1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giải pháp nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật thông qua giáo dục khởi nghiệp tại đại học công nghiệp tp hồ chí minh

109 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật thông qua giáo dục khởi nghiệp tại Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Quốc Cường
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quốc Cường
Trường học University of Industry Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Engineering
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (17)
    • 1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu (17)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (20)
      • 1.2.1 Mục tiêu chung (20)
      • 1.2.2 Mục tiêu cụ thể (21)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (21)
    • 1.4 Đối tượng nghiên cứu (21)
      • 1.4.1 Đối tượng nghiên cứu và khảo sát (21)
      • 1.4.2 Phạm vi nghiên cứu (21)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (22)
      • 1.5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính (22)
      • 1.5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng (22)
        • 1.5.2.1 Nghiên cứu định lượng sơ bộ (22)
        • 1.5.2.2 Nghiên cứu định lượng chính thức (22)
    • 1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài (22)
    • 1.7 Kết cấu của đề tài (23)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (24)
    • 2.1 Cơ sở lý thuyết (24)
      • 2.1.1 Khái niệm về khởi nghiệp (24)
      • 2.1.2 Khái niệm về ý định khởi nghiệp (Entrepreneurial Intention – EI) (24)
      • 2.1.3 Khái niệm về giáo dục khởi nghiệp (Entrepreneurial Education –EE) (25)
    • 2.2 Các mô hình nghiên cứu về tác động của giáo dục khởi nghiệp lên ý định khởi nghiệp (26)
      • 2.2.1 Mô hình Nhân khẩu học (Demographic Model) (26)
      • 2.2.2 Mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) (28)
      • 2.2.3 Mô hình Sự kiện khởi nghiệp của Shapero (Shapero’s Entrepreneurial Event – SEE) 21 (28)
      • 2.2.4 Lí thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior – TPB, Ajzen, 1991) 22 (29)
    • 2.3 Một số nghiên cứu tiêu biểu (29)
      • 2.3.1 Nghiên cứu trong nước (29)
        • 2.3.1.1 Mô hình nghiên cứu của Phan Anh Tú và cộng sự (2015) về nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp: trường hợp sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh trường Đại học Cần Thơ (29)
        • 2.3.1.2 Mô hình nghiên cứu của Đỗ Thị Hoa Liên (2016) về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên quản trị kinh doanh tại trường Đại học Lao động – Xã hội (cơ sở thành phố Hồ Chí Minh) (30)
        • 2.3.1.3 Mô hình nghiên cứu của Bùi Thị Thu Loan và cộng sự (2018) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên: nghiên cứu trường hợp sinh viên trên địa bàn Thành phố Hà Nội (31)
        • 2.3.1.4 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hiệp và cộng sự (2019) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) (32)
        • 2.3.1.5 Mô hình nghiên cứu của Dương Công Doanh (2019) về vai trò kiểm duyệt của năng lực bản thân đối với quá trình nhận thức của tinh thần kinh doanh: Một nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam (32)
        • 2.3.1.6 Mô hình nghiên cứu của Võ Văn Hiền và Lê Hoàng Vân Trang (2020) về nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường ĐH Tiền Giang (33)
      • 2.3.2 Nghiên cứu ngoài nước (36)
        • 2.3.2.1 Mô hình nghiên cứu của Luthje và Franke (2003) về tạo lập một doanh nhân: Thử nghiệm một mô hình về ý định khởi nghiệp của các sinh viên kỹ thuật tại MIT . 29 (36)
        • 2.3.2.2 Mô hình nghiên cứu Gerba (2012) về tác động của giáo dục khởi nghiệp đối với ý định khởi nghiệp của sinh viên kinh tế và kỹ thuật ở Ethiopia (36)
        • 2.3.2.3 Nghiên cứu của Entrialgo et al. (2016) Vai trò điều tiết của giáo dục khởi nghiệp về tiền thân của ý định kinh doanh (37)
        • 2.3.2.4 Mô hình nghiên cứu của Shah et al. (2020) về vai trò điều độ của giáo dục khởi nghiệp trong việc hình thành các ý định kinh doanh (38)
        • 2.3.2.5 Nghiên cứu của OmarBoubker và cộng sự (2021) về giáo dục khởi nghiệp so với sinh viên ngành quản lý đối với ý định khởi nghiệp. Một cách tiếp cận PLS-SEM (38)
        • 2.3.2.6 Nghiên cứu của Nor Hafiza Othman và cộng sự (2022) về Giáo dục về tinh thần doanh nhân có ảnh hưởng đến hành vi trước khi khởi nghiệp ở Malaysia không? Phương pháp tiếp cận phân tích nhiều nhóm (39)
    • 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp (40)
    • 2.5 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu (45)
      • 2.5.1 Giả thuyết nghiên cứu (45)
        • 2.5.1.1 Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp (45)
        • 2.5.1.2 Nhận thức kiểm soát hành vi (45)
        • 2.5.1.3 Chuẩn mực chủ quan (46)
        • 2.5.1.4 Niềm tin vào năng lực bản thân (46)
        • 2.5.1.5 Giáo dục khởi nghiệp (47)
      • 2.5.2 Mô hình nghiên cứu (48)
  • CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU (49)
    • 3.1 Quy trình nghiên cứu (49)
      • 3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ bằng phương pháp định tính và định lượng (49)
        • 3.1.1.1 Nghiên cứu sơ bộ định tính (49)
        • 3.1.1.2 Nghiên cứu sơ bộ định lượng (49)
      • 3.2.2 Nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng (49)
    • 3.2 Xây dựng thang đo (50)
    • 3.3 Phương pháp nghiên cứu (52)
      • 3.3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính (52)
      • 3.3.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng (53)
        • 3.3.2.1 Nghiên cứu định lượng sơ bộ (53)
        • 3.3.2.2 Nghiên cứu định lượng chính thức (53)
    • 3.4 Mô tả dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu (53)
      • 3.4.1 Công cụ thu thập dữ liệu (53)
      • 3.4.2 Xác định kích thước mẫu và phương pháp chọn mẫu (53)
      • 3.4.3 Quy trình thu thập dữ liệu (54)
      • 3.4.4 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp (54)
    • 3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu (55)
      • 3.5.1 Mẫu và cơ cấu mẫu điều tra (55)
      • 3.5.2 Kiểm định Cronbach’s Alpha (55)
      • 3.5.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) (55)
      • 3.5.4 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng CFA (56)
      • 3.5.5 Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) (57)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (59)
    • 4.1 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ (59)
    • 4.2 Kết quả khảo sát định lượng chính thức (59)
      • 4.2.1 Mô tả mẫu và cơ cấu mẫu nghiên cứu chính thức (59)
      • 4.2.2 Đánh giá đo lường mô hình (Measurement Model Assessment) (60)
      • 4.2.3 Đánh giá mô hình cấu trúc (Structural Model Assessment) (61)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP (69)
    • 5.1 Kết luận (69)
    • 5.2 Đề xuất các giải pháp (70)
      • 5.2.1 Truyền thông khởi nghiệp (70)
      • 5.2.2. Đào tạo kiến thức khởi nghiệp (72)
      • 5.2.3. Hỗ trợ nguồn lực và nguồn vốn khởi nghiệp (76)
      • 5.2.4. Đề xuất các hoạt động trọng tâm thúc đẩy ý định khởi nghiệp (81)
    • 5.3 Các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo (85)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (86)

Nội dung

24 2.3.1.4 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hiệp và cộng sự 2019 về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế các trường đại học tại Thàn

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Khái niệm về khởi nghiệp

Khởi nghiệp hay quyết định trở thành doanh nhân đã được nghiên cứu dưới các thuật ngữ như “khởi sự doanh nghiệp”, “trở thành doanh nhân”, “ra quyết định kinh doanh” hay "làm chủ", thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Trong thế kỷ 20, các nhà kinh tế học như Joseph Schumpeter và nhiều nhà nghiên cứu khác đã phác thảo khái niệm tinh thần khởi nghiệp, gồm các yếu tố về sự đổi mới và sáng tạo trong kinh doanh Đến thế kỷ 21, khái niệm khởi nghiệp được định nghĩa là việc nhận biết các cơ hội (nhu cầu, mong muốn, vấn đề, thách thức) và sử dụng hoặc tạo ra nguồn lực để thực hiện các ý tưởng sáng tạo, nhằm phát triển các dự án mới với kế hoạch rõ ràng.

Khởi nghiệp được định nghĩa rõ ràng là quá trình thành lập công ty mới hoặc khôi phục các tổ chức đã trưởng thành nhằm tận dụng các cơ hội đã xác định và thích ứng với rủi ro có thể xảy ra (Onuoha, 2007) Đây là hoạt động quản lý tìm kiếm nguồn cơ hội đáng tin cậy, bao gồm ba giai đoạn chính: hình thành ý tưởng, thành lập doanh nghiệp, và duy trì cũng như phát triển hoạt động kinh doanh (Indarti, 2004).

