1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn dự báo giáo dục

24 6,1K 63
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dự báo, quy hoạch Giáo dục
Tác giả Nguyễn Hữu Thống
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Tiểu luận môn dự báo giáo dục
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước vào thế kỷ XXI, với tư tưởng xây dựng một xã hội học tập, lấy việc học là động lực quyết định hàng đầu để đưa xã hội tiến lên. Trong thế kỷ mới giáo dục có vị trí rất quan trọng, vấn đề con người, vấn đề giáo dục được đặt lên hàng đầu. Uỷ ban giáo dục thế giới đã nêu một trong bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI là dạy con người chung sống với nhau, tạo dựng một nền văn minh mới, văn minh hoà bình, văn hoá khoan dung. Trong tình hình hiện nay, cả nước ta đang phấn đấu đẩy mạnh CNH-HĐH, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, cùng loài người bước vào một nền văn minh mới mở đầu thiên niên kỷ thứ ba. Giáo dục Việt Nam đang đứng trước nhiệm vụ vinh quang nhưng cũng rất nặng nề đầy thách thức do cuộc cách mạng KHCN đặt ra. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Trước những đòi hỏi của công cuộc đổi mới, nền giáo dục phải có những chuyển biến mạnh mẽ, phải tìm kiếm con đường đi hiệu quả để giáo dục thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, làm tiền đề phát triển KT-XH. Trên lộ trình đi lên đòi hỏi phải có dự báo khoa học và hoạch định chiến lược ở tất cả mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực.

Trang 1

Mở đầu

1 Cơ sở lý luận

Bước vào thế kỷ XXI, với tư tưởng xây dựng một xã hội học tập, lấy việc học là động lựcquyết định hàng đầu để đưa xã hội tiến lên Trong thế kỷ mới giáo dục có vị trí rất quantrọng, vấn đề con người, vấn đề giáo dục được đặt lên hàng đầu Uỷ ban giáo dục thế giới đãnêu một trong bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI là dạy con người chung sống với nhau,tạo dựng một nền văn minh mới, văn minh hoà bình, văn hoá khoan dung Trong tình hìnhhiện nay, cả nước ta đang phấn đấu đẩy mạnh CNH-HĐH, thực hiện dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, cùng loài người bước vào một nền văn minh mới

mở đầu thiên niên kỷ thứ ba Giáo dục Việt Nam đang đứng trước nhiệm vụ vinh quangnhưng cũng rất nặng nề đầy thách thức do cuộc cách mạng KHCN đặt ra Kinh tế tri thức cóvai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Trước những đòi hỏicủa công cuộc đổi mới, nền giáo dục phải có những chuyển biến mạnh mẽ, phải tìm kiếmcon đường đi hiệu quả để giáo dục thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, làm tiền đề pháttriển KT-XH Trên lộ trình đi lên đòi hỏi phải có dự báo khoa học và hoạch định chiến lược

ở tất cả mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và Kết luận Hội nghị lần thứ 6 của Banchấp hành Trung ương Đảng khoá IX nhấn mạnh: “Phát triển GD&ĐT là một trong nhữngđộng lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực conngười - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [5, 40].Muốn cho sự nghiệp CNH-HĐH thành công, thì điều cốt lõi là phải phát huy tốt nhân tố conngười Bởi lẽ con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, giáo dục là nhân

tố chủ yếu để hình thành và phát triển nhân cách con người, là chìa khoá mở cửa vào tươnglai, là quốc sách hàng đầu của chiến lược phát triển KT-XH

GD&ĐT là một bộ phận cấu thành trong quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của đấtnước Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng chiếnlược phát triển GD&ĐT”; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ươngĐảng khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ CNH-HĐH.Một trong bốn giải pháp quan trọng để khắc phục yếu kém của GD&ĐT hiện nay là đổi mớicông tác quản lý, đặt trọng tâm vào vấn đề: “Tăng cường công tác dự báo và kế hoạch pháttriển giáo dục Đưa giáo dục vào quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của cả nước và từngđịa phương, có chính sách điều tiết quy mô và cơ cấu đào tạo cho phù hợp với nhu cầu pháttriển KT-XH, khắc phục tình trạng mất cân đối hiện nay, gắn đào tạo với sử dụng ”

Ở Việt Nam, đã có một số tác giả nghiên cứu về dự báo giáo dục và các vấn đề liên quanđến dự báo giáo dục đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu của tác giả PTS Đỗ Chấn về

“Dự báo nhu cầu cán bộ chuyên môn Việt Nam đến năm 2000”, (Viện nghiên cứu Đại học

và THCN năm 1984) Tác giả GS Hà Thế Ngữ về “Dự báo giáo dục vấn đề và xu hướng”,(Viện khoa học giáo dục Việt Nam - 1989) đã khẳng định: “Nền giáo dục của một nước,một địa phương nhất thiết phải lấy công tác dự báo giáo dục làm tiền đề” Theo tác giả ĐặngQuốc Bảo về: “Dự báo giáo dục và một số vấn đề có liên quan đến dự báo giáo dục” đó nêu:

“Cỏi lạc hậu trong kế hoạch hoá giáo dục của chúng ta trong một thời gian dài là việc kếhoạch giáo dục thiếu tính đa chiều, thiếu tính viễn cảnh và thiếu tính mềm dẻo về phương ánthực hiện”…

