ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN NGỌC QUỲNH PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN LỚP MỘT BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC THÁI NGUYÊN 2018 ĐẠI HỌC THÁI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN NGỌC QUỲNH
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN LỚP MỘT BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN NGỌC QUỲNH
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN LỚP 1 BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
Ngành: Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)
Mã số: 8 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Thu Hương
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Ngọc Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Lê Thị Thu Hương, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại đây
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của các thầy cô giáo các trường: Tiểu học Archimedes Academy, Tiểu học Vinschool - cơ sở Gardenia, Tiểu học Đoàn Thị Điểm Ecopark - thành phố Hà Nội đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát và khảo nghiệm sư phạm
Để hoàn thành luận văn: “Phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng
Anh cho giáo viên tiểu học” tôi đã sử dụng, kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu
của các tác giả đi trước, đồng thời nhận được rất nhiều sự quan tâm, chỉ bảo của các thầy, cô giáo; sự giúp đỡ của bạn bè, người thân đã động viên tôi trong quá trình
hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực để hoàn thành tốt luận văn nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Ngọc Quỳnh
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU v
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ vi
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Giả thuyết khoa học 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 11
8 Phạm vi nghiên cứu 11
9 Đóng góp của luận văn 11
10 Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 13
1.1 Một số khái niệm công cụ 13
1.1.1 Kĩ năng 13
1.1.2 Kĩ năng lập đề toán 14
1.1.3 Kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh 14
1.2 Lập đề toán tiểu học bằng tiếng Anh 14
1.2.1 Mục đích và ý nghĩa 14
1.2.2 Phân loại các bài toán ở tiểu học 16
1.2.3 Những lưu ý khi lập đề toán bằng tiếng Anh 19
Trang 61.2.4 Các bước lập đề toán bằng tiếng Anh 21
1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học 22
Kết luận chương 1 25
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 26
2.1 Dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học 26
2.1.1 Mục tiêu dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học 26
2.1.2 Nội dung dạy học Toán bằng tiếng Anh ở tiểu học 27
2.2 Thực trạng kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên tiểu học 48
2.2.1 Thực trạng 48
2.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 49
Kết luận chương 2 54
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG LẬP ĐỀ TOÁN LỚP 1 BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VÀ KHẢO NGHIỆM SƯ PHẠM 55
3.1 Định hướng để đề xuất các biện pháp 55
3.2 Một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng lập đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học 55
3.2.1 Biện pháp 1: Phát triển kĩ năng lập đề toán tiếng Anh từ bài toán đã có nhờ tương tự, khái quát hoá, đặc biệt hoá 55
3.2.2 Biện pháp 2: Rèn kĩ năng lập đề toán tiếng Anh dựa trên dạng toán và cách giải bài toán đã có 62
3.2.3 Biện pháp 3: Rèn kĩ năng lập đề toán tiếng Anh dựa trên tóm tắt, hình vẽ, sơ đồ 69
3.2.4 Biện pháp 4: Lập đề toán tiếng Anh theo hướng vận dụng toán học vào thực tiễn 74
3.3 Khảo nghiệm sư phạm 79
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm sư phạm 79
Trang 7v
3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm sư phạm 79
3.3.3 Phương pháp khảo nghiệm sư phạm 79
3.3.4 Tổ chức khảo nghiệm sư phạm 79
3.3.5 Đánh giá kết quả khảo nghiệm sư phạm 79
Kết luận chương 3 82
B KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Khuyến nghị 83
C DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Tài liệu tiếng Việt 84
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GV : Giáo viên
HS : Học sinh NXB : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa
Trang 9v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Vai trò của dạy học toán bằng tiếng Anh cho học sinh tiểu học 50
Bảng 2.2 Vai trò của việc rèn kĩ năng lập để toán bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học 50
Bảng 2.3 Mức độ thường xuyên lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên 50