2.1.2 Khái niệm về ý định khởi nghiệp (Entrepreneurial Intention – EI) Ý định khởi nghiệp được sử dụng để dự đoán hành vi của doanh nhân (Ajzen, 1991) Ajzen (1991) cũng mô tả rằng quyết định bắt đầu một dự án kinh doanh mới đã được lên kế hoạch từ lâu, và đó được xem là nguồn gốc của ý định khởi nghiệp hình thành Rosli và Sidek (2013) nói rằng ý định khởi nghiệp đóng một vai trò thiết yếu trong sự xuất hiện của các hoạt động kinh doanh và khả năng trở thành một doanh nhân Ý định khởi nghiệp là giai đoạn đầu tiên trong quá trình phát triển kinh doanh đòi hỏi phải chấp nhận rủi ro và sáng tạo (Lee và Wong, 2004) Trong khi đó, Kolvereid (1996) cho rằng ý định khởi nghiệp nhằm tạo ra một doanh nghiệp, là điều kiện cần thiết để thực hiện các hành vi kinh doanh (Alain và Gailly, 2006; Yang, 2013) Ý định khởi nghiệp là ý thức lựa chọn nghề nghiệp của một người xuất phát từ các yếu tố cá nhân, bối cảnh xã hội và thái độ nghề nghiệp Các doanh nhân thường được mô tả là độc lập, tự chủ, sáng tạo, đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới cho tổ chức của họ (Tkachev & Kolvereid, 1999; Shi et al., 2020)

2.1.3 Khái niệm về giáo dục khởi nghiệp (Entrepreneurial Education –EE)

Giáo dục khởi nghiệp là một khái niệm mới khác biệt hoàn toàn so với giáo dục truyền thống, tập trung vào phát triển tư duy sáng tạo và kỹ năng thực hành cho sinh viên Hiện nay, các trường đại học, cao đẳng đang bắt đầu tích cực triển khai các chương trình đào tạo về khởi nghiệp nhằm thúc đẩy tinh thần doanh nhân trẻ Tuy nhiên, “giảng dạy” trong bối cảnh này không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức mà còn là quá trình rèn luyện kỹ năng thực tiễn và khơi nguồn cảm hứng sáng tạo cho sinh viên.

Giáo dục là quá trình đào tạo kỹ năng, kiến thức và thái độ của cá nhân nhằm đạt các tiêu chuẩn quốc tế Theo Alexandria Valerio, Brent Parton và Alicia Robb (2014), giáo dục khởi nghiệp nhằm cung cấp tư duy và kỹ năng kinh doanh để thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp Fayolle và cộng sự (2006) định nghĩa giáo dục khởi nghiệp là quá trình giáo dục về thái độ và kỹ năng kinh doanh Piperopoulos và Dimov (2015) phân loại giáo dục khởi nghiệp thành giáo dục tinh thần doanh nhân và tinh thần khởi nghiệp, trong khi Nabi và cộng sự (2017) nhấn mạnh mục tiêu nâng cao khả năng thành công và sự nghiệp của sinh viên Tầm quan trọng của giáo dục khởi nghiệp ngày càng được các học giả thế giới quan tâm, như Nowiński et al (2019) Gheorghiu và cộng sự (2021) nhấn mạnh vai trò của các trường đại học đổi mới trong việc kích thích ý tưởng kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững Wang et al (2022) xem trọng tinh thần sáng tạo trong giáo dục đại học như một động lực đổi mới sáng tạo của sinh viên Trung Quốc Trong bối cảnh Việt Nam, Thủy và Trúc (2020) nhận thấy giáo dục khởi nghiệp ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, nhưng Maheshwari và Kha (2021) cho rằng giáo dục này không tác động trực tiếp đến ý định kinh doanh mà hỗ trợ qua các yếu tố như hành vi hoạch định và tự tin, từ đó giúp các trường đại học xây dựng các khóa học khởi nghiệp để phát triển kỹ năng thực hiện dự án kinh doanh mới.

Các mô hình nghiên cứu về tác động của giáo dục khởi nghiệp lên ý định khởi nghiệp

2.2.1 Mô hình Nhân khẩu học (Demographic Model)

Các yếu tố cá nhân, như đặc điểm nhân khẩu học, giá trị bản thân và tâm lý kinh doanh, đóng vai trò quan trọng trong quyết định trở thành doanh nhân (Ashley-Cotleur et al., 2013) Nghiên cứu của Ayodele (2013) chỉ ra mối liên hệ giữa giới tính, tình trạng kinh tế xã hội, tuổi tác, kiểm soát hành vi và ý định khởi nghiệp của thanh thiếu niên Nigeria Koe et al (2012) mở rộng lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thế hệ thiên niên kỷ, bao gồm kiến thức, kinh nghiệm và các chuẩn mực xã hội Nhiều nghiên cứu khác nhấn mạnh rằng đặc điểm nhân khẩu học và nền tảng gia đình ảnh hưởng đến khả năng trở thành doanh nhân của cá nhân (Remeikiene et al., 2013; Atef & Al-Balushi, 2015) Một số yếu tố như trình độ học vấn, tuổi tác và tình trạng hôn nhân cũng có mối quan hệ đáng kể với xu hướng khởi nghiệp (Cumberland et al., 2015; Sauer & Wilson, 2016), trong đó trình độ học vấn đặc biệt ảnh hưởng đến sự tham gia vào hoạt động kinh doanh của mọi người (Crawford et al., 2015; Björklund & Krueger, 2016).

Việc nâng cao trình độ học vấn giúp mọi người có khả năng tham gia hoạt động kinh doanh nhiều hơn, mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực này Theo Lindquist (2015), giáo dục không chỉ giúp hiểu rõ các cơ hội kinh doanh mà còn cung cấp thông tin và kỹ năng cần thiết để tăng lợi nhuận kỳ vọng cho doanh nghiệp Vì vậy, giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xu hướng tham gia hoạt động kinh doanh của người dân, góp phần phát triển kinh tế bền vững.

Nhiều người mong muốn trở thành ông chủ của chính mình để thoát khỏi sự áp đặt và kiểm soát từ người khác Họ ưu tiên tự kinh doanh để có thể tự quyết định công việc và xây dựng đột phá trong sự nghiệp Việc làm chủ bản thân mang lại sự tự do và linh hoạt trong cuộc sống hàng ngày, đồng thời giúp họ đạt được mục tiêu cá nhân và tài chính Vì vậy, xu hướng khởi nghiệp ngày càng phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều người trẻ đam mê đổi mới và sáng tạo.

Nhiều người tham gia vào công việc kinh doanh khởi nghiệp với mong muốn trở thành ông chủ trong vương quốc riêng của mình và đạt được sự tự do cá nhân, tránh làm việc dưới sự giám sát của người khác (Bergmann et al., 2016) Họ xem đó là một trong những con đường sự nghiệp tốt nhất để thực hiện mục tiêu cá nhân, nhận được phần thưởng tài chính và thể hiện ý tưởng sáng tạo của riêng mình (Palalic và cộng sự, 2017) Ngoài ra, yếu tố di truyền cũng đóng vai trò quan trọng, khi công việc kinh doanh của gia đình hoặc khả năng di truyền được xem là ảnh hưởng lớn đến quyết định trở thành doanh nhân, thậm chí vượt qua các yếu tố như tuổi tác, thu nhập, giáo dục, tình trạng hôn nhân, chủng tộc và tình trạng nhập cư (Lindquist et al., 2015) Nghiên cứu của Shane và cộng sự (2015) chỉ ra rằng, phụ nữ có nhiều khả năng trở thành doanh nhân hơn nam giới nhờ khả năng di truyền cao hơn.

Các phương pháp tiếp cận phi tâm lý trong việc giải thích ý định và hành vi kinh doanh không mang lại kết quả khả quan, như đã được trình bày trong các nghiên cứu của DePillis (2007) và Krueger cùng cộng sự (2000) Trong khi đó, theo Ajzen, các nhà nghiên cứu tin rằng hành vi thực tế chịu ảnh hưởng lớn bởi ý định tham gia vào hành vi kinh doanh, vốn phụ thuộc nhiều vào thái độ của cá nhân đối với hành vi đó.

Phương pháp tiếp cận thái độ dự đoán ý định kinh doanh chính xác hơn so với các phương pháp dựa trên nhân khẩu học và đặc điểm tính cách Các nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận tâm lý áp dụng cho ba mô hình chính: Lý thuyết Hành động hợp lý (TRA), Mô hình Sự kiện Khởi nghiệp của Shapero (XEM), và Lý thuyết Hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen, nhằm hiểu rõ hơn về động lực thúc đẩy khởi nghiệp.

