A MỤC LỤC Trang Trang bìa phụ i iiMục lục MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 7 Chương 1 TRIỀU ÂN TRONG DÒNG VĂN HỌC DÂN TỘC MIỀN NÚI 7 1 1 Phác thảo diện mạo văn học dân tộc miền núi 7 1 2 Vài nét về con người và sự n[.]
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ i
Mục lục ii
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 7
Chương 1: TRIỀU ÂN TRONG DÒNG VĂN HỌC DÂN TỘC MIỀN NÚI 7 1.1 Phác thảo diện mạo văn học dân tộc miền núi 7
1.2 Vài nét về con người và sự nghiệp sáng tác của tác giả Hoàng Triều Ân 9
1.2.1 Con người 9
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác 10
Chương 2: HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG TRUYỆN NGẮN TRIỀU ÂN 12
2.1 Bức tranh hiện thực xã hội miền núi 12
2.1.1 Chiến tranh tàn phá cuộc sống của đồng bào miền núi 12
2.1.2 Cuộc đấu tranh xây dựng lối sống mới, xóa bỏ lối sống lạc hậu 14
2.1.3 Phê phán hủ tục bao đời đè nặng, kìm trói người dân trong vòng tăm tối17 2.2 Hình tượng con người miền núi 19
2.2.1 Con người miền núi thức tỉnh tiếp cận với cái mới 20
2.2.2 Những người phụ nữ mang nhân cách tốt đẹp, có tấm lòng yêu thương vị tha21 2.2.3 Những con người xấu xa nham hiểm 25
Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN TRIỀU ÂN 28
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 28
3.1.1 Khái niệm nhân vật văn học 28
3.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Triều Ân 29
3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật 41
3.2.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 41
3.2.2 Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn của Triều Ân 42
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam là đất nước gồm 54 dân tộc anh em Mỗi dân tộc có một nền văn hóariêng, đặc sắc và phong phú Điều đó được thể hiện rõ nét trong nền văn hóa củatừng dân tộc Bên cạnh nền văn học của người Kinh, kho tàng văn học của các dântộc thiểu số cũng góp phần không nhỏ vào nền văn học nước nhà Vì vậy nghiêncứu văn học của các dân tộc thiểu số luôn là vấn đề cấp thiết được đặt ra hiện nay
Trong các nhà văn người dân tộc, Triều Ân là cây bút có sức sáng tạo dồidào Ông sáng tác trên nhiều thể loại, trong đó truyện ngắn được xem là một trongnhững thể loại thành công nhất Truyện ngắn của Triều Ân có giá trị cả về mặt nộidung và nghệ thuật Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn ít những công trình nghiên cứuchuyên biệt về Triều Ân, nếu có chỉ là một vài bài báo hoặc ý kiến nhỏ lẻ trong cảmột công trình, bài viết về văn học các dân tộc thiểu số nói chung Những kết quảnghiên cứu này chưa đủ để tái dựng một chân dung Triều Ân với những đứa continh thần của ông Vì vậy, việc tìm hiểu những sáng tác của nhà văn Triều Ân là
việc làm cần thiết có ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học Thực hiện đề tài Đặc điểm truyện ngắn Triều Ân, chúng tôi mong muốn góp phần khẳng định giá trị tác
phẩm và tài năng, tâm huyết của nhà văn đối với nền văn học dân tộc thiểu số nóiriêng và văn học Việt Nam nói chung
Việc nghiên cứu đề tài Đặc điểm truyện ngắn Triều Ân là cơ hội để người
viết có điều kiện đi sâu tìm hiểu về truyện ngắn của Triều Ân cả về mặt nội dung vànghệ thuật Từ đó góp phần nâng cao trình độ học tập cũng như giảng dạy phần vănhọc miền núi trong nhà trường phổ thông của người nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Trong các nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Triều Ân là một tác
giả có năng lực sáng tạo dồi dào, ít nhiều có phong cách riêng “Cuộc đời nhà văn
Hoàng Triều Ân được giới văn nghệ sĩ trân trọng, được xã hội ghi nhận Những cống hiến của ông được đánh giá cao” (Đoàn Lư).
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình, bài viết đề cập đến sự nghiệp sángtác cũng như đóng góp của Triều Ân với nền văn học miền núi nói riêng và văn học
Trang 3đương đại nói chung Hội thảo khoa học về nhà văn Hoàng Triều Ân diễn ra tại
Cao Bằng ngày 12 tháng 11 năm 2007 đã có những ý kiến khẳng định tài năng nghệthuật cũng như những đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà với sự tham giacủa đông đảo các tác giả phê bình, nghiên cứu văn học có uy tín Những bài thamluận, phát biểu trong hội thảo đã làm nổi bật về con người, sự nghiệp, về giá trịnhững tác phẩm, công trình của Triều Ân Nói về thành tựu của ông trên các thểloại, các nhà nghiên cứu, đồng nghiệp đều đánh giá cao tài năng, tâm huyết của nhà
văn Lã Nhâm Thìn cho rằng “Nói đến Triều Ân là nói đến ba nhà trong một nhà:
nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Ở nhà nào Hoàng Triều Ân cũng có những đóng góp làm phong phú, làm giàu có thêm nền văn học các dân tộc ít người nói riêng, nền văn học nước nhà nói chung” [3, tr104] Các tác giả khác cũng khẳng
định: “Gọi Hoàng Triều Ân là nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học đều đúng
cả vì ở lĩnh vực nào ông cũng đạt được thành tích đáng kể” [3, tr243] và “Dù ở thể loại nào, thơ, truyện ngắn hay tiểu thuyết, đọc trang viết của Triều Ân, người đọc đều có cảm giác được khám phá những điều mới mẻ và thú vị” [3, tr217] Mỗi trang
văn của Triều Ân đã mang đến cho độc giả những hiểu biết phong phú về cuộc sốngsinh hoạt, đặc biệt là phong tục tập quán của đồng bào dân tộc miền núi bằng thứngôn ngữ giản dị, mộc mạc, lối so sánh ví von gần với cách cảm, cách nghĩ củangười miền núi
Bài viết Triều Ân, nhà văn dân tộc Tày trích trong cuốn Nhà văn các dân tộc thiếu số Việt Nam hiện đại, NXB Văn Hóa dân tộc H.1988 của nhà nghiên
cứu Mai Hương đã trình bày những nét cơ bản về cuộc đời, sự nghiệp của nhà vănHoàng Triều Ân Bài viết đã nêu những tiền đề để hình thành tài năng Triều Ân,đồng thời tác giả cũng trình bày thành công của nhà văn trên 3 thể loại: thơ, truyệnngắn và sưu tầm khảo cứu Bài viết kết thúc với tấm lòng trân trọng nhà văn,mong muốn và tin tưởng chờ đón những đóng góp mới của Triều Ân trên nhữngthể loại quen thuộc và thành công của ông trên sự thể nghiệm một thể loại mới -thể loại tiểu thuyết
Luận văn thạc sĩ Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân của tác giả
Hoàng Thị Vi là một công trình nghiên cứu khá đầy đủ về văn xuôi Triều Ân Tác
Trang 4giả luận văn đã khai thác một số phương diện nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộcnhư: nghệ thuật tổ chức cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, qua đókhẳng định Triều Ân đã kế thừa, tiếp thu có sáng tạo và vận dụng vốn văn hóa vănhọc dân gian của dân tộc mình.
Trong báo Người đại biểu nhân dân số 47 (256) ngày 7 tháng 4 năm 2004, nhà báo Hoài Nam của Ban văn nghệ Đài truyền hình Việt Nam đã có bài viết Mở
“ túi khôn” của người Tày Ở bài viết này tác giả đã bày tỏ tấm lòng trân trọng đối
với nhà văn Hoàng Triều Ân Tâm huyết nghề nghiệp của Triều Ân cũng được làm
rõ ở bài viết này
Qua việc điểm lược một số ý kiến đánh giá, nhận xét về con người và tácphẩm của Triều Ân, ta thấy được những thành tựu đáng ghi nhận của ông đối vớinền văn học dân tộc Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình chuyên biệt nàonghiên cứu truyện ngắn của Triều Ân Việc tìm hiểu nghiên cứu đặc điểm truyệnngắn của nhà văn Triều Ân vì thế cũng được đặt ra như một đòi hỏi tất yếu
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, chúng tôi sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:3.1 Phương pháp thống kê - khảo sát
3.2 Phương pháp đối chiếu - so sánh
3.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn Hoàng Triều Ân ở haiphương diện chính: Nội dung và nghệ thuật, qua các truyện ngắn tiêu biểu của ôngđược tập hợp ở:
Tập truyện ngắn Tiếng khèn A Pá - NXB tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt
Nam, Hà Nội 1980
Tuyển tập thơ văn Triều Ân - NXB Văn học Hà Nội - 2006
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
` Nghiên cứu Đặc điểm truyện ngắn Triều Ân, đề tài có nhiệm vụ làm rõ
những vấn đề sau:
Trang 5Bức tranh hiện thực và hình tượng con người miền núi trong truyện ngắn củatác giả Triều Ân.
