1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG KHOA SƯ PHẠM XÃ HỘI Bài giảng học phần DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI Chương trình đại học ngành Sư phạm Ngữ văn Giảng viên HUỲNH THỊ NGỌC KIỀU Khoa Sư phạm Xã[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
KHOA SƯ PHẠM XÃ HỘI
Bài giảng học phần
DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI
Chương trình đại học ngành Sư phạm Ngữ văn
Giảng viên: HUỲNH THỊ NGỌC KIỀU Khoa: Sư phạm Xã hội
QUẢNG NGÃI, THÁNG 4/2021
Trang 2Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HỌC TÍCH CỰC
VÀ TÍCH HỢP
1.1 Dạy học tích cực
Phương pháp dạy học (PPDH) tích cực là một thuật ngữ rút gọn được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng đến việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy Tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy học theo phương pháp thụ động
1.1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
VII (tháng 01/1993) và Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (tháng 12/1996), được thể chế hóa trong luật Giáo dục, được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ GD – ĐT, đặc biệt là chỉ thị
số 15 (tháng 4/1999)
- Dạy và học tích cực thực sự có hiệu quả khi GV thực hiện tốt 5 yếu tố tăng cường sự tham gia của học sinh:
+ Không khí học tập và các mối quan hệ trong nhóm/lớp
+ Sự phù hợp với mức phát triển của học sinh
+ Sự gần gũi với thực tế
+ Mức độ và sự đa dạng của hoạt động
+ Phạm vi tự do sáng tạo
-Hai yếu tố cốt lõi của định hướng đổi mới PPDH theo hướng tích cực là: cảm giác thoải mái và sự tham gia Cảm giác thoải mái và sự tham gia tích cực có thể trở thnahf tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng của quá trình giáo dục Điều đó có nghĩa là giáo viên cần phải thiết kế những hoạt động học tập nhằm đảm bảo mức độ tham gia cao và tham gia tích cực của người học, tác động đến tình cảm, thái độ của người học và đem đến cho họ niềm vui
và sự hứng thú trong học tập
Những định hướng này sẽ làm thay đổi vai trò của người dạy và người học, trong đó, Giáo viên chủ yếu giữ vai trò là người tạo môi trường học tập thân thiện, phong phú, đa dạng,
Trang 3là người tư vấn, chỉ dẫn, động viên, kèm cặp, đưa đến những thông tin phản hồi cần thiết, định hướng quá trình lĩnh hội tri thức và cuối cùng là người thể chế hóa kiến thứuc
1.1.2 Những dấu hiệu và cấp độ biểu hiện tính tích cực học tập
1.1.2.1 Những dấu hiệu của tính tích cực học tập:
câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra
bày chưa rõ ràng
- Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức các vấn đề mới
- Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn bè những thông tin mới lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học
1.1.2.2 Cấp độ biểu hiện của tính tích cực học tập
- Bắt chước: Học sinh bắt chước hành động, thao tác của giáo viên, của bạn bè Trong hoạt động bắt chước cũng phải có sự cố gắng của thần kinh và cơ bắp
- Tìm tòi: học sinh tìm cách độc lập, tự lực giải quyết bài tập nêu ra, mò mẫm những cách giải khác nhau để tìm cho được lời giải hợp lý nhất
quả, có sáng kiến lắp đặt những thí nghiệm để chứng minh bài học Dĩ nhiên, mức độ sáng tạo của học sinh là có hạn nhưng đó là mầm mống để phát triển trí sáng tạo về sau này
1.1.3 Mối quan hệ giữa tích cực học tập và hứng thú nhận thức
- Từ lâu, các nhà sư phạm đã quan tâm đến vai trò của hứng thú nhận thức trong quá trình học tập
- Lý luận dạy học xem hứng thú là yếu tố có ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá trình dạy học mà cả đối với sự phát triển toàn diện, sự hình thành nhân cách của trẻ
đảm tính tích cực và độc lập, sáng tạo trong học tập
sau:
+ Phát huy tối đa hoạt động tư duy tích cực của học sinh