2.2.2 Mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)

Lý thuyết hành vi hợp lý do Ajzen và Fishbein (1975) xây dựng dựa trên quan điểm rằng ý định thực hiện một hành động là yếu tố dự đoán chính xác nhất về khả năng hành động của người đó Ý định này được hình thành dựa trên hai yếu tố chính: thái độ đối với hành vi khởi nghiệp, phản ánh đặc điểm cá nhân và nhận thức về áp lực xã hội xung quanh, còn gọi là tiêu chuẩn chủ quan Thái độ cá nhân thể hiện sự đánh giá tích cực hoặc tiêu cực về hành vi, trong khi tiêu chuẩn chủ quan phản ánh nhận thức về sự mong đợi của xã hội đối với hành vi đó Thuyết này cho thấy rằng cả yếu tố cá nhân lẫn ảnh hưởng xã hội đều đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán ý định hành vi, như minh họa trong sơ đồ mô hình đã trình bày.

Hình 1: Mô hình thuyết hành động hợp lý (Ajzen & Fishbein, 1975)

2.2.3 Mô hình Sự kiện khởi nghiệp của Shapero (Shapero’s Entrepreneurial Event – SEE)

Mô hình Sự kiện khởi nghiệp của Shapero và Sokol (1982) xem quá trình thành lập doanh nghiệp là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố ngữ cảnh, ảnh hưởng đến nhận thức của cá nhân Trong đó, nhận thức đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán ý định hành động của các doanh nhân tiềm năng Ba thành phần chính của Sự kiện khởi nghiệp bao gồm: khả năng mong muốn khởi nghiệp, đề cập đến mức độ cá nhân bị thu hút với hành vi trở thành doanh nhân; xu hướng hành động, thể hiện sự sẵn sàng để hành động; và tính khả thi được nhận thức, phản ánh mức độ cá nhân tin tưởng vào khả năng thực hiện các hành động cần thiết để khởi nghiệp.

Niềm tin về kết quả hành động Đánh giá kết quả hành động

Niềm tin vào tiêu chuẩn của người xung quanh Động lực để tuân thủ những người xung quanh

Thái độ Ý định hành vi

Hình 2: Mô hình Sự kiện khởi nghiệp (Shapero và Sokol, 1982)

2.2.4 Lí thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior – TPB, Ajzen, 1991)

Lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) là một trong những lý thuyết phổ biến được sử dụng để dự đoán ý định khởi nghiệp (Liu & Chen, 2009) TPB dự đoán ý định của cá nhân tham gia vào hành vi tại một thời điểm và địa điểm cụ thể, dựa trên các yếu tố quyết định như thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi Nghiên cứu cho thấy rằng hành vi thực tế của cá nhân được thúc đẩy mạnh mẽ bởi ý định hành vi, làm nổi bật tầm quan trọng của các yếu tố này trong quá trình dự đoán hành vi khởi nghiệp.

Chuẩn mực chủ quan Ý định hành vi

Nhận thức kiểm soát hành vi

Hình 3: Mô hình Lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) (Ajzen, 1991)

Một số nghiên cứu tiêu biểu

2.3.1.1 Mô hình nghiên cứu của Phan Anh Tú và cộng sự (2015) về nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp: trường hợp sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh trường Đại học Cần Thơ

Nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đã tốt nghiệp ngành kinh tế tại thành phố Cần Thơ Với mẫu khảo sát gồm 180 sinh viên chưa từng khởi nghiệp tại địa phương, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá và hồi quy nhị phân Logistic để xác định các yếu tố quan trọng Các kết quả này giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở ý định khởi nghiệp của sinh viên, góp phần thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp trong khu vực.

Khả năng mong muốn khởi nghiệp

Xu hướng hành động và tính khả thi được nhận thức có ảnh hưởng lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên kinh tế đã tốt nghiệp tại Cần Thơ Các yếu tố tác động gồm động lực trở thành doanh nhân, nền tảng gia đình, chính sách của chính phủ và địa phương, tố chất doanh nhân, khả năng tài chính và đặc điểm cá nhân Nghiên cứu này kỳ vọng đóng góp đáng kể vào việc cải tiến chương trình giáo dục khởi nghiệp cũng như chính sách hỗ trợ của nhà nước và địa phương, thúc đẩy sự phát triển doanh nhân trẻ trong khu vực.

Hình 4 trình bày mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên Khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Cần Thơ Nghiên cứu nhằm phân tích những yếu tố chính như động lực cá nhân, nhận thức về cơ hội kinh doanh và hỗ trợ từ môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên Mô hình này giúp làm rõ các mối quan hệ giữa các yếu tố tạo nên ý định khởi nghiệp, hỗ trợ các nhà quản lý và giảng viên trong việc phát triển các giải pháp thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả các chương trình đào tạo khởi nghiệp tại đại học, đồng thời đào sâu hiểu biết về động lực thúc đẩy sinh viên tham gia hoạt động doanh nghiệp từ sớm.

Nguồn: Phan Anh Tú và cộng sự (2015)

2.3.1.2 Mô hình nghiên cứu của Đỗ Thị Hoa Liên (2016) về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên quản trị kinh doanh tại trường Đại học Lao động – Xã hội (cơ sở thành phố Hồ Chí Minh)

Nhóm nghiên cứu của Đỗ Thị Hoa Liên đã xây dựng mô hình nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên quản trị kinh doanh tại Đại học Lao động – Xã hội, cơ sở thành phố Hồ Chí Minh, dựa trên dữ liệu thu thập từ 315 sinh viên Kết quả nghiên cứu cho thấy có năm nhân tố chính tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, bao gồm: giáo dục và đào tạo tại trường đại học, kinh nghiệm và trải nghiệm thực tế, ảnh hưởng từ gia đình và bạn bè Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoặc cản trở ý định khởi nghiệp của sinh viên quản trị kinh doanh.

(4) Tính cách cá nhân, (5) Nguồn vốn Mô hình khởi nghiệp được thể hiện như sau:

Chính sách của chính phủ và địa phương

Sự ham muốn kinh doanh

Khuynh hướng chấp nhận rủi ro

Giáo dục Ý định khởi nghiệp của sinh viên đã tốt nghiệp ngành kinh tế trên địa bàn

Hình 5 trình bày mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên quản trị kinh doanh tại trường Đại học Lao động – Xã hội (cơ sở thành phố Hồ Chí Minh) Mô hình này giúp làm rõ các yếu tố chính tác động đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên, từ đó hỗ trợ xây dựng các chiến lược thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong giới trẻ Các yếu tố như nhận thức về khả năng, hỗ trợ từ môi trường học tập và sự chuẩn bị về kiến thức, kỹ năng đều đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp Việc phân tích các yếu tố này giúp nhà trường và các cơ quan liên quan đề xuất các giải pháp phù hợp để thúc đẩy phong trào khởi nghiệp trong sinh viên quản trị kinh doanh.

Chí Minh) (Đỗ Thị Hoa Liên, 2016)

2.3.1.3 Mô hình nghiên cứu của Bùi Thị Thu Loan và cộng sự (2018) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên: nghiên cứu trường hợp sinh viên trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Loan và cộng sự (2018) với mẫu gồm 321 sinh viên tại Hà Nội nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, trong đó các yếu tố như thái độ đối với hành vi, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, E ngại rủi ro, Cơ hội trải nghiệm, Môi trường giáo dục, Ngành học và giới tính đều có tác động đáng kể Kết quả cho thấy, yếu tố e ngại rủi ro ảnh hưởng tiêu cực đến ý định khởi nghiệp và có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất, nhấn mạnh sự cần thiết của chính sách hỗ trợ giảm thiểu rủi ro và nâng cao tinh thần doanh nhân trong giới trẻ.

Hình 6 trình bày mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên dựa trên nghiên cứu tại thành phố Hà Nội Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Loan và cộng sự (2018) đã phân tích các yếu tố như động lực cá nhân, môi trường hỗ trợ, và kiến thức về khởi nghiệp ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên Mô hình này giúp xác định các yếu tố chính thúc đẩy sự khởi nghiệp trong cộng đồng sinh viên tại Hà Nội Qua đó, các nhà quản lý giáo dục và chính sách có thể xây dựng các chương trình hỗ trợ phù hợp để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên Các kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức về các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong bối cảnh hiện nay.

Giáo dục và đào tạo tại trường Đại học Kinh nghiệm và trải nghiệm

Gia đình và bạn bè Tính cách cá nhân Ý định khởi nghiệp

E ngại rủi ro Nhận thức kiểm soát hành vi

Thái độ đối với hành vi

Cơ hội trải nghiệm Ý định khởi nghiệp Ngành học, giới tính

2.3.1.4 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hiệp và cộng sự (2019) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM)

Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế tại các trường đại học ở TP.HCM, từ đó đề xuất các chính sách thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp Mô hình nghiên cứu dựa trên công trình của Ambad và Damit (2016), sử dụng dữ liệu từ 430 sinh viên năm cuối của 10 trường đại học có tỷ lệ khởi nghiệp cao sau tốt nghiệp Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng bao gồm Giáo dục khởi nghiệp, Chuẩn chủ quan, Môi trường khởi nghiệp, Đặc điểm tính cách và Nhận thức tính khả thi, được sắp xếp theo mức độ quan trọng giảm dần.

