ngáp vặt, saumột câu nói của người khác… chứ không cần phải xuất hiện sau những sự kiện,những tình huống quan trọng

Ngày đăng: 03/03/2023, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân.150 thuật ngữ văn học ,Nxb ĐHQGHN, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2004
2. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán. Đại cương ngôn ngữ học T1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học T1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
3. Đặng Anh Đào. Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb ĐHQGHN, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 1998
4. Hữu Đạt. Phong cách tiếng việt hiện đại, Nxb Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách tiếng việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
5. Phan Cự Đệ. Tiểu thuyết hiện đại, Nxb Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
6. Phan Cự Đệ(chủ biên). Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục, 2004 7. Hà Minh Đức(chủ biên). Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX," Nxb Giáo dục, 20047. Hà Minh Đức(chủ biên). "Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Lâm Thị Liên. Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nam Cao, Khoá luận tốt nghiệp, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nam Cao, Khoá luận tốt nghiệp
Tác giả: Lâm Thị Liên
Năm: 2000
14. Hoàng Phê (chủ biên).Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2003
15. Hoàng Trọng Phiến. Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt: Câu, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt: Câu
Tác giả: Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1980
16. Bùi Việt Thắng. Bình luận truyện ngắn, Nxb ĐHQG, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận truyện ngắn
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1998
17. Bùi Việt Thắng. Truyện ngắn những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb ĐHQG, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2000
18. Nguyễn Ngọc Trâm. Nhóm từ tâm lí- tình cảm tiếng việt và một số vấn đề từ vựng-ngữ nghĩa, Nxb KHXH, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhóm từ tâm lí- tình cảm tiếng việt và một số vấn đề từ vựng-ngữ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Ngọc Trâm
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2004
19. Phùng Văn Tửu. Tiểu thuyết Pháp hiện đại, những tìm tòi đổi mới, Nxb ĐHQGHN, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Pháp hiện đại, những tìm tòi đổi mới
Tác giả: Phùng Văn Tửu
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2002
20. M.Bakhtin. Những vấn đề thi pháp Doxtojevxki, Nxb Giáo dục, 1998 21. M.Bakhtin. Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Doxtojevxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
22. G.N.Pospelov. Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: G.N.Pospelov
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
11. Phương Lựu(chủ biên). Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, 2000 12. Nhiều tác giả. Giáo trình việt ngữ, Nxb ĐHQGHN,1998 13. Nhiều tác giả.Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, 2000 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w