+ Tiến hành dạy học ở mức độ thích hợp nhất đối với trình độ phát triển của học sinh
Trang 4+ Tạo ra không khí thuận lợi cho lớp học, làm cho học sinh thích thú được đến lớp, mong đợi đến giờ học
1.1.4 Mối quan hệ giữa tư duy tích cực và sáng tạo
- Trí sáng tạo thường được hiểu là khả năng sản sinh những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích, phù hợp với hoàn cảnh Việc đánh giá tính sáng tạo được căn cứ vào số lượng, tính mới
mẻ, tính độc đáo, tính hữu ích của các đề xuất
- Tính sáng tạo thường liên quan tới tư duy tích cực, chủ động, độc lập, tự tin Người
có trí sáng tạo không chịu suy nghĩ theo lề lối chung, không bị ràng buojc bởi những quy tắc hành động cứng nhắc đã học được, ít chịu ảnh hưởng của người khác
- Muốn phát triển trí sáng tạo của học sinh phải áp dụng kiểu dạy học tích cực – phân hóa
1.1.5 Mối quan hệ giữa phát huy tính tích cực học tập với dạy học lấy học sinh làm trung tâm
- Có thể xem dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một tư tưởng, một quan điểm, một cách tiếp cận mới về hoạt động dạy học Người ta tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học
- Chuyển từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm snag dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một xu hướng tất yếu, có lý do lịch sử
- Nhìn theo quan điểm lịch sử thì dạy học lấy học sinh làm trung tâm là sự trả lại vị trí vốn có từ thuở ban đầu cho người học
- Đã coi trọng vị trí của người học và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy tính tích cực học tập của người học tuy nhiên, dạy học lấy học sinh làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể đặt ngang tầm với các phương pháp dạy học đã có
Đó là một tư tưởng, một quan điểm giáo dục chi phối tất cả các thành tố của quá trình dạy học
từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện, tổ chức, đánh giá
- Tư tưởng lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học đề cao vai trò tích cực của chủ thể người học nhưng không coi nhẹ vai trò chỉ đạo của người dạy
1.1.6 Ý nghĩa của vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(Sinh viên tự nghiên cứu và thuyết trình trên lớp)
1.1.7 Những dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực
Trang 51.1.7.1 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong dạy và học tích cực, người học – đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể trong hoạt động học – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo Tham gia vào các hoạt động học tập, người học được đặt vào những tình huống, được trực tiếp quan sát, thảo luận, trao đổi, làm thí nghiệm, được khuyến khích đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề theo cách của mình, được động viên trình bày quan điểm riêng của mỗi cá nhân Qua đó người học không những chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng mới mà còn làm chủ cách thức xây dựng kiến thức, từ đó tính chủ động và sáng tạo có cơ hội được bộc lộ, rèn luyện.Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh phải trở thành trung tâm của quá trình giáo dục Giáo viên cần biết lập kế hoạch dạy học để hướng dẫn học sinh phát triển các năng lực cần thiết trong cuộc sống, trong và ngoài nhà trường, ở hiện tại cũng như trong tương lại
Phương pháp dạy và học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Nếu người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen và ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng say mê học tập, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người học và kết quả học tập sẽ được tăng lên Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, vấn đề phát triển tự học phải được quan tâm ngay từ bậc phổ thông, không chỉ trong các tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên mà cả ở nhà, trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp
1.1.7.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong dạy và học tích cực, giáo viên cần quan tâm đến sự phân hóa về trình độ nhận thức, cường độ, tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mỗi học sinh Trên cơ sở đó, xây dựng các nhiệm vụ/ bài tập, mức độ hỗ trợ phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân nhằm phát huy khả năng tối đa của người học
Lớp học là môi trường giao tiếp thày – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Tuy nhiên, để học tập hợp tác có hiệu quả, giáo viên cần hình thành cho người học thói quen học tập tự giác, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau Đồng thời nhiệm
vụ được giao phải rõ ràng, cụ thể, mỗi thành viên trong nhóm đều được phân công, xác định
Trang 6rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của mình để tránh tình trạng dựa dẫm, ỷ lại hoặc có những biểu hiện không hợp tác
Phổ biến trong dạy và học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung
Trong thời hội nhập đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh
lợi ích xã hội
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được chủ động lựa chọn vấn đề mà mình quan tâm ham thích, tự lực tiến hành nghiên cứu giải quyết vấn đề và trình bày kết quả Việc nghiên cứu có thể tiến hành theo cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ
Các chủ đề/ nội dung tìm hiểu, nghiên cứu có thể do học sinh tự đề xuất hoặc lựa chọn trong các chủ đề/ nội dung do giáo viên giới thiệu, định hướng Các chủ đề/ nội dung này cần gắn với nhu cầu, lợi ích của người học cũng như của thực tiễn xã hội Thông qua dạy học rèn luyện cho học sinh cách làm việc độc lập, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng tổ chức công việc, trình bày kết quả Giáo viên cần thiết kế các tình huống học tập sao cho kích thích lôi cuốn được sự tham gia tích cực, tự chủ của người học và đảm bảo nguyên tắc phân hóa trong dạy học Cần động viên, khuyến khích, hỗ trợ kịp thời để đảm bảo tất cả học sinh đều chủ động tham gia một cách tích cực
Việc coi trọng hướng dẫn, tìm tòi là giúp học sinh phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề
và nhấn mạnh rằng học sinh có thể học được phương pháp học thông qua hoạt động Dấu hiệu đặc trưng này có thể áp dụng ngay cho học sinh nhỏ tuổi nếu có tài liệu cụ thể và có sự giúp
đỡ của giáo viên, đặc biệt có hiệu quả với những học sinh ở các lớp cao hơn vì học sinh đã có khả năng làm việc độc lập, tự giác, tư duy logic, khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá đã phát triển Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi đòi hỏi về phía người học sự học tập tích cực để tìm lời giải đáp cho vấn đề đặt ra và về phía người dạy cần có hướng dẫn kịp thời giúp cho sự tìm tòi của người học đạt kết quả
Mối quan hệ giữa các mức độ hỗ trợ của Giáo viên với nhu cầu của Học sinh
Mức độ hỗ trợ
Trang 7Nhu cầu Nhiều Ít Không có
Nhiều Cân bằng Tích cực Thiếu thốn (bị bỏ rơi)
Ít Nhàm chán Cân bằng Tích cực
Không có Không tích cực Nhàm chán Cân bằng
Một nhiệm vụ học tập tốt là nhiệm vụ đặt ra thách thức đối với người học Nhiệm vụ không nên quá dễ cũng không quá khó để tránh tình trạng nhàm chán hoặc tâm lí sợ thất bại đối với học sinh Để đạt được sự cân bằng cần đa dạng và thiết kế cho từng đối tượng, từng trình độ học sinh trong điều kiện cho phép Một nhiệm vụ thách thức sẽ đặt ra nhu cầu cần hỗ trợ đối với học sinh Giáo viên cần quan sát để có sự hỗ trợ kịp thời, đó những can thiệp tích cực như đưa ra các câu hỏi gợi mở, giải thích rõ ràng hơn hoặc hướng dẫn học sinh đi vào trọng tâm của vấn đề…