Bảng 2.4 Những khó khăn khi lập đề toán bằng tiếng Anh 51
Bảng 2.5 Tự đánh giá về kĩ năng lập đề toán bằng tiếng Anh của GV 52
Bảng 2.6 Mức độ thường xuyên thực hiện các biện pháp lập đề toán bằng tiếng Anh của giáo viên 53
Bảng 3.1 Ý kiến đánh giá của giáo viên về sự cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp được đề xuất 80
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Các bước lập đề toán lớp một bằng tiếng Anh 22
Trang 111
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển con người Giáo dục góp phần cải thiện nguồn vốn con người - động lực phát triển của mỗi quốc gia Hầu hết các nước trên thế giới đều coi việc phát triển giáo dục là ưu tiên hàng
đầu Ở Nhật: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu; cần kết hợp hài hòa
giữa bản sắc văn hóa lâu đời phương Đông với những tri thức phương Tây hiện đại” [22] Singapore với phương châm: “Thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về kinh tế” [22] Cũng như nhiều nước trên thế giới, Đảng
ta khẳng định giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Nghị quyết trung ương VIII, khóa XI: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” [3]
Nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển Xã hội ngày nay đòi hỏi những người phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ và thực sự năng động, sáng tạo, tích cực, chủ động học hỏi tiếp thu kiến thức mới Giáo dục luôn gắn liền và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, thậm chí giáo dục phải đi trước và có tác dụng định hướng xã hội Chính vì thế, việc phát triển năng lực giao tiếp cho HS càng phải chú trọng, đặc biệt là phát triển ngôn ngữ nước ngoài
để hội nhập với các nước trên thế giới
1.2 Giáo dục tiểu học được coi là cấp học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân Mục tiêu của giáo dục tiểu học được xác định rõ trong Luật Giáo
dục: “Giúp cho HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn
Trang 12và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để HS tiếp tục học THCS” [28]
Ở tiểu học, một trong những năng lực quan trọng cần hình thành cho HS
là năng lực giao tiếp mà năng lực giao tiếp có thể được thể hiện thông qua tiếng
mẹ đẻ hay ngôn ngữ khác (như tiếng Anh)
1.3 Trong dạy học môn Toán ở tiểu học, kĩ năng lập đề toán là một trong những kĩ năng quan trọng, góp phần hình thành và phát triển năng lực phát triển chương trình cho giáo viên Nội dung môn Toán ở tiểu học tuy đơn giản nhưng
là những kiến thức cơ bản, tạo tiền đề cho việc học tập tốt môn Toán và các môn học khác trong nhà trường Việc tiếp cận môn này bằng ngôn ngữ thứ hai giúp các em dễ ghi nhớ và củng cố kiến thức, đồng thời có thể vận dụng tiếng Anh trong tình huống thực tế Đây là sự kết hợp giúp trẻ phát triển song song tư duy logic và ngôn ngữ
1.4 Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII, khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ nhiệm vụ: “Đa dạng hóa nội dung, tài liệu
học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo
và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người” [3] Thực tiễn dạy học tiểu học cho thấy, giáo viên còn nhiều hạn chế về năng lực phát triển chương trình nói chung
và kĩ năng lập đề toán nói riêng Nguồn học liệu còn nghèo nàn nhưng lại chi phối nhiều đến hoạt động lập kế hoạch cũng như thực hiện kế hoạch bài học của giáo viên
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển kĩ năng lập
đề toán lớp 1 bằng tiếng Anh cho giáo viên tiểu học” làm đề tài luận văn nghiên
cứu
2 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu
2.1 Định hướng dạy học tiếp cận năng lực người học
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX
Trang 133
và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh là “competentia” Có nhiều tác giả định nghĩa về năng lực theo những cách khác nhau Tổng hợp những định nghĩa đó ta
có thể khái quát: Năng lực là sự biểu hiện quá trình chuyển hóa những kiến thức,
kĩ năng của một cá nhân thành các thao tác hoạt động diễn ra trong một tình huống cụ thể với những đặc điểm phẩm chất đặc trưng của cá nhân ấy Nói cụ
thể hơn, năng lực được xem như sự tích hợp sâu sắc của kiến thức - kĩ năng - thái
độ làm nên khả năng thực hiện một công việc chuyên môn và được thể hiện trong thực tiễn hoạt động
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2010) trình bày khái niệm năng lực theo quan
điểm tâm lí, giáo dục học: “Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm
hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm” [34]
