TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu sự thôi nhiễm kim loại nặng và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi từ bao bì nhựa có tiếp xúc với thực phẩm NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: Nghiên cứu sự thôi nhiễm của kim loạ
Trang 3Công trình được hoàn thành tại Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP HCM Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Trọng và TS Nguyễn Quốc Hùng Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày 29 tháng 11 năm 2022
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 GS.TS Lê Văn Tán - Chủ tịch Hội đồng
2 PGS.TS Nguyễn Ngọc Tuấn - Phản biện 1
3 TS Lê Ngọc Tứ - Phản biện 2
4 TS Nguyễn Quốc Thắng - Ủy viên
5 PGS.TS Trần Nguyễn Minh Ân - Thư ký
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
Trang 4NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Trương Thị Trúc Linh MSHV: 20000471
Ngày, tháng, năm sinh: 07/05/1993 Nơi sinh: Bình Phước
I TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu sự thôi nhiễm kim loại nặng và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi từ bao bì nhựa có tiếp xúc với thực phẩm
NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Nghiên cứu sự thôi nhiễm của kim loại nặng trong bao bì nhựa có tiếp xúc với thực phẩm bằng phương pháp ICP-MS
Nghiên cứu thành phần các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong bao bì nhựa có tiếp xúc với thực phẩm bằng phương pháp TD-GC/MS và thẩm định phương pháp xác định hàm lượng tổng chất bay hơi (toluene, styrene, ethylbenzene, isopropyl-benzene, n-propylbenzene) trong nhựa PS bằng phương pháp GC-MS
II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo QĐ số 928/QĐ-ĐHCN ngày 20/04/2022
III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: Theo đơn bảo vệ
IV NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Văn Trọng và TS Nguyễn Quốc Hùng
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 20 …
Trang 5NGƯỜI HƯỚNG DẪN 2
(Họ tên và chữ ký)
TRƯỞNG KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
(Họ tên và chữ ký)
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện tốt luận văn tốt nghiệp và hoàn thành tốt các mục tiêu đã đặt ra, ngoài
sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy cô, gia đình và
bạn bè
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Văn Trọng đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi đã học được nhiều điều ở thầy cả về kiến thức, kinh nghiệm và suy luận trong nghiên cứu khoa học cũng như trong cuộc sống
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến tập thể quý thầy cô thuộc Khoa Công nghệ Hóa học, đặc biệt là các giảng viên của bộ môn Hóa phân tích đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian qua
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi có được môi trường tốt nhất
để thực hiện đề tài này, đặc biệt là TS.Nguyễn Quốc Hùng đã giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2022
Học viên thực hiện
Trương Thị Trúc Linh
Trang 7TÓM TẮT
Bao bì thực phẩm là phương thức chính để lưu trữ, vận chuyển và bảo vệ thực phẩm khỏi các yếu tố bên ngoài Tuy nhiên, bao bì làm từ vật liệu nhựa hoặc nhựa tái chế
có thể là nguồn ô nhiễm các hóa chất độc hại như kim loại nặng, các hợp chất hữu cơ
dễ bay hơi vào trong thực phẩm Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành thẩm định phương pháp phân tích 8 kim loại nặng trong dung dịch acid acetic (AA) 4% bằng phương pháp ICP-MS với giới hạn phát hiện (MDL) từ 0,016 – 0,75 μg/L, giới hạn định lượng (MQL) 3,0 μg/L, hiệu suất thu hồi đạt từ 82,36 – 109,7%, độ lặp lại (RSDr) từ 2,03 – 9,23%, độ tái lập (RSDR) từ 2,68 – 7,16% Áp dụng phương pháp
đã thẩm định để nghiên cứu sự thôi nhiễm kim loại nặng từ nhựa vào trong dung dịch
AA 4% Đồng thời, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) tồn dư trong 3 nền mẫu nhựa PE, PA, PS bằng phương pháp giải hấp nhiệt ghép sắc ký khí khối phổ (TD–GC/MS); Thẩm định phương pháp xác định hàm lượng tổng chất bay hơi (toluene, styrene, ethylbenzene, isopropyl-benzene, n-propylbenzene) trong nhựa PS theo QCVN bằng phương pháp GC-MS với MDL từ 2,07 – 2,50 mg/kg, MQL 50 mg/kg, hiệu suất thu hồi đạt từ 90,25 – 106,67%, RSDr
từ 1,90 – 3,61 %, RSDR từ 2,39 – 4,43% Áp dụng phương pháp đã thẩm định để khảo sát tổng chất bay hơi tồn dư trong 30 mẫu nhựa PS Kết quả đạt được với hàm lượng styrene và ethylbenzene trong khoảng từ 176 – 1120 mg/kg Trong khi đó, các hợp chất toluene, isopropylbenzene, n-propylbenzene là không phát hiện hoặc dưới ngưỡng định lượng của phương pháp Tổng VOCs trong mẫu PS được suy ra từ hàm lượng styrene (styrene như một nội chuẩn), kết quả cho thấy hàm lượng VOCs nằm trong khoảng 559 – 1179 mg/kg
Trang 8ABSTRACT
Food packaging is the main way of storing, transporting and protecting food products
by external factors However, packaging made from plastic or recycled plastic materials can be a source of harmful chemicals such as heavy metals and volatile organic compounds that get into food In this study, we have validated method for analysis of 8 heavy metals in 4% acetic acid (AA) simulant by ICP-MS, with method detection limit (MDL) from 0.016 to 0.75 μg/L, method quantitation limit (MQL) 3.0 μg/L, recovery efficiency from 82.36 to 109.7%, repeatability (RSDr) from 2.03 to 9.23%, reproducibility established (RSDR) from 2.68 to 7.16% Apply the method to study the exhaustive heavy metal migration from plastic into 4% AA simulant At the same time, we research on volatile organic compounds (VOCs) residues in 3 plastic samples PE, PA, PS by means of thermal desorption coupled to gas chromatography mass spectrometry (TD–GC/MS); validated method to determine the total volatile matter content (toluene, styrene, ethylbenzene, isopropylbenzene, n-propylbenzene)
