1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Mối liên quan giữa vệ sinh môi trường, nguồn nước hộ gia đình và hành vi chăm sóc trẻ của bà mẹ với tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam pdf

8 900 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 402,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cho đến nay, các nghiên cứu về mối liên quan giữa SDD trẻ dưới 5 tuổi với yếu tố vệ sinh môi trường, sử dụng nước sạch và kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ về vệ sin

Trang 1

BÁO CÁO TÓM TẮT CỤC QUẢN LÝ MƠI TRƯỜNG Y TẾ - BỘ Y TẾ QUỸ NHI ĐỒNG LIÊN HỢP QUỐC

Trang 3

TÓM TẮT

Một trong các nội dung của chương trình phòng chống SDD trẻ em là thực hiện vệ sinh môi trường, sử dụng nguồn nước sạch, tẩy giun định kỳ, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại, tiểu tiện Tuy nhiên, cho đến nay, các nghiên cứu về mối liên quan giữa SDD trẻ dưới 5 tuổi với yếu tố vệ sinh môi trường, sử dụng nước sạch và kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ về vệ sinh cá nhân cho trẻ chưa được nghiên cứu đầy đủ Ngay trong thiết kế nghiên cứu của điều tra giám sát dinh dưỡng toàn quốc năm 2009 của Viện Dinh dưỡng Quốc gia thì mối liên quan giữa điều kiện cung cấp nước sinh hoạt, nhà tiêu hộ gia đình, kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh cá nhân của các bà mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em cũng chưa được đề cập tới

Nghiên cứu này được phát triển từ một phần kết quả của điều tra giám sát dinh dưỡng toàn quốc năm 2009 Cụ thể là tiến hành điều tra về tình trạng VSMT, nguồn nước hộ gia đình và hành vi vệ sinh chăm sóc trẻ của 3356 trẻ dưới 5 tuổi đã được cân đo tại 72 xã thuộc 6 tỉnh Nam Định, Điện Biên, Hà Tĩnh, Kon Tum, Ninh Thuận và An Giang

Với việc điều tra và phân tích tình trạng nguồn nước, nhà tiêu gia đình và một số hành vi vệ sinh cá nhân, vệ sinh trong chăm sóc trẻ của người mẹ/người chăm sóc trẻ của những trẻ đã được cân đo trong cuộc giám sát dinh dưỡng, các tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy logistic đơn biến và đa biến để xác định mối liên quan giữa các yếu tố VSMT, nguồn nước hộ gia đình và hành vi vệ sinh trong chăm sóc trẻ của bà mẹ/người chăm sóc trẻ chính với tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi Khi phân tích đơn biến, các tác giả đã sử dụng test ÷2 để phân tích mối liên quan, tính tỷ số chênh OR để xác định độ mạnh của sự kết hợp khi đã hiệu chỉnh sai số chuẩn theo quyền số, chùm và tầng Dựa trên kết quả phân tích đơn biến, các biến có mối liên quan với tình trạng SDD trẻ em được đưa vào mô hình hồi quy đa tầng và đa biến để kiểm soát các yếu tố nhiễu Phương pháp mô hình phân tích đa tầng (multilevel or hierarchically) được áp dụng trong nghiên cứu này nhằm khai thác tối đa các yếu tố có ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Trong mô hình này bao gồm 3 tầng phân tích: 1) tầng cá thể của đối tượng nghiên cứu; 2) tầng hộ gia đình; và 3) tầng cộng đồng (xã phường) Tuy nhiên, đây là điều tra cắt ngang nên chỉ cho phép xác định mối liên quan chứ không xác định được nguyên nhân