Hình 7 trình bày mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại các trường đại học ở TP.HCM Mô hình này giúp hiểu rõ các yếu tố như môi trường học tập, khả năng tài chính, sự hỗ trợ từ gia đình và ý chí cá nhân đều có tác động đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ từ nhà trường cũng như cộng đồng trong việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên ngành kinh tế Đây là cơ sở giúp các cơ sở giáo dục và các chính sách liên quan xây dựng chiến lược khuyến khích sinh viên khởi nghiệp thành công hơn.

(Nguyễn Xuân Hiệp và cộng sự, 2019)

2.3.1.5 Mô hình nghiên cứu của Dương Công Doanh (2019) về vai trò kiểm duyệt của năng lực bản thân đối với quá trình nhận thức của tinh thần kinh doanh: Một nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam

Nghiên cứu của Dương Công Doanh (2019) khám phá vai trò kiểm duyệt của năng lực bản thân đối với quá trình nhận thức của tinh thần kinh doanh trong học sinh Việt Nam Bộ nghiên cứu cho thấy năng lực bản thân đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và ảnh hưởng đến nhận thức về tinh thần kinh doanh, từ đó thúc đẩy khả năng khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo của học sinh Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển năng lực cá nhân trong việc nâng cao nhận thức và thúc đẩy tinh thần kinh doanh trẻ tuổi tại Việt Nam.

Giáo dục khởi nghiệp ở trường đại học

Môi trường khởi nghiệp Nhận thức kiểm soát hành vi

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp

Tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu được trình bày cụ thể ở bảng 2

Bảng 2.1 Tổng kết các nghiên cứu về ý định ý định khởi nghiệp của sinh viên Tác giả và năm Thang đo (yếu có tác động đến ý định khởi nghiệp)

Tên nghiên cứu Nơi nghiên cứu

Phan Anh Tú và cộng sự (2015)

Sự ham muốn kinh doanh mạnh mẽ, khả năng tài chính vững vàng, khả năng tự chủ và tính sáng tạo là những yếu tố quyết định thành công trong lĩnh vực này Ngoài ra, tính bền bỉ, khuynh hướng chấp nhận rủi ro và tự tin giúp nhà doanh nhân vượt qua thử thách và duy trì đà phát triển dài hạn Khả năng chịu đựng áp lực và nhu cầu thành đạt cao càng thúc đẩy họ không ngừng nỗ lực, mở rộng quy mô và thị trường Chính sách hỗ trợ của chính phủ và địa phương cùng với sự đầu tư vào giáo dục và nền tảng gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư duy kinh doanh vững chắc và bền vững.

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp: trường hợp sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh trường Đại học Cần Thơ

Việt Nam Đỗ Thị Hoa Liên

Giáo dục và đào tạo tại trường Đại học, Kinh nghiệm và trải nghiệm, Gia đình và bạn bè, Tính cách cá nhân, Nguồn vốn

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên quản trị kinh doanh tại Trường Đại học Lao động – Xã hội (cơ sở TP Hồ Chí Minh) bao gồm các yếu tố nội tại như sự tự tin, kiến thức và kỹ năng kinh doanh, cũng như các yếu tố ngoại tại như môi trường hỗ trợ, nguồn vốn và các chính sách khuyến khích khởi nghiệp Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng các chương trình đào tạo, tạo môi trường thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và cung cấp nguồn lực để sinh viên có thể thực hiện ý định khởi nghiệp thành công Đồng thời, các yếu tố xã hội và cá nhân đóng vai trò quyết định trong việc hình thành ý định khởi nghiệp của sinh viên, góp phần thúc đẩy phong trào khởi nghiệp trong cộng đồng sinh viên.

Chương trình giảng dạy Ý định khởi nghiệp

Bùi Thị Thu Loan và cộng sự (2018)

Thái độ đối với hành vi của học sinh chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi và mức độ e ngại rủi ro Các yếu tố này quyết định cách học sinh tiếp cận và phản ứng với các cơ hội trải nghiệm trong lĩnh vực giáo dục Môi trường giáo dục, ngành học và giới tính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ và hành vi của học sinh, từ đó ảnh hưởng đến quá trình phát triển toàn diện của họ.

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên: nghiên cứu trường hợp sinh viên trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Chuẩn chủ quan; Môi trường khởi nghiệp; Xu hướng chấp nhận rủi ro và Nhận thức kiểm soát hành vi

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên ngành kinh tế tại các trường đại học ở TP.HCM gồm có nhận thức về cơ hội kinh doanh, khả năng tài chính, kỹ năng quản lý và khả năng đổi mới sáng tạo Ngoài ra, môi trường hỗ trợ từ nhà trường và cộng đồng doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên Yếu tố cá nhân như động lực cá nhân, thái độ tích cực và mong muốn thay đổi bản thân còn góp phần nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế tại TP.HCM Việc nắm bắt các yếu tố này giúp các cơ sở giáo dục và chính quyền địa phương xây dựng các chính sách thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp mới trong cộng đồng sinh viên.

Thái độ đối với hành vi, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Năng lực tự tin bản thân

Vai trò kiểm duyệt của năng lực bản thân đối với quá trình nhận thức của tinh thần kinh doanh: Một nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam

Trong bối cảnh giáo dục khởi nghiệp ở các trường đại học ngày càng phát triển, môi trường khởi nghiệp đã trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy tinh thần sáng tạo và đổi mới của sinh viên Nhận thức kiểm soát hành vi và xu hướng chấp nhận rủi ro đóng vai trò quyết định trong việc hình thành tư duy doanh nhân, giúp sinh viên tự tin hơn khi đưa ra các quyết định kinh doanh Đồng thời, các đặc điểm nhân khẩu học như độ tuổi, giới tính cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và phát triển ý tưởng khởi nghiệp Một chuẩn chủ quan tích cực sẽ nâng cao khả năng thành công của các dự án khởi nghiệp, góp phần xây dựng nền kinh tế đổi mới sáng tạo.

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học

Trang (2020) đặc điểm tính cách, giáo dục khởi nghiệp, kinh nghiệm, nhận thức kiểm soát hành vi, quy chuẩn chủ quan

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường ĐH Tiền Giang

Nguyễn Văn Định và Cao Thị Sen

(2021) Đặc điểm tính cách; Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp; Nguồn vốn;

Nhận thức kiểm soát hành vi; Chuẩn chủ quan; Môi trường giáo dục

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nam Cần Thơ

Cảm nhận môi trường giáo dục đại học; Điều kiện thị trường và tài chính; Xu hướng hành động

“Tạo lập” một doanh nhân:

Thử nghiệm một mô hình về ý định khởi nghiệp của các sinh viên kỹ thuật tại MIT

Theo Gerba (2012), các yếu tố như giới tính, hoạt động kinh doanh gia đình, và các hoạt động giáo dục đóng vai trò quan trọng trong quá trình khởi nghiệp của cá nhân Sự thu hút của bản thân, năng lực cá nhân và nhu cầu thành tích thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, đồng thời việc kiểm soát hành vi và sự sẵn sàng khởi nghiệp là những yếu tố quyết định thành công trong quá trình phát triển doanh nghiệp mới.

Tác động của giáo dục khởi nghiệp đối với ý định khởi nghiệp của sinh viên kinh tế và kỹ thuật ở Ethiopia

Giới tính; Giáo dục khởi nghiệp; Thái độ; Chuẩn chủ quan; Nhận thức kiểm soát hành vi

Vai trò điều tiết của giáo dục khởi nghiệp về tiền thân của ý định kinh doanh

Shah et al., 2020 Thái độ cá nhân; Sự tự tin của bản thân; Tiêu chuẩn chủ quan; Giáo dục khởi nghiệp

Vai trò điều tiết của giáo dục khởi nghiệp trong việc hình thành các ý định kinh doanh

Thái độ đối với hành vi, Tiêu chuẩn chủ quan, Năng lực hành vi khởi

Giáo dục khởi nghiệp so với sinh viên ngành quản lý đối với ý định khởi

Morocco nghiệp, Giáo dục khởi nghiệp nghiệp Một cách tiếp cận PLS-SEM

Giáo dục khởi nghiệp, Chương trình giảng dạy, Ý định khởi nghiệp

Giáo dục về tinh thần doanh nhân có ảnh hưởng đến hành vi trước khi khởi nghiệp ở Malaysia không?