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới căn bản, toàn diệnnền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hộinhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán

Trang 2

bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dântrí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước,xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam" Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 -

2020 đã định hướng: "Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lựcchất lượng cao là một đột phá chiến lược" Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 nhằmquán triệt và cụ thể hoá các chủ trương, định hướng đổi mới giáo dục và đào tạo, góp phầnthực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội 2011 - 2020 của đất nước

2 Cơ sở thực tiễn

Trường CĐSP Nha Trang được thành lập vào ngày 01 tháng 04 năm 1976 và chính thứcđược công nhận theo quyết định số 164/TTG ngày 21 tháng 3 năm 1978 của Thủ tướngChính phủ Mục tiêu của Nhà trường là xây dựng trường trở thành một cơ sở đào tạo vànghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực đạt chất lượng cao, phục vụ cho các mục tiêukinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hòa và cả nước Các trình độ đào tạo của trường bao gồmTrung học, Cao đẳng và Đại học Quá trình đào tạo của nhà trường luôn gắn kết giữa đàotạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu khoa học giáo dục

Cùng với xu thế phát triển chung của cả nước và của thế giới trong công tác Giáo dục – Đàotạo, trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang đã từng bước nâng cao công tác quản lý Giáo dục– Đào tạo theo những yêu cầu đổi mới ngày càng cao, đáp ứng mục tiêu và phương hướngcủa nhà trường và xã hội đề ra đó là phát triển nhà trường thành một trường Đại học trongthời gian tới

Để thực hiện được mục tiêu trên, công tác dự báo trong hoạt động giáo dục là hết sức quantrọng, trong đó việc dự báo về nhu cầu, chất lượng của hoạt động Giáo dục – Đào tạo đóngvai trò quyết định đến sự sống còn và phát triển của nhà trường trong bối cảnh đất nước và

xã hội có nhiều chuyển biến, yêu cầu của xã hội về chất lượng nguồn nhân lực ngày càngcao

Với nội dung “Ý NGHĨA VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA HOẠT ĐỘNG DỰ BÁO ĐỐI VỚI

CÔNG TÁC QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NHA TRANG”, tôi xin trình bày một vài vấn đề về ý nghĩa và tầm quan trọng trong công tác dự

báo đối với hoạt động quản lý cơ sở vật chất của Trường CĐSP Nha Trang trong thời giantới khi phát triển thành một trường Đại học

Với thời gian và khối lượng kiến thức có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sóttrong quá trình thực hiện, rất mong đựơc các Quý thầy cô quan tâm và có những ý kiếnđóng góp, chỉ bảo giúp tôi hoàn thành nội dung của môn học này

Xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô

Người thực hiện : Nguyễn Hữu Thống

Trang 3

PHẦN I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ BÁO GIÁO DỤC

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Quốc tế

Thời Phục hưng những yếu tố dự báo sư phạm, dự báo GD đã được xác định trong nhiều tàiliệu của các tác giả như Campnella, Thoms Moro, rồi đến thời cận - hiện đại cũng được cácnhà sư phạm đề cập đến như Komensky, Usinsky, Disteveg và các nhà xã hội học khôngtưởng

Với phương pháp luận khoa học của CN Mác-Lênin, những ý tưởng về nền GD và nhàtrường tương lai đầu tiên được khẳng định trên cơ sở những quy luật khách quan phù hợpvới sự phát triển của XH và con người Vào giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX ở Liên Xô đã cómột số công trình dự báo GD có ý nghĩa to lớn của Usinxky, Macarenkô…

Ngày nay UNESCO đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, công bố nhiều công trình dự báo GDvới quy mô toàn cầu hoặc từng khu vực như: Hội thảo về “Tương lai giáo dục và giáo dụccủa tương lai” do Viện quốc tế kế hoạch hoá giáo dục của UNESCO tổ chức năm 1978 Công trình nghiên cứu “Suy nghĩ về sự phát triển tương lai của giáo dục”, UNESCO - Paris

1984 Gần đây là chuyên luận “Nền giáo dục thế kỷ XXI Những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” của Raja Roy Singh - nguyên trợ lý Tổng giám đốc UNESCO khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương, chuyên luận này đã nêu lên những dự đoán về nền GD, vai tròcủa GD ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và khả năng phát triển mạnh mẽ của GD ởkhu vực này trong thế kỷ XXI

-1.1.2 Việt Nam

Dự báo GD là một ngành còn non trẻ, trong những năm gần đây nó mới được các nhà khoahọc tìm hiểu và nghiên cứu, như tác giả Hà Thế Ngữ đã viết: “Việc dự báo giáo dục với tưcách là một hướng hoạt động nghiên cứu chuyên biệt, mới được bắt đầu ở Viện KHGD từnhững năm 1985-1986…”

Trong quá trình chuẩn bị cho việc cải cách GD và xây dựng chiến lược GD , đã có những ýkiến có tính dự báo GD được đề xuất Các công trình nghiên cứu dự báo của các nhà khoahọc đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển

GD, như công trình nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục do tác giả Hà Thế Ngữ (chủbiên ): “Dự báo giáo dục-Vấn đề và xu hướng” (Viện KHGD Việt Nam-1989)