1.1.7.6 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trước đây, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Đánh giá tập trung vào kết quả học tập của học sinh qua điểm số của các bài kiểm tra, thi cử Trong dạy và học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để điều chỉnh cách học
Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà học sinh tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học tập Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là tự cho điểm
số mà là sự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả hoặc có thể phản hồi lại quá trình học của mình Học sinh nhìn lại quá trình học tập của mình và biết được mức độ hoàn thành đã đạt yêu cầu chưa Tự đánh giá giúp cho học sinh có thể ý thức hơn về quá trình học tập, đồng thời cũng ý thức rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu và cách học của mình để tiến bộ trong giai đoạn sau
Cùng với tự đánh giá, giáo viên cần tổ chức cho học sinh đánh giá lẫn nhau hay còn gọi
là đánh giá đồng đẳng, là một quá trình trong đó các nhóm học sinh cùng độ tuổi hay cùng lớp
sẽ đánh giá công việc/ kết quả học tập lẫn nhau dựa trên các tiêu chí đã được định sẳn do giáo viên cung cấp Việc đánh giá đồng đẳng vừa giúp học sinh đánh giá kết quả học tập của bạn vừa thông qua đó để so sánh, nhìn nhận lại kết quả của chính mình, từ đó có sự điều chỉnh cách giải quyết vấn đề, cách học, chia sẻ kinh nghiệm từ kết quả của mình và của bạn, thúc đẩy kết quả học tập ngày một tốt hơn
Trang 8Kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò không những giúp cho học sinh nhìn nhận chính mình và điều chỉnh cách học mà giáo viên cũng có điều kiện để nhìn nhận chính mình
mà điều chỉnh cách dạy
Dạy và học tích cực nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo người lao động năng động, sáng tạo sớm thích nghi với đời sống xã hội, do vậy, kiểm tra – đánh giá không chỉ dừng ở yêu cầu ghi nhớ, tái hiện kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải phát triển ở người học tư duy lô-gic, tư duy phê phán, khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá, giải quyết các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra
1.1.8 Biểu hiện của dạy học theo hướng phát huy tính tích cực.
Dạy học là cách giáo viên tổ chức hoạt động học tập để đạt được mục tiêu bài học Trong dạy và học tích cực giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập nhằm phát huy mọi năng lực, sở trường của mỗi học sinh, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập; học sinh là người chủ động tìm tòi, khám phá, phát hiện các tình huống có vấn đề trong học tập và trong đời sống, tự mình hoặc cùng bạn trong nhóm, trong lớp lập kế hoạch, cho phương thức hợp lí để giải quyết vấn đề và chiếm lĩnh kiến thức Các biểu hiện cụ thể của dạy và học tích cực như sau:
- Giáo viên di chuyển trong lớp, quan sát và hỗ trợ học sinh khi cần thiết
- Giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động chiếm lĩnh nội dung tri thức
- Giáo viên huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có của học sinh để xây dựng bài, khai thác nội dung dạy học trong sách giáo khoa phù hợp với nhu cầu và khả năng nhận thức của học sinh
trong quá trình giải quyết nhiệm vụ
- Giáo viên khuyến khích, tạo cơ hội để học sinh nêu ý kiến, suy nghĩ cá nhân về vấn đề đang học, nêu thắc mắc trong khi nghe giảng, trả lời theo nhiều phương án khác nhau
- Giao tiếp đa chiều giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh
tiếp, hợp tác của học sinh Giáo viên quan tâm đến phong cách học, trình độ và nhịp độ của mỗi cá nhân
các giác quan và hình thức học tập khác nhau để lĩnh hội kiến thức
Trang 9- Giáo viên đánh giá khuyến khích cách giải quyết sáng tạo, ghi nhớ trên cơ sở tư duy lô –gic