Một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn của Triều Ân như: Nghệthuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ nghệ thuật
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung chính gồm 3chương:
Chương 1: Triều Ân trong dòng văn học dân tộc miền núi
Chương 2: Hiện thực và con người miền núi trong truyện ngắn của Triều ÂnChương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn của Triều Ân
Trang 6NỘI DUNGChương 1 TRIỀU ÂN TRONG DÒNG VĂN HỌC DÂN TỘC MIỀN NÚI
1.1 Phác thảo diện mạo văn học dân tộc miền núi
Đề tài dân tộc và miền núi trong văn xuôi Việt Nam hiện đại được hìnhthành, phát triển chủ yếu từ sau Cách Mạng tháng 8 năm 1945 Đây là đề tài vănhọc lớn từng đem lại những tác phẩm đứng ở vị trí hàng đầu trong nền văn học cáchmạng Một điều đặc biệt trong đội ngũ sáng tác của bộ phận văn học này là có sựtham gia của cả người Kinh và người dân tộc thiểu số
Những nhà văn người Kinh sáng tác về đề tài miền núi rất nhiều như: LanKhai, Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp…Đến với đề tài dân tộc vàmiền núi với tư cách không phải là một người bản xứ, các tác giả người Kinh có rấtnhiều khó khăn Tuy nhiên ở mảng đề tài này, các nhà văn đã phát hiện ra nhiềuđiểm lạ, điểm mới, nhiều phẩm chất tốt đẹp của người miền núi mà có khi dân tộc
ấy chưa phát hiện ra
Bên cạnh các nhà văn người Kinh viết về miền núi thì bộ phận các nhà văn,nhà thơ là người dân tộc thiểu số cũng chiếm số lượng không nhỏ Sự thuận lợi củanhững tác giả này là họ có khả năng, điều kiện để hiểu sâu sắc về con người, lốisống và những phong tục tập quán nơi họ sinh sống Có thể kể đến một số nhà văn
như: Ma Trường Nguyên với tác phẩm Mũi tên ám khói (1991), Gió hoang (1992) Tập bút kí Cao nguyên trắng của Mã A Lềnh và các tập truyện ngắn Vùng đồi gió quẩn (1995), Chuyện ở chân núi Hồng Ngài ( 2005) của Sa Phong Ba Nửa đầu thập kỷ 90, các tiểu thuyết Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Vào hang
(1990)… của Vi Hồng được dư luận quan tâm bởi có tính thời sự
Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đội ngũ sáng tác văn học miềnnúi rất đa dạng Chính vì vậy văn học viết về đề tài miền núi ở giai đoạn này tươngđối phát triển Các cây bút mới xuất hiện và để lại những tác phẩm có giá trị Ở TâyNguyên trước kia chỉ có Y Điêng, nay có Hlinh Nie (tức Linh Nga Nie Kđăm,
người Êđê ) với tập truyện Con rắn màu xanh da trời (1997) và tập ký Trăng Xí
Trang 7Thoại (1999); Kim Nhất (Người Bahnar) với các tập truyện Động rừng (1999), Hồn ma núi (2002) và tác giả Nie Thanh Mai (người Eđê) với tập truyện Về bên kia núi (2007).
Các nhà văn Tày xuất sắc như Triều Ân với nhiều tác phẩm truyện ngắn, thơ
ca và tiểu thuyết Ngoài ra còn có thể kể đến cây bút người Tày khác như: HoàngLuận, Nguyễn Minh Sơn, Hoàng Tương Lai, Đoàn Ngọc Minh, Vi Thị Thu Đạm, ASáng…Đóng góp cho văn xuôi còn có các cây bút người Nùng như Hoàng Quảng
Uyên với Vọng tiếng non ngàn (kí, 2001), Địch Ngọc Lân, Ngôi đình bản Chang (tiểu thuyết, 1999) và Hoa mí rừng (tiểu thuyết, 2001) Một cây bút viết về đề tài
miền núi xuất sắc không thể không nhắc đến là nhà văn dân tộc Tày Cao Duy Sơn
với một loạt các tác phẩm như: Người lang thang (1992), Cực lạc (1995), Những chuyện ở lũng Cô Sầu (1996), Hoa mận đỏ (1999),…
Văn xuôi miền núi đương đại vừa kế thừa, vừa phát huy tốt nhất những thànhtựu và kinh nghiệm nghệ thuật đã có của quá trình phát triển Bao quát các mảng đềtài gắn với cuộc sống và con người miền núi qua các giai đoạn lịch sử, ở những tácphẩm thành công, văn xuôi miền núi đương đại đã chú ý đến những phạm vi,phương diện, vấn đề nổi bật của đời sống, ghi nhận, miêu tả hình ảnh chân thực vàsinh động về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, phóng khoáng của con người các dân tộcvùng núi vừa gắn với sông suối làng bản, vừa cải tạo thiên nhiên, tạo dựng môitrường và cuộc sống ngày càng ấm no, hiện đại hơn Bên cạnh đó, văn xuôi miềnnúi còn phản ánh những đóng góp thầm lặng, nghĩa tình, bề bỉ của người dân vùngcao vào sự nghiệp cách mạng, kháng chiến của cả nước Văn xuôi miền núi cũngmiêu tả, khắc họa những bình diện đời sống vật chất, tinh thần đậm đà bản sắc vănhóa riêng của các dân tộc ít người, chứng tỏ sức sống và sự đa dạng, phong phú củavăn hóa và con người Việt Nam Có thể nói, văn xuôi miền núi đã đóng góp vào vănxuôi Việt Nam nói chung những giá trị độc đáo không thể thay thế, dù có thể làchưa thật nhiều
Về mặt nghệ thuật, không thể phủ nhận những thành tựu vô cùng quý giá đãđạt được trong tiểu thuyết, truyện ngắn của Tô Hoài, Nam Cao, Nguyễn HuyTưởng, Nguyễn Tuân, Nguyên Ngọc, Vi Hồng, Ma Văn Kháng…Sự đa dạng,
Trang 8phong phú của thế giới nghệ thuật, cách tổ chức sự kiện, cốt truyện, kết cấu tácphẩm, cách miêu tả, khắc họa nhân vật, nghệ thuật sử dụng ngôn từ…trong không íttác phẩm văn xuôi miền núi đã đóng góp vào thành tựu nghệ thuật chung của vănxuôi Việt Nam trên các chặng đường phát triển Trong các trang viết của các câybút văn xuôi người dân tộc, ta có thể nhận ra, chắt lọc những vẻ đẹp độc đáo, bấtngờ - như hái lượm được những sắc màu, hương vị riêng, không thể trộn lẫn, kếtvào làm tăng vẻ đẹp và giá trị nghệ thuật chung.
Trong những năm qua, một số tác giả, tác phẩm văn học của các dân tộcthiểu số đã mang đến cho văn học nghệ thuật Việt Nam những sáng tạo được thểhiện dưới nhiều hình thức mới, giọng điệu mới và gây được những dấu ấn khá sâuđậm, đã đóng góp chân dung văn học tiêu biểu và ấn tượng như Nông Quốc Chấn,
Y Phương, Hoàng Hà,…rất nhiều các tác phẩm của các tác giả dân tộc thiểu số và
cả những tác phẩm viết về đề tài dân tộc thiểu số vẫn được công chúng đón nhận
Thành tựu quan trọng nhất mà văn xuôi miền núi đương đại đạt được chính
là ở chỗ văn xuôi miền núi đương đại đang dồi dào sức phát triển, vươn lên, mởrộng và kết tinh
Tuy nhiên, như một số nhà nghiên cứu nhận xét, thực trạng của văn xuôimiền núi, của văn học các dân tộc ít người là thiếu vắng nhà văn chuyên tâm, thiếuvắng tài năng, chất lượng nghệ thuật Chính tình trạng thiếu vắng nhà văn tài năng
là nguyên nhân của thực trạng chưa có nhiều tác phẩm hay, có giá trị Đây là hạnchế chính của văn xuôi miền núi đương đại Xuất phát từ thực tế đó, cần đầu tư chođội ngũ sáng tác nhiều hơn nữa Hiện nay, rất nhiều các nhà văn người dân tộc thiểu
số do điều kiện sống ở vùng sâu, vùng xa ít có cơ hội được giao lưu, trao đổichuyên môn Bên cạnh đó, khả năng các tác phẩm của các tác giả này đến được đếnbạn đọc cũng tương đối khó khăn Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số đã cónhiều cố gắng giúp đỡ và hỗ trợ sáng tác cho tác giả từ nguồn kinh phí do nhà nướctài trợ, nhưng chưa thể đáp ứng hết được
1.2 Vài nét về con người và sự nghiệp sáng tác của tác giả Hoàng Triều Ân
Trang 9Triều Ân tên khai sinh là Hoàng Triều Ân, ông là người dân tộc Tày, sinhnăm 1931 tại xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng Quê hương Cao Bằngnói riêng và khu vực Việt Bắc nói chung là nơi giàu truyền thống văn hóa cáchmạng và những nét phong tục đặc sắc đã bồi dưỡng tâm hồn thơ văn cho HoàngTriều Ân từ thủa nhỏ.