Tác giả Đặng Quốc Bảo với bài “Về phương hướng phát triển sự nghiệp giáo dục phổthông” (Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 10-1987) Bài viết đã đề cập đến những khả năng vàphương hướng phát triển của sự nghiệp GD

Cuốn “Dự báo giáo dục và một số vấn đề có liên quan đến công tác dự báo giáo dục”, HàNội-2001 (nhiều tác giả), đã đề cập rất nhiều đến công tác dự báo GD, những vấn đề cầnthiết cho công tác này và vai trò của vấn đề dự báo GD

Tác giả Đỗ Văn Chấn “Dự báo phát triển”, Hà Nội-2001, đó là những dự báo về tình hình,khả năng của công tác dự báo theo xu hướng phát triển của các sự vật hiện tượng theo cácquy luật vốn có của nó

“Dự báo dân số, học sinh đến trường và lực lượng lao động Việt Nam” (1995 - 2005) củaTổng cục thống kê là những dự báo về tình hình phát triển dân số nước ta, theo đó là sự thayđổi về cơ cấu, chất lượng lao động ở Việt Nam

GS.VS Phạm Minh Hạc với “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, Nhàxuất bản CTQG, 1999 Tác giả phân tích đánh giá những yêu cầu thách thức, những khókhăn và triển vọng của GD Việt Nam thế kỷ XXI

Trang 4

Những công trình nghiên cứu dự báo GD hầu hết tập trung ở tầm vĩ mô Song những nămgần đây các công trình nghiên cứu dự báo GD ở các địa phương cũng đã bắt đầu được quantâm

Tỉnh uỷ Tỉnh Khánh Hòa đặc biệt quan tâm chú ý việc định hướng quy hoạch phát triểnGD&ĐT bằng đề án thành lập Trường Đại học Khánh Hòa trong đó lực lượng nồng cốt làTrường Cao Đẳng Sư Phạm Nha Trang

Trường Cao Đẳng Sư Phạm Nha Trang đã triển khai đánh giá, dự kiến kế hoạch về quy môtrường, lớp; giúp UBND Tỉnh Khánh Hòa xây dựng được Đề án thành lập trường ĐHKhánh Hòa Đặc biệt là quá trình quản lý cơ sở vật chất của Trường Đại học Khánh Hòadựa trên mô hình hiện tại của Trường Cao đẳng Sư Phạm Nha Trang

Tóm lại: Dự báo và dự báo GD đã được nhiều nước quan tâm Ở nước ta đây là lĩnh vực cònmới, ít được quan tâm nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn, có lẽ do chưa nhận thấy tầmquan trọng của công tác dự báo trong việc lập kế hoạch, quy hoạch các vấn đề KT, XH,GD… nên chưa có sự đầu tư thích đáng việc nghiên cứu lý luận và triển khai nghiên cứuứng dụng cụ thể trong các lĩnh vực của đời sống

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm về dự báo

1.2.1.1 Khái niệm dự báo

Theo từ điển Tiếng Việt, dự báo là “Báo trước về tình hình có nhiều khả năng sẽ xảy ra, dựatrên cơ sở những số liệu, những thông tin đã có”

Dự báo là những kiến giải có căn cứ khoa học về các trạng thái khả dĩ của đối tượng dự báotrong tương lai, về các con đường khác nhau, thời hạn khác nhau để đạt tới trạng thái tươnglai ở các thời điểm khác nhau

Dự báo dựa trên sơ sở nhận thức những quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và

tư duy Dự báo là khâu quan trọng nối liền giữa lý luận và thực tiễn Dự báo gắn liền vớimột khái niệm quan trọng là sự tiên đoán Với nghĩa hẹp, sự tiên đoán là nói lên cái gì cóthể xảy ra, trong khi dự báo là nói lên cái gì có thể xảy ra với những điều kiện nhất định.Nếu các điều kiện thay đổi thì sự dự báo cũng thay đổi theo

Có thể chia làm ba cấp độ tiên đoán, căn cứ vào mức độ cụ thể, đặc điểm tác động của dự báo đến sự phát triển của hiện tượng hoặc quá trình được nghiên cứu:

- Giả thuyết: Là sự tiên đoán khoa học ở cấp độ lý luận chung

- Dự báo: So với giả thuyết, dự báo có tính xác định cao hơn, nó dựa trên những tham

số định tính và các tham số định lượng Dự báo có đặc trưng xác suất

- Kế hoạch: Là việc xác định những mục tiêu cụ thể và chính xác, là sự tiên đoán những sự kiện cụ thể chi tiết của trạng thái tương lai

1.2.1.2 Phân loại dự báo

- Phân loại theo phạm vi đối tượng dự báo

- Phân loại theo thời gian của đối tượng dự báo 6 Phân loại theo đặc trưng của đối tượng