Phương pháp tiếp cận phân tích nhiều nhóm

Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ý định khởi nghiệp và hành vi sáng tạo trong kinh doanh Tiêu chuẩn chủ quan của cá nhân ảnh hưởng đến cách họ nhìn nhận và đánh giá khả năng thành công của hoạt động khởi nghiệp Kiểm soát hành vi nhận thức giúp người doanh nhân tự tin hơn trong quá trình ra quyết định và thúc đẩy hành vi khởi nghiệp hiệu quả Các yếu tố này đều được xem xét dựa trên lý thuyết về hành vi có kế hoạch, với bằng chứng mở rộng từ các trường đại học ở Ba Lan và các doanh nhân thành công, làm rõ rõ mối liên hệ giữa thái độ, tiêu chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi nhận thức và ý định khởi nghiệp trong môi trường doanh nghiệp.

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Bảng 2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật tại IUH

Stt Tên yếu tố Tác giả và nơi nghiên cứu

1 Đặc điểm nhân khẩu học

2 Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp

- Terán-Pérez et al (2021), Mexico

- Lingappa et al (2020), Ấn Độ

- Heydari et al (2020), Ba Lan

- Entrialgo et al (2016), Tây Ban Nha

- Nguyễn Văn Định và cộng sự (2021), Việt Nam

- Bùi Thị Hồng Việt và cộng sự (2020),

- Bùi Thị Thu Loan và cộng sự (2018), Việt Nam

3 Nhận thức hành vi kiểm soát - Terán-Pérez et al (2021), Mexico

- Lingappa et al (2020), Ấn Độ

- Heydari et al (2020), Ba Lan

- Entrialgo et al (2016), Tây Ban Nha

- Nguyễn Văn Định và cộng sự (2021), Việt Nam

- Bùi Thị Hồng Việt và cộng sự (2020), Việt Nam

- Nguyễn Đông Phong và cộng sự (2020), Việt Nam

- Châu Thị Ngọc Thùy và Huỳnh Lê Thiên Trúc (2020), Việt Nam

4 Chuẩn mực chủ quan - Terán-Pérez et al (2021), Mexico

- Lingappa et al (2020), Ấn Độ

- Heydari et al (2020), Ba Lan

- Entrialgo et al (2016), Tây Ban Nha

- Nguyễn Văn Định và cộng sự (2021), Việt Nam

- Bùi Thị Hồng Việt và cộng sự (2020), Việt Nam

- Nguyễn Đông Phong và cộng sự (2020), Việt Nam

- Châu Thị Ngọc Thùy và Huỳnh Lê Thiên Trúc (2020), Việt Nam

5 Giáo dục khởi nghiệp - Shah et al (2020), Oman

- Entrialgo et al (2016), Tây Ban Nha

- Nguyễn Văn Định và cộng sự (2021), Việt Nam

- Bùi Thị Hồng Việt và cộng sự (2020), Việt Nam

Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

2.5.1.1 Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa thái độ và ý định khởi nghiệp (Entrialgo & Iglesias, 2016; Heydari et al., 2020; Lingappa et al., 2020; Shah et al., 2020; Terán-Pérez et al., 2021) Thái độ đối với hành vi đề cập đến cách một người đánh giá tích cực hoặc tiêu cực về hành vi đó (Ajzen, 1991), và trong lĩnh vực khởi nghiệp, nó được hiểu là mức độ mà một người mong muốn nhận thức để thực hiện công việc của mình (Souitaris et al., 2007) Thái độ khởi nghiệp ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp, đặc biệt là ở sinh viên (Nguyên, 2021), và phong cách chủ động cùng thái độ tích cực còn tác động đáng kể đến tinh thần kinh doanh (Phong et al., 2020) Theo Dinh và Sen (2022), thái độ của sinh viên đối với tinh thần kinh doanh có mối quan hệ tích cực rõ rệt với ý định khởi nghiệp, qua đó, các nhà nghiên cứu đề xuất giả thuyết về ảnh hưởng của thái độ đối với ý định khởi nghiệp trong giới trẻ.

Giả thuyết H1: Thái độ đối với tinh thần khởi nghiệp tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật

2.5.1.2 Nhận thức kiểm soát hành vi

Nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến mức độ dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện một hành vi, phản ánh mức độ kiểm soát của cá nhân đối với quá trình hành động (Ajzen, 1991; 2002) Đặc biệt, nó nhấn mạnh khả năng kiểm soát của sinh viên trong việc hành động dựa trên nguồn lực, kiến thức và cơ hội có sẵn để đạt được các mục tiêu kinh doanh của họ Nhiều nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa nhận thức kiểm soát hành vi và ý định khởi nghiệp, góp phần thúc đẩy tinh thần doanh nhân trong cộng đồng sinh viên (Autio et al., 2001; Kolvereid, 1996; Krueger et al., 2000; Nguyễn, 2015; Souitaris et al., 2007).

Trong môi trường giáo dục đại học Việt Nam, kiểm soát hành vi nhận thức có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, theo các nghiên cứu của Dinh & Sen (2022) và Thuy & Truc (2020) Tuy nhiên, Phong et al (2020) lại cho rằng nhận thức kiểm soát hành vi không ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của sinh viên tại Việt Nam Dựa trên các quan điểm trái chiều từ các nghiên cứu trước, chúng tôi đề xuất giả thuyết thứ hai nhằm làm rõ hơn mối quan hệ này.

Giả thuyết H2: Nhận thức kiểm soát hành vi tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật

Chuẩn mực chủ quan được xác nhận có mối liên hệ tích cực với ý định khởi nghiệp của sinh viên theo nhiều nghiên cứu (Dinh & Sen, 2022; Entrialgo & Iglesias, 2016; Heydari et al., 2020; Nguyen, 2017; Shah et al., 2020) Phong et al (2020) nhấn mạnh rằng thái độ và chuẩn mực xã hội liên quan đến tinh thần kinh doanh và tính cách chủ động ảnh hưởng đáng kể đến ý định khởi nghiệp Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam, Thuy và Truc (2020) xác nhận rằng chuẩn mực chủ quan tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Tuy nhiên, Dinh và Sen (2022) lại phát hiện rằng chuẩn mực chủ quan không có tác động đáng kể đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, cho thấy sự khác biệt trong các quan điểm nghiên cứu.

Giả thuyết H3: Chuẩn mực chủ quan tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kỹ thuật

2.5.1.4 Niềm tin vào năng lực bản thân

Hiệu quả bản thân liên quan chặt chẽ đến nhận thức của cá nhân về khả năng thực hiện hoạt động nhất định, với khái niệm năng lực được Huitt (2011) giải thích là bao gồm kiến thức “biết làm gì” và “biết cách làm như thế nào” Wąsowska (2016) nhấn mạnh rằng năng lực tự tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình thành ý định khởi nghiệp của sinh viên ở Ba Lan, trong khi Nowiński và cộng sự (2019) cho rằng sự tự tin chỉ phát huy tác dụng khi kết hợp với các yếu tố khác Peschl et al (2021) chỉ rõ rằng khả năng kinh doanh là yếu tố cần thiết để thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp, và các nghiên cứu của Gill và cộng sự (2021), Liao và cộng sự (2022) xác nhận rằng năng lực doanh nhân là yếu tố quyết định chính đến ý định khởi nghiệp Bên cạnh đó, Gonzalez-Moreno và cộng sự (2019) nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục khởi nghiệp trong việc nâng cao khả năng thực hiện hoạt động kinh doanh của sinh viên, giúp sinh viên tự tin hơn trong việc chọn nghề nghiệp sau khi tiếp xúc sớm với giáo dục khởi nghiệp Trong bối cảnh Việt Nam, Hoang et al (2020) phát hiện rằng giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp, với yếu tố định hướng học tập và hiệu quả bản thân đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ này.

Giả thuyết H4a: Thái độ đối với tinh thần kinh doanh làm trung gian cho mối quan hệ giữa Niềm tin vào năng lực bản thân và Ý định khởi nghiệp

Giả thuyết H4b: Kiểm soát hành vi nhận thức làm trung gian mối quan hệ giữa Niềm tin vào năng lực bản thân và Ý định khởi nghiệp

Giả thuyết H4c: Chuẩn mực chủ quan làm trung gian cho mối quan hệ giữa Niềm tin vào năng lực bản thân và Ý định khởi nghiệp

Nghiên cứu của Kolvereid (1996) xác nhận rằng sinh viên học về khởi nghiệp có xu hướng quan tâm đến việc trở thành doanh nhân và thực hiện các hành động khởi nghiệp để bắt đầu doanh nghiệp mới, từ đó cho thấy giáo dục khởi nghiệp nên được cung cấp cho sinh viên kỹ thuật để phát triển khả năng doanh nhân Bae et al (2014) nhấn mạnh rằng giáo dục khởi nghiệp có tác động tích cực đến thái độ và kỹ năng của doanh nhân, giúp hình thành ý định khởi nghiệp Hiện nay, các nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục khởi nghiệp tập trung nhiều hơn vào ý định khởi nghiệp thay vì hành vi kinh doanh thực tế, đồng thời chuyển hướng từ "thiết lập tinh thần kinh doanh" sang "thái độ khởi nghiệp" (Mwasalwiba, 2010) Hattab (2014) chỉ ra rằng giáo dục khởi nghiệp có thể nâng cao ý định khởi nghiệp thông qua việc cải thiện thái độ và nhận thức cá nhân.