Triều Ân xuất thân trong một gia đình nho học, giàu truyền thống yêu nước
và văn chương Khi còn nhỏ, Triều Ân được học chữ nho tại nhà Sống ở quêhương giàu truyền thống và cách mạng nên Triều Ân sớm được giác ngộ Ôngtham gia cách mạng năm 1943; thoát li gia đình từ khi còn rất trẻ; năm 1948 đến
1953, là cán bộ của tỉnh bộ Việt Minh và tỉnh ủy Cao Bằng; từ năm 1956 đến 1985ông công tác trong ngành giáo dục Sự nghiệp sáng tác của Triều Ân bắt đầu từ khiông tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội năm 1963 Cũng trong thời gian này,Triều Ân được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Sau khi tốt nghiệp sư phạm, Triều Ântrở về quê hương Cao Bằng dạy học Năm 1985, ông giữ vai trò lãnh đạo hội VănHọc Nghệ Thuật tỉnh Cao Bằng cho đến khi về hưu Với cương vị của mình, tronggần chục năm, Triều Ân đã đóng góp to lớn nhằm củng cố, xây dựng hội ngàycàng phát triển
Triều Ân là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào, có thể sáng tác trên nhiềuthể loại và ở thể loại nào ông cũng thể hiện được tài năng của bản thân Với tưchất thông minh thêm vào đó là sự ham học hỏi, có kiến thức sâu sắc trên mọi lĩnhvực của đời sống xã hội, Triều Ân đã để lại cho nền văn học dân tộc nhiều tácphẩm có giá trị
Đến nay tuy đã gần 80 tuổi nhưng Hoàng Triều Ân vẫn không ngừng cốnghiến cho sự nghiệp văn học nước nhà
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
Tác giả Triều Ân đã có lần bộc bạch: “Tôi viết văn, làm thơ bắt đầu xuất
phát từ tình cảm chân thành của mình đối với hiện thực cuộc sống, từ đó thể hiện tư tưởng của chủ để và bắt tay viết, chứ không quan tâm một cách có dụng ý (đôi lúc lạm dụng nữa) tìm cái cầu kì, tìm cách thể hiện cầu kì” [18, tr1010] Tuy nhiên,
Trang 10chính sự giản đơn trong cả nội dung và cách thể hiện ở tác phẩm của Triều Ân đãđem lại sự thành công của tác giả này.
Triều Ân đến với bạn đọc trước hết bằng những trang thơ Trong lòng độcgiả, Triều Ân trước hết là một nhà thơ miền núi ít nhiều có phong cách riêng Với 3
tập thơ xuất bản bằng tiếng Kinh: Tung còn và suối đàn, Nắng ngàn, Bốn mùa hoa và một tập thơ bằng tiếng Tày Kin Mac, Triều Ân đã khẳng định được vị trí của
mình trong nền thơ chung của dận tộc Ngoài ra, Triều Ân cũng có nhiều bài thơ giátrị khác
Cùng với thơ, Triều Ân còn viết truyện ngắn Nếu như ở thể loại thơ, Triều Ân
có sự rung cảm trước cái đẹp của cuộc sống thì ở truyện ngắn, ông thường để cậpđến những hiện thực và con người trong xã hội Đọc truyện ngắn của Triều Ânngười đọc dễ dàng nhận thấy những hình ảnh những con người đậm chất miền núi
Ở họ có cả những mặt tốt cả những điểm yếu cần khắc phục Triều Ân đã không nétránh khi nói đến phong tục tập quán, lối sống lạc hậu của người dân miền núi Ông
có cái nhìn về miền núi tương đối toàn diện Ở thể loại truyện ngắn, Triều Ân cũng
để lại nhiều tác phẩm có giá trị Tác phẩm Bên bờ suối Tiên được giải nhì cuộc thi
truyện ngắn của Tạp chí văn nghệ Việt Bắc năm 1962…
Với sức sáng tác phong phú cùng sự am hiểu sâu sắc quê hương miền núicủa mình, trong khoảng chưa đầy 10 năm từ 1992 đến 2000, ông đã liên tiếp cho ra
đời ba tiểu thuyết Nắng vàng bản Dao (1992), Nơi ấy biên thùy (1994), Dặm ngàn dong ruổi (2000).
Sự nghiệp sáng tác của tác giả Hoàng Triều Ân còn mở rộng ở lĩnh vực sưu
tầm nghiên cứu văn học Ở lĩnh vực này, ông có 18 đầu sách: Hoàng Đức Hậu một đời thơ (sưu tầm, nghiên cứu, 1994), Truyện thơ Nôm Tày (sưu tầm - nghiên cứu, 1994), Tục cưới xin của người Tày (nghiên cứu, 1995), Then Tày những khúc hát (sưu tầm - nghiên cứu, 2000), Chữ Nôm Tày và truyện thơ (sưu tầm - nghiên cứu, 2003), Ba áng thơ Nôm Tày và thể loại (nghiên cứu, 2004), Trường ca Nông Văn Vân khởi nghĩa (sưu tầm - dịch, 2005)…
Trang 11Tóm lại, Triều Ân có sức sáng tạo dồi dào trên nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn,tiểu thuyết, nghiên cứu, sưu tầm…Ở thể loại nào ông cũng tỏ ra là một cây bút đầytài năng Triều Ân xứng đáng là nhà văn hóa dân tộc Tày.
Chương 2 HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG
TRUYỆN NGẮN TRIỀU ÂN 2.1 Bức tranh hiện thực xã hội miền núi
Triều Ân là người dân tộc Tày Ông sinh ra và lớn lên tại vùng đất Hòa An,tỉnh Cao Bằng Đây là vùng đất được biết đến từ những năm tháng đau thương củadân tộc Nói đến Cao Bằng, không ai có thể phủ nhận được sự đóng góp lớn lao củamảnh đất này với cách mạng Bên cạnh đó, Cao Bằng còn là vùng đất giàu truyềnthống văn hóa, nơi có phong cảnh hữu tình Chính điều này đã tạo nên một CaoBằng thật nên thơ và hấp dẫn Là một người con của vùng đất Cao Bằng yêu dấu,Triều Ân am hiểu sâu sắc hiện thực xã hội nơi đây từ bao đời nay Triều Ân đã đưahiện thực ấy vào trong sáng tác của mình Điều đặc biệt ta nhận thấy là ông đã tinhlọc bản sắc văn hóa Tày, chọn lọc những nét tinh túy nhất để tạo thành một thế giớinghệ thuật đắc sắc Vẫn biết rằng, văn học có cả hư cấu nghệ thuật nhưng với Triều
Ân, hiện thực trong sáng tác của ông gần gũi và chân thực đến lạ thường Nhà
nghiên cứu Mai Hương trong bài viết Triều Ân, nhà văn dân tộc Tày trích Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại cũng đã viết: “Là nhà văn, Triều Ân luôn
có ý thức bắt đúng mạch của cuộc sống Áp sát vào vấn đề mới của cuộc sống một cách nhanh, nhạy, đó là ưu điểm đầu tiên của anh” [18, tr1014].