- Phân loại theo chức năng của đối tượng

1.2.1.3 Cách tiếp cận khi lập dự báo

- Tiếp cận lịch sử

- Cách tiếp cận phức hợp

- Cách tiếp cận hệ thống

1.2.1.4 Các nguyên tắc khi lập dự báo

- Nguyên tắc thống nhất về chính trị, kinh tế và khoa học

- Nguyên tắc tính hệ thống của dự báo

- Nguyên tắc tính khoa học của dự báo

- Nguyên tắc tính thích hợp của dự báo

Trang 5

- Nguyên tắc đa phương án của dự báo

1.2.2 Khái niệm về dự báo giáo dục

1.2.2.1 Khái niệm dự báo giáo dục

Công tác dự báo GD hướng vào việc cung cấp một quan niệm hiện thực về tương lai củanền GD, tìm kiếm những mục tiêu mới, những viễn cảnh tốt đẹp và những giải pháp mớinhằm đem lại tiềm năng tương lai cho nền GD Dự báo GD cũng có thể báo động tình trạngxấu đi, những mối đe doạ, nguy biến mà XH có thể gặp phải trong một thời kỳ nhất định,song chức năng chân chính của KHXH là không tạo nên tâm lý hoang mang, giảm ý chí,mất niềm tin mà phải huy động kịp thời, đúng đắn toàn XH nhằm giảm bớt, ngăn chặn hoặcvượt qua những khó khăn thử thách

Theo tác giả Hà Thế Ngữ, dự báo GD là “Xây dựng phán đoán có thể về tình trạng của nềngiáo dục trong tương lai, nghiên cứu những triển vọng phát triển của nền giáo dục, chỉ ranhững thời hạn ít nhiều xác định của những biến đổi sẽ xảy ra - đó là dự báo giáo dục - mộtdạng của tiên đoán khoa học trong lĩnh vực xã hội” Vậy dự báo GD là xây dựng nhữngphán đoán về quá trình vận động, phát triển của cả hệ thống GD cũng như những bộ phậncủa hệ thống sẽ diễn ra trong tương lai

1.2.2.2 Phân loại dự báo giáo dục

Theo tác giả Hà Thế Ngữ “Đối tượng của dự báo giáo dục là hệ thống giáo dục quốc dâncủa một nước, một địa phương, với những đặc trưng: Về quy mô phát triển, cơ cấu loạihình, chất lượng đào tạo, tổ chức sư phạm”

Tác giả đã nêu rõ việc phân loại dự báo GD đó là: Dự báo điều kiện chính trị,

KT-XH mà GD sẽ vận hành và phát triển; dự báo về những biến đổi trong tính chất mục tiêu và cấu trúc của hệ thống GD; dự báo về sự thay đổi nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức; dự báo về chất lượng, số lượng đội ngũ GV, CSVC, công tác tổ chức quản lý trong hệ thống GD

1.2.2.3 Tổ chức quá trình nghiên cứu dự báo giáo dục

- Giai đoạn định hướng

- Giai đoạn thu thập tài liệu dự báo

- Giai đoạn xây dựng mô hình xuất phát

- Giai đoạn tiến hành dự báo

- Giai đoạn đánh giá mức độ chắc chắn và chính xác hoá các mô hình dự báo qua ý kiếnchuyên gia

- Giai đoạn xây dựng các giải pháp, kiến nghị

1.2.2.4 Vai trò của dự báo giáo dục

- Vai trò của dự báo giáo dục đối với đất nước:

Về vai trò của dự báo, chúng ta có thể khái quát bằng mô hình sau:

Đường lối

Kế hoạch Quy hoạch

Chiến lược

Dự báo

Trang 6

Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) đã đề ra mục tiêu, chiến lược của công tác GD&ĐT, các giảipháp thực hiện, trong đó có giải pháp đổi mới công tác QLGD và đầu tiên là tăng cườngcông tác dự báo và kế hoạch hoá phát triển GD Dự báo GD là cơ sở khoa học cho việc xâydựng chiến lược phát triển GD&ĐT và kế hoạch thực hiện

- Vai trò dự báo giáo dục đối với địa phương:

Những thành tựu đạt được trong những năm vừa qua của ngành GD&ĐT, cho thấy Tỉnh uỷ,HĐND, UBND và Sở GD&ĐT luôn quan tâm và làm tốt công tác xây dựng kế hoạchGD&ĐT; đặc biệt kế hoạch tăng cường cơ sở vật chất cho các trường sư phạm, nhằm đápứng nhu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm phục vụ cho công tác dạy và học

Dự báo nhu cầu về quản lý cơ sở vật chất của Trường Cao Đẳng Sư phạm Nha Trang; giúpcho Ban Giám Hiệu, Sở GD&ĐT, UBND có được các chủ trương, chính sách ưu đãi tăngcường nguồn vốn trang bị cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, giúp nâng cao chất lượnggiáo dục tại Tỉnh Khánh Hòa

1.3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến quy mô phát triển giáo dục

1.3.1 Nhân tố kinh tế - xã hội

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Giáo dục có những đóng góp trực tiếp nhất định vào việchình thành phát triển thu nhập quốc dân” “Nếu tính cả đóng góp gián tiếp thì hoạt độngGD&ĐT có vai trò rất lớn đối với sự phát triển KT-XH” Theo quan điểm tiếp cận hệthống, yếu tố KT-XH cũng tác động mạnh mẽ và là nhân tố tác động trực tiếp đến GD&ĐT Quy mô phát triển GD chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố KT-XH Trong các nhân tốKT-XH, nhân tố phát triển dân số tác động trực tiếp đến đầu vào của hệ thống GD