1.1.9 Các yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực.
Dạy và học tích cực đòi hỏi một số điều kiện, trong đó quan trọng nhất là người giáo viên Giáo viên phải được đào tạo chu đáo để thích ứng với những thay đổi chức năng, nhiệm
vụ đa dạng, phức tạp của mình Giáo viên phải vừa có tri thức chuyên môn sâu rộng, có trình
độ sư phạm lành nghề, biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ thông tin vào dạy học, biết định hướng sự phát triển của học sinh theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo sự tự
do của học sinh trong hoạt động nhận thức
Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh phải dần dần có được những phẩm chất và năng lực thích ứng với phương pháp tích cực như giác ngộ mục đích học tập, tự giác trong học tập,
có ý thức và trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp, biết tự học và phát triển các loại hình tư duy
Chương trình và sách giáo khoa phải giảm bớt khối lượng kiến thức, tạo điều kiện cho thầy và trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực, giảm bớt các thông tin buộc học sinh phải ghi nhớ máy móc, tăng cường các bài toán nhận thức, giảm bớt các câu hỏi tái hiện, những kết luận áp đặt, tăng cường gợi ý để học sinh tự nghiên cứu phát triển bài học Cần có các phương tiện thiết bị dạy học thuận tiện cho học sinh thực hiện các hoạt động độc lập hoặc hoạt động nhóm Hình thức tổ chức phải dễ thay đổi phù hợp với hình thức dạy học
Bổ sung, thay đổi cách đánh giá: việc kiểm tra đánh giá phải chuyển biến theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt kiến thức, kĩ năng đã học vào những tình huống thực tế
Đặt vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học ở tầm quan trọng đúng mức ở mỗi trường Giáo viên cần được khuyến khích, tạo điều kiện để áp dụng các phương pháp tích cực trong dạy và học đạt hiệu quả
1.2 Dạy học tích hợp 1.2.1 Khái niệm
Tiến sĩ Hoàng Thị Tuyết, nhận định: “Dạy tích hợp là dạy học theo hình thức đa môn
hoặc liên môn, đưa nhiều nội dung trong cùng một hoạt động nào đó… giúp học sinh nắm bắt tốt kiến thức, hiểu được mối liên hệ then chốt giữa các thành tố trong cùng một lĩnh vực”.
Trang 10Theo Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) trong cuốn Hỏi – đáp về dạy học Tiếng Việt 2, khi
nói về quan điểm biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt có đề cập đến khái niệm này như sau:
“Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học, một bài học nhiều
mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục, tiết kiệm thời gian học tập cho người học.”
Thực chất của dạy học tích hợp là vừa dạy nội dung lí thuyết và thực hành trong cùng một bài dạy Với cách hiểu đơn giản như vậy là chưa đủ mà đằng sau nó là cả một quan điểm giáo dục theo mô hình năng lực Tích hợp đề cập đến các yếu tố sau:
- Nội dung chương trình đào tạo được thiết kế theo mô-đun định hướng năng lực
hướng hoạt động Phương pháp dạy học định hướng giải quyết vấn đề là cách thức, con đường mà giáo viên áp dụng trong việc dạy học để làm phát triển khả năng tìm tòi khám phá độc lập của học sinh bằng cách đưa ra các tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt động của học sinh nhằm giải quyết các vấn
1.2.2 Đặc điểm của dạy học tích hợp
1.2.2.1 Lấy người học làm trung tâm
Dạy học lấy người học làm trung tâm được xem là phương pháp đáp ứng yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục nhất là đối với giáo dục nghề nghiệp, có khả năng định hướng việc tổ chức quá trình dạy học thành quá trình tự học, quá trình cá nhân hóa người học Dạy học lấy người học là trung tâm đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động học, họ phải tự học, tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, người học không chỉ được đặt trước những kiến thức có sẵn ở trong bài giảng của giáo viên mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn, cụ thể và sinh động của nghề nghiệp rồi từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá, học để hành, hành để học Trong dạy học lấy người học làm trung tâm đòi hỏi người học tự thể hiện mình, phát triển năng lực làm việc nhóm, hợp tác với nhóm, với lớp Sự làm việc theo nhóm này sẽ đưa ra cách thức giải quyết đầy tính sáng tạo, kích thích các thành viên trong nhóm hăng hái tham gia vào giải quyết vấn đề
Sự hợp tác giữa người học với người học là hết sức quan trọng nhưng vẫn chỉ là ngoại lực, điều quan trọng nhất là cần phải phát huy nội lực là tính tự chủ, chủ động nổ lực tìm kiếm kiến thức của người học Còn người dạy chỉ là người tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập, đạo diễn cho người học tự tìm kiếm kiến thức và phương thức tìm kiếm kiến thức bằng hành