2.1.1 Chiến tranh tàn phá cuộc sống của đồng bào miền núi
Biết bao tác giả đã dùng cây bút của mình để lên án chiến tranh phi nghĩa đãtàn phá cuộc sống của người dân miền núi Với Nguyễn Trung Thành trong tác
phẩm Rừng xà nu, chúng ta không thể quên đoạn văn mà tác giả dùng để mở đầu
tác phẩm này: “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc, đã thành lệ, mỗi ngày hai
lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn Cả
Trang 12rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão Ở chỗ vết thương, nhựa ứa
ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn” [11, tr38] Rừng xà nu là hình ảnh mà tác giả
sử dụng để chỉ những con người Tây Nguyên Giặc Mĩ tàn phá rừng xà nu cũngchính là tàn phá cuộc sống của những con người nơi đây Đọc tác phẩm, người đọckhông thể quên được hình ảnh của cụ Mết, Tnú và nhiều nhân vật khác Ở nhữngcon người này sáng bừng lên chủ nghĩa yêu nước chân chính
Trong truyện ngắn của Triều Ân, người đọc cũng có thể dễ dàng nhận thấynhững trang viết về chiến tranh Chiến tranh đã gây ra biết bao thảm cảnh cho cuộc
sống của nhân dân miền núi Truyện ngắn Bà mẹ Tày đã phản ánh mâu thuẫn gay
gắt giữa đồng bào miền núi với bọn phát xít Nhật Có những ngày lí trưởng và quanTây đến bắt dân dồn bản ở tập trung không một ai cưỡng nổi Có người phải đút lótnhưng không được Bố của Tháo căm tức quá đã vác thanh kiếm lên đồn Tây Ngayhôm đó, bọn Tây dong cụ về bản rồi đưa ông cụ lên đồi bắn Với bọn phát xít tàn
ác, chúng không coi mạng người ra gì Chúng thẳng tay chém giết dân tộc ta khôngchút thương tiếc Những đồng bào bị chúng tàn sát đẫm máu mãi ra đi mang trongmình mối hận thù chưa trả được Không chỉ có người khuất mà những người ở lạicũng đau đớn, xót xa bội phần Mẹ của Tháo khi nghe tin ông cụ bị bắn đã bị “máulên đầu” đột ngột Nguyên nhân gián tiếp gây lên cơn “máu lên đầu” ấy cũng chính
là do sự tàn ác của bọn giặc Nợ ấy, thù ấy chưa trả thì người khuất chưa thể nhắmmắt, người ở lại chưa thể cảm thấy thanh thản được
Với truyện ngắn Hương sen trích trong tập Đường qua đèo mây, Triều Ân
đã dựng lên một khung cảnh hoang tàn, đổ nát của chiến tranh Hương làm trongtrại lợn là con người hết lòng vì tập thể, chị cũng như bao người khác đặt lợi ích tậpthể lên hàng đầu Khi giặc về quê hương tàn phá, Hương cùng mọi người lùa đànlợn vào rừng sâu Sau gần một tháng trời đi sơ tán xa quê hương, chị đã trở về làng.Thông qua cái nhìn của nhân vật Hương, tác giả đã nói lên những thảm cảnh mà
chiến tranh đã gây ra cho con người nơi đây: “Đi vào ngõ, trời ơi, chị trông rõ cái
nhà chỉ còn là một đống tro tàn Khói còn bay lên từ đống dấm âm ỷ Hương không
Trang 13muốn tin đó là sự thật Chị quay trở ra, nhìn sang khu vực khác, thấy cùng một quang cảnh như thế Đây là sự thật của chiến tranh” [18, tr167] Phải chăng chiến
tranh là sự tàn phá không thương tiếc? Biết bao con người, bao ngôi nhà, làng mạc
đã không còn nữa khi chiến tranh đi qua Chỉ với mấy câu văn thật ngắn gọn và dễhiểu, Triều Ân đã lên án sâu sắc chiến tranh, chính chiến tranh đã đẩy con người tađến ngõ cụt của cuộc đời Ngay cả Lượng - một anh đồ tể mà chính Hương còn thấy
“ghê tởm” cũng từng nói: “Mẹ Cam có biết chiến tranh là gì không? Mất hết” [18,
tr169] Lời nói của Lượng đã phản ánh phần nào bản chất của chiến tranh
Yến trong tác phẩm Trong tiếng sa quay là một nạn nhân trực tiếp của chiến
tranh Chiến tranh đã gây lên bi kịch trong cuộc đời của cô Nó đã cướp đi của Yếnnhững điều tưởng như bình dị nhất Từ chuyện báo tử nhầm, cô tưởng Thảo đã hisinh, cô đi bước nữa Tất cả mọi vấn đề trong gia đình Yến cũng bắt đầu nảy sinh từđây Xây dựng nên bi kịch cuộc đời Yến, tác giả một lần nữa lên tiếng tố cáo chiếntranh Chính chiến tranh đã đẩy cô vào hoàn cảnh khó xử như vậy Nếu không cóchiến tranh thì Thảo đâu phải xa vợ lên đường ra chiến trận, sẽ không có chuyệnbáo tử nhầm Trong hoàn cảnh ấy, Tùng đã quyết định ra đi để Thảo quay về bênYến Cứ tưởng rằng cuộc đời Yến từ đây sẽ không còn khổ đau nữa nhưng chiếntranh ác nghiệt kia đã cướp đi của Thảo đôi mắt sáng Giờ đây, Thảo chỉ biết ở nhàquay sa kéo sợi cho hợp tác xã lấy công điểm
Như vậy, với các truyện ngắn của mình, Triều Ân đã lên án sâu sắc chiếntranh phi nghĩa đã gây ra bao thảm cảnh cho cuộc sống và con người miền núi Đây
là một trong những khía cạnh làm nên giá trị hiện thực đặc sắc trong truyện ngắncủa Triều Ân Xung đột lịch sử - dân tộc mà Triều Ân xây dựng nên trong tác phẩmcủa mình vừa mang nét chung, vừa mang nét riêng Xung đột ấy là của những conngười miền núi nhưng cũng là xung đột muôn thủa trong số phận con người tự baođời nay
2.1.2 Cuộc đấu tranh xây dựng lối sống mới, xóa bỏ lối sống lạc hậu
Với cách suy nghĩ còn lạc hậu, người dân miền núi chưa thể hiểu được sựcần thiết của việc xây dựng lối sống định canh định cư Họ luôn nghĩ rằng phải dicanh di cư mới làm ăn được Cuộc sống đối với họ theo tư tưởng ấy hết năm này
Trang 14qua năm khác, hết thế hệ này đến thế hệ khác vẫn đắm chìm trong nghèo đói Họ
chưa thấy được “định cư mới định canh, định canh mới định cư là thế nào” [18,
tr122] Truyện ngắn Mây tan mang nhiều ý nghĩa sâu sắc Truyện đã phản ánh
được một hiện thực phổ biến ở miền núi không chỉ lúc bấy giờ mà hiện nay ít nhiềuvẫn còn tồn tại, đó là lối sống di canh di cư của người dân tộc Trong những conngười miền núi đó, thầy mo Phya đã cổ vũ cho lối sống lạc hậu này Vì sao thầy molại có tư tưởng như vậy? Đó phải chăng cũng bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết, haynói đúng hơn là sự mê tín dị đoan của một bộ phận người dân tộc thiểu số lúc bấygiờ Chính những hủ tục lạc hậu này đã đẩy con người đến cuộc sống tối tăm, khônglối thoát Piao - người làm công cho nhà Chẹ Tàn đã hiểu được nhiều điều từ lờigiảng giải của cán bộ Thông Anh đã truyền đạt lại những điều mình hiểu cho ChẹTàn và bố của cô là ông Phin biết Ban đầu, ông Phin không nghe Piao mà lại theothầy mo Phya, nhưng sau đó ông đã hiểu và chuyển xuống bản Nai Chơi định canhđịnh cư cùng mọi người
Sinh ra và lớn lên tại vùng đất cách mạng Cao Bằng, Triều Ân có điều kiệntiếp nhận hiện thực nơi đây một cách sâu sắc Không phô trương, cách biệt và xa lạ
mà hiện thực trong sáng tác của Triều Ân có tính thực tế cao Ông đã bám sát hiệnthực cuộc sống để đưa hiện thực đó vào trang viết của mình Khi phản ánh hiệnthực, dù hiện thực đó tốt hay xấu, cần phát huy hay đáng lên án thì Triều Ân bao giờcũng đưa ra quan điểm của bản thân Viết về cuộc đấu tranh xây dựng lối sống địnhcanh định cư, ông luôn tỏ thái độ ủng hộ đối với lối sống này Đây cũng chính làmột trong những chính sách đang được Đảng và nhà nước ta quan tâm Hiểu và bắtnhịp kịp thời với chính sách đó, Triều Ân cũng thật sâu sắc trong cách phản ánhhiện thực lúc bấy giờ
Nếu như truyện ngắn Mây tan là cuộc đấu tranh xây dựng lối sống định canh định cư thì ở Bên bờ suối Tiên, Triều Ân cũng phản ánh hiện thực cuộc sống nhưng nhìn theo một góc độ khác Bên bờ suối Tiên lại là cuộc đấu tranh của Lý
Thị Lìn - người con gái họ Lý mong muốn hai làng Pác Lủng Thượng và Pác Lủng
Hạ hợp nhất thành một hợp tác xã để công việc làm ăn của bà con hai làng được
Trang 15thuận lợi hơn Chính sách hợp nhất hai làng thành một hợp tác xã được đưa ra Banđầu còn nhiều người phản đối:
“- Không thể liên hiệp với nhau được.
- Đúng đấy, hợp tác xã mình toàn ruộng tốt, ruộng họ xấu lắm Hằng năm
không chịu bón phân, hừ!” [17, tr36] Nếu ai cũng mang tư tưởng như những con
người này thì cuộc sống bao giờ mới có thể tiến lên được? Lý Thị Lìn đã không quảnngại gian khó, chị đã đấu tranh chống lại những tư tưởng lạc hậu đó Sự chia rẽ, hiềmkhích giữa các bản làng, dân tộc chính là hậu quả của chính sách “chia để trị” của bọnphong kiến thực dân Phản ánh hiện thực này, Triều Ân đã lên án gián tiếp chế độphong kiến thực dân cũ đã gây ra biết bao hậu quả, đẩy con người tới vòng ngu muội.Thế nhưng, con người miền núi mới bây giờ đâu có chịu sống mãi trong vòng tối tămngu muội ấy, Lìn đã đấu tranh cho lẽ sống đúng đắn Chị phát biểu trước cuộc họp,chị giải thích cho mọi người hiểu về vấn đề hợp nhất hợp tác xã:
“Phân đoàn thanh niên chúng cháu đã bàn bạc đều thấy liên hợp là phải… những câu chuyện đánh nhau, thù ghét nhau là chế độ cũ rồi…Hồi đó lý trưởng nó xui chúng mình đánh nhau, chứ chúng mình có bao nhiêu ruộng mà phải tranh nhau nước?” [17, tr44] Từng lời nói của Lìn như thấm sâu vào tâm trí mọi người.