1.3.2 Các nhân tố bên trong hệ thống giáo dục-đào tạo

Nội lực chính của GD6ĐT là các nhân tố tồn tại bên trong hệ thống GD và được thể hiện ởcấu trúc hệ thống GD, nội dung chương trình, tổ chức đào tạo, đội ngũ GV Nếu các nhân

tố trên phát triển hài hoà, cân đối là điều kiện tốt nhất và cũng là động lực mạnh mẽ nhấtthúc đẩy GD&ĐT phát triển

1.3.3 Các nhân tố về văn hoá - khoa học - công nghệ

Giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ với tất cả các lĩnh vực của đời sống XH, đồng thời nó là tiền đề cho sự phát triển XH Nhưng các nhân tố văn hoá đòi hỏi GD&ĐT phát triển phù hợp với bản sắc dân tộc Đồng thời sự phát triển như vũ bão của KH-CN cũng đòi hỏi GD&ĐT có sự cải tiến, bổ sung và đổi mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của XH

1.3.4 Các nhân tố về chỉ đạo, lãnh đạo

Bất cứ nền GD nào cũng nhằm phục vụ mục đích chính trị của giai cấp nắm chính quyền;Nhà nước sử dụng GD như một công cụ đặc biệt nhằm đạt được mục tiêu chính trị, XH.Quan điểm và đường lối lãnh đạo đối với GD ở mọi góc độ đều ảnh hưởng lớn đến sự pháttriển của GD

1.3.5 Nhân tố quốc tế

Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI - Thế kỷ của nền văn minh tri thức; những thách thức và

cơ hội của thời đại mới đã tạo ra xu thế toàn cầu hoá Quá trình giao lưu hội nhập giữa cácquốc gia trong khu vực và trên thế giới đã tác động mạnh mẽ đến mỗi quốc gia, trong đóphải kể đến những cơ hội và thách thức cho nền GD của mỗi nước Chính vì vậy ngànhGD6ĐT càng cần phải tổ chức chặt chẽ mọi khâu của quá trình GD làm cho GD nước ta vừa

có điều kiện học hỏi tinh hoa GD hiện đại, vừa giữ gìn được bản chất tốt đẹp của nền GDXHCN, mang đậm bản sắc dân tộc

Trang 7

PHẦN II

VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG

CỦA CÔNG TÁC DỰ BÁO TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

I VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC DỰ BÁO TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC:

1- Vai trò của công tác dự báo trong hoạt động giáo dục:

Các nhà tương lai học dự báo rằng: Ở ngưỡng cửa của thế kỷ XXI nhân loại có cơ hội đứngtrước một bước nhảy kỳ diệu, tiến vào một nền văn minh mới, còn gọi là nền văn minh trítuệ, hậu công nghiệp, một “xã hội thông tin” chứa đựng những vận hội lớn về chính trị và sựphục hưng lớn về văn hoá Dự báo giáo dục nhằm xây dựng những phán đoán có thể về tìnhtrạng của nền giáo dục trong tương lai, nghiên cứu những triển vọng của nền giáo dục đó,đồn thời chỉ ra những thời hạn xác định của biến đổi sẽ ra sao

Dự báo giáo dục nhằm tìm kiếm những mục tiêu mới, những viễn cảnh mới, phương phápmới nhằm đem lại tiềm năng tương lai cho nền giáo dục trên cơ sở đó đưa ra được nhữngquyết định đúng đắn cho sự phát triển GD&ĐT về mục tiêu hiện tại, trước mắt và lâu dài

Dự báo phát triển giáo dục là một trong những căn cứ quan trọng của việc xây dựng quyhoạch GD&ĐT Dự báo GD&ĐT là xác định trạng thái tương lai của hệ thống GD&ĐT vớixác suất nào đó có ý nghĩa định hướng, làm cơ sở khoa học cho việc xác định phươnghướng, nhiệm vụ và mục tiêu lớn của GD&ĐT Đối tượng của dự báo GD&ĐT là hệ thốnggiáo dục quốc dân của một quốc gia, một địa phương với những đặc trưng về quy mô pháttriển cơ cấu loại hình, mạng lưới trường lớp, đội ng ̣ũ giáo viên, chất lượng đào tạo, tổ chức

sư phạm…v.v

Dự báo phục vụ cho nhà quản lý có cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng kế hoạch ngắnhạn, trung hạn và dài hạn nhằm thực hiện công việc quản lý một cách khả thi

2- Ý nghĩa của công tác dự báo trong hoạt động giáo dục:

Ngày 17/8/2012, đ/c Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến thăm, làm việc với cán bộ chủchốt Bộ Giáo dục và Đào tạo về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ XI và việc chuẩn bị Đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng caochất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốctế." Tổng Bí thư lưu ý, cần có tầm nhìn chiến lược, dài hạn Chúng ta đã 3 lần tiến hành cảicách giáo dục, vì sao lúc này phải đặt vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo?Cần làm rõ nội hàm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phải chăng là đổi mới

từ tư duy, mô hình, hệ thống tổ chức giáo dục, cơ chế vận hành, cơ chế quản lý, loại hìnhgiáo dục, rồi phải có đội ngũ cán bộ, giáo viên, cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện bảo đảmthực hiện đổi mới Trong thời kỳ đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hộinhập quốc tế, cần hình thành một triết lý về giáo dục, chú ý phát triển khoa học giáo dụcViệt Nam, coi đây là nền tảng lý luận để tiến hành đổi mới giáo dục