Nghiên cứu từ năm 2020 cho thấy giáo dục khởi nghiệp có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Tuy nhiên, Maheshwari và Kha (2021) tại Việt Nam kết luận rằng giáo dục khởi nghiệp không tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp, nhưng lại ảnh hưởng tích cực gián tiếp qua các thành phần như nhận thức hành vi, năng lực và tự tin của sinh viên Bên cạnh đó, Dieu et al (2022) nhấn mạnh rằng chất lượng dịch vụ giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực và mang ý nghĩa thống kê đối với ý định khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam.

Do đó, giả thuyết thứ năm này được chia thành ba giả thuyết nhỏ hơn, Giả thuyết H5a, Giả thuyết H5b và Giả thuyết H5c:

Giả thuyết H5a: Thái độ đối với tinh thần kinh doanh làm trung gian cho mối quan hệ giữa giáo dục khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp

Giả thuyết H5b: Kiểm soát hành vi nhận thức có tác động trung gian đến mối quan hệ giữa giáo dục khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp

Giả thuyết H5c: Chuẩn mực chủ quan làm trung gian mối quan hệ giữa giáo dục khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp

Trong chương 2, nhóm tác giả đã trình bày các lý thuyết nền tảng và mô hình nghiên cứu trước đây, từ đó đề xuất các giả thuyết H1 đến H5 nhằm kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp Giả thuyết H1 đến H3 tập trung vào việc kiểm định tác động của ba nhân tố trong Lý thuyết hành vi dự định (TPB) lên ý định khởi nghiệp, trong khi giả thuyết H4 và H5, mỗi giả thuyết lại được chia thành ba phần nhỏ để đánh giá vai trò của Giáo dục khởi nghiệp và Niềm tin vào năng lực bản thân trong việc hình thành ý định khởi nghiệp Dựa trên các giả thuyết này, nhóm tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp nhằm kiểm định các yếu tố tác động này.

Thái độ đối với khởi nghiệp

Giáo dục khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật

Nhận thức kiểm soát hành vi

Chuẩn chủ quan Niềm tin vào năng lực bản thân

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu

3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ bằng phương pháp định tính và định lượng

3.1.1.1 Nghiên cứu sơ bộ định tính

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu, tác giả tiến hành đánh giá và tổng hợp các kết quả từ các công trình nghiên cứu liên quan trước đó để xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp Đồng thời, các giả thuyết và các biến quan sát, thang đo của các khái niệm nghiên cứu được xác định rõ ràng nhằm đảm bảo tính nhất quán và chính xác trong quá trình phân tích.

Vào thứ hai, tác giả tiến hành phỏng vấn chuyên sâu với ba chuyên gia bao gồm giảng viên đại học chuyên ngành khởi nghiệp và người sáng lập doanh nghiệp, cùng 60 sinh viên ngành kỹ thuật của trường Các cuộc phỏng vấn nhằm điều chỉnh cách trình bày và diễn đạt các nội dung đo lường trong mô hình đề xuất, đảm bảo tính chính xác và phù hợp của nghiên cứu Kết quả phỏng vấn được ghi nhận để hỗ trợ cho nghiên cứu sơ bộ định lượng, góp phần nâng cao độ tin cậy và khả năng ứng dụng của mô hình trong thực tiễn.

3.1.1.2 Nghiên cứu sơ bộ định lượng

Sau khi khảo sát sơ bộ trên 60 mẫu sinh viên thuộc 6 khoa kỹ thuật, nghiên cứu tập trung đánh giá hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) Nghiên cứu sơ bộ định lượng giúp xây dựng thang đo chính xác và hoàn chỉnh, từ đó chuẩn bị cho bước nghiên cứu chính thức Thang đo đã được kiểm tra độ tin cậy và giá trị ý nghĩa, đảm bảo phù hợp cho phân tích dữ liệu lớn sau này.

3.2.2 Nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng

Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng thông qua bảng câu hỏi Quy mô mẫu dự kiến phân phối là 600 mẫu, nhằm đảm bảo độ chính xác và tính đại diện của dữ liệu Dự kiến sẽ thu về nH0 mẫu để phân tích và rút ra kết luận chính xác.

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập qua khảo sát bằng bảng câu hỏi trên nền tảng Google Form, sau khi nhận được sự chấp thuận tham gia của các đối tượng khảo sát qua các kênh mạng xã hội như Facebook và Zalo Quy trình nghiên cứu được thể hiện rõ trong sơ đồ 3.1, giúp đảm bảo tính hệ thống và chính xác của quá trình nghiên cứu.

Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu

Nguồn: Xây dựng quy trình của tác giả

Xây dựng thang đo

Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy, mô hình nghiên cứu gồm 05 thang đo độc lập, và 01 thang đo phụ thuộc với 33 biến quan sát

Mô hình nghiên cứu Điều chỉnh

Tổng quan nghiên cứu có liên quan

Các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

- Mô hình Nhân khẩu học

- Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA)

- Mô hình Sự kiện khởi nghiệp Shapero

- Lý thuyết hành vi hoạch định (TPB)

Nghiên cứu định lượng sơ bộ

-Tham khảo ý kiến của chuyên gia trong lĩnh vực khởi nghiệp

- Tham khảo ý kiến của 30 sinh viên các ngành kỹ thuật

Nghiên cứu định lượng chính thức

- Đánh giá độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha)

- Phân tích nhân tố khám phá EFA

(Đánh giá độ tin cậy tổng hợp, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt)

Kiểm định mô hình cấu trúc và giả thuyết nghiên cứu

(Mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM)

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Bảng 3.2 Biến quan sát và mã hóa thang đo

Stt Các thang đo và biến quan sát Mã hóa

I Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp ATT

1 Tôi muốn trở thành ông chủ của chính mình hơn là có một công việc làm công ăn lương an toàn

2 Tôi muốn tạo một doanh nghiệp mới vững chắc hơn là làm nhân viên của một công ty

3 Tôi có khả năng tạo ra nhiều tiền nếu tôi thành lập được doanh nghiệp của riêng tôi

4 Tôi sẵn sàng làm việc tại doanh nghiệp do tôi làm chủ với mức lương thấp hơn hoặc bằng làm thuê cho một công ty

II Nhận thức kiểm soát hành vi PBC

1 Khởi nghiệp và duy trì hoạt động của doanh nghiệp là dễ dàng đối với tôi

2 Tôi chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực để bắt đầu khởi nghiệp PBC2

3 Tôi có khả năng quản lý quá trình thành lập doanh nghiệp PBC3

4 Nếu tôi bắt đầu kinh doanh của riêng mình, cơ hội thành công sẽ rất cao

5 Tôi có đủ kiến thức và kỹ năng bắt đầu khởi nghiệp PBC5

6 Tôi có khả năng phát triển hoặc xử lý dự án khởi nghiệp PBC6

III Chuẩn mực chủ quan SN

1 Tôi tin rằng gia đình và người thân của tôi nghĩ rằng tôi nên theo đuổi con đường khởi nghiệp

2 Tôi tin rằng những người bạn thân nhất của tôi nghĩ rằng tôi nên theo đuổi con đường khởi nghiệp

3 Tôi tin rằng những người khác quan trọng đối với tôi nghĩ rằng tôi nên theo đuổi con đường khởi nghiệp

4 Hầu hết mọi người ở đất nước của tôi coi khởi nghiệp kinh doanh là điều có thể chấp nhận được

5 Văn hóa ở đất nước tôi rất thuận lợi cho hoạt động khởi nghiệp kinh doanh

6 Vai trò của doanh nhân trong nền kinh tế thường được coi trọng ở đất nước của tôi

IV Giáo dục khởi nghiệp EE

1 Giáo dục ở trường đại học đã giúp tôi phát triển ý thức chủ động, hình thành thái độ khởi nghiệp

2 Việc học ở trường đại học khiến tôi muốn trở thành một doanh nhân

3 Trường đại học cung cấp những kiến thức cần thiết về khởi nghiệp

4 Trường đại học thường tổ chức những hoạt động định hướng về khởi nghiệp cho sinh viên (các hội thảo, tập huấn, cuộc thi khởi nghiệp)

5 Chương trình học chính ở trường trang bị cho tôi đủ khả năng để khởi nghiệp

V Niềm tin vào năng lực bản thân S-E

1 Để bắt đầu một công việc kinh doanh và duy trì nó hoạt động sẽ rất S-E1 dễ dàng đối với tôi