in PS resin according to QCVN by GC-MS with MDL in the range of 2.07 - 2.50 mg/kg, MQL 50 mg/kg, recovery efficiency was from 90.25 to 106.67%, RSDr from 1.90 to 3.61%, RSDR from 2.39 to 4.43% Applying the method to investigate the total volatile matter residue in 30 samples of PS resin, the obtained results of styrene and ethylbenzene content were in the range of 176 - 1120 mg/kg Meanwhile, toluene, isopropylbenzene, and n-propylbenzene compounds were not detected or lower than method quantitation limit Total VOCs in the PS sample were deduced from the styrene content (styrene as an internal standard), the result showed that the total VOCs content was in the range of 559 – 1179 mg/kg
Trang 9LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Trương Thị Trúc Linh, học viên cao học ngành Hóa Phân tích, lớp
CHHOPT10A, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Tôi cam đoan những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là công trình của riêng tôi và giảng viên hướng dẫn của tôi TS Nguyễn Văn Trọng (Khoa Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh) và TS Nguyễn Quốc Hùng (Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP Hồ Chí Minh) Những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác được sử dụng trong luận văn đều có trích dẫn đầy đủ
Học viên thực hiện luận văn
Trương Thị Trúc Linh
Trang 10MỤC LỤC
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Tổng quan về bao bì chứa đựng thực phẩm 4
Bao bì nhựa 4
Kim loại nặng 5
Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi 7
Sơ lược về một số VOCs có trong nhựa PS 8
Đánh giá chất lượng bao bì nhựa chứa đựng thực phẩm 10
Tổng quan về các công trình nghiên cứu 11
Khảo sát hàm lượng kim loại nặng trong giấy bao bì thực phẩm 11
Xác định hàm lượng kim loại nặng trong một số loại túi nhựa 12
Khảo sát sự thôi nhiễm kim loại nặng trong vật liệu tiếp xúc với thực phẩm tại Romania 13
Trang 11Khảo sát sự thôi nhiễm các chất hữu cơ dễ bay hơi trong thực phẩm đóng gói
14
Xác định các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong màng bọc phô mai bằng HS-SPME – GC/MS 14
Xác định các hợp chất dễ bay hơi trong túi nhựa PE 15
Tổng quan về các kỹ thuật sử dụng 15
Kỹ thuật quang phổ plasma cảm ứng cao tần ghép khối phổ (ICP-MS) 15
Kỹ thuật sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) kết hợp giải hấp nhiệt (TD) 17
Kỹ thuật quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier 22
Các tiêu chí đánh giá trong thẩm định phương pháp 22
Độ chọn lọc 23
Khoảng tuyến tính và đường chuẩn 23
Giới hạn phát hiện của phương pháp (MDL) 24
Giới hạn định lượng của phương pháp (MQL) 25
Độ chụm và độ đúng 26
Độ không đảm bảo đo 28
Thiết bị và dụng cụ 29
Thiết bị 29
Dụng cụ 31
Thuốc thử và vật liệu 31
Khảo sát kim loại nặng 31
Khảo sát VOCs 32
Chuẩn bị hóa chất, chất chuẩn 32
Khảo sát kim loại nặng 32
Khảo sát VOCs 34
Nội dung thực nghiệm 35
Định danh các mẫu nhựa khảo sát 35
Nghiên cứu sự thôi nhiễm KLN trong mẫu bao bì nhựa bằng ICP-MS 36
Nghiên cứu thành phần các VOCs trong mẫu bao bì nhựa 38
Các thông số thẩm định phương pháp 40
Trang 12Định danh các mẫu nhựa khảo sát 43
Nghiên cứu sự thôi nhiễm KLN trong mẫu bao bì nhựa bằng ICP-MS 44
Khảo sát điều kiện phân tích trên thiết bị ICP-MS 44
Thẩm định phương pháp thôi nhiễm KLN trong dung dịch ngâm thôi nhiễm AA 4% 48
Khảo sát hàm lượng KLN trên các nền mẫu nhựa 53
Nghiên cứu thành phần các VOCs trong mẫu bao bì nhựa 57
Khảo sát thành phần các VOCs trong nền mẫu nhựa PE, PA, PS bằng phương pháp TD – GC/MS 57
Thẩm định phương pháp xác định tổng chất bay hơi trong nhựa PS theo quy định của QCVN 12-1:2011/BYT bằng phương pháp GC-MS 69
Khảo sát hàm lượng tổng chất bay hơi trên một số mẫu PS thường dùng 75
1 Kết luận 80
2 Kiến nghị 81
Trang 13DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Bao bì nhựa tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm 4
Hình 1.2 Công thức cấu tạo của Styrene 8
Hình 1.3 Công thức cấu tạo của Toluene 8
Hình 1.4 Công thức cấu tạo của Ethylbenzene 9
Hình 1.5 Công thức cấu tạo của Isopropylbenzene 9
Hình 1.6 Công thức cấu tạo của n-Propylbenzene 10
Hình 1.7 Sơ đồ cấu tạo thiết bị ICP-MS iCAP RQ Thermo Scientific 16
Hình 1.8 Sơ đồ hệ thống sắc ký khí 18
Hình 1.9 Sơ đồ phân tích giải hấp nhiệt 21
Hình 2.1 Máy quang phổ Nicolet iS50 FTIR Thermo Scientific 29
Hình 2.2 Hệ thống ICP-MS iCAP RQ Thermo Scientific 29
Hình 2.3 Hệ thống TD100-xr (Markes)– GC/MS ISQ 7000 (Thermo Scientific) 30
Hình 3.1 Phổ FTIR của mẫu M4 và chuẩn Polyamide 44
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của tín hiệu đo theo thời gian hút mẫu 46
Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của độ ổn định theo thời gian hút mẫu 46
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của tín hiệu nền theo thời gian rửa mẫu 47
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn kết quả hàm lượng khảo sát các kim loại Co, Ge, As, Cd, Sb, Pb lớn nhất ở ba nền nhựa 55
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn kết quả hàm lượng khảo sát kim loại Al và Zn lớn nhất ở ba nền nhựa 56
Hình 3.7 Sắc ký đồ của mẫu M1, M2 và M3 57
Hình 3.8 Sắc ký đồ của mẫu M4, M5 và M6 61
Hình 3.9 Phản ứng trùng hợp PA từ caprolactam 63
Hình 3.10 Sắc ký đồ của mẫu M7, M8 và M9 64
Hình 3.11 Sắc ký đồ chuẩn hỗn hợp 5 chất nồng độ 4,0 mg/L 70
Hình 3.12 Kết quả tổng styrene và ethylbenzene trong 30 mẫu nhựa PS 75
Trang 14DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Mục đích sử dụng của các kim loại trong các sản phẩm nhựa và ảnh hưởng
của chúng đối với sức khỏe con người 6
Bảng 1.2 Hàm lượng một số VOCs tồn dư tối đa cho phép trong các loại nhựa 7
Bảng 1.3 Kết quả hàm lượng KLN 12
Bảng 1.4 Nguyên tắc của thư viện NIST 20
Bảng 1.5 Hiệu suất thu hồi tối đa tại các nồng độ khác nhau (theo AOAC) 27
Bảng 1.6 Độ lặp lại tối đa tại các nồng độ khác nhau (theo AOAC) 27