Họ đã hiểu ra vấn đề Tuy còn một số phần tử “con sâu bỏ dầu nồi canh” nhưng đa
số mọi người đã nhất trí liên hợp Triều Ân tỏ ra rất am hiểu lối sống và cách suynghĩ của người dân tộc thiểu số lúc bấy giờ Để có được vốn kinh nghiệm ấy, chắcchắn Triều Ân phải là con người có tình yêu quê hương và dân tộc sâu sắc Khôngchỉ dừng lại ở hiện thực bên ngoài mà truyện ngắn của Triều Ân còn đi sâu vào ngõngách bên trong tư tưởng của người miền núi Ông chú ý phê phán tư tưởng tư lợi
của lối làm ăn cũ Mẹ của Sảo trong truyện ngắn Hai mẹ con tuy sống trong tập thể
nhưng lại mang tư tưởng cá nhân ích kỉ Bà chỉ tính thế nào để mình được lợi nhiều
nhất “Đi cấy công thì mẹ dấu lạt…vào…trong áo Mẹ mang theo lạt từ nhà đi ra
đồng ruộng…Hết buổi, đếm lạt buộc mạ, tổ biết ai cấy được bao nhiêu bó mà quy điểm…A, mẹ rút lạt từ trong áo ra để lẫn vào Năm chiếc lạt là một điểm ” [17,
tr54, 55] Với lối suy nghĩ còn hạn hẹp như vậy, cuộc sống của họ đến bao giờ mớiđược cải thiện? Rất tinh tế khi Triều Ân đã xây dựng nên trong truyện ngắn này
Trang 16nhân vật Sảo - cô con gái Triều Ân ngay từ đầu đã xây dựng nhân vật này đối lậpvới mẹ cô từ suy nghĩ đến cách hành động Sảo cũng giống như Hương trong
Hương sen, cô hết lòng vì tập thể Sự tích cực trong công việc đã giúp Sảo trưởng
thành hơn trong cuộc sống Sảo đã vô cùng ngạc nhiên khi chính mẹ của mình lại làngười ích kỉ, vụ lợi cá nhân như vậy Chị đã khuyên mẹ đi nói với chủ nhiệm vềhành động của mình Xây dựng nhân vật này, phải chăng Triều Ân đã phần nào đưa
ra hướng giải quyết cho thực tại xã hội miền núi lúc bấy giờ Phải có những conngười như Sảo mới làm cho cuộc sống của những người dân miền núi đi lên được.Với sự nặng lòng của mình dành cho quê hương, Triều Ân đã góp phần nhỏ bé làmcho quê hương thêm giàu đẹp
2.1.3 Phê phán hủ tục bao đời đè nặng, kìm trói người dân trong vòng tăm tối
Nhắc đến người miền núi, người đọc không hề cảm thấy xa lạ với những hủtục của họ nơi đây Triều Ân đã nhìn thẳng vào hiện thực như một điều đáng lên án
và cần phải sửa đổi Dù tác giả biết điều đó không hề dễ dàng đối với người miềnnúi khi mà những hủ tục ấy đã ăn sâu vào tư tưởng của người dân nơi đây
Trước hết đó là những là những hủ tục trong tình yêu và hôn nhân Vẫn biếtrằng tình cảm đâu phải là thứ có thể dễ dàng ép buộc nhưng những con người miền
núi họ không hiểu được như vậy Trong truyện ngắn Câu chuyện cuộc đời, người
con gái Mông tên Dinh dù yêu A Chi nhưng lại bị mẹ phản đối Lí do rất đơn giản,theo mẹ Dinh chỉ vì A Chi nghèo nên không lo được cho Dinh Mẹ Dinh đã nhận
bạc của nhà A Châu, gả Dinh cho A Châu Hôm đó Dinh đi chợ về “chị gặp bọn
người lạ nấp bên đường xô ra túm tay và lôi chị trở lại Chị vùng chạy nhưng không thoát Chị bị bọn chúng kéo lùi xuống ven suối…” [17, tr8] Dinh là nạn nhân của
tục cướp vợ của người Mông “Ông trời đặt ra lệ con gái bị người ta kéo lùi ba
bước sẽ phải làm vợ người ta” [17, tr9] Đau đớn, xót xa khi phải theo A Châu
-con người mà Dinh chẳng thể yêu thương, cô đã hành động theo trái tim mình.Người con gái Mèo ấy đã bỏ trốn Đi đâu thì Dinh chưa biết, chỉ biết rằng chị sẽkhông thể có hạnh phúc nếu như cả đời phải sống chung với con người kia Đọc
những trang viết về Dinh, người đọc nhớ tới Mỵ trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài Cũng như Dinh, Mỵ cởi trói cho A Phủ và bỏ trốn cùng
Trang 17anh Họ đến Phiềng Sa - nơi có ánh sáng của Đảng và cách mạng Xét ở một góc độnào đó thì Dinh đã hơn Mỵ Mỵ còn có A Phủ đi cùng lúc bấy giờ, còn Dinh? Chị
cứ đi, đi mãi, đến khi hạnh phúc cũng mỉm cười với chị Dinh đã gặp Phảng - mộtcon gười bị bỏ rơi từ bé Hai số phận đã đồng cảm được với nhau Họ sống hạnhphúc bên nhau với những đứa con thơ Hành động bỏ trốn của Dinh và Mỵ đã bướcđầu thể hiện sự phản kháng trong tính cách của con người miền núi Họ không camchịu lối sống áp đặt, họ đã tự mình đấu tranh cho hạnh phúc của bản thân Dù ít haynhiều thì Triều Ân cũng đã rất tinh tế khi phát hiện ra điều đó Viết lên những hủtục này, Triều Ân đã lên án chúng một cách gay gắt Chính những hủ tục đó đã đẩycon người đến cuộc sống không có hạnh phúc Hạnh phúc là đâu? Là khi con người
ta tự tìm thấy nó và sống không phải ân hận với những gì mà mình đã lựa chọn
Chúng ta bắt gặp tục ở rể “làm công” trong truyện ngắn Mây tan Piao yêu
quý Chẹ Tàn, muốn lấy Chẹ Tàn làm vợ nhưng “bố mẹ Piao không có trâu bò,
không kiếm đâu được ba mươi sáu lạng bạc cho nhà người yêu làm đồ trang sức”
[18, tr119] Piao đành phải nghe theo lời bố: “Đời tao ngày xưa còn nghèo gấp mấy
đời mày bây giờ Không có bạc ròng, tao cũng đã đi theo con đường những người nghèo đã đi trước Con đường “làm công” đi ở cho nhà gái Con đường ấy mày thấy lối chưa?” [18, tr119] Biết bao thế hệ người miền núi đã mang tư tưởng như
bố Piao Chính hủ tục đó mà nhiều con trai người dân tộc đã không lấy được vợ.Phản ánh hủ tục này, cùng với tục cướp vợ của người Mèo, tác giả đã lên tiếng đấutranh cho quyền tự do hôn nhân của con người Đây là một trong những khía cạnhlàm nên giá trị nhân đạo sâu sắc trong các sáng tác của ông
Không chỉ có các hủ tục trong tình yêu và hôn nhân, mà mê tín cũng là vấn
đề phổ biến trong cuộc sống của người miền núi từ xưa đến nay Vì trình độ học vấnthấp, lối tư duy bảo thủ nên họ vẫn đắm chìm trong tối tăm Đó là những người dân
trong truyện ngắn Chặt cổ rồng Họ biết mùa màng đang bị đe dọa vì không có
nước tưới nhưng vẫn không chịu đào mương dẫn nước tưới vào đồng ruộng Lí dochỉ vì đào mương lại đi qua đèo Pác Luổng sẽ đứt mạch mả con trai cụ Khình nên
cụ không bằng lòng “Năm nay lại là năm hạn của lão” [17, tr61] Mương vẫn
Trang 18được đào nhưng đến chỗ sườn núi Dạng có chỗ đất sụt đoạn tầng Người ta đồn ởchỗ đó ngày xưa có voi thần sa hố chết thối xác, không ai dám đến gần Bây giờ làmmương không cúng voi thần thì không ai dám làm nữa Khi mương sắp xong, bà cụKhình lại cản việc đào mương, vì bà cho rằng đào như vậy là “chặt cổ rồng”, ngườilàng sẽ chết, người sống sót sẽ đói nghèo.
Tất cả những hủ tục, những quan niệm lạc hậu trên đã dần dần bóp nghẹtngười dân miền núi trong vòng u tối Vì những lí do đó mà họ vẫn ở trong cảnh đóinghèo, thiếu cơm ăn áo mặc…Chỉ khi có những cán bộ miền xuôi đến bản, phântích cho họ hiểu đó chỉ là những thứ lạc hậu rồi thì họ mới thay đổi cuộc sống của
mình: “Làng ta đặt lên cổ rồng đầu rồng gì mà vẫn đói nghèo? Ta phải lo lấy cuộc
sống của ta thôi, không có thần thánh nào giúp ta cả Ta mới là thần thánh” [17,
tr64] Chỉ với những câu nói rất ngắn gọn, mọi người nghe đã hiểu phần nào Họcảm thấy rằng bản thân mình cần phải thay đổi để bắt nhịp được với cuộc sống Tất
cả dân làng đã đào mương để dẫn nước về bản, mùa màng vì thế đạt năng suất cao
Nói tóm lại, với tất cả tài năng và tâm huyết của mình, Triều Ân đã phản ánhsâu sắc hiện thực miền núi nơi ông sinh sống Những địa danh chúng ta bắt gặptrong các truyện ngắn của ông đều là những vùng đất quen thuộc nơi cách mạngCao Bằng Triều Ân đã phản ánh hiện thực cuộc sống tương đối toàn diện Ôngkhông quên Cao Bằng - nơi có phong cảnh hữu tình với những trang viết hay vềthiên nhiên nơi đây Tuy nhiên điều chúng ta thấy được ở các sáng tác ấy là ông đãkhông né tránh những hiện thực đen tối nơi miền núi này Tất cả đều xuất phát từtấm lòng yêu quê hương và dân tộc mình Phản ánh hiện thực và làm cho hiện thực
đó ngày càng tốt đẹp hơn cũng chính là một trong những khía cạnh quan trọng làmnên giá trị nhân đạo cho tác phẩm
2.2 Hình tượng con người miền núi
Nói như Maxim Gorki thì: “Văn học là nhân học” Văn chương dù viết về
đề tài nào thì tâm điểm vẫn là con người Bức tranh xã hội miền núi trong truyệnngắn của Triều Ân cũng là nền cảnh “sân khấu” mà nhân vật chính là hình tượngcon người miền núi - những con người mà nhà văn yêu quý và hiểu biết sâu sắc về
họ Trong truyện ngắn của mình, Triều Ân đã cố gắng xây dựng nên một hệ thốngnhân vật tương đối đa dạng và phong phú Ở tác phẩm của ông, có những nhân vật
Trang 19thuộc tầng lớp những con người mới, những con người nhân hậu, giàu lòng thươngngười, nhưng cũng có những con người mang trong mình những thói hư tật xấu, sựích kỉ cá nhân hay một hạn chế nào đó.
