TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA NGOẠI NGỮ BÀI KIỂM TRA QUÁ TRÌNH PHÂN BIỆT THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT (CNDV) VÀ THẾ GIỚI QUAN DUY TÂM (CNDT) LÀM RÕ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Môn học T[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA NGOẠI NGỮ
-
BÀI KIỂM TRA QUÁ TRÌNH
PHÂN BIỆT THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT (CNDV) VÀ
THẾ GIỚI QUAN DUY TÂM (CNDT) LÀM RÕ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Môn học: Triết học Mác – Lênin
Mã môn học: SH700000
GV: TS.GVC Trần Quốc Hoàn
HV: Nguyễn Phước Diệu Hằng 202818003
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA NGOẠI NGỮ -
BÀI KIỂM TRA QUÁ TRÌNH
PHÂN BIỆT THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT (CNDV) VÀ
THẾ GIỚI QUAN DUY TÂM (CNDT) LÀM RÕ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Môn học: Triết học Mác – Lênin
HV: Nguyễn Phước Diệu Hằng 202818003
Tháng 8, 2021
Trang 3ĐÁNH GIÁ
Giảng viên
(Ký và ghi rõ họ tên)
Điểm
(Bằng số) (Bằng chữ)
Nhận xét của Giảng viên:
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Thế giới quan 6
1.1 Định nghĩa 6
1.2 Nguồn gốc 6
1.3 Nội dung và hình thức 6
1.4 Kết cấu 7
1.5 Vai trò 8
2 Thế giới quan duy vật và Thế giới quan duy tâm 8
2.1 Thế giới quan duy vật (CNDV) 9
2.2 Thế giới quan duy tâm (CNDT) 9
2.3 Phân biệt Thế giới quan duy vật và Thế giới quan duy tâm 10
3 Vai trò của Triết học đối với đời sống xã hội 11
3.1 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận 11
3.2 Vai trò đối với các khoa học cụ thể và đối với tư duy lý luận 12
3.3 Vai trò của Triết học trong giai đoạn toàn cầu hóa 12
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 5MỞ ĐẦU
Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp Triết học nghiên cứu thế giới bằng một phương pháp của riêng mình, khác với mọi khoa học cụ thể, nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra hệ thống các quan niệm chỉnh thể đó Triết học có hai khái niệm cơ bản hay được nhắc đến, đó là: Thế giới quan duy vật (Chủ nghĩa duy vật) và Thế giới quan duy tâm (Chủ nghĩa duy tâm) Hai trường phái này tồn tại song song và đối lập nhau trong việc tìm ra lý
giải cho câu hỏi vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào đóng
vai trò quyết định
Triết học có vai trò là hạt nhân của thế giới quan nghĩa là Triết học làm cho thế giới quan phát triển ngày càng mang tính tự giác trên cơ sở của một quan điểm nhất định Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của các thế giới quan đối lập nhau Cho nên cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong Triết học biểu hiện sự đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau Lịch sử chứng minh rằng chủ nghĩa duy vật là thế giới quan của giai cấp và tầng lớp tiến bộ trong xã hội, góp phần đấu tranh chống áp bức và tôn giáo Ngược lại chủ nghĩa duy tâm thường được các giai cấp thống trị sử dụng để biện hộ cho đường lối thống trị của mình
Mục tiêu của bài viết này nhằm phân biệt Thế giới quan duy vật và Thế giới quan duy tâm, đồng thời làm rõ vai trò của Triết học đối với đời sống xã hội Bài viết bắt đầu bằng việc giới thiệu về Thế giới quan và một số khái niệm cơ bản liên quan đến Thế giới quan Tiếp đến, trình bày sơ lược về Thế giới quan duy vật và Thế giới quan duy tâm trước khi lập bảng phân biệt sự khác nhau giữa hai trường phái này Cuối cùng, bài viết nêu rõ vai trò của Triết học trong đời sống xã hội thông qua việc phân tích vai trò thế giới quan, phương pháp luận, vai trò của Triết học đối với các khoa học cụ thể, với việc phát triển tư duy lý luận cho con người cũng như vai trò của Triết học trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay
Trang 61 Thế giới quan
1.1 Định nghĩa
Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, bản thân, con người và vị trí của con người trong thế giới đó Nó đóng vai trò định hướng đối với toàn bộ cuộc sống của con người, từ thực tiễn cho đến hoạt động nhận thức thế giới cũng như tự nhận thức bản thân, xác định lý tưởng, hệ giá lối sống cũng như nếp sống của mình
Khái niệm thế giới quan thể hiện cái nhìn bao quát về thế giới trong ý thức của mỗi chủ thể bao gồm thế giới bên ngoài, con người và mối quan hệ giữa con người với thế giới đó Đây chính là kim chỉ nam cho thái độ, hành vi của con người đối với thế giới bên ngoài
1.2 Nguồn gốc
Nguồn gốc của thế giới quan ra đời từ sự sống Tất cả các hoạt động của con người đều bị chi phối bởi thế giới quan nhất định Yếu tố cấu thành nên thế giới quan
đó chính là tri thức, lý chí, tình cảm và niềm tin; chúng sẽ liên kết với nhau tạo thành một thể thống nhất, chi phối đến nhận thức và hành động thực tiễn của con người Các thời đại lịch sử khác nhau, do trình độ phát triển sản xuất và trình độ nhận thức của con người khác nhau, nên thế giới quan của mỗi thời đại cũng khác nhau Vì vậy thế giới quan là hiện tượng xã hội phức tạp, có nguồn gốc từ thực tiễn xã hội Thế giới quan là sản phẩm của lịch sử, là kết quả của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người, nó thay đổi trong quá trình phát triển xã hội
1.3 Nội dung và hình thức
Nội dung của thế giới quan bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có thể chia thành ba lĩnh vực cơ bản là:
Thế giới quan gồm hai yếu tố cơ bản là tri thức và niềm tin, trong đó tri thức
là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, nhưng nó chỉ gia nhập thế giới quan
Trang 7Hình thức thể hiện của thế giới quan có thể bằng các quan điểm, quan niệm khái quát nhất định nào đó, cũng có thể bằng một hệ thống lý luận với các khái niệm, phạm trù quan hệ chặt chẽ với nhau
Ví dụ: hệ thống Triết học, hệ thống lý luận chính trị, kinh tế…
1.4 Kết cấu
Thế giới quan có kết cấu phức tạp Đó là sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin, lý trí và tình cảm
Quan hệ giữa thế giới quan và tri thức là quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận Thế giới quan là cái toàn thể bao hàm tri thức Tri thức là bộ phận hợp thành của thế giới quan Tri thức tự bản thân nó chưa phải là thế giới quan Tri thức là sự hiểu biết của con người về một lĩnh vực nhất định của thế giới, là kết quả của quá trình nhận thức thế giới, là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người Tri thức có nhiều loại khác nhau: Tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người
Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, nhưng tự bản thân
nó tri thức chưa phải là thế giới quan Tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan khi nó kết hợp với các yếu tố lý trí, tình cảm, chuyển thành niềm tin của con người Chỉ khi biến thành niềm tin, tri thức mới trở nên sâu sắc và bền vững, và mới trở thành cơ sở cho hoạt động của con người Ví dụ khoa học đã chỉ ra xu hướng phát triển của xã hội loài người là tiến lên chủ nghĩa xã hội, con đường phát triên của xã hội Việt Nam hiện nay là đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên nếu tri thức này không trở thành niềm tin của đông đảo quần chúng nhân dân thì không thể bền vững, không thể là cơ sở cho hoạt động thực tiễn của hàng triệu người Niềm tin
là một trạng thái tinh thần thể hiện ý chí quyết tâm cao trong hoạt động của Cồn người nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định nào đó Niềm tin có vai trò quan trọng trong đời sống của con người: Nó có thể làm tăng thêm sức lực của con người, giữ vững ý chí quyết tâm, giúp con người vượt qua mọi khó khăn gian khổ, thậm chí sẵn sàng hy sinh bản thân mình cho niềm tin đó
Trong thế giới quan còn có sự thống nhất giữa lý trí, trí tuệ và tình cảm Lý trí, trí tuệ là sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin Thế giới quan thể hiện trình độ tương