Bảng 2.1 Cách chuẩn bị các dung dịch chuẩn làm việc của 8 nguyên tố 33
Bảng 2.2 Cách chuẩn bị chuẩn gốc hỗn hợp tổng chất bay hơi 34
Bảng 2.3 Cách chuẩn bị các dung dịch chuẩn làm việc tổng chất bay hơi 34
Bảng 2.4 Danh sách mẫu nhựa khảo sát 35
Bảng 2.5 Cách chuẩn bị các mẫu thêm chuẩn đo KLN 37
Bảng 2.6 Thông số cài đặt hệ TD-GC/MS 38
Bảng 2.7 Cách chuẩn bị các mẫu thêm chuẩn đo tổng chất bay hơi PS 39
Bảng 2.8 Cài đặt số khối và loại bỏ nhiễu nền trên đầu dò ICP-MS 40
Bảng 2.9 Khoảng biến thiên cho phép của tỷ lệ cường độ giữa ion định tính và ion định lượng theo SANCO/12495/2011 41
Bảng 3.1 Kết quả định danh 9 mẫu nhựa 43
Bảng 3.2 Tối ưu các thông số cơ bản 44
Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra đầu dò ICP-MS 45
Bảng 3.4 Kết quả khảo sát thời gian hút mẫu 45
Bảng 3.5 Kết quả khảo sát thời gian rửa mẫu 47
Bảng 3.6 Kết quả khảo sát độ chọn lọc nguyên tố Al 48
Bảng 3.7 Phương trình hồi quy và hệ số xác định của từng nguyên tố 49
Bảng 3.8 Kết quả khảo sát MDL nguyên tố Al 50
Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả khảo sát MQL của 8 nguyên tố 51
Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả khảo sát hiệu suất thu hồi, độ lặp lại, độ tái lập của 8 nguyên tố 52
Bảng 3.11 Tổng hợp kết quả ước lượng độ không đảm bảo đo 52
Bảng 3.12 Kết quả phân tích mẫu nhựa PE 53
Bảng 3.13 Kết quả phân tích mẫu nhựa PA 53
Bảng 3.14 Kết quả phân tích mẫu nhựa PS 54
Bảng 3.15 Tổng hợp kết quả phân tích kim loại trên các nền mẫu và thôi nhiễm trong AA 4% 54
Bảng 3.16 Kết quả thành phần các VOCs trong nhựa PE 57
Bảng 3.17 Kết quả thành phần các VOCs trong nhựa PA 61
Trang 15Bảng 3.18 Khảo sát thành phần các VOCs trong mẫu PS 64
Bảng 3.19 Điều kiện phân tích GC-MS 69
Bảng 3.20 Tiêu chí độ chọn lọc của từng chất phân tích 70
Bảng 3.21 Phương trình hồi quy và hệ số xác định của từng hợp chất 71
Bảng 3.22 Giới hạn phát hiện của các chất phân tích 72
Bảng 3.23 Kết quả khảo sát giới hạn định lượng ở nồng độ 50 mg/kg 72
Bảng 3.24 Tổng hợp kết quả khảo sát hiệu suất thu hồi, độ lặp lại, độ tái lập 74
Bảng 3.25 Độ không đảm bảo đo từng hợp chất phân tích 74
Bảng 3.26 Kết quả VOCs tính theo hàm lượng styrene mẫu M7 76
Bảng 3.27 Kết quả VOCs tính theo hàm lượng styrene mẫu M8 77
Bảng 3.28 Kết quả VOCs tính theo hàm lượng styrene mẫu M9 78
Trang 16EU European Union - Liên minh châu Âu
FDA Food and Drug Administration - Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm
Hoa Kỳ
FTIR Fourier Transform Infrared spectroscopy - Quang phổ hồng ngoại biến
đổi Fourier
GC-MS Gas Chromatography-Mass Spectroscopy – Sắc ký khí ghép khối phổ
H % Hiệu suất thu hồi
IARC International Agency for Research on Cance - Cơ quan Nghiên cứu Ung
LDPE Low Density Polyethylene - Polyethylene tỷ trọng thấp
MDL Method Detection Limit - Giới hạn phát hiện của phương pháp
MQL Method Quantitation Limit - Giới hạn định lượng của phương pháp
Trang 17MRL Maximum Residue Limit - Giới hạn dư lượng tối đa cho phép
NIST National Institute of Standards and Technology – Viện Tiêu chuẩn và
Công nghệ Quốc gia
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
RSD Relative Standard Deviation - Độ lệch chuẩn tương đối
SD Standard Deviation - Độ lệch chuẩn
SPME Solid-Phase Microextraction - Phương pháp vi chiết pha rắn
TD Thermo desorption - Giải hấp nhiệt
US EPA United States Environmental Protection Agency - Cơ quan Bảo vệ Môi
trường Hoa Kỳ
VOCs Volatile organic compounds - Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
WWF World Wide Fund For Nature -Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên
1,2-DEB 1,2-Diethylbenzene
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Bao bì nhựa là sản phẩm được ứng dụng rộng rãi trong hầu hết các ngành công nghiệp
và tiêu dùng của xã hội Đặc biệt, đối với thực phẩm bao bì nhựa có một vai trò hết sức quan trọng Chức năng cơ bản và quan trọng nhất của bao bì là đóng gói và bảo quản thực phẩm, giúp cho sản phẩm bên trong được an toàn, không bị vỡ, hư hỏng, biến chất và tránh được những ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài Bên cạnh đó, bao bì nhựa còn giúp cho người tiêu dùng dễ dàng nhận biết các thông tin về thương hiệu, hình ảnh, chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm
Tuy nhiên, việc sử dụng bao bì được sản xuất từ nhựa tái sinh, nguyên liệu kém chất lượng, công nghệ sản xuất nhựa lạc hậu có khả năng dẫn đến thôi nhiễm các hóa chất độc hại từ bao bì vào thực phẩm chứa bên trong Do trong quá trình sản xuất loại bao
bì này có sử dụng nhiệt để gia công, các phụ gia hóa dẻo, chất ổn định nhiệt, chất bôi trơn… Các hóa chất độc hại thôi nhiễm vào thực phẩm bao gồm: kim loại nặng (chì, cadimi, asen, thủy ngân, kẽm, antimon, germani…); các hợp chất hữu cơ (phenol, formaldehyde, vinyl chloride, bisphenol A, styrene, ethyl benzene, toluene, caprolactam…) ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thực phẩm và sức khỏe người tiêu dùng Theo khảo sát của tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) trên 10 tỉnh thành của Việt Nam từ năm 2019 đến 2020, trung bình mỗi hộ gia đình sử dụng từ 2-
4 túi nylon và từ 2-4 chai nhựa hoặc hộp xốp mỗi ngày[1] Trong những năm gần đây, Việt Nam có tỉ lệ mắc mới và tử vong do ung thư tăng lên một cách đáng kể Theo dữ liệu của chương trình GLOBOCAN 2018 xây dựng bởi Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC), Việt Nam hiện đang xếp thứ 56 về tỉ lệ tử vong do ung thư trong tổng số 185 nước được khảo sát với 104 ca, cao hơn tỉ lệ tử vong trung bình chung của thế giới và khu vực Đông Nam Á [2] Việc tìm ra nguồn gây ung thư và loại trừ các mối nguy là vấn đề hoàn toàn không dễ dàng Vì việc phơi nhiễm với các
Trang 19hóa chất có khả năng gây ung thư với hàm lượng thấp sẽ là quá trình tích lũy lâu dài
và thầm lặng