3

Trang 4

thấp còi theo tuổi chung của trẻ em dưới 5 tuổi ở 6 tỉnh được điều tra là 35,4% và tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 21,3% Cả 2 tỷ lệ này đều cao nhất ở Kon Tum (46,4% và 27,8%) và thấp nhất ở Nam Định (23,9% và 14,9%) Tỷ lệ trẻ SDD thể thấp còi và thể nhẹ cân có xu hướng tăng lên khá rõ theo độ tuổi, kể từ khi trẻ được 1 tuổi trở lên Tỷ lệ trẻ SDD thể thấp còi và thể nhẹ cân ở dân tộc Kinh thấp hơn so với các dân tộc khác; ở các gia đình nghèo cao hơn ở các gia đình không nghèo; ở khu vực miền núi cao hơn khu vực đồng bằng Tỷ lệ trẻ SDD thể thấp còi và thể nhẹ cân có xu hướng giảm dần theo trình độ học vấn của mẹ/người chăm sóc trẻ, và tăng dần theo số con của mẹ

Tỷ lệ SDD ở 6 tỉnh trong điều tra so với kết quả toàn quốc năm 2009

- Điều kiện nguồn nước, nhà tiêu hộ gia đình ở các địa bàn điều tra không đồng đều và còn nhiều khó khăn:

15,1% số gia đình hiện vẫn đang sử dụng nước sông suối/ao hồ làm nguồn nước chính cho ăn uống và sinh hoạt; 30,4% hộ gia đình có nguồn nước chính không HVS; 4,6% và 15,3% nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm cao và rất cao Tỉnh với tỷ lệ nguồn nước hộ gia đình có nguy cơ ô nhiễm cao và rất cao: cao nhất là An Giang (54,1%) và thấp nhất là Hà Tĩnh (3,6%);

31.9

18.9

35.4

21.3

0

5

10

15

20

25

30

35

40

SDD thể thấp cịi SDD thể nhẹ cân

6 tỉnh Tồn quốc

Trang 5

Tỷ lệ gia đình có nguồn nước chính được đánh giá cảm quan là hợp vệ sinh

59% hộ gia đình có xà phòng bánh/gel tại chỗ rửa tay, trong đó thấp nhất là ở Điện Biên (29,1%); 30,9% số hộ gia đình có nhà tiêu HVS Điện Biên và Kon Tum có tỷ lệ nhà tiêu HVS thấp nhất là 4,3% và 10,2%

Tỷ lệ nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng, sử dụng và bảo quản tính trên tổng số hộ điều tra

- Nhiều bà mẹ/người chăm sóc trẻ chính thiếu hiểu biết và không thực hiện các

hành vi vệ sinh cá nhân, vệ sinh trong chăm sóc trẻ: 23,8% bà mẹ/người chăm

sóc trẻ chính thỉnh thoảng mới rửa tay; 36,2% thường xuyên rửa tay bằng xà phòng sau đại tiện, 22,8% rửa tay xà phòng trước khi ăn, 19% rửa tay xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn, và 14,9% rửa tay xà phòng sau khi đổ bô, rửa cho trẻ; 41,2% bà mẹ/người chăm sóc trẻ chính đã không xử lý đúng phân của trẻ, như: để cho chó, lợn ăn (21,1%), đổ ra vườn (16,3%), đổ ra đồng/sông (13,6%)…; Tỷ lệ biết những công việc cần làm để đảm bảo vệ sinh khi chế biến

5

69.6 51.3

61 63.2

74.7

88.1

77.8

0

10

20

30

40

50

60

70

80

90

100

Nam Định Ninh Thuận Hà Tĩnh Điện Biên Kon Tum An Giang Tính chung

Loại nhà tiêu

Nam Định (n=489)

Điện Biên (n=494)

Hà Tĩnh (n=506)

Kon Tum (n=403)

Ninh Thuận (n=482)

An Giang (n=495)

Chung (n=2869

Chìm có ống thông hơi 0,0 0,0 0,0 0,2 0,4 0,0 0,1

Tính chung 59,7 4,3 25,9 10,2 45,9 36,6 30,9

Trang 6

Tỷ lệ thường xuyên rửa tay xà phòng tính trên tổng số đối tượng được

phỏng vấn

- Kết quả phân tích đơn biến cho thấy có mối liên quan giữa một số yếu tố sau với

tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi: 1) Ở cấp độ cộng đồng: Khu vực

sống (nông thôn miền núi nông thôn đồng bằng); điều kiện kinh tế (xã nghèo -không nghèo); chỉ số phúc lợi xã hội; số hộ có nhà tiêu HVS trong xã; 2) Ở cấp độ gia đình: điều kiện nhà ở, nguồn nước, nhà tiêu, nhà tắm, nơi rửa tay và xà phòng rửa tay; 3) Đối với người chăm sóc trẻ chính: yếu tố dân tộc, trình độ học vấn, số con và các hành vi vệ sinh cá nhân/ vệ sinh chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ

- Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy có mối liên quan thực sự giữa tình trạng SDD của trẻ với các yếu tố là: 1) Cấp gia đình: Nhà ở chật chội thiếu

thông thoáng, sử dụng nguồn nước ăn uống không HVS, không có nhà tiêu hoặc nhà tiêu không HVS; 2) Cấp cá nhân người chăm sóc trẻ: không rửa tay xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn, không vệ sinh vú ngay trước khi cho trẻ bú

- Dựa trên mô hình hồi quy, theo tính toán PAR, độ tin cậy 95%, ước tính có thể giảm được tỷ lệ SDD ở trẻ với những điều kiện sau: Giảm từ 0% đến 23% số trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và 0 đến 33% số trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi với điều kiện tất cả các hộ gia đình đều sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh; Giảm từ 1% đến 10% số trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và 4 đến 16% số trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi với điều kiện tất cả các hộ

57.7

36.2

14.6

22.5

8.3

36.9

28.3

4.7

32.6

19 6.2

21.7

10.7

35.2

14.9

29.1 24.3

48

19.6

36.5

0

10

20

30

40

50

60

70

Trang 7

gia đình đều sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh; Giảm từ 1% đến 10% số trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân nếu tất cả các bà mẹ và người trông trẻ đều rửa tay xà phòng trước và sau khi chuẩn bị thức ăn cho trẻ

Qua kết quả điều tra và phân tích, các tác giả đã đưa ra các khuyến nghị:

Về chính sách:

- CTMTQG NS&VSMT giai đoạn III cần tập trung vào lĩnh vực vệ sinh môi truờng, vệ sinh cá nhân Tỷ trọng đầu tư theo thứ tự ưu tiên: vùng sâu vùng xa, vùng có tỷ lệ bao phủ về nhà tiêu và chuồng trại hợp vệ sinh thấp

- Cần xây dựng kế hoạch hành động toàn diện và lộ trình rõ ràng cho việc thực hiện hợp phần vệ sinh trong CTMTQG NS&VSMT trong giai đoạn mới

- Có chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho việc hình thành thị trường thiết bị và vật liệu phục vụ cho việc xây dựng nhà tiêu HVS, phù hợp với vùng miền và mức sống của người dân

- Có chính sách hỗ trợ các gia đình nghèo có con SDD, tập trung vào vùng đồng bào dân tộc

- Lồng ghép, phối hợp các hoạt động cải thiện vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân vào các chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em và các chương trình khác đang triển khai tại cùng một địa bàn

Về can thiệp:

- Tiếp tục phát huy và thực hiện những mô hình khuyến khích vệ sinh đang phát huy hiệu quả như cộng đồng tham gia vào việc giải quyết triệt để việc phóng uế bừa bãi, vệ sinh môi trường mở rộng…, nhằm tăng nhanh tỷ lệ xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

- Nghiên cứu và xây dựng thêm mô hình tiếp thị vệ sinh, phù hợp với vùng miền và mức sống của người dân

- Tư vấn để người dân biết lựa chọn loại nhà tiêu phù hợp với điều kiện địa lý của địa phương và điều kiện kinh tế của gia đình, đặc biệt hướng dẫn để họ xây dựng, sử dụng và bảo quản nhà tiêu đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh

- Cải thiện chất lượng truyền thông giáo dục về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và chất lượng nước nhằm làm cho người dân có nhu cầu sử dụng nhà tiêu, sử dụng nước sạch và cải thiện hành vi vệ sinh cá nhân

- Hướng dẫn cho các bà mẹ/người chăm sóc trẻ biết và thường xuyên thực hiện các hành vi vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân và vệ sinh cho trẻ

7

Ngày đăng: 01/04/2014, 13:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w