Trang 8

Tổng Bí thư đề nghị, trước mắt cần tập trung tạo chuyển biến mạnh mẽ trong một số lĩnhvực, quan tâm hơn nữa việc dạy đạo đức làm người, bồi dưỡng rèn luyện nhân cách conngười, như Bác Hồ từng dạy: học là để làm người, rồi mới làm cán bộ để phục vụ đất nước,phục vụ nhân dân Bên cạnh đó, cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng quản lý; phân cấpquản lý là đúng, nhưng không được buông lỏng kiểm tra, giám sát; đồng thời phải quan tâmgiải quyết tốt những vấn đề bức xúc trong giáo dục-đào tạo.

Tổng Bí thư đề nghị ngành giáo dục-đào tạo hết sức quan tâm triển khai thực hiện nghiêmtúc, có chất lượng, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI về xây dựng Đảng Xâydựng Đảng là xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là điều kiện để bảo đảm thực hiện tốtnhững việc đã đề ra Cùng với cơ chế, chính sách, luật pháp, cần có tổ chức chặt chẽ, conngười - cán bộ trong sạch Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo cần gương mẫu thựchiện và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, kiên trì trong toàn ngành, theo đúng quan điểm chỉđạo của Trung ương

Để thực hiện được những nội dung nêu trên trong chiến lược phát triển nền giáo dục nướcnhà, việc dự báo mang ý nghĩa vô cùng to lớn và quan trọng, quyết định đến các chủ trương,đường lối và chính sách đối với nền giáo dục của một quốc gia nói chung và của mỗi cơ sởđào tạo nói riêng Dự báo phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những vấn đề quan trọngnhất của công tác quản lý trong việc xây dựng kế hoạch có cơ sở khoa học nhằm đạt đượcnhững mục tiêu đã đề ra

- Công tác dự báo giúp các nhà quản lý thiết lập các phương án tối ưu, xác định được xu thếphát triển các mục tiêu cần đạt được để làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch,chiến lược phục vụ cho nhà quản lý có thể điều khiển, điều chỉnh trong việc hoạch địnhchiến lược có cơ sở khoa học

- Công tác dự báo giúp các nhà quản lý chủ động trong việc chuẩn bị đầy đủ những điềukiện cần cho quá trình xây dựng kế hoạch, quy hoạch và lường trước được những khó khăn,rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện mục tiêu, nhiêm vụ giáo dục đề ra

- Dự báo cũng là động cơ chính trong việc thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu nhằm tìm ranhững giải pháp tối ưu trong việc thực hiện các đường lối, chủ trương, kế hoạch trong quátrình thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục đề ra

II TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC DỰ BÁO TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC.

Trong công tác quản lý nói chung và công tác quản lý giáo dục nói riêng, hoạt động dự báođược xây dựng nhằm tăng cường cơ sở khoa học cho việc ra quyết định, vạch ra các chiếnlược, quy hoạch, kế hoạch Bản thân dự báo phải dựa vào các đường lối, chủ trương củaĐảng và nhà nước, là công cụ hữu hiệu của việc kế hoạch hoá triển vọng cũng như quản lýnền giáo dục quốc dân Trong công tác quản lý dự báo và kế hoạch hoá là một trong nhữngvấn đề quan trọng nhất Không có dự báo thì không có phương hướng cho công tác quản lý.Quản lý mà không theo kế hoạch th́ì chỉ là hàng loạt những hoạt động tuỳ tiện, không có hệthống, do đó dễ phạm sai lầm và không hiệu quả Dựa vào dự báo, nhà quản lý xây dựng kếhoạch chỉ đạo, điều khiển, điều chỉnh công tác quản lý có khoa học và có hệ thống để đạthiệu quả cao Nếu dự báo chính xác góp phần xây dựng chiến lược và kế hoạch sát với hiệnthực có tính khả thi cao

Trong “Chiến lược Phát triển giáo dục 2011 – 2020” (Ban hành kèm theo Quyết định số711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ) có đề cập đến những

dự báo trong tương lai đối với chiến lược phát triển giáo dục nước nhà như sau:

Trang 9

“Giáo dục nước ta trong thập kỷ tới phát triển trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổinhanh và phức tạp Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tấtyếu Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế trí thứcngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trênthế giới.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã khẳng định phấn đấu đến năm 2020nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định,dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên

rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của ViệtNam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơntrong giai đoạn sau Chiến lược cũng đã xác định rõ một trong ba đột phá là phát triển nhanhnguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản,toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển

và ứng dụng khoa học, công nghệ Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ranhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức đối với sựnghiệp phát triển giáo dục.”