Đã có một số công trình nghiên cứu về sự thôi nhiễm kim loại nặng trong bao bì nhựa cũng như các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi từ bao bì nhựa có tiếp xúc với thực phẩm Điển hình như Ohidul Alam và cộng sự (2019)[3] đã sử dụng ICP-OES để phân tích các kim loại nặng (Pb, Cr, Cd, As, Cu và Zn) có trong các mẫu bao bì nhựa như túi
PE, HDPE, LDPE và PVC hay Elena Ungureanu và cộng sự (2020)[4] đã tiến hành phân tích hàm lượng kim loại nặng (Pb, Cd, Cr) và sự thôi nhiễm kim loại nặng từ các vật liệu tiếp xúc với thực phẩm khác nhau (nhựa, giấy, bìa, thủy tinh, gốm, v.v.) Ngoài ra, Rafal Borusiewicz và cộng sự (2016)[5] đã nghiên cứu xác định các các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi có trong 28 mẫu túi làm bằng PE đến từ 9 thương hiệu khác nhau Davis W Nathan (2017)[6] đã tiến hành phân tích sự ô nhiễm các hữu cơ
dễ bay hơi trong thực phẩm đóng gói (bỏng ngô làm bằng lò vi sóng) bằng GC/MS Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu này chỉ nghiên cứu chuyên về kim loại nặng hoặc về các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, chưa có nghiên cứu nào cùng thực hiện phân tích cả hai thành phần kim loại nặng và các hợp chất dễ bay hơi đồng thời từ
SPME-cùng một nền mẫu Do đó, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu sự thôi nhiễm kim loại nặng và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi từ bao bì nhựa có tiếp xúc với thực phẩm”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu sự thôi nhiễm của kim loại nặng (KLN) trong bao bì nhựa có tiếp xúc với thực phẩm bằng phương pháp ICP-MS
Nghiên cứu thành phần các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) trong bao bì nhựa có tiếp xúc với thực phẩm bằng phương pháp TD-GC/MS trong và thẩm định phương pháp xác định hàm lượng tổng chất bay hơi (toluene, styrene, ethylbenzene, isopropylbenzene, n-propylbenzene) trong nhựa PS bằng phương pháp GC-MS
Trang 203 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát mức độ thôi nhiễm kim loại nặng và nhận danh các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trên ba nền mẫu nhựa: polyamide (PA), polyethylene (PE) và polystyrene (PS)
Phạm vi của đề tài là phân tích các kim loại (As, Pb, Cd, Al, Co, Zn, Ge, Sb) thôi nhiễm trong dung dịch acetic acid 4% trong ba nền mẫu nhựa: PA, PE và PS; Nhận danh các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong ba nền mẫu nhựa: PA, PE và PS; Định lượng hàm lượng styrene, toluene, ethylbenzene, n-propylbenzene, isopropylbenzene trong nền mẫu nhựa PS
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu thôi nhiễm kim loại nặng trong các mẫu nhựa được khảo sát dựa trên kỹ thuật quang phổ plasma cảm ứng cao tần ghép khối phổ (ICP-MS) Phương pháp nghiên cứu nhận danh các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) trong các mẫu nhựa được khảo sát dựa trên kỹ thuật giải hấp nhiệt ghép nối sắc ký khí đầu
dò khối phổ (TD – GC/MS)
Phương pháp định lượng các hợp chất dễ bay hơi (styrene, toluene, n-propyl-benzene, isopropylbenzene, ethylbenzene) được khảo sát dựa trên kỹ thuật sắc ký khí đầu dò khối phổ (GC-MS)
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Thông qua số liệu nghiên cứu sự thôi nhiễm các kim loại nặng và các hợp chất hữu
cơ dễ bay hơi từ các bao bì có tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm được sử dụng phổ biến hằng ngày, có thể đưa ra cảnh báo về tác động xấu gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng, và giúp cho nhà sản xuất bao bì, thực phẩm có sự lựa chọn loại vật liệu an toàn cho việc đóng gói thực phẩm
Trang 21TỔNG QUAN Tổng quan về bao bì chứa đựng thực phẩm
Bao bì nhựa
Ngày nay, bao bì được xem như một thành phần không thể thiếu trong quá trình sản xuất, phân phối và hoạt động tiếp thị Bao bì dùng để chứa đựng sản phẩm, đảm bảo sản phẩm bên trong không hư hỏng Bao bì có dạng trực tiếp chứa đựng sản phẩm,
có dạng khác chứa sản phẩm đã được đóng gói Bao bì đảm bảo cho sự vận chuyển
an toàn hàng hoá từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng trong điều kiện tốt nhất Các tính năng cần có của một bao bì gồm: Tính năng chứa đựng sản phẩm, bảo vệ sản phẩm, thể hiện thông tin về sản phẩm, nhằm quảng cáo nhãn hiệu, sản phẩm và tính hiệu quả, tiện lợi khi sử dụng [7]
Hình 1.1 Bao bì nhựa tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm [7]
Phụ gia dùng trong sản xuất nhựa thường là chất độn, chất làm dẻo, chất chống oxi hóa, chất chống cháy, chất tạo màu, chất ổn định, chất bôi trơn, chất tạo xốp và chất chống tĩnh điện [1] Ngoài ra, còn có nhiều loại phụ gia khác cũng được sử dụng với hàm lượng thấp hơn Ngoài các sản phẩm dựa trên vật liệu đơn, vật liệu đa lớp được
sử dụng phổ biến trong ngành đóng gói thực phẩm Những vật liệu này được sản xuất bằng sự kết hợp của nhiều loại vật liệu nhựa hoặc không phải nhựa (ví dụ: giấy nhôm
Trang 22và giấy) nhằm tăng khả năng bảo quản, giảm ảnh hưởng của ánh sáng, chống thấm khí, chống ẩm Bao bì nhiều lớp này thường được kết dính nhờ chất keo, các chất keo được pha trộn với dung môi hữu cơ, cũng là nguồn thôi nhiễm VOCs vào thực phẩm Bên cạnh đó, các monomer, oligomer sử dụng trong quá trình sản xuất nhựa còn tồn
dư trong nhựa cũng có thể thôi nhiễm vào thực phẩm
Kim loại nặng
Kim loại nặng thường nhiễm từ chất phụ gia (chất tạo màu, chất chống cháy, chất độn, và chất ổn định) được sử dụng trong quá trình sản xuất các sản phẩm polymer (Bảng 1.1) Ví dụ, oxit antimon, oxit nhôm và kẽm borat là những chất chống cháy, hay các hợp chất chống cháy có chứa Cl và Br Bên cạnh đó, các kim loại như Zn,
Pb, Cr, Co, Cd và Ti được sử dụng trong các hợp chất tạo màu vô cơ [8, 9] Hay đối với nhựa PVC, phụ gia PbO.PbCO3 và hợp chất cơ kim với Sn thường được sử dụng như chất chống lão hóa nhiệt trong quá trình gia công, nếu không có phụ gia này vật liệu nhựa sẽ dễ dàng bị oxi hóa và dễ cháy