Tìm hiểu các truyện ngắn của Triều Ân, chúng tôi tạm thời phân chia hệthống nhân vật thành những kiểu loại sau đây:
2.2.1 Con người miền núi thức tỉnh tiếp cận với cái mới
Đây là hình tượng nhân vật được Triều Ân xây dựng trong khá nhiều tácphẩm của mình Với việc xây dựng những hình tượng nhân vật này trong các tácphẩm, ông đã phần nào vạch rõ hướng đi cho những con người miền núi Muốnthoát khỏi nghèo đói, thoát khỏi tối tăm ngu muội thì không còn cách nào khác làphải tiếp cận với cái mới Những con người miền núi đã thức tỉnh và bước đầu tiếpcận với cái mới có một vai trò vô cùng quan trọng Họ sẽ là những thế hệ đầu tiêndẫn dắt, giảng giải cho dân tộc mình hướng tới cái văn minh Từ đó cuộc sống của
họ sẽ ngày càng tiến bộ hơn
Đến với cuộc đời của cô gái tên Dinh trong truyện ngắn Câu chuyện cuộc đời trích trong tập truyện ngắn Tiếng khèn A Pá, người đọc rất thương cảm cho số
phận cuộc đời cô Sinh ra và lớn lên Dinh luôn được mọi người yêu quý nhưng côđâu có được hưởng quyền hạnh phúc cá nhân Yêu A Chi nhưng Dinh lại bị mẹphản đối gay gắt Mẹ của Dinh vẫn mang tư tưởng cũ “Cha mẹ đặt đâu con ngồiđấy” Chính vì tư tưởng này mà Dinh đã phải lấy A Châu - người mà cô không chútyêu thương Không hạnh phúc bên con người ấy, Dinh đã bỏ trốn để tìm tự do chocuộc đời mình Dinh thức tỉnh chứ không u mê, tối tăm và chịu sống cuộc sống camchịu Cuối cùng, ông trời đã không phụ lòng người tốt Dinh gặp Phảng, hai ngườiyêu thương nhau trọn đời
Trong truyện ngắn Mây tan, chúng ta bắt gặp hình tượng nhận vật Piao Dù
vẫn theo tục lệ là đi “làm công” cho nhà gái để lấy được vợ nhưng trong nhận thứccủa Piao, bao nhiêu điều mà cán bộ Thông truyền đạt anh đều tiếp thu được Từnhững hiểu biết của mình, Piao đã giải thích cho Chẹ Tàn và ông Phin hiểu
Cũng với “mô típ” nhân vật như vậy, chúng ta còn bắt gặp trong Bên bờ suối Tiên với nhân vật Lý Thị Lìn Lìn đã hiều và tiếp cận với chính sách hợp nhất các
Trang 20hợp tác xã của cấp trên Chị không ngại ngùng đấu tranh cho lẽ phải Vì tình yêucủa mình với San hay vì sự tốt đẹp của bản làng? Dù xuất phát từ mục đích gì đinữa thì Lìn cũng là một con người tiêu biểu cho thế hệ mới Chị giảng giải cho mọingười hiểu sự cần thiết của công tác hợp nhất các hợp tác xã Chỉ có như vậy, cuộcsống của những con người miền núi mới có tương lai tươi sáng Không chỉ có cuộcsống vật chất đầy đủ mà chính sách mới này còn tỏ rõ tinh thần gắn bó, đoàn kếtbao đời nay của các dân tộc Việt Nam.
Sảo trong truyện ngắn Hai mẹ con là một con người sống hết làng vì tập thể.
Chị không hề tính toán thiệt hơn khi sống trong tập thể Chị đã giảng giải cho mẹhiểu và làm theo cái đúng
Như vậy, hình tượng con người miền núi thức tỉnh tiếp cận với cái mới đượcmiêu tả và lặp lại trong khá nhiếu truyện ngắn để trở thành một kiểu loại nhân vậttrung tâm trong sáng tác của Triều Ân Ở những con người này, chùng ta nhận thấy
sự trẻ trung, nhiệt tình và lòng ham học hỏi cái mới Họ đã vượt lên trên khó khăn
để trở thành người có ích cho xã hội
2.2.2 Những người phụ nữ mang nhân cách tốt đẹp, có tấm lòng yêu thương
vị tha
Hình ảnh những người phụ nữ từ xa xưa đã đi vào văn chương như một điềukhông thể thiếu Nguyên Hồng hay viết về phụ nữ vì đây là đối tượng chịu nhiềuthiệt thòi trong xã hội và họ là những con người thuộc phái yếu Đến với Triều Ân,người đọc bắt gặp hình ảnh người phụ nữ trong hầu hết các truyện ngắn của ông.Không cầu kì, khoa trương, những trang viết về họ biết bao giản dị mà thấm đẫmtình người Họ mang trong mình một nhân cách cao cả Lòng yêu thương vị tha luônthường trực trong con người họ Viết về những con người này, Triều Ân luôn cóthái độ tự hào, trân trọng Họ như những hạt ngọc sáng của vùng đất Cao Bằng yêudấu
Người phụ nữ trong các sáng tác của Triều Ân xuất hiện ở các độ tuổi khác
nhau Với truyện ngắn Một bức thư, người đọc bắt gặp hình ảnh của Tuyết - em
học sinh lớp 9 trường cấp 2 Hòa An Không chỉ chăm chỉ học hành mà Tuyết cònhết lòng với công tác bổ túc văn hóc ở địa phương Về nghỉ hè, Tuyết lo giúp mẹ
Trang 21làm công lấy điểm và đi dạy bổ túc văn hóa trên vùng cao Mẹ Tuyết không muốn
em đi dạy bổ túc nhưng em vẫn quyết tâm đi Những ngày đi dạy, Tuyết đã gặp Gau
- người em gái ít hơn Tuyết vài tuổi Tuyết dạy Gau học bài và động viên em cốgắng xin đi học sư phạm để về làm cô giáo Tuyết đã nhen nhóm trong Gau một ước
mơ giản dị và chân chính Một lời động viên có sức mạnh ghê gớm Tuyết đã chữngchạc như một người lớn Từng lời ăn, tiếng nói hay trong hành động của em đều chothấy điều đó
Truyện ngắn Hoa xòe tán nói đến một người phụ nữ tên Hoa Chị được cử đi
học làm cô giáo trên ty giáo dục Không quản ngại khó khăn gian khổ, Hoa luôn luôn
hoàn thành tốt nhiệm vụ: “Có đêm, cùng ngọn đèn chong đến lúc gà gáy ran ran,
Hoa chưa được ngủ vì giáo án soạn chưa xong Giờ nghỉ, Hoa lại cầm giấy và kéo làm đồ chơi Những đồ chơi trẻ con dân tộc thích, Hoa cũng làm cho chúng.” [17,
tr87] Nơi miền núi, có được những con người như Hoa là một điều vô cùng quý giá.Đây là một trong những truyện ngắn mà Triều Ân lấy từ câu chuyện ngoài đời Triều
Ân viết tác phẩm này theo lời kể của chiến sĩ thi đua ngành mẫu giao Q.th.H
Một trong những nhân vật được Triều Ân hết sức trân trọng và tự hào, đó là
Hồng Lê - nữ hộ lí khoa sản trong truyện ngắn Bạn cùng lứa Với tấm lòng yêu
thương cao cả và sự chân thành của mình, Hồng Lê đã cứu sống đứa bé mà “chị
trông rõ trong mớ lùng nhùng có lẫn một thai nhi” [18, tr53] Lương tâm nghề
nghiệp và tình thương yêu đồng loại đà dẫn dắt chị hành động đúng Ban đầu, Lê
còn lúng túng và băn khoăn xem hành động như thế nào nhưng cuối cùng “chị chỉ
còn một lí đúng của chị là tình thương cao cả Nên chị quyết định: Phải nuôi thai nhi này cho sống, lớn lên, nên người” [18, tr55] Không chỉ có người đọc cảm nhận
được tấm lòng vị tha từ nhân vật này mà ngay cả nhân vật trong tác phẩm cũngnhận xét chị như vậy Khi Lê hành động như một người đỡ đẻ thì tiếng khóc củađứa bé đã vang lên Mọi người đứng chật phòng, Lê báo cáo vắn tắt sự việc với chủ
nhiệm khoa: “bác sĩ chủ nhiệm khoa nhìn chằm chằm vào đứa hài nhi, tay vạch
vuông len lót xem qua cơ thể, nét mặt băn khoăn, miệng nói một câu không rõ khen chê: Một đứa cháu trai Một hành động nhân đạo lạ kì” [18, tr56].