2 Tôi đã chuẩn bị để bắt đầu một công việc kinh doanh khả thi S-E2

3 Là một doanh nhân, tôi sẽ có đủ quyền kiểm soát công việc kinh doanh của mình

4 Tôi biết các nội dung chi tiết thực tế cần thiết để thành lập một công ty

5 Tôi biết cách phát triển một dự án kinh doanh S-E5

6 Nếu tôi cố gắng thành lập một công ty, tôi sẽ có khả năng thành công cao

1 Tôi đã sẵn sàng làm bất cứ điều gì để bắt đầu công việc kinh doanh của riêng mình

2 Mục tiêu nghề nghiệp của tôi là bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh của riêng mình

3 Tôi đã suy nghĩ rất nghiêm túc về việc thành lập một công ty EI3

4 Tôi sẽ tham gia các chương trình khởi nghiệp / hoạt động hỗ trợ sinh viên tạo ra mô hình doanh nghiệp kinh doanh riêng nếu có sẵn

5 Tôi sẽ bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh của riêng mình trong vòng 5 năm sau khi tốt nghiệp

6 Tôi sẽ bắt đầu kinh doanh của riêng mình nếu nhận được hỗ trợ tài chính

Nguồn: Tác giả tự nghiên cứu và tổng hợp

Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu nhằm hiệu chỉnh các khái niệm trong thang đo bằng cách thêm hoặc bớt yếu tố và biến quan sát, đồng thời điều chỉnh ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh nghiên cứu Quá trình này được thực hiện thông qua thảo luận trực tiếp với ba chuyên gia có kinh nghiệm (Phụ lục 02), với hai vòng thảo luận nhằm đảm bảo độ chính xác và phù hợp của các yếu tố trong thang đo.

Vòng 1: Thảo luận về yếu tố trong mô hình nghiên cứu đề xuất (Phụ lục 01)

Ba chuyên gia đều thống nhất rằng sáu yếu tố quan trọng bao gồm thái độ đối với hành vi khởi nghiệp, nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn mực chủ quan, giáo dục khởi nghiệp, niềm tin vào năng lực bản thân đều tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trong vòng 2, các biến quan sát trong thang đo được thảo luận nhằm làm rõ mối liên hệ và độ tin cậy của các yếu tố này trong quá trình nghiên cứu.

Có tất cả 33 biến quan sát được dự thảo trong Bảng 3.1, kết quả thảo luận với chuyên gia đều đồng ý với 33 biến quan sát trong Bảng 3.1

Sau khi thực hiện nghiên cứu định tính, mô hình giữ lại 05 yếu tố độc lập, đồng thời số biến quan sát của các yếu tố này và yếu tố phụ thuộc là 33, cho thấy mô hình vẫn đảm bảo tính phù hợp Trên cơ sở đó, tác giả đã xây dựng bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ, được trình bày trong Phụ lục 03 để thu thập dữ liệu thỏa đáng cho các bước phân tích tiếp theo.

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu này tác giả chia làm 02 giai đoạn: Nghiên cứu định lượng sơ bộ và nghiên cứu định lượng chính thức

3.3.2.1 Nghiên cứu định lượng sơ bộ

Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện qua phương pháp khảo sát 60 sinh viên thuộc 6 khoa kỹ thuật như Công nghệ Thông tin, Cơ khí, Xây dựng, Điện tử, Điện, và Động lực, nhằm đánh giá nội dung và hình thức các phát biểu trong thang đo nháp Mục tiêu là hoàn chỉnh thang đo chính thức cho nghiên cứu, đảm bảo tính thống nhất, rõ ràng, và không gây nhầm lẫn cho đáp viên Đồng thời, nghiên cứu còn đánh giá độ tin cậy của các biến quan sát với thang đo Likert 5 điểm, từ “hoàn toàn không đồng ý” đến “hoàn toàn đồng ý,” để loại bỏ các biến không phù hợp và xây dựng bảng câu hỏi chính thức tốt nhất.

3.3.2.2 Nghiên cứu định lượng chính thức

Nghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện bằng phương pháp khảo sát 600 sinh viên từ 6 Khoa chuyên ngành kỹ thuật, gồm Khoa Công nghệ Thông tin, Khoa Công nghệ Cơ khí, Khoa Kỹ thuật Xây dựng, Khoa Công nghệ Điện tử, Khoa Công nghệ Điện và Khoa Công nghệ Động lực Kết quả khảo sát sẽ được tổng hợp và thống kê sơ bộ để phân tích dữ liệu một cách chính xác Quá trình xử lý dữ liệu bao gồm kiểm tra độ tin cậy của từng thành phần thang đo qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích yếu tố khám phá (EFA), và kiểm định giả thuyết nghiên cứu bằng Mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM.

Mô tả dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu

3.4.1 Công cụ thu thập dữ liệu

3.4.2 Xác định kích thước mẫu và phương pháp chọn mẫu

Kích thước mẫu nghiên cứu thường được xác định dựa trên các công thức khác nhau nhằm đảm bảo tính hợp lý và độ tin cậy của kết quả Theo Tabachnick và Fidell (1991), kích thước mẫu tối thiểu cần là N ≥ 8k + 50, trong đó k là số biến độc lập trong nghiên cứu Trong khi đó, theo Hair (2006), kích thước mẫu nên là N = m*5 và tối thiểu là 100 để đảm bảo tính đại diện và độ chính xác của dữ liệu Các phương pháp này giúp nghiên cứu đạt được kết quả đáng tin cậy và phù hợp với yêu cầu phân tích thống kê.

Trong nghiên cứu, kích thước mẫu được xác định dựa trên các yếu tố như N là kích thước mẫu, k là số biến độc lập, và m là số biến quan sát trong mô hình Theo công thức N = m * 5, kích thước mẫu lý tưởng sẽ là 27 * 55, tương đương 1.485 mẫu Tuy nhiên, để loại trừ các phiếu khảo sát không hợp lệ và nâng cao độ chính xác của kết quả, tác giả đã chọn kích thước mẫu tối thiểu là 480 mẫu Việc xác định kích thước mẫu phù hợp đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của nghiên cứu.

Bảng 3.3 Kích cỡ mẫu nghiên cứu cho từng đơn vị đào tạo Đơn vị đào tạo Số phiếu phát ra Kỳ vọng thu về

Khoa Công nghệ Thông tin 100 80

Khoa Công nghệ Cơ khí 100 80

Khoa Kỹ thuật Xây dựng 100 80

Khoa Công nghệ Điện tử 100 80

Khoa Công nghệ Động lực 100 80

Nguồn: Tác giả đề xuất 3.4.3 Quy trình thu thập dữ liệu

Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như sách, giáo trình, bài báo, công trình nghiên cứu đã được công bố, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ trong và ngoài nước, cùng với các dữ liệu trực tuyến liên quan đến đề tài nghiên cứu.

3.4.4 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp Đặc điểm của mẫu nghiên cứu, lựa chọn ngẫu nhiên 600 sinh viên của 06 Khoa chuyên ngành kỹ thuật bao gồm Khoa Công nghệ Thông tin, Khoa Công nghệ Cơ khí, Khoa

Kỹ thuật Xây dựng, Khoa Công nghệ Điện tử, Khoa Công nghệ Điện và Khoa Công nghệ Động lực của IUH

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua 03 bước:

Sau khi tiến hành nghiên cứu định tính, tác giả đã xây dựng bảng khảo sát sơ bộ với thang đo Likert 05 mức độ, từ 1 là hoàn toàn không đồng ý đến 5 là hoàn toàn đồng ý, nhằm thu thập ý kiến đánh giá một cách rõ ràng và chính xác.

Bước 2, tác giả tiến hành khảo sát sơ bộ với 60 sinh viên kỹ thuật có ý định khởi nghiệp để đánh giá độ tin cậy của thang đo, từ đó chỉnh lý bảng khảo sát thành bảng chính thức nhằm đảm bảo độ chính xác và phù hợp cho nghiên cứu.

Bước 3: Khảo sát với bảng câu hỏi chính thức Dữ liệu thu thập được phân tích qua phần mềm SmartPLS version 3.3.3.

Phương pháp phân tích dữ liệu

3.5.1 Mẫu và cơ cấu mẫu điều tra Đặc điểm của mẫu nghiên cứu, lựa chọn ngẫu nhiên 600 sinh viên của 06 Khoa chuyên ngành kỹ thuật bao gồm Khoa Công nghệ Thông tin, Khoa Công nghệ Cơ khí, Khoa

Kỹ thuật Xây dựng, Khoa Công nghệ Điện tử, Khoa Công nghệ Điện và Khoa Công nghệ Động lực của IUH đã tiến hành khảo sát với tổng số mẫu ban đầu, sau khi loại bỏ các mẫu bị bỏ qua câu trả lời, còn lại 8 mẫu chính để phân tích Với tỷ lệ phản hồi đạt 86%, nghiên cứu đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy cao trong kết quả Các dữ liệu thu thập từ các mẫu này giúp nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực kỹ thuật xây dựng, công nghệ điện tử, điện và động lực tại IUH.