Theo Cơ quan Nghiên cứu Ung thư quốc tế (IARC), asen, cadimi, crom, chì và thủy ngân được phân loại là chất có khả năng gây ung thư ở người [10] Dựa trên bằng chứng về dịch tễ học và thực nghiệm, các nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan giữa
sự tiếp xúc với các yếu tố kể trên và tỷ lệ mắc bệnh ung thư ở người Độc tính của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: liều lượng, cách đối tượng tiếp xúc với các nguyên tố cũng như tuổi, giới tính, di truyền và trạng thái dinh dưỡng của người tiếp xúc Nồng độ kim loại nặng cao gây ra các tổn thương tế bào và mô, dẫn đến nhiều loại tác động xấu và bệnh tật ở người Trong số các kim loại, Al, Sb, As,
Ba, Cd, Cr (II), Co, Cu, Pb, Hg, Ni, Se, Sn và V là các estrogen kim loại được xác định thể hiện ái lực cao với các estrogen, vì chúng có thể bắt chước kích hoạt estrogen
Vì lý do này, chúng được coi là có hại và có khả năng gây bệnh ung thư vú [11-13]
Trang 23Bảng 1.1 Mục đích sử dụng của các kim loại trong các sản phẩm nhựa và ảnh
hưởng của chúng đối với sức khỏe con người [1, 14]
Liên kết với estrogen gây ung thư vú
Là chất gây ung thư Đồng
(Cu)
Chất chống nhiễm
khuẩn
Chai nhựa PET Gây gãy và oxi hóa dây DNA
Asen (As) Chất chống nhiễm
khuẩn
PVC, LDPE, PE
Gây ung thư: phổi, da, gan, bàng quang, thận; đường tiêu hóa; có thể gây tử vong
Liên kết với estrogen gây ung thư vú, viêm da; đau dạ dày; buồn nôn; đau bụng, tiêu chảy
đỏ
Gây thiếu máu, tăng huyết áp, sẩy thai, gây gián đoạn hệ thống thần kinh, tổn thương não, vô sinh, thúc đẩy quá trình oxy hóa
Thủy
ngân (Hg) Chất diệt khuẩn PU
Gây đột biến hoặc ung thư gen, tổn thương não
(Ba)
Chất kháng tia UV,
chất tạo màu vô cơ PVC
Liên kết với estrogen gây ung thư vú; gây rối loạn tim mạch,
hệ tiêu hóa, hệ thần kinh Nhìn chung, các thành phần hóa học có thể thôi nhiễm từ bao bì nhựa vào thực phẩm thường có nồng độ thấp nên sẽ không gây ngộ độc cấp tính Tuy nhiên, các chất này
Trang 24vẫn có khả năng được tích lũy lâu dài và gây ngộ độc mãn tính cho con người với mức độ nguy hiểm tùy thuộc vào hàm lượng và thời gian tích lũy của người sử dụng
Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) là các chất hữu cơ ở dạng rắn hoặc lỏng, có thể bay hơi ở nhiệt độ không quá cao Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi thường có trong vật liệu nhựa như: Toluene, xylene…; các hợp chất hydrocarbon mạch thẳng, mạch nhánh; monomer như styrene, vinylchloride, bisphenol A tồn dư trong vật liệu…[15] Dung môi tồn dư có trong bao bì, mực in cũng có thể gây hại cho người
sử dụng khi tiếp xúc với dung môi này qua đường hô hấp, tiêu hóa cũng như qua da Các VOCs có thể gây ảnh hưởng đến người tiếp xúc một cách tức thời hoặc lâu dài như gây kích ứng mắt, da, đường hô hấp, đau đầu, chóng mặt, rối loạn thị giác, mệt mỏi, buồn nôn, suy giảm trí nhớ và nặng hơn có thể gây ảnh hưởng đến gan, thận, hệ thần kinh trung ương và ung thư [16]
Bảng 1.2 Hàm lượng một số VOCs tồn dư tối đa cho phép trong các loại nhựa [17]
cho phép
1 Polystyrene (PS)
Tổng số chất bay hơi (styrene, toluene, ethylbenzene, isopropylbenzene, n-propylbezene)
5000 mg/kg (*)
2000 mg/kg (**)
Styrene và ethylbenzene 1000 mg/kg
2 Nylon/ Polyamide (PA) Caprolactam 15 μg/ml
4 Polyvinyl Chloride (PVC) Vinyl chloride 150 μg/ml (*) áp dụng cho nhựa PS cứng, (**) áp dụng cho nhựa PS xốp (trương nở)
Trang 25Sơ lược về một số VOCs có trong nhựa PS
Styrene[18]
Công thức phân tử: C6H5CHCH2
Công thức cấu tạo:
Hình 1.2 Công thức cấu tạo của Styrene
Tên quốc tế: Styrene; ethenylbenzene; vinylbenzene
Khối lượng phân tử: 104,15 g/mol
Tính chất: là một loại chất lỏng trong suốt, không màu, nhiệt độ sôi ở 145oC, tỷ trọng 0,9059 g/cm3 ở 20oC Được phân loại vào nhóm 2A (có khả năng cao gây ung
thư cho người) theo IARC [10]
Toluene [19]
Công thức phân tử: C6H5CH3
Công thức cấu tạo:
Hình 1.3 Công thức cấu tạo của Toluene
Tên quốc tế: Toluene; methylbenzene
Khối lượng phân tử: 92,14 g/mol
Tính chất: là một loại chất lỏng trong suốt, không màu, có mùi đặc trưng, nhiệt
độ sôi ở 110,6oC, tỷ trọng 0,8623 g/cm3 ở 20oC Được phân loại vào nhóm 3 (nhóm không thể phân loại về khả năng gây ung thư cho người) theo IARC [10]
Ethylbenzene [20]
Công thức phân tử: C6H5C2H5
Trang 26Công thức cấu tạo:
Hình 1.4 Công thức cấu tạo của Ethylbenzene
Tên quốc tế: Ethylbenzene; Phenylethane
Khối lượng phân tử: 106,16 g/mol
Tính chất: là một chất lỏng không màu, dễ cháy, có mùi giống xăng, nhiệt độ sôi
ở 136,1oC, tỷ trọng 0,8626 g/cm3 ở 25oC Được phân loại vào nhóm 2B (có khả năng gây ung thư cho người) theo IARC [10]
Isopropylbenzene [21]
Công thức phân tử: C6H5CH(CH3)2
Công thức cấu tạo:
Hình 1.5 Công thức cấu tạo của Isopropylbenzene
Tên quốc tế: Cumene; 2-Phenylpropane
Khối lượng phân tử: 120,19 g/mol
Tính chất: là một chất lỏng không màu, có mùi giống xăng, nhiệt độ sôi ở 152,4oC,
tỷ trọng 0,8620 g/cm3 ở 20oC Được phân loại vào nhóm 2B (có khả năng gây ung thư cho người) theo IARC [10]
n-Propylbenzene [22]
Công thức phân tử: C9H12
Công thức cấu tạo:
Trang 27Hình 1.6 Công thức cấu tạo của n-Propylbenzene
Tên quốc tế: Propylbenzene; 1-Phenylpropane; Benzene, propyl-
Khối lượng phân tử: 120,19 g/mol
Tính chất: là một chất lỏng không màu, nhiệt độ sôi ở 159,2oC, tỷ trọng 0,8620 g/cm3 ở 20oC
Đánh giá chất lượng bao bì nhựa chứa đựng thực phẩm
Có rất nhiều lý do để chúng ta quan tâm đến vấn đề kiểm nghiệm bao bì thực phẩm, trong đó phải kể đến hai nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, bao bì sẽ là thành phần tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, trong quá trình sử dụng lâu dài có thể thôi nhiễm các chất có hại vào thực phẩm do sử dụng nhiệt độ, do thức ăn hay quá trình bảo quản chưa đúng cách, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người
sử dụng