Dự báo được những xu thế, yêu cầu phát triển nêu trên, Đảng và nhà nước ta đã có nhữngđịnh hướng cơ bản cho việc phát triển nền giáo dục nước nhà thông qua việc phân tíchnhững cơ hội và thách thức trong thời gian tới, cụ thể:

Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư chogiáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh

tế - xã hội Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm vừa qua và Chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hìnhtăng trưởng, cùng với Chiến lược và Quy hoạch phát triển nhân lực trong thời kỳ dân sốvàng là tiền đề cơ bản để ngành giáo dục cùng các bộ, ngành, địa phương phát triển giáodục

Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông sẽ tạo ranhững điều kiện thuận lợi để đổi mới cơ bản nội dung, phương pháp và hình thức tổ chứcgiáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, tiến tới một nền giáo dục điện tử đáp ứng nhu cầu củatừng cá nhân người học

Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hộithuận lợi để tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại,tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển giáo dục

Bên cạnh những cơ hội trên, việc phát triển nền giáo dục nước ta cũng gặp không ít nhữngkhó khăn, thách thức:

Ở trong nước, sự phân hóa trong xã hội có chiều hướng gia tăng Khoảng cách giàu nghèogiữa các nhóm dân cư, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền ngày càng rõ rệt, gâynguy cơ dẫn đến sự thiếu bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, gia tăng khoảng cách về chấtlượng giáo dục giữa các vùng miền và cho các đối tượng người học

Nhu cầu phát triển nhanh giáo dục đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, phát triển kinh tế theo chiều sâu tri thức với công nghệ tiên tiến và hội nhậpquốc tế, trong khi đó nguồn lực đầu tư cho giáo dục là có hạn, sẽ tạo sức ép đối với pháttriển giáo dục

Nguy cơ tụt hậu có thể làm cho khoảng cách kinh tế, tri thức, giáo dục giữa Việt Nam vàcác nước ngày càng gia tăng Hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường làm nảy sinhnhững vấn đề mới, như nguy cơ xâm nhập của văn hóa và lối sống không lành mạnh làmxói mòn bản sắc dân tộc, dịch vụ giáo dục kém chất lượng có thể gây nhiều rủi ro lớn đối

Trang 10

với giáo dục đặt ra yêu cầu phải đổi mới cả về lý luận cũng như những giải pháp thực tiễnphù hợp để phát triển giáo dục

Trước những yêu cầu đặt ra cho việc cải cách và phát triển nền giáo dục nước nhà, Đảng vànhà nước đã có những quan điểm cũng như mục tiêu cụ thể nhằm thực hiện kế hoạch đề ra:

* Về quan điểm :

- Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước

và của toàn dân Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nâng cao vaitrò các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong phát triển giáo dục Đầu tư cho giáodục là đầu tư phát triển Thực hiện các chính sách ưu đãi đối với giáo dục, đặc biệt là chínhsách đầu tư và chính sách tiền lương; ưu tiên ngân sách nhà nước dành cho phát triển giáodục phổ cập và các đối tượng đặc thù

- Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, tiên tiến, hiện đại, xã hội chủ nghĩa, lấychủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Thực hiện công bằng xã hộitrong giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó để đạt được mặt bằng chung, đồngthời tạo điều kiện để các địa phương và các cơ sở giáo dục có điều kiện bứt phá nhanh, đitrước một bước, đạt trình độ ngang bằng với các nước có nền giáo dục phát triển Xây dựng

xã hội học tập, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học, học suốt đời, đặc biệt đối vớingười dân tộc thiểu số, người nghèo, con em diện chính sách

- Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa,dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng caochất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thựchành để một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng thỏa mãn nhucầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng

- Hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, giữvững độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa Mở rộng giao lưu hợp tác với các nềngiáo dục trên thế giới, nhất là với các nền giáo dục tiên tiến hiện đại; phát hiện và khai tháckịp thời các cơ hội thu hút nguồn lực có chất lượng

* Về mục tiêu :

Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩnhoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục đượcnâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, nănglực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lựcchất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nềnkinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗingười dân, từng bước hình thành xã hội học tập

Qua những nội dung trên, ta thấy công tác dự báo có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọngtrong công tác quản lý nói chung và công tác quản lý giáo dục nói riêng, nó là khâu cực kỳquan trọng và không thể thiếu được trong quá trình hoạch định của các nhà quản lý Bằngcác phương pháp dự báo, các nhà quản lý có thể vạch ra được những kịch bản xảy ra trongtương lai và thấy được những kết quả tương ứng của nó, đồng thời đề ra những kế hoạchphù hợp nhằm phát huy tối đa hiệu quả tích cực của kế hoạch đề ra, hạn chế những rủi rokhông mong muốn

Trang 11

PHẦN III

CÔNG TÁC DỰ BÁO VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ

CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA TRƯỜNG CĐSP NHA TRANG

I SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NHA TRANG.

Trường CĐSP Nha Trang là một trong 06 trường CĐSP đầu tiên của các tỉnh phía Nam,được thành lập vào ngày 01 tháng 04 năm 1976 và chính thức được công nhận theo quyếtđịnh số 164/TTG ngày 21 tháng 3 năm 1978 của Thủ tướng Chính phủ Mục tiêu của Nhàtrường là xây dựng trường trở thành một cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học đa ngành, đalĩnh vực đạt chất lượng cao, phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hòa

và cả nước Các trình độ đào tạo của trường bao gồm trung học, cao đẳng và đại học Quátrình đào tạo của nhà trường luôn gắn kết giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt lànghiên cứu khoa học giáo dục