Như vậy có thể xem năng lực như là sự tích hợp của kiến thức - kĩ năng - thái độ làm nên khả năng thực hiện một công việc nào đó của một cá nhân với tinh thần trách nhiệm cao
Trên thế giới, thuật ngữ nền giáo dục dựa trên kết quả (Outcomes - Based Education - OBE) thường được sử dụng đồng nghĩa với giáo dục dựa vào năng lực hoặc giáo dục tiếp cận năng lực (Competency - Based Education - CBE) Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học của chương trình được mô tả thông qua các nhóm năng lực Những mục tiêu này được xác lập và mô tả giúp cho người học xác định những gì mình có thể làm
Trang 14được và nó còn được dùng để mô tả dung lượng và nội dung kiến thức, kĩ năng
mà giáo viên trong mong người học sẽ đạt được từ chương trình đào tạo
- Giáo dục định hướng năng lực ở Mỹ Nguồn gốc của CBE, được xem như một sự tất yếu đáp ứng những thay đổi của xã hội bấy giờ, được ra đời và thúc đẩy bởi Bộ Giáo dục Hoa Kỳ vào năm 1968 với 10 khoản tài trợ cho các trường cao đẳng và đại học phát triển các
mô hình đào tạo giáo viên tiểu học theo hướng tiếp cận năng lực Các mô hình này đều tập trung vào các năng lực: năng lực tự học hoặc khám phá có hướng dẫn; module hóa nội dung dạy học, năng lực đánh giá, năng lực cá nhân và năng lực chuyên môn Theo đó, chỉ có những giáo viên có năng lực mới được phép bước vào nghề và việc kiểm tra để chuẩn bị, cấp giấy chứng nhận hay bằng cấp nghề nghiệp đều được đánh giá dựa trên năng lực Sau đó, các chương trình đào tạo hướng tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển rộng khắp trên toàn nước Mỹ, mở rộng tới các trường tiểu học, trường trung học và các trường chuyên nghiệp vào những năm 1970 và đều được thừa nhận là có nguồn gốc từ các chương trình đào tạo giáo viên (Burke và cộng sự, 1975; Houston, 1980) Như vậy, đến những năm 1970, việc đào tạo giáo viên theo hướng tiếp cận năng lực
đã gần như trở thành một sự chuyển biến tất yếu và nhận được sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp xã hội, các nhà quản lí, các chính trị gia trên khắp nước
Mỹ (Lindsey, 1976) Bộ Giáo dục Hoa Kỳ đã tiếp tục hỗ trợ việc thúc đẩy CBE thông qua Hiệp hội quốc gia của các Trung tâm Giáo dục dựa trên năng lực Hiệp hội đã quản lí và điều phối hiệu quả các hoạt động của 9 trung tâm lớn hỗ trợ cho chương trình đào tạo hướng năng lực Hiệp hội này đã xây dựng bộ tiêu chí để
mô tả và đánh giá các chương trình đào tạo dựa trên năng lực như sau:
Hệ thống CEB ở Mỹ được phát triển trên toàn các khu vực và tiểu bang nhưng dù sao vẫn tồn tại một sự khác biệt khá lớn bên trong và giữa các tổ chức, các cơ sở giáo dục trong việc tiếp nhận, xây dựng và triển khai chương trình đào tạo tiếp cận năng lực người học Có thể xem đây là nơi khởi đầu cho giáo dục
Trang 155
định hướng năng lực mà ngày nay đã trở nên phổ biến và phát triển trên khắp thế giới
- Giáo dục định hướng năng lực ở Anh
Xu hướng này được bắt đầu ở Anh từ những năm 1980 Sự nhấn mạnh về năng lực cần thiết như là chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo đã được quan tâm đến trong một số giai đoạn của nền giáo dục Anh, đặc biệt là trong các trường chuyên nghiệp
Có 2 cách tiếp cận giáo dục định hướng năng lực: Cách tiếp cận thứ nhất dựa trên việc phân tích các năng lực cần thiết để thực hiện một công việc chuyên môn Phương án này thường đưa đến một danh sách các năng lực được phân loại theo các nhóm nhiệm vụ hoặc chức năng chính để đảm nhiệm một công việc nào
đó Một sản phẩm quan trọng của cách tiếp cận phân tích năng lực này là bản đồ năng lực được thiết lập để làm căn cứ phát triển các chương trình đào tạo Cách tiếp cận thứ hai dựa trên việc phân tích trong đó quan tâm nhiều hơn tới năng lực của những cá nhân xuất sắc, vượt trội
- Giáo dục định hướng năng lực ở Úc Đại học Victoria (Úc) xác lập 4 khối năng lực: năng lực cốt lõi (Core Competencies), năng lực xuyên văn hóa (Cross Cultural Competencies), năng lực chuyên biệt của chương trình/ngành đào tạo (Program Specific Competencies),
và năng lực nghề nghiệp đã được quốc gia thể chế hóa (Professional Competencies) Trong đó, khối năng lực cốt lõi bao gồm 10 năng lực khác nhau là: quản trị cá nhân, giao tiếp, quản lý thông tin, nghiên cứu và phân tích, quản
lí công việc và dự án, làm việc nhóm, tinh thần vì trách nhiệm xã hội và học tập suốt đời
Gardner đã cho rằng: “Sai lầm lớn nhất của nền giáo dục những thế kỉ trước
là đã xem tất cả mọi HS như là những biến thể của cùng một cá nhân và trên cơ
sở đó tiền hành quá trình dạy học cùng một nội dung, theo cùng một cách cho tất cả HS” [35] Tổng quan như vậy để thấy rằng tiếp cận năng lực được hình