Thứ hai, để ngăn chặn nguy cơ xảy ra ngộ độc hóa chất hay ngộ độc thức ăn có nguyên nhân đến từ việc tích lũy các chất có hại có trong bao bì thực phẩm gây ra, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh các loại bao bì sử dụng cho thực phẩm phải thực hiện việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên các loại bao bì theo các quy chuẩn hiện hành.Theo như quy định hiện hành thì các chỉ tiêu kiểm nghiệm cho bao bì sử dụng cho thực phẩm phải được xây dựng dựa trên các quy chuẩn của Bộ Y tế quy định chi tiết cho từng loại bao bì, dụng cụ như:
+ QCVN 12- 1:2011/BYT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ bằng nhựa tổng hợp tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
Trang 28+ QCVN 12- 2:2011/BYT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vệ sinh an toàn đối với bao bì, dụng cụ bằng cao su tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
+ QCVN 12- 3:2011/BYT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vệ sinh an toàn đối với bao bì, dụng cụ bằng kim loại tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
+ QCVN 12- 4:2015/BYT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vệ sinh an toàn đối với bao bì, dụng cụ bằng thủy tinh, gốm, sứ và tráng men tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
Theo EU, FDA, Trung Quốc quy định hàm lượng thôi nhiễm trong bao bì như: + Quy định (EU) No 10/2011: Các chỉ tiêu thôi nhiễm cho xuất khẩu sang EU + Qui định FDA: FDA 21 CFR 177.1520
Mức độ thôi nhiễm sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Tính chất của thực phẩm, loại
nhựa sử dụng, nhiệt độ sử dụng, thời gian tiếp xúc của thực phẩm với bao bì
Tổng quan về các công trình nghiên cứu
Khảo sát hàm lượng kim loại nặng trong giấy bao bì thực phẩm [23]
Marcelo E Conti và cộng sự (1997) đã tiến hành phân tích bốn KLN (Cd, Cr, Pb và Hg) trong 12 mẫu giấy khác nhau (7 loại dùng làm bao bì thực phẩm và 5 loại không dùng cho thực phẩm) bằng phương pháp AAS
Chuẩn bị mẫu: Các mẫu được cắt thành hình vuông 10x10 cm, bảo quản ở 4oC (độ
ẩm 50-55%) Mẫu được đặt trong bình, sấy ở 105oC trong 2 giờ, cân sau mỗi 30 phút cho đến khi khối lượng không đổi
Điều kiện ngâm: Ngâm mẫu ở 23oC trong vòng 24 giờ với tỷ lệ 2 dm2 (tương ứng mỗi mặt 1 dm2) trong 100 mL nước cất và ngâm mẫu ở 40oC trong vòng 24 giờ với tỷ lệ
2 dm2 (tương ứng mỗi mặt 1 dm2) trong 100 mL acid acetic 3%
Kết quả: Hàm lượng các KLN được thể hiện trong Bảng 1.3
Trang 29Bảng 1.3 Kết quả hàm lượng KLN[19]
Thủy ngân (Hg) μg/dm 2 μg/g μg/dm 2 μg/g μg/dm 2 μg/g μg/dm 2 μg/g
Thử thôi nhiễm (AA 3%)
Xác định hàm lượng kim loại nặng trong một số loại túi nhựa[3]
Ohidul Alam và cộng sự (2019) đã sử dụng ICP-OES để phân tích các KLN (Pb, Cr,
Cd, As, Cu và Zn) có trong các mẫu bao bì nhựa như túi PE, HDPE, LDPE và PVC
Chuẩn bị mẫu: Cân 0,2 g mẫu bao bì cho vào bình PTFE có nắp đậy, thêm 20 mL
dung dịch HNO3 65% Để mẫu ổn định 30 phút, sau đó đun nóng ở 175oC trong 90 phút Sau khi mẫu đã được phân hủy, bình chứa mẫu được làm lạnh về nhiệt độ phòng
Trang 30Thêm tiếp 10 mL dung dịch H2O2 30% vào mẫu và đun nóng ở 175oC trong 60 phút Cuối cùng mở nắp bình chứa mẫu để làm bay hơi dung dịch trong 15 phút Lọc dung dịch còn lại qua màng lọc 0,45 μm và chuyển vào bình định mức 50 mL, thêm 2 mL HNO3 đậm đặc và tiến hành đo ICP-OES
Kết quả: Hàm lượng Pb, Cr, Cd, As, Cu và Zn lần lượt là 66, 75, 16, 28, 96 và 154
mg/kg trong mẫu túi PE, trong mẫu túi HDPE lần lượt là 71, 74, 34, 39, 430 và 212 mg/kg; 12, 74, 23, 43, 158 và 54 mg/kg đối với bao LDPE và 16, 23, 474, 12, 45 và
90 mg/kg tương ứng trong mẫu túi PVC
Khảo sát sự thôi nhiễm kim loại nặng trong vật liệu tiếp xúc với thực phẩm tại Romania [4]
Elena Ungureanu và cộng sự (2020) đã tiến hành phân tích hàm lượng KLN (Pb, Cd, Cr) và sự thôi nhiễm KLN từ các vật liệu tiếp xúc với thực phẩm khác nhau (nhựa, giấy, bìa, thủy tinh, gốm, v.v.) có sẵn trên thị trường ở Romania bằng phương pháp GF-AAS và ICP-MS
Phân tích hàm lượng KLN bằng phá mẫu trực tiếp vật liệu: Mẫu (nhựa, giấy, bìa,
thủy tinh, gốm, v.v.) được xử lý bằng phương pháp vô cơ hóa ướt kết hợp lò vi sóng
sử dụng HNO3 65% và H2O2
Phân tích hàm lượng KLN bằng ngâm thôi nhiễm: Mẫu nhựa được ngâm trong acid
acetic 3% ở 40oC trong 10 ngày; mẫu giấy và bìa cứng được ngâm trong nước cất ở nhiệt độ phòng trong 24 giờ và mẫu thủy tinh được ngâm trong acid acetic 4% với cùng điều kiện ngâm chiết của mẫu giấy
Kết quả: Đối với vật liệu nhựa, Pb có hàm lượng trong khoảng từ 0,002 - 5,997 mg/kg,
Cd có hàm lượng từ 0,0002 - 0,059 mg/kg và Cr là từ 0,013 - 0,638 mg/kg Đối với mẫu giấy và bìa cứng, nồng độ của ba kim loại này được phát hiện cao hơn, Pb dao động từ 0,002 - 14,650 mg/kg, Cd từ 0,0002 - 0,490 mg/kg, và Cr từ 0,013 - 25,800 mg/kg
Trang 31Khảo sát sự thôi nhiễm các chất hữu cơ dễ bay hơi trong thực phẩm đóng gói[6]
Davis W Nathan (2017) đã tiến hành phân tích sự ô nhiễm các hữu cơ dễ bay hơi trong thực phẩm đóng gói (bỏng ngô làm bằng lò vi sóng) bằng SPME-GC/MS Diacetyl và các hợp chất có liên quan khác (DAPORS) có trong bỏng ngô làm từ lò
vi sóng được phát hiện gây ra bệnh viêm tiểu phế quản tắc nghẽn ở công nhân nhà máy sản xuất Sợi Carboxen/polydimethyl siloxane (CAR/PDMS) 85 μm được xác định là tối ưu về độ nhạy và đáp ứng mức độ phát hiện của DAPORS Với tốc độ khuấy 500 vòng/phút, thời gian ủ chiết ở 40oC trong 10 phút, giải hấp ở 260oC trong vòng 2 phút trực tiếp tại inlet của GC, sau đó mẫu được phân tích bằng GC-MS 8 loại DAPORS đã được phân tích trong cả hai loại bỏng ngô giàu và ít chất béo Kết quả tìm thấy hàm lượng lớn của diacetyl và 2,3-pentanedione ở các loại bỏng ngô ít chất béo, trong khi diacetyl nằm dưới giới hạn phát hiện ở các loại bỏng ngô giàu chất béo
Xác định các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong màng bọc phô mai bằng HS-SPME – GC/MS[24]