Từ ngày thành lập đến nay, các thế hệ cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên củatrường đã phấn đấu không ngừng xây đắp nên những thành tựu to lớn cho sự nghiệp giáodục của tỉnh Khánh Hòa và cả nước Trong 03 năm đầu (1976 - 1978), mặc dù còn nhiềukhó khăn của một địa phương mới giải phóng, nhưng trường đã cố gắng hoàn thành tốt việcđào tạo khẩn trương và kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu bổ sung giáo viên phổ thông cấp IIcho các tỉnh Phú Khánh, Thuận Hải, Đắc Lắc

Cán bộ giảng viên, công nhân viên trường

1976 - 1981 Những khóa học đầu tiên - Lớp C2 Khóa I -1976

Trang 12

Đại hội Đảng bộ lần thứ VI Đại hội đại biểu Đoàn TNCS HCM trườngCĐSP NT lần III

Từ 1979 trở đi trường thực hiện quy trình đào tạo giáo viên phổ thông cấp II trình độ CĐSPhai môn hệ chính quy 03 năm Song song với quy trình đào tạo này trường còn tiến hành mởcác lớp bồi dưỡng chuẩn hóa CĐSP 12+3, THSP 12+2 …

Từ 1988 trường bắt đầu mở rộng liên kết đào tạo với các trường ĐH theo hướng đa dạnghóa các loại hình đào tạo, phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnhKhánh Hòa và một số tỉnh khác ở cực Nam Trung Bộ

Từ năm 2000 đến nay, trường xúc tiến mạnh mẽ định hướng xây dựng nâng cấp trườngthành một trường Đại học đa ngành Các liên kết đào tạo được tăng cường mạnh mẽ, cácloại hình đào tạo đa dạng hơn thiết thực phục vụ nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của địaphương và khu vực

Trong thời gian qua, các thế hệ cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên trườngCĐSP Nha Trang đã có những bước tiến vượt bậc Trong tất cả các lĩnh vực hoạt động côngtác của tập thể cũng như từng cá nhân, nơi đâu cũng có những thay đổi lớn lao, những sựtích đáng nhớ, những thành tích đáng ca ngợi và tôn vinh

Hiện nay, nhà trường đã xây dựng được đội ngũ cán bộ giảng viên có trình độ cao và cơ sởvật chất đáp ứng với yêu cầu của một trường Đại học Trường đang khẩn trương hoàn thành

đề án nâng cấp nhà trường thành Trường Đại học Khánh Hòa, đào tạo đa ngành theo tinhthần Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ Khánh Hòa lần thứ XV

II – DỰ BÁO VỀ QUY MÔ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NHA TRANG ĐẾN NĂM 2015.

Căn cứ vào mục tiêu tổng quát trong chiến lược phát triển giáo dục của đất nước ta đếnnăm 2020: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theohướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượnggiáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lựcsáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất

là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xâydựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốtđời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ Khánh Hòa lần thứ XV và kết luậncủa ông Lê Xuân Thân - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa tại buổi làm việc với TrườngCao đẳng sư phạm (CĐSP) Nha Trang : “Để đáp ứng yêu cầu đào tạo hiện nay và thành lậpTrường Đại học Khánh Hòa sau này, ông Lê Xuân Thân chỉ đạo Trường CĐSP Nha Trangphải đảm bảo chất lượng đầu ra; cần quan tâm, đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên,

Ngày đăng: 01/04/2014, 13:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011): Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
2. Nguyễn Văn Dân (2008): Diện mạo và triển vọng của xã hội tri thức, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo và triển vọng của xã hội tri thức
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2008
3. Phạm Văn Dũng (2010): Phát triển thị trường khoa học - công nghệ Việt Nam, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thị trường khoa học - công nghệ Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Dũng
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2010
4. Phạm Xuân Dũng (2008): Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2008
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997): Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 - Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII), Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 - Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1997
9. Hỏi và đáp những vấn đề then chốt nhất của khoa học và công nghệ (1999), Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp những vấn đề then chốt nhất của khoa học và công nghệ
Tác giả: Hỏi và đáp những vấn đề then chốt nhất của khoa học và công nghệ
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1999
10. Đặng Hữu (chủ biên) (2009): Phát triển kinh tế tri thức gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế tri thức gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Hữu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2009
11. TS Trần Hồng Lưu (2009): Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: TS Trần Hồng Lưu
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2009
12. Hoàng Đình Phu (1998): Khoa học và công nghệ với các giá trị văn hoá, Nxb Khoa học Kỹ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ với các giá trị văn hoá
Tác giả: Hoàng Đình Phu
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1998
13. Samuel Hungtington (2005): Sự va chạm của các nền văn minh, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự va chạm của các nền văn minh
Tác giả: Samuel Hungtington
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2005
14. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2010): Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức
Tác giả: Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2010
15. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng, Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai. Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai. Vấn đề và giải pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
16. Ban Khoa giáo Trung ương, Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới chủ trương, thực hiện, đánh giá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới chủ trương, thực hiện, đánh giá
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
17. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tìm hiểu Luật Giáo dục 2005, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Luật Giáo dục 2005
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngành Giáo dục - đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành Giáo dục - đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Đặng Bá Lãm, Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI. Chiến lược phát triển, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI. Chiến lược phát triển
Nhà XB: Nxb Giáo dục
27. Sứ mệnh và tầm nhìn của trường CĐSP Nha Trang.http://www.cdspnhatrang.edu.vn/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w