Trang 22Và cứ thế, đứa bé lớn lên trong sự yêu thương và đùm bọc của Hồng Lê.Cuộc sống tuy vất vả nhưng chị luôn cảm thấy được hơi ấm của hạnh phúc gia đình.Chính tình yêu thương của Hồng Lê mà Nhân - đứa bé được Lê cứu sống đã lớn lên
và được đi học như bao đứa trẻ bình thường khác
Khi Thương - mẹ đẻ của Nhân và Cắm Và đến nhà để mong dùng những
đồng tiền chuộc lại đứa bé thì Lê đã có thái độ rõ ràng với Cắm Và “Hồng Lê quắc
mắt, khó chịu vì những lời lẽ bất nhân có hơi tanh của đồng tiền Hai lá răm banh
ra, nhìn thẳng vào Cắm Và: Tôi nói chị biết, chị đã nói những lời bất nhân Chị không nuôi con, chị sao biết được sự hi sinh cao cả của người mẹ và tấm lòng yêu quý con cái của họ như thế nào? Con tôi, tôi nuôi, dù đói dù no, tôi chịu” [18,
tr72] Những lời nói xuất phát từ tấm lòng yêu thương con sâu sắc, Hồng Lê đã coi
Nhân như con đẻ của mình, đau khổ, sướng vui đều có nhau Tình mẫu tử thiêngliêng đâu thể đánh đổi bằng tiền bạc mà nhất là đồng tiền ấy lại được làm ra từ mộtnghề không được trong sạch
Bằng tài năng của mình, Triều Ân rất tinh tế khi miêu tả diễn biến nhân vậtThương Suy cho cùng, Thương cũng chỉ là một nạn nhân đau khổ của những hủ tụcmiền núi xưa kia Vì sự sắp đặt của bố mẹ mà Thương đã không đến được với ngườimình yêu Nhân là kết quả của mối tình chất phác, chân thành giữa Xúa và Thương.Đau đớn, xót xa nhưng vì danh dự của gia đình nên Thương đã đi nạo thai Maymắn là cái thai ấy lại được Hồng Lê cứu sống nếu không Thương sẽ phải ân hận cảđời Bên cạnh đó, Thương còn là người bị Cắm Và lợi dụng Thương đâu biết rằng,
sự giúp đỡ nơi con người ấy không xuất phát từ tình thương mà từ những vụ lợi và
sự ích kỉ cá nhân
Chỉ với truyện ngắn Bạn cùng lứa dài không quá 25 trang nhưng đã đọng lại
trong tâm trí người đọc biết bao suy nghĩ Tình thương người, lòng bao dung cao cả,tình mẫu tử thiêng liêng,…tất cả đã hiện hữu trong những trang viết của Triều Ân.Những tình cảm thiêng liêng đó đã chiến thắng cái xấu xa, cái ích kỉ Người đọcthấy cảm phục Triều Ân khi ông đã phát hiện ra nhiều điều trong cuộc sống Vấn đềđạo đức, nhân phẩm đang được đặt ra hiện nay Lựa chọn đạo đức, nhân phẩm đúngđắn sẽ là nền tảng cho nhân cách cao đẹp của con người
Trang 23Pèng trong truyện ngắn Xứ sương mù là một cô gái người Mông có vẻ đẹp
cả về ngoại hình và tâm hồn Lần đầu gặp Pèng, “bà Loan nhìn chằm chằm người
nữ thanh niên dân tộc Mông ấy vì nụ cười duyên dáng, nước da trắng hồng, má lúm đồng tiền Đôi mắt linh lợi như mắt bồ câu…Bà thầm nghĩ: Giá như cháu gái này mặc kiểu thị xã thì phải là hoa khôi” [18, tr44] Không chỉ đẹp về ngoại hình, Pèng
còn có vẻ đẹp về nhân cách Trong cuộc chiến đấu với gấu rừng, Pèng đã rất anhdũng để cứu Tân - con trai bà Loan Chi tiết Pèng chiến đấu với gấu rừng để cứuTân mang tính bước ngoặt cho tác phẩm Tuy có phần ngẫu nhiên nhưng thiếu nótruyện sẽ thiếu tính đột biến, mạch chuyện sẽ không được đẩy tới cùng Tác giả
Nguyễn Đăng Điệp trong cuốn sách Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi đã
viết: “Tác phẩm kết thúc bằng những giọt nước mắt hạnh phúc và cảm thông Và,
điều mà Triều Ân muốn gửi tới người đọc sau trang viết của mình có lẽ là thế này chăng: Hãy biết nhắm mắt lại trước cái vẻ ngoài có tính hiện tượng để nhìn sâu vào bản chất bên trong, lúc ấy ta sẽ gặp được vàng!” [8, tr18].
Cùng với sự yêu mến của mình, trong truyện ngắn Cô y tá Tày, Triều Ân đã
xây dựng nên hình tượng nhân vật Đêm Vượt qua bao khó khăn, Đêm với lòng yêuthương và nhiệt tình của mình đã trở thành một cô y tá Khi bệnh nhân không có
thuốc, chị không quản ngại đường sá xa xôi để đi lấy thuốc cho họ “Leo đèo, lội
suối cô đi băng băng Mặt cô rạng rỡ như mặt trăng sáng Đứa con ngủ ngoan trong địu nhưng đường quá xa nên mỗi lúc một nặng Cô thấy mệt,…Đêm lại bước băng băng” [18, tr138] Đang đêm, trời gió rét mướt, có người gọi cửa nhờ chị đi
đỡ đẻ Dù đó không phải chuyên môn của cô nhưng chính lòng thương người và
tinh thần trách nhiệm, Đêm đã đi trong mưa đến nhà phụ sản “Đêm hết đắn đo Chị
giao đứa con đang khóc trên tay cho bà nội, rồi chạy vào buồng mang theo túi thuốc, bông băng, đi miết trong mưa dầm, gió rét, đêm tối.” [18, tr141] Thế mới
thấy hết được tấm lòng đáng quý của con người ấy
Nói đến hình tượng người phụ nữ trong các sáng tác của Triều Ân, không thể
không nhắc đến nhân vật Yến trong truyện ngắn Trong tiếng sa quay Người đọc dễ
dàng nhận thấy bi kịch trong cuộc đời của nhân vật này Bi kịch đời tư của Yến
được biểu hiện ở nỗi đau xuất hiện ba lần trong tác phẩm Lần đầu tiên khi “Thảo
Trang 24đến với Yến rất tự nhiên và giản dị” [18, tr201] Đang đắm chìm trong hạnh phúc
thì cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước chuyển giai đoạn Theo lệnh động viên,Thảo tòng quân bước vào cuộc chiến tranh mà ta vốn quen miệng nói “trường kì”.Hai chị em Yến lẽo đẽo đi theo tiễn Thảo Thời gian thấm thoát trôi đi, rồi một hôm
“chính quyền, Đảng ủy xã, Quản trị hợp tác xã mang vào nhà Yến một cái khung kính sơn màu, lồng bên trong là bằng Tổ Quốc Ghi Công, tin chính thức anh Lý Ngọc Thảo đã hi sinh ở chiến trường đánh Mỹ, mặt trận phía Tây” [18, tr207] Bi
kịch cuộc đời Yến bắt đầu từ đây Chị òa lên khóc Thế là bao nhiêu kỉ niệm cùngThảo đâu còn nữa Tưởng rằng Yến sẽ không thể vượt qua được nhưng chị cùng emgái đã cố gắng gượng dậy để tiếp tục một cuộc sống mới Hạnh phúc cuộc đời lạimỉm cười với chị, Yến đã gặp Tùng - một nhà giáo đạo mạo, lịch thiệp Họ sốngbên nhau hạnh phúc Thế nhưng, số phận lại một lần nữa trêu đùa chị Trong mộthôm Yến ở nhà thì Thảo - người mà Yến vẫn thắp hương thờ cúng bấy lâu nay đãtrở về Chị không tin vào mắt mình Vui buồn lẫn lộn, vui vì Thảo đã trở về bên chịnhưng chị biết tiếp tục mối quan hệ với anh như thế nào trong khi đang hạnh phúc
bên Tùng? Cuối cùng lương tâm đã chiến thắng, Yến nói với Thảo “Anh đi đi Hãy
thông cảm cho em Em là gái có chồng Chồng em sắp về Chồng em có tội tình gì đâu…” [18, tr213] Biết bao dằn vặt, đau đớn để nói ra những lời đó Yến buồn bã
bỏ đi Dù cuộc đời có bất công với Yến thế nào đi nữa thì người phụ nữ ấy vẫnvươn lên như một đoá hoa rừng Vẻ đẹp của chị là vẻ đẹp của một nhân cách cao cả
Nói tóm lại, viết về những người phụ nữ trong sáng tác của mình, Triều Ânluôn có thái độ ca ngợi, yêu thương và cảm thông với họ Những trang viết củaTriều Ân chính là lời ca ngợi dành cho những phẩm chất cao đẹp ẩn sâu trong hìnhthức bề ngoài lam lũ, nghèo đói của con người miền núi
2.2.3 Những con người xấu xa nham hiểm
Viết về những con người miền núi, Triều Ân không chỉ nói đến những điểmtốt mà điều đặc biệt ở sáng tác của ông là một cái nhìn toàn diện về con người nơiđây Bên cạnh những con người có nhân cách tốt đẹp vẫn con không ít những conngười xấu xa nham hiểm Xây dựng những nhân vật này, tác giả muốn làm nổi bật
Trang 25những xung đột mang tính đời tư của con người miền núi Đồng thời, tác giả muốnlên án cái xấu xa đen tối còn tồn tại bên trong con người nơi đây.
Nhân vật Thời trong truyện ngắn Xứ sương mù đã lợi dụng sự trong sạch,
liêm khiết của bà giáo Loan để giấu thuốc cấm Tất cả những hành động của Thờichỉ có mục đích duy nhất là bảo vệ những gói hàng trên nóc tủ nhà bà Loan Trướcmắt bà Loan, Thời có đủ tiêu chuẩn của một nàng dâu: Tháo vát, nhanh nhẹn, biếtcách chiều chuộng Ngay cả cái xe Hữu Nghị mà bà đang đi cũng là của Thời BàLoan đâu biết rằng Thời đang lợi dụng bà Nhờ danh tiếng nhà giáo của bà Loan mànhững gói “hàng quý” của cô gái say tiền này bình yên vô sự trước sự kiểm tra củachính quyền
Cũng chính mục đích vì đồng tiền, nhân vật Cắm Và trong truyện ngắn Bạn cùng lứa đã lợi dụng tình cảm trong sáng của Thương để chuộc lợi cho bản thân.
Lúc nào chị ta cũng chỉ nhắc đến tiền Ngay cả khi đến nhà Hồng Lê mong muốnnhận lại đứa con cho Thương thì lời lẽ của Cắm Và cũng sặc mùi đồng tiền:
“Chúng tôi chẳng lấy không mà trả sòng phẳng công lao nuôi nấng, bú mớm, cái
ăn cái mặc” [18, tr71].
Hay: “Chúng tôi trả tiền chị Một lúc chị được món tiền lớn Thật là vinh hoa
phú quý tự nhiên đến với chị” [18, tr72].
Cắm Và đã nói những lời lẽ bất nhân có hơi tanh của đồng tiền Cuộc sốngđối với con người ấy có lẽ chỉ được đong đếm bằng tiền bạc Với lối suy nghĩ nhưvậy, họ đâu hiểu được tình mẫu tử thiêng liêng biết nhường nào Tiền bạc nhiều baonhiêu cũng không đánh đổi được tình cảm ấy Từng lời ăn, tiếng nói của Cắm Vàđều mang mùi đồng tiền Chính tiền bạc đã làm con người này mờ mắt Họ chưa tìmđược lối đi đúng đắn cho bản thân
Truyện ngắn Eng Bải xuất hiện nhân vật Bóng và Toác Họ đã lợi dụng lòng
tốt của người khác để buôn hàng lậu hàng cấm Với những lời lẽ, hành động mangmùi đồng tiền, Bóng và Toác chỉ biết làm thế nào để buôn bán được nhiều hàng cấmmột cách chót lọt Xây dựng những nhân vật này, Triều Ân đã đi sâu vào những hạnchế còn tồn tại bên trong con nguời miền núi Đồng thời với khả năng bắt nhịp vớicuộc sống tác giả đã phản ánh kịp thời vấn đề đang xảy ra ở miền núi lúc bấy giờ,
Trang 26đó là tình trạng chạy theo đồng tiền, sức mạnh của đồng tiền đã làm tha hoá phẩmchất con người Triều Ân có con mắt nhìn xa trông rộng Ngay từ những năm 80 củathế kỉ trước, ông đã nắm bắt được những vấn đề đó.
Tóm lại, với lối viết văn chân thành và giản dị, Triều Ân đã xây dựng trongcác sáng tác của mình hàng loạt những hình tượng nhân vật Đó là những con ngườicủa núi rừng mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp Bên cạnh đó là những conngười xấu xa nham hiểm Chính với cách viết đó, Triều Ân đã có cái nhìn toàn diện
về những con người miền núi Nếu không yêu dân tộc, yêu quê hương mình thìTriều Ân không thể có những trang viết gần gũi đến như vậy! Điều gì làm nên sứclôi cuốn trong những sáng tác của ông? Phải chăng đó là tấm lòng yêu thương, sựtrân trọng những vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong cái nghèo khó và lam lũ kia? Tuy nhiên,
“truyện ngắn của Triều Ân thường xoay quanh một nhân vật hoặc một sự việc cụ thể với diễn biến mạch lạc, đơn giản theo dòng thời gian” [18, tr1012] Điều đó
khiến cho truyện ngắn của ông đôi lúc rơi vào tình trạng nhàm chán Nhân vật trongcác sáng tác của ông thường đơn giản về mặt tính cách, nhiều khi ông lí tưởng hóanhân vật khiến cho những nhân vật ấy không thực tế Tuy nhiên, đó là những điềukhông thể tránh đối với một nhà văn người dân tộc Điều quan trọng trong nhữngsáng tác ấy là tấm lòng tha thiết đối với thiên nhiên và con người nơi đây
Trang 28Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
TRIỀU ÂN
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.1.1 Khái niệm nhân vật văn học
Nhân vật văn học là phương thức nghệ thuật nhằm khai thác những nét thuộctính con người Tác phẩm văn học không thể thiếu nhân vật vì đó là hình thức cơbản để qua đó miêu tả thế giới một cách hình tượng Nhân vật văn học là một trongnhững khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynhhướng, một trường phái hoặc một dòng phong cách Tô Hoài trong ý thức sáng tác
đã nhấn mạnh “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy
trong một sáng tác” [14, tr62]
Theo Từ điển thật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình
Sử chủ biên thì “nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm
văn học Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [7, tr235].
Từ điển văn học (bộ mới) lại có định nghĩa như sau: “Nhân vật văn học là
thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gắn cho các đặc điểm giống con người” [1, tr52].
Theo giáo trình Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên thì “Nhân vật văn
học là những con người được miêu tả thể hiện trong các tác phẩm bằng phương pháp văn học” [12, tr277].
Nhân vật văn học có thể có tên riêng như: Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha…,cũng có thể không có tên riêng như: “thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong TruyệnKiều Trong truyện cổ tích, ngụ ngôn, đồng thoại, thần được đưa ra để nói chuyệncon người
Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉmột con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác
Trang 29phẩm Chẳng hạn có thể nói nhân dân là nhân vật chính trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, đồng tiền là nhân vật chính trong Ơ - giê - ni Gơ - răng - đê
của Ban Zắc
Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người
Do tính cách là một hiện tượng xã hội, lịch sử nên chức năng khái quát của nhân vậtvăn học cũng mang tính lịch sử Vì tính cách là kết tinh của môi trường, nên nhânvật văn học là người dẫn dắt độc giả vào các môi trường khác nhau của đời sống
Nhân vật văn học được miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọichi tiết các loại Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vậtnày với nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với tuyến nhân vật khác Cho nênnhân vật luôn luôn gắn liền với cốt truyện Nhờ được miêu tả qua xung đột, mâuthuẫn, nên khác với hình tượng hội họa và điêu khắc, nhân vật văn học là một chỉnhthể vân động, có tính cách được bộc lộ dần trong không gian, thời gian mang tínhchất quá trình
3.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Triều Ân
Triều Ân đã xây dựng trong các truyện ngắn của mình một loạt các hìnhtượng nhân vật Để tạo nên thành công ấy không thể không nhắc đến nghệ thuậtxây dựng nhân vật Trong giới hạn khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ tìm hiểunghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngoại hình, hành động và độc thoại nội tâmcủa nhân vật
3.1.2.1 Nghệ thuật miêu tả nhân vật qua ngoại hình
Với tài năng của mình, chỉ thông qua một vài nét ngoại hình của nhân vật,tác giả đã nói lên được cái “thần” của nhân vật Triều Ân sử dụng bút pháp tương
phản để miêu tả ngoại hình nhân vật Trong truyện ngắn Mây tan, tác giả đả miêu tả
ngoại hình nhân vật Chẹ Tàn với những lời lẽ thật đẹp: “Nước da nơi gáy Chẹ Tàn
trắng mịn phớt hồng Chẹ xúng xính trong bộ váy áo mới, đuôi váy in hoa vẫn rõ dấu sáp ong” [18, tr118] Chỉ bằng những nét rất khái quát, người đọc thấy được
Chẹ Tàn là một cô gái trẻ chung, xinh đẹp và hồn nhiên Đối lập với Chẹ Tàn, cũng
trong tác phẩm này, Triều Ân đã miêu tả ngoại hình nhân vật Phya: “Mặt Phya xám
ngoét, cằm nhọn, mồm dẩu ra khinh khỉnh, hai con mắt mở to như đe dọa”