Sara Panseri và cộng sự (2014) đã nghiên cứu xác định các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) từ màng bọc phô mai làm từ chất liệu PVC và PE bằng SPME- GC/MS Ảnh hưởng của loại màng bọc và thời gian tiếp xúc đối với sự thôi nhiễm của VOCs
từ màng sang bốn loại phô mai trong quá trình bảo quản lạnh dưới ánh sáng hoặc bóng tối cũng được nghiên cứu 5 g phô mai hoặc 1g màng bọc được cho vào ống 20
ml có nút đậy, thêm 1 mL nội chuẩn camphor 1 μg/mL và tiến hành ủ trong 1 giờ Sợi Divinylbenzene/CarboxenTM/polydimethylsiloxane StableFlexTM được sử dụng
để hấp thụ các VOCs ở 50oC trong 3 giờ sau đó được phân tích bằng GC-MS với cột Rtx-Wat (30m x 0,25mm x 0,25μm) và chương trình nhiệt: Từ 35oC giữ 8 phút, tăng
4oC/phút đến 60oC, tăng tiếp 6oC/phút đến 160oC và cuối cùng tăng 20oC/phút đến
200oC Kết quả phát hiện thấy 2-ethylhexanol trong màng PVC; toluene và ethylbenzene trong màng PE; ethylbenzene, triacetyl, xylene và styrene trong mẫu phô mai PDO được bọc trong màng PVC và PE
Trang 32Xác định các hợp chất dễ bay hơi trong túi nhựa PE [5]
Rafal Borusiewicz và cộng sự (2016) đã nghiên cứu xác định các các hợp chất hữu
cơ dễ bay hơi có trong 28 mẫu túi làm bằng PE đến từ 9 thương hiệu khác nhau Mẫu được phân tích bằng cách hấp thu thụ động với Tenax TA trong điều kiện 80oC ở 2 giờ và giải hấp nhiệt bằng thiết bị giải hấp nhiệt tự động (Turbo Matrix ATD; PerkinElmer) Sau đó mẫu được phân tích bằng GC-MS với cột DB5-MS UI (30m x 0,25mm x 0,5μm) và chương trình nhiệt: Từ 40oC giữ trong 10 phút, tăng 7oC/phút đến 120oC, tăng tiếp 15oC/phút đến 300oC và giữ 5 phút Kết quả cho thấy trong hầu hết tất cả các mẫu túi đều có một hỗn hợp đặc biệt, bao gồm n-ankan và n-anken với
số chẵn nguyên tử cacbon trong phân tử Một số hợp chất khác (ví dụ, limonene, 2,2,4,6,6-pentametylheptan) cũng được tìm thấy, nhưng sự hiện diện của n-ankan và n-anken với số chẵn nguyên tử cacbon tạo nên điểm đặc trưng nhất
từ kỹ thuật số Hai ưu điểm nổi bật của ICP-MS là có độ phân giải cao và dễ tách nhiễu ảnh hưởng lẫn nhau Do đó có thể phát hiện được hầu hết các nguyên tố trong bảng hệ thống tuần hoàn
Trang 331.4.1.2 Cấu tạo thiết bị
Hình 1.7 Sơ đồ cấu tạo thiết bị ICP-MS iCAP RQ Thermo Scientific
Bơm nhu động: Là một máy bơm nhỏ với rất nhiều trụ nhỏ xoay cùng tốc độ Sự chuyển động liên tục của các con lăn trên ống bơm tạo lực hút mẫu dẫn đến đầu phun sương, giúp đảm bảo dòng chảy liên tục của chất lỏng, bất kể sự khác nhau về độ nhớt giữa các mẫu, mẫu chuẩn và mẫu trắng
Buồng phun: Dùng khí nén (thường có tốc độ dòng 1 L/phút) để thổi dung dịch mẫu
đi vào thành các aerosol với các hạt có kích thước lớn nhỏ rồi dẫn chúng vào buồng plasma
Hệ thống torch: Gồm 3 ống đồng tâm được làm từ thạch anh và lồng vào nhau, được đặt trong cuộn cảm ứng, là nơi tạo ra plasma có nhiệt độ cao để ion hóa các cấu tử chứa kim loại trong mẫu
Vùng trung gian hình nón: Gồm 2 nón kim loại (thường là niken) với các lỗ rất nhỏ
ở tâm để duy trì ở môi trường chân không, sẽ cho phép các ion từ vùng plasma đi qua,
và loại bỏ các tạp chất
Hệ thấu kính ion: Là các thấu kính điện tử, hình cong vuông góc, hoạt động như một
hệ thấu kính Chúng có chức năng hội tụ chùm ion, hướng các ion M+ vào buồng phân
Trang 34giải khối, chắn phần điện tử khác và phần tử trung hòa rồi loại chúng ra ngoài bằng chân không
Buồng va chạm: Thiết bị iCAP RQ ICP-MS (Thermo Scientific) sử dụng kỹ thuật loại trừ nhiễu động năng (Kinetic Energy Discrimination - KED) và được thực hiện trong hệ thống phản ứng bát cực (Octopole Reaction System – ORS) KED được thực hiện theo cách tạo ra một rào thế giữa ORS và bộ tách khối Rào thế được tạo ra bằng cách dùng nguồn điện một chiều để chỉnh thế của ORS thấp hơn thế của bộ tách khối Chùm ion sinh ra từ vùng plasma sau khi đi qua ORS sẽ va chạm với các phân tử khí trơ (thường là Helium) Do có hiệu suất va chạm thấp nên các ion phân tích vẫn giữ được một lượng đáng kể động năng ban đầu, trong khi các ion được tạo ra do các phản ứng thứ cấp trong plasma thường có bán kính lớn hơn dẫn đến xác suất va chạm cao hơn làm cho các ion này có động năng thấp hơn nên không vượt qua được rào cản thế
Bộ tứ cực: Hoạt động bằng cách kết hợp điện thế xoay chiều tần số vô tuyến (RF) với điện thế dòng điện một chiều (DC) trên bốn điện cực để tạo ra điện trường mà các ion mẫu đi qua Tùy thuộc vào tỉ lệ RF/DC mà vùng điện trường giữa các thanh sẽ cho phép các ion có tỉ lệ m/z dao động trong một phạm vi hẹp đi qua Do đó bằng cách điều chỉnh tỉ lệ RF/DC mà các tứ cực có khả năng quét tuần tự một khoảng m/z rộng
và liên tục
Đầu dò ion: Hoạt động theo nguyên tắc phát xạ điện tử thứ cấp (SEM), trong đó các hạt tích điện sẽ kích thích sự phát xạ của các electron từ bề mặt Sau đó các electron
sẽ va đập lên dynode làm khuếch đại tín hiệu của các electron đơn lẻ lên đến 109
ion/giây và ghi nhận tín hiệu
Kỹ thuật sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) kết hợp giải hấp nhiệt (TD)
1.4.2.1 Sắc ký khí[26]
Cột sắc ký khí cho phép phân tách các cấu tử khí hay các cấu tử hóa hơi ở nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ sôi của chúng, thường nhỏ hơn 330oC (tùy thuộc vào giới hạn nhiệt
Trang 35độ của từng loại cột khác nhau) Sau khi ra khỏi cột, các cấu tử sẽ được ghi nhận bởi các loại đầu dò khác nhau tùy vào mục đích yêu cầu khác nhau
Hình 1.8 Sơ đồ hệ thống sắc ký khí[27]
Hệ thống sắc ký khí bao gồm:
Nguồn cung cấp khí mang: sử dụng các bình khí thương mại
Lò cột (buồng nhiệt): Dùng để điều khiển nhiệt độ cột theo chương trình nhiệt
được cài đặt
Bộ phận tiêm mẫu: Dùng để đưa mẫu cần phân tích vào cột thông qua inlet với
các thể tích tiêm khác nhau Khi đưa mẫu vào cột, có thể sử dụng chế độ chia dòng (split) hoặc không chia dòng (splitless) Có 2 cách đưa mẫu vào cột: bằng tiêm thủ công hoặc tiêm tự động (Autosampler – có hoặc không có bộ phận hóa hơi - headspace)
Cột phân tích: Có 2 loại cột là cột nhồi và cột mao quản