Kiểm định Cronbach’s Alpha là phương pháp đánh giá độ tin cậy của thang đo trong nghiên cứu khoa học Mục đích chính của kiểm định này là loại bỏ các biến quan sát không phù hợp và hạn chế biến số rác, nhằm nâng cao tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu Việc sử dụng Cronbach’s Alpha giúp đảm bảo rằng các câu hỏi trong thang đo phản ánh một cách nhất quán cùng một khía cạnh hay khái niệm đã đề ra.

Các tiêu chí được sử dụng khi thực hiện đánh giá độ tin cậy của thang đo:

Các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3 cần loại bỏ để đảm bảo tính phù hợp của phân tích Thang đo đạt tiêu chuẩn khi có độ tin cậy Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6, vì giá trị này càng cao thể hiện độ tin cậy của thang đo càng tốt (Nunally & Burnstein, 1994; theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) Theo Hair et al (2006), hệ số Cronbach’s Alpha được đánh giá dựa trên quy tắc rõ ràng để đảm bảo độ tin cậy của công cụ đo lường.

- Cronbach’s Alpha 0,6 đến 0,7: Chấp nhận được với các nghiên cứu mới

- Cronbach’s Alpha 0,7 đến 0,8: Chấp nhận được

- Cronbach’s Alpha ≥ 0,95: Chấp nhận được nhưng không tốt, nên xem xét các biến quan sát có thể có hiện tượng trùng biến

Dựa trên các phương pháp đánh giá đã đề cập, nghiên cứu này áp dụng tiêu chí Cronbach’s Alpha tổng từ 0,6 trở lên để đảm bảo độ tin cậy của công cụ đo lường Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến tổng phải lớn hơn 0,3 nhằm xác nhận tính nhất quán của các mục trong khảo sát Do là một nghiên cứu mới với mô hình kết hợp nhiều yếu tố của các mô hình khác nhau, việc đáp ứng các tiêu chuẩn này giúp nâng cao độ tin cậy và tính hợp lý của kết quả nghiên cứu.

3.5.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Phân tích nhân tố khám phá là kỹ thuật phân tích giúp thu nhỏ và tóm tắt dữ liệu hiệu quả, nhằm xác định các nhóm biến liên quan chặt chẽ với nhau Phương pháp này rất hữu ích trong việc giảm thiểu số lượng biến, tạo điều kiện cho việc phân tích và diễn giải dữ liệu trở nên dễ dàng hơn Với khả năng phát hiện các yếu tố tiềm ẩn trong dữ liệu, phân tích nhân tố khám phá hỗ trợ các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về cấu trúc các biến và mối liên hệ giữa chúng Do đó, đây là công cụ quan trọng trong các lĩnh vực nghiên cứu, giúp tối ưu hóa quá trình ra quyết định dựa trên dữ liệu lớn.

Trong phân tích nhân tố khám phá, mỗi biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố (Factor Loading), thể hiện mức độ liên kết của biến đo lường đó với từng nhân tố cụ thể Hệ số tải nhân tố giúp xác định biến nào phù hợp với nhân tố nào, từ đó hỗ trợ việc diễn giải cấu trúc của dữ liệu nghiên cứu Theo Hair (2009), hệ số tải nhân tố là chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ đóng góp của biến vào từng nhân tố tiềm ẩn Việc phân tích hệ số tải nhân tố giúp nghiên cứu xác định các biến quan sát phù hợp, tối ưu hóa mô hình phân tích nhân tố khám phá, góp phần nâng cao độ chính xác của kết quả nghiên cứu.

- Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) phải đạt giá trị 0,5 trở lên (0,5 ≤ KMO ≤1) thể hiện phân tích nhân tố là phù hợp

- Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test) có ý nghĩa thống kê (sig ≤ 0,05), chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể

- Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) là chỉ tiêu đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA ≥ 0,5

- Các biến có trọng số không rõ cho một nhân tố nào thì cũng bị loại

+ Factor Loading ≥ 0,3 đạt mức tối thiểu

+ Factor Loading ≥ 0,4 xem là quan trọng

+ Factor Loading ≥ 0,5 xem là có ý nghĩa thực tiễn

- Tổng phương sai trích (Total Varicance Explained) đạt giá trị từ 50% trở lên

Eigenvalue (đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố) lớn hơn 1 cho thấy nhân tố đó có ý nghĩa quan trọng trong việc tóm tắt thông tin, giúp xác định các yếu tố chính có ảnh hưởng lớn đến dữ liệu Điều này phù hợp với lý thuyết của Nguyễn Đình Thọ (2011), nhấn mạnh rằng khi eigenvalue > 1, nhân tố được rút ra phản ánh rõ ràng và đầy đủ các biến trong bộ dữ liệu Việc xác định các nhân tố có eigenvalue lớn hơn 1 là bước quan trọng trong phân tích nhân tố, giúp lọc ra các yếu tố mang ý nghĩa thống kê cao nhất. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình theo chuẩn SEO và cần tóm tắt ý chính của đoạn văn một cách hiệu quả? [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/MQ6QksvX?user_id=983577) có thể giúp bạn Soku AI, được đào tạo bởi các chuyên gia Facebook và Meta, sẽ tự động hóa việc nghiên cứu, lựa chọn nội dung, và tối ưu hóa ngân sách, giúp bạn có được những câu văn cô đọng và chính xác nhất, đồng thời tuân thủ các quy tắc SEO hiện hành Với Soku AI, bạn sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí, đồng thời nâng cao hiệu quả bài viết của mình.

Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng tiêu chí Factor Loading ≥ 0,5

3.5.4 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng CFA

Phương pháp CFA đánh giá mức độ phù hợp của mô hình nhân tố thông qua kiểm định hội tụ (convergent validity), tính phân biệt (discriminant validity) và độ tin cậy (reliability) Mức độ phù hợp của mô hình được xác định chính thức dựa trên dữ liệu từ mẫu nghiên cứu chính thức Nếu các yếu tố không đảm bảo giá trị hội tụ và phân biệt, kết quả phân tích sẽ bị sai lệch, không phản ánh đúng ý nghĩa của dữ liệu và thực tế.

According to Hair et al (2011), key indicators for assessing convergence and reliability include standardized loading estimates, which should ideally be equal to or greater than 0.7, and composite reliability (CR), which should be at least 0.7 These metrics are essential to ensure the validity and reliability of measurement models in research.

Tính hội tụ: Average Variance Extracted (AVE) ≥ 0,5

Tính phân biệt của mô hình được đánh giá bằng cách so sánh Maxium Shared Variance (MSV) với Average Variance Extracted (AVE), trong đó MSV phải nhỏ hơn AVE để đảm bảo tính phân biệt phù hợp Ngoài ra, giá trị của căn bậc hai của AVE (SQRTAVE) cần lớn hơn các tương quan giữa các khái niệm để xác định mức độ phân biệt của các biến Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình (Model Fit) giúp kiểm tra xem mô hình đo lường có phù hợp với dữ liệu đầu vào không, các thang đo có đạt chất lượng tốt không và xác định biến quan sát nào không đóng góp vào mô hình, từ đó nâng cao hiệu quả của phân tích.

Theo Hair et al., 2011 các chỉ số được xem xét để đánh giá Model Fit gồm:

CMIN/df ≤ 2 là tốt, CMIN/df ≤ 5 là chấp nhận được

CFI ≥ 0,9 là tốt, CFI ≥ 0,95 là rất tốt, CFI ≥ 0,8 là chấp nhận được

GFI ≥ 0,9 là tốt, GFI ≥ 0,95 là rất tốt

RMSEA ≤ 0,08 là tốt, RMSEA ≤ 0,03 là rất tốt

3.5.5 Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng PLS-SEM bằng phần mềm SmartPLS 3.3.3 để mô phỏng mối quan hệ giả thiết và biến quan sát một cách trực quan Mô hình PLS-SEM giúp thể hiện rõ các mối quan hệ trong nghiên cứu, phù hợp với dữ liệu từ 518 sinh viên tham gia Các bước thực hiện chính gồm đánh giá mô hình đo lường, trong đó độ tin cậy tổng hợp (CR) cần đạt giá trị > 0,7 để đảm bảo độ tin cậy, cùng với độ tin cậy (CA) cũng yêu cầu ≥ 0,7.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Tổng phương sai trích (AVE): ≥ 0,5

Giá trị phân biệt được đánh giá như sau:

Hệ số trên cùng lớn hơn các hệ số tương quan trong cùng 1 cột (hệ số ma trận Fornell – Larcker)

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 02/03/2023, 17:50

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w