Cột nhồi (packed column): Pha tĩnh sẽ được nhồi vào trong cột, cột có đường kính
từ 2 - 4 mm và chiều dài khoảng 2 - 3 m
Cột mao quản (capillary): Pha tĩnh được phủ ở mặt trong của cột (bề dày từ 0,2 -
12 μm), cột có đường kính trong từ 0,1 - 0,5 mm và chiều dài 30 - 100 m
Đầu dò: Có nhiều loại đầu dò khác nhau tùy thuộc vào chất cần phân tích như đầu
dò ion hóa ngọn lửa (FID – Flame Ioniation Detetor) thường được dùng phân tích
Trang 36định lượng các hợp chất hữu cơ; Đầu dò dẫn nhiệt (TCD – Thermal Conductivity Detector); Đầu dò cộng kết điện tử (ECD – Electron Capture Detector) thường dùng
để phân tích các hợp chất có chứa Clo; Đầu dò quang hóa ngọn lửa (FPD – Flame Photometric Detector); Đầu dò NPD (Nitrogen Phospho Detector) thường dùng để phân tích các hợp chất có chứa N, P; Đầu dò khối phổ (MS – Mass Spectrometry)
sẽ được hướng vào bộ tứ cực, tại đây các ion sẽ được tách ra dựa trên tỷ lệ khối lượng/điện tích (m/z) Sau khi ra khỏi bộ tứ cực, các ion được đầu dò ghi nhận và khuếch đại tín hiệu
b) Kỹ thuật ion hóa
Ion hóa điện tử (Electron Ionization – EI): Là phương pháp ion hóa được sử dụng
phổ biến nhất Các phân tử của hợp chất hữu cơ cần phân tích ở trạng thái hơi sẽ bị các điện tử có năng lượng cao (thường là 70 eV) phát ra từ cathode trong buồng ion hóa bắn phá làm mất điện tử tạo thành ion phân tử M∙+ Với nguồn năng lượng 70 eV, hầu như các liên kết cộng hóa trị trong phân tử có thể bị bẻ gãy và tạo thành nhiều mảnh ion có khối lượng nhỏ hơn ion phân tử Dựa vào tỷ lệ các mảnh ion này so với phổ chuẩn mà người ta có thể xác định được cấu trúc phân tử của một hợp chất hữu
cơ chưa biết Hay dựa vào các mảnh ion cho ta các thông tin về cấu trúc của một hợp chất mới khi không có trong thư viện phổ
Ion hóa hóa học (Chemical Ionization – CI): Phương pháp này có kỹ thuật gần giống
với kỹ thuật ion hóa điện tử Nguyên tắc của ion hóa hóa học là đưa vào một chất khí
Trang 37(thường là methane), chất khí này sau đó sẽ bị ion hóa và tương tác cấu tử và tạo thành ion phân tử
Bảng 1.4 Nguyên tắc của thư viện NIST [29]
Trang 38sẽ được định danh bằng đầu dò MS Bằng cách chiết xuất hơi hữu cơ từ mẫu và làm giàu ở bộ phận bẫy lạnh, TD cho phép phân tích các VOCs ở nồng độ thấp hay dạng vết Với bộ lấy mẫu tự động cùng 100 ống mẫu, hệ TD100-xr cho phép phân tích mẫu liên tục, khắc phục được các yếu điểm của hệ TD thế hệ cũ
Hình 1.9 Sơ đồ phân tích giải hấp nhiệt Thiết bị giải hấp nhiệt trực tiếp tự động (TD100-xr): Ống hấp phụ TD được đặt trong một bộ gia nhiệt được thiết kế để bao phủ toàn bộ diện tích của ống hấp phụ Bộ gia nhiệt hoạt động theo chương trình nhiệt, gia nhiệt từ nhiệt độ phòng đến 280oC, thời gian giải hấp 20 phút Khi đó các chất phân tích sẽ bị hóa hơi và được dẫn đễn bẫy lạnh bằng khí mang trơ (nitơ, argon, heli) Bộ bẫy lạnh ngưng tụ thường được đặt ở nhiệt độ -5 đến -30oC trong suốt thời gian giải hấp ống TD Sau khi bẫy các chất phân
Trang 39tích, bẫy sẽ được gia nhiệt tức thời (trong 1-2s) đến nhiệt độ hóa hơi (260 – 300oC)
để các VOCs cùng lúc bay qua transfer line, vào trong cột sắc ký khí để phân tách các hợp chất, và được định danh bằng đầu dò MS
Kỹ thuật quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier
Quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (Fourier Transform Infrared spectroscopy – FTIR) là một kỹ thuật cho phép ghi lại quang phổ hồng ngoại Ánh sáng hồng ngoại được dẫn thông qua một giao thoa kế, được tách thành hai tia với hướng khác nhau Trong đó, một hướng đi qua mẫu và sau đó được giao thoa lại với tia còn lại Khi gương chuyển động bên trong thiết bị làm thay đổi tần số của ánh sáng hồng ngoại đi qua giao thoa kế Các dao động nối trong phân tử sẽ hấp thụ ánh sáng hồng ngoại có cùng tần số Phổ FTIR sẽ ghi nhận các băng hấp thụ ứng với các dao động Một tập hợp các băng hấp thụ sẽ đặc trưng cho một cấu trúc nhất định Do đó có thể được sử dụng FTIR để định danh một chất thông qua việc so sánh với các phổ chuẩn có trong thư viện phổ [31]
Ưu điểm của FTIR:
Có thể phân tích cấu trúc định tính và định lượng
Không cần phá mẫu, đo trực tiếp với hệ FTIR-ATR
Có thể phân tích với mẫu kích thước nhỏ (>100 μm) trên hệ FTIR ghép ATR-kính hiển vi
Định danh nhanh chóng và chính xác với thư viện phổ > 200,000 hợp chất khác nhau
Các tiêu chí đánh giá trong thẩm định phương pháp
Phương pháp phân tích được kiểm tra và chứng minh tính chính xác, độ tin cậy thông qua việc thẩm định phương pháp với các tiêu chí như độ chọn lọc, khoảng tuyến tính, giới hạn phát hiện, giới hạn định lượng của phương pháp, độ chụm, độ đúng và độ không đảm bảo đo của phương pháp
Trang 40Độ chọn lọc
Là khả năng phát hiện được chất phân tích kể cả khi có sự xuất hiện các tạp chất khác làm ảnh hưởng đến nền mẫu Cụ thể, khi phân tích định tính thì phải chứng minh được kết quả là dương tính khi có sự xuất hiện của chất cần phân tích, âm tính khi không có chất cần phân tích, đồng thời kết quả phải âm tính khi có mặt các chất khác
có cấu trúc gần giống chất cần phân tích Trong phân tích định lượng thì đó là khả năng định lượng chính xác hàm lượng chất cần phân tích có trong mẫu khi bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác [32]
Khoảng tuyến tính và đường chuẩn
Khoảng tuyến tính của một phương pháp phân tích là khoảng nồng độ ở đó có sự phụ thuộc tuyến tính giữa đại lượng đo được và nồng độ chất phân tích Việc xác định khoảng tuyến tính thường được khảo sát bắt đầu từ giới hạn định lượng (điểm thấp nhất) và kết thúc là giới hạn tuyến tính (điểm cao nhất) [32]
Sau khi xác định được khoảng tuyến tính cần xây dựng đường chuẩn nằm bên trong khoảng tuyến tính và xác định hệ số tương quan Chuẩn bị dãy nồng độ chuẩn (ít nhất
ở 6 nồng độ) Xác định các giá trị đo được y biến thiên theo nồng độ x Nếu hai đại lượng y và x tuyến tính, ta có đường biểu diễn khoảng khảo sát là một phương trình hồi quy: