Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - hướng đi tích cực để phát triển thị trường nông thôn
Trang 1Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - hướng đi tích cực để phát triển thị trường nông thôn trong tiến trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay
Th.S Nguyễn Văn Luyền
Đại học Thương Mại
Nước ta căn bản là một nước nông nghiệp, vì vậy nông dân, nông nghiệp và nôngthôn luôn là lực lượng và cơ sở vật chất quan trọng tạo nên sự hưng thịnh của dântộc Với quan điểm như vậy, trong đường lối đổi mới của Đảng, nghị quyết Hội nghị
TW6 (lần 1) khoá 8 đã đưa ra chủ trương: “phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hợp tác hoá với các giải pháp nhằm phát triển mạnh các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản, phải phát triển mạnh và đổi mới các hình thức kinh tế hợp tác".
Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một quá trìnhkhó khăn và lâu dài Đó là quá trình biến đổi về chất, toàn diện và là quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, phát huy lợi thế so sánh của từngkhu vực, trong đó phát triển một nền nông nghiệp và thị trường hàng hoá đa dạngtrên cơ sở một nền nông nghiệp gắn bó với công nghiệp, phát triển ngành nghề mới,một hệ thống dịch vụ có hiệu quả đáp ứng các yêu cầu phát triển trên địa bàn nôngthôn Để phát triển thị trường nông thôn, có nhiều hệ thống các giải pháp khác nhau,
cả ở tầm vi mô và quản lý nhà nước Trong phạm vi và giới hạn bài viết chúng tôi chỉ
đề cập đến sự tác động tích cực của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp đến sự phát triển thị trường nông thôn
1 Thực trạng cơ cấu kinh tế và thị trường nông thôn nước ta những năm gần đây
* Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta
Nước ta vốn là một nước thuần nông có nền kinh tế chưa phát triển, điều kiện sảnxuất còn lạc hậu Đó là hậu quả của nhiều năm chiến tranh và cơ chế bao cấp để lại.Nền kinh tế nói chung, và đặc biệt là kinh tế nông nghiệp nước ta chỉ được thức dậy
15 năm trở lại đây, từ khi có nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về “đổi mới quản lý kinh
tế nông nghiệp” (tháng 4 năm 1988) Tuy nhiên, về cơ cấu kinh tế và lao động ở khuvực nông thôn với các khu vực khác còn bất hợp lý, và ngay trong khu vực nôngthôn cũng còn mất cân đối nghiêm trọng giữa các ngành nghề và tỷ lệ lao độngđược phân bổ Thực trạng này biểu hiện qua một số nét chính cơ bản sau đây: Trước hết nói về cơ cấu lao động phân bổ cho các ngành nghề và các vùng trong cảnước còn mất cân đối lớn Đây là một khó khăn cho bước khởi đầu trong tiến trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Theo số liệu điều tra kinh tế
xã hội nông thôn, cho đến nay số hộ phi thuần nông ở nông thôn chiếm gần 20%tổng số hộ nông thôn cả nước và tạo ra từ 20% đến 25% thu nhập quốc dân trongkhu vực này, 80% là lao động nông nghiệp mà trong đó tỷ trọng lao động trồng trọt làchủ yếu Trong 7 vùng sinh thái của cả nước thì khu vực Đồng bằng sông Hồng vàtrung du miền núi có tỷ trọng hộ nông nghiệp cao hơn cả theo bảng thống kê dướiđây:
Đơn vị tính: %
Vùng
Loại hộ
Cảnước
Trungdumiền
Đồngbằngsông
Khu bốncũ
Duyênhải miền
TâyNguyên
ĐôngNam Bộ
Đồngbằngsông
Trang 2núi Hồng Trung CửuLong
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch còn chậm, giá trị sản lượng ngành trồngtrọt còn chiếm tỷ trọng cao từ 73% đến 75% tổng giá trị sản lượng
Trong sản xuất, diện tích cây lương thực vẫn giữ vai trò chủ đạo, với diện tích gieotrồng khoảng 78% đến 79%, các loại cây công nghiệp dài ngày chỉ chiếm tỷ trọngnhỏ Chăn nuôi chưa trở thành ngành sản xuất chính
Các ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn cònphát triển chậm Tỷ trọng công nghiệp dịch vụ đã tăng từ 12% những năm 1980 lên22% những năm gần đây song giá trị còn nhỏ và phát triển không đều Trong pháttriển còn nhỏ lẻ và đậm nét cổ truyền Các làng nghề truyền thống ngày càng bị maimột Một số ngành nghề mới phát triển nhưng chưa mang tính chiến lược, sản xuấtkhông ổn định, sản phẩm đầu ra kém sức cạnh tranh và chưa được nhà nước bảotrợ, khuyến khích Vấn đề tiêu thụ sản phẩm đã trở thành mối lo thường xuyên củangười nông dân
Công nghệ sinh học yếu tố cơ bản để chuyển dịch cơ cấu vật nuôi cây trồng, nângcao năng suất lao động nông nghiệp còn chưa được quan tâm và đầu tư thoả đáng,chưa xứng với yêu cầu đòi hỏi phát triển kinh tế xã hội nông thôn Mặt khác tìnhtrạng khai thác tài nguyên bừa bãi, môi trường sinh thái bị huỷ hoại dẫn đến việc quyhoạch, khai thác và phát huy lợi thế so sánh của từng vùng bị hạn chế
Một vấn đề nữa cũng là áp lực lớn trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp, nông thôn là lao động không đủ việc làm khoảng 9 triệu người, và mỗinăm gia tăng khoảng gần 1 triệu người Riêng ở Đồng bằng sông Hồng có 70 vạnhécta đất nông nghiệp nhưng đã tập trung trên 8 triệu lao động nông thôn, với mật
độ trên 10 lao động 1 ha Trong khi tốc độ đô thị hoá làm cho đất nông nghiệp bị thuhẹp ngày càng lớn Trước vấn đề này thì phát triển nông nghiệp trên cơ sở chuyểndịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nôngthôn, các ngành nghề dịch vụ nông thôn sẽ là con đường tất yếu trong tiến trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn hiện nay
* Thị trường nông thôn nước ta những năm gần đây
Sự phát triển của kinh tế nông thôn được phản ánh thông qua thị trường về quy mô,phương thức hoạt động và cơ cấu cung cầu Ngược lại, những tín hiệu của thịtrường về quan hệ cung cầu với mặt hàng, dịch vụ lại là định hướng tích cực chophát triển kinh tế nông thôn thông qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các
Trang 3ngành nghề và giữa các vùng Trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp manh mún
và lạc hậu cơ cấu kinh tế chưa tạo đà cho sự phát triển, chưa có chiến lược và quyhoạch tổng thể, thị trường nông thôn còn có những đặc điểm sau:
Thị trường nông nghiệp nước ta được hình thành và phát triển còn mang tính tựphát, nó mang sắc thái của nền sản xuất nhỏ phân tán Sức mua của thị trường thấphơn nhiều so với thị trường thành phố, do mức thu nhập của người dân còn thấp.Hiện nay cả nước vẫn còn 16% số hộ nghèo với khoảng 12,5 triệu người thuộc diệnnghèo, trong đó có khoảng 30 vạn hộ thiếu lương thực mà chủ yếu là các vùng nôngthôn và miền núi Những hộ này ngoài sản phẩm nông nghiệp họ ít có thu nhậpbằng tiền từ các sản phẩm khác Mặt khác, quy mô thị trường nông thôn rất hạnhẹp, đó cũng là hiệu quả tất yếu của nền nông nghiệp nhỏ manh mún Kiến thứckinh doanh còn hạn chế, buôn bán tự phát, thanh toán bằng tiền mặt, mua bán theokiểu trao tay, và chủ yếu chỉ giới hạn trong các chợ làng là chính Những tiểu thươngtham gia thị trường thông thường chỉ là những người nông dân tại chỗ Nhữngthương nhân lớn hoạt động trong môi trường này cũng chưa đủ sức mạnh để phá
bỏ các luật, lệ làng và những rào cản văn hoá khác Theo thống kê cả nước cókhoảng 4000 chợ thì trên địa bàn nông thôn có tới 3600 chợ chiếm 90%, chưa kểhàng ngàn chợ nhỏ ở các thôn và cụm dân cư Như vậy, với quy mô và hệ thốngchợ nông thôn này nếu được định hướng quy hoạch và phát triển, cùng với sự đầu
tư cơ sở hạ tầng, thì đây là điều kiện tốt để giao thương với các khu vực khác và là
cơ sở để phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khu vực nông thôn
2 Những thành tựu đạt được trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp những năm đổi mới
Với đường lối và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng trong tiến trình công nghiệphoá, hiện đại hoá và quá trình hội nhập là: tập trung và ưu tiên phát triển bền vữngnông nghiệp và nông thôn Tuy còn khiêm tốn song cũng đã khẳng định được sựphát triển mọi mặt trong khu vực nông thôn do những tác động tích cực từ cácchương trình, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp:
So với những năm 1990 diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng 49,8%, cây côngnghiệp dài ngày tăng 82,9%, cây ăn quả tăng 55,6%, trong khi đó diện tích câylương thực tăng 20,1%, diện tích gieo trồng lúa tăng 27%, năng suất tăng 43%, diệntích cao su tăng 61,7% ,năng suất tăng 114,4%, đàn lợn tăng 46,3%, trọng lượnghơi xuất chuồng tăng 27%, sản lượng cà phê tăng gấp 20 lần, cao su gấp 3,5 lần,chè gấp 1,8 lần, điều 104 lần Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm sản đạt 2,85 tỷ USD,bằng 35% giá trị sản lượng toàn ngành Tỷ lệ che phủ màu xanh của rừng đạt trên30% Các vùng chuyên canh sản xuất tập trung với quy mô lớn dần được hình thànhnhư: lúa gạo (vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng sông Hồng), cà phê,cao su (Tây Nguyên, Đông Nam Bộ), chè (Trung du miền núi phía Bắc và LâmĐồng), mía đường (Khu 4, Duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ), điều (Duyên hảimiền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên)
Nhà nước đã quan tâm và đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chếbiến làm cho hiệu suất sử dụng sản phẩm nông nghiệp tăng lên, giá trị tăng lênnhiều lần Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ với sự ưu đãi đã định hướng hoạt động
về thị trường nông thôn để khai thác về đất đai và lao động Các ngành nghề truyềnthống và dịch vụ nông thôn phát triển khá nhanh, mỗi năm bình quân 9% đến 10%
về giá trị sản lượng Làm cho tỷ trọng giá trị sản lượng các ngành nghề và dịch vụtăng dần trong cơ cấu kinh tế nông thôn, từ dưới 10% lên trên 30% như hiện nay.Với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đã làm cho đời sống của người nôngdân được cải thiện rõ rệt Tỷ lệ hộ giàu tăng lên từ 8,08% năm 1990 lên hơn 20%
Trang 4như hiện nay Số hộ đầu tư vốn cho kinh tế trang trại bình quân 200 triệu đồng đã cótrên 1% Số hộ nghèo giảm từ 25% xuống còn 17,4% năm 1998 Nhiều vùng nôngthôn đã đổi thay rõ rệt về cơ sở hạ tầng Tính đến năm 1998 đã có trên 93% số xã
có đường ô tô tới khu trung tâm xã, 70% số xã và trên 50% số hộ có điện và đượcdùng điện lưới quốc gia, 71% số xã có điện thoại, 98% số xã có trường tiểu học và76% số xã có trường phổ thông cơ sở, 93% số xã có trạm y tế, 36% dân cư nôngthôn được dùng nước sạch
Những thành tích đạt được trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn làrất đáng tự hào, song so với mục tiêu cần đạt được trong lộ trình thì còn nhiều điềucần phải làm Như tốc độ phát triển, tính đồng bộ và toàn diện, tỷ lệ vốn đầu tư trong
cơ cấu, các chế tài và điều kiện tạo đà cho sự phát triển sau này
3 Định hướng chuyển dịch cơ cấu và đầu tư phát triển thị trường nông thôn
* Quan điểm và mục tiêu phát triển
Quán triệt quan điểm của Đảng ta trong quá trình phát triển là lấy nông nghiệp, nôngthôn làm nền tảng và là điều kiện tích cực để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đạihoá nền kinh tế quốc dân, cụ thể là:
- Phát triển thị trường nông thôn thông suốt, thống nhất với thị trường cả nước đểđiều hoà nguồn lực Từng bước hoà nhập với thị trường khu vực và thị trường quốctế
- Thị trường nông thôn phát triển phải có tác động tích cực tới việc chuyển đổi cơcấu kinh tế nông nghiệp có hiệu quả Có vai trò định hướng, hướng dẫn người sảnxuất nông nghiệp chăn nuôi và làm ra sản phẩm gì phù hợp với yêu cầu của thịtrường và trở thành người bạn tin cậy của họ
- Phát triển thị trường nông thôn bảo đảm khai thác có hiệu quả tiềm năng nôngnghiệp nông thôn, phát huy và phát triển tiềm năng của từng sản phẩm, từng ngànhnghề và từngvùng
- Cần cải tiến và tổ chức lại hệ thống, đổi mới cơ chế quản lý các hoạt động thươngmại Xây dựng thị trường đồng bộ gồm thị trường hàng tiêu dùng, thị trường vật tư,dịch vụ, lao động, thị trường vốn với nhiều thành phần tham gia, để hướng vàoviệc mở rộng sức mua, kích thích nhu cầu mà nhà nước tham gia bao tiêu phần lớncác sản phẩm nông sản và phát triển công nghệ chế biến những nông sản có tỷtrọng hàng hoá cao
Mục tiêu cơ bản trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nôngthôn từ nay đến năm 2010 là: Phải bảo đảm an ninh lương thực quốc gia với dân sốkhoảng 80 triệu người năm 2000 và 91 đến 94 triệu người năm 2010 Với đời sốngvật chất và tinh thần tăng lên không ngừng Đến năm 2010 thu nhập của nông dântăng gấp 2 lần, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%, nâng cấp cơ sở hạ tầng bảođảm 100% xã có đường ô tô tới khu trung tâm, có trường học, trạm y tế Bảo vệ môitrường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển bền vững, bảo đảm độ che phủ củarừng năm 2000 đạt 33% và năm 2010 là 43%
* Những định hướng chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu
Để bảo đảm một tỷ lệ lao động hợp lý trong nông nghiệp là 50% và công nghiệp dịch
vụ 50% Trong ngành nông lâm nghiệp, trồng trọt chiếm 60%, chăn nuôi chiếm 40%giá trị sản lượng toàn ngành Xây dựng cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng: nôngnghiệp - công nghiệp và ngành nghề - dịch vụ đến năm 2010, những chương trìnhlớn cần thực hiện trong ngành nông nghiệp là:
Trang 5- Mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng cây lương thực, cây công nghiệp, rau,hoa, quả, bảo đảm cung cấp đủ cho tiêu dùng, nguyên liệu cho các ngành côngnghiệp chế biến và hướng mạnh ra xuất khẩu Chương trình an ninh lương thực bảođảm cho phát triển bền vững nền kinh tế vì vậy từ nay đến năm 2010 phải giữ tốc độtăng trưởng về sản lượng lương thực ít nhất là 2% năm, và duy trì cho được 4,2triệu ha sản xuất lúa Phát triển khoảng 3 triệu ha cây công nghiệp và cây ăn quả lâunăm, khoảng 1,2 triệu ha cây công nghiệp Đến năm 2010 cà phê: 400.000 ha, cao
su 700.000 ha, chè 100 đến 120.000 ha, lạc 500.000 ha, cây ăn quả 1 triệuha Ngoài việc đáp ứng đủ nhu cầu trong nước bảo đảm kim ngạch xuất khẩu đạt 6đến 6,5 tỷ USD vào năm 2010 Hình thành các vùng chuyên canh lớn cùng với côngnghệ chế biến hiện đại để bao tiêu và nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm nôngsản
- Trong nông nghiệp phải đưa chăn nuôi trở thành ngành chính, có sản lượng vàchất lượng cao Mục tiêu đề ra đến năm 2010 đạt được khoảng 10 triệu con trâu bò,
24 triệu con lợn, khoảng 300 triệu con gia cầm, với gần 4 triệu tấn thịt hơi các loại,sữa tươi là 200.000 tấn Ngành chăn nuôi phấn đấu đạt khoảng 40% GDP trongnông nghiệp
- Phát triển mạnh và đầu tư thoả đáng cho công nghiệp chế biến nông sản Đẩynhanh tiến bộ kỹ thuật khâu sau thu hoạch để giảm hao hụt gạo còn 8% đến 9%, rauquả dưới 70%, các công nghệ chế biến, bảo quản rau, quả, đậu thịt phải được cảitiến và áp dụng công nghệ hiện đại Đến năm 2010 đảm bảo chế biến công nghệp100% cao su, cà phê, chè điều, 90% mía, 30% rau quả và thịt
- Khôi phục và phát triển các ngành nghề nông thôn, đặc biệt là các làng nghềtruyền thống, các cơ sở chế biến, khuyến khích các ngành công nghiệp sử dụngnhiều lao động và vật liệu tại chỗ như công nghiệp giấy đạt 90%, da giầy 75%, dệtmay 70%, vật liệu xây dựng 100%, sành sứ 90%
- Phát triển mạnh các ngành nghề dịch vụ phục vụ nông nghiệp tạo đà cho sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế như ngành cơ khí nông nghiệp, dịch vụ tư vấn tìm kiếmngành nghề, nuôi trồng chế biến, dịch vụ cung ứng tài chính nông nghiệp, tổ chứcquản lý và đào tạo nâng cao tay nghề và trình độ quản lý sản xuất, kinh doanh trênđịa bàn nông thôn
Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải gắn với đầu tư cho phát triểncông nghệ và xúc tiến thương mại trên thị trường nông thôn Đặc biệt cần có sựquan tâm đúng mức của Đảng và sự năng động sáng tạo của các tổ chức các cơ sởdoanh nghiệp, tinh thần, ý thức xây dựng và phát triển của người dân nông thôn,cũng như đội ngũ trí thức vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
và nông thôn trong lộ trình phát triển và hoà nhập cùng khu vực và quốc tế
Tác động qua lại giữa chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu ngân sách: Thực trạng và giải pháp
Chủ nhiệm đề tài: Ths Trần Kim Chung
Công cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam từ 1986, mà nổi bật là từ những năm 90,đến nay đã đạt được những thành tựu nhất định Kinh tế luôn có mức tăng trưởngkhá kể cả trong những thời điểm khủng hoảng kinh tế khu vực Cơ cấu kinh tế đã cónhững chuyển biến tích cực Nền kinh tế đã có thêm những thành phần mới Tỷtrọng công nghiệp, dịch vụ đã tăng lên và tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP
đã giảm xuống Tuy nhiên, kinh nghiệm từ bài học khủng hoảng kinh tế khu vực đãđặt ra (và trước đó cũng đã có nhiều cảnh báo) là chất lượng tăng trưởng kinh tế dođâu, và cơ cấu kinh tế thế nào là hợp lý, vì từ đó, có thể xác định được các nhân tố
Trang 6tham gia trong từng thời kỳ và mối quan hệ qua lại giữa chúng tác động tích cực tớităng trưởng kinh tế
Trước đây, hầu hết các nghiên cứu về chuyển đổi cơ cấu phổ biến dừng lại ở cáchtiếp cận về quan hệ sản xuất, cơ cấu ngành gộp hoặc các nghiên cứu thông quaquan sát giữa nguyên nhân và kết quả mà chưa phân tích được mối liên hệ giữa cácđối tượng bằng những tính toán định lượng Vì vậy, đề tài đã mạnh dạn đưa năngsuất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity-TFP) vào sử dụng để tính toán mứctăng trưởng TFP cho nền kinh tế, theo ngành kinh tế và theo thành phần kinh tếcũng như tác động của nó lên chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và theo thànhphần
Trên cơ sở tính toán TFP và tác động của tăng trưởng TFP lên chuyển dịch cơ cấukinh tế cho Việt Nam những năm 90 đối với toàn nền kinh tế, theo ngành và theothành phần kinh tế, đề tài đã đưa ra một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh tăng cườngtăng trưởng TFP để đạt đến một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóatrong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế đang diễn ra hết sức mạnh mẽ
1- Đánh giá việc thực hiện Chiến lược kinh tế - xã hội 1991 - 2000
Chiến lược 10 năm 1991 - 2000 được thực hiện khi nền kinh tế đang có một số chuyểnbiến tích cực, nhưng đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; chế độ xãhội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan vỡ; Mỹ tiếp tục bao vây, cấm vận nước ta; cácthế lực thù địch tìm cách chống phá ta về nhiều mặt; những năm cuối thập kỷ 90, nước
ta lại chịu tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và bị thiệthại lớn do thiên tai liên tiếp xảy ra trên nhiều vùng
Mặc dù có nhiều khó khăn, thách thức gay gắt, nhìn chung việc thực hiện Chiến lược
1991 - 2000 đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng:
(1) Sau mấy năm đầu thực hiện Chiến lược, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế
-xã hội Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm tăng hơn gấp đôi (2,07 lần) Tíchlũy nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể, đến năm 2000 đã đạt 27% GDP Từtình trạng hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng, nay sản xuất đã đáp ứng được các nhucầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế, tăng xuất khẩu và có dự trữ Kết cấu hạ tầngkinh tế, xã hội phát triển nhanh Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực TrongGDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3%, công nghiệp từ 22,7% tăng lên36,6%, dịch vụ từ 38,6% tăng lên 39,1%
(2) - Quan hệ sản xuất đã có bước đổi mới phù hợp hơn với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất và thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế; doanh nghiệp nhà nướcđược sắp xếp lại một bước, thích nghi dần với cơ chế mới, hình thành những tổng công
ty lớn trên nhiều lĩnh vực then chốt Kinh tế tập thể có bước chuyển đổi và phát triển đadạng theo phương thức mới Kinh tế hộ phát huy tác dụng rất quan trọng trong nôngnghiệp; kinh tế cá thể, tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh Cơchế quản lý và phân phối có nhiều đổi mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.(3)- Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, nước ta đã phát triển quan hệ kinh tế với hầu khắp cácnước, gia nhập và có vai trò ngày càng tích cực trong nhiều tổ chức kinh tế quốc tế vàkhu vực, chủ động từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới Nhịp độ tăngkim ngạch xuất khẩu gần gấp ba nhịp độ tăng GDP Thu hút được một khối lượng khálớn vốn từ bên ngoài cùng nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến
(4)- Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Trình độ dân trí,chất lượng nguồn nhân lực và tính năng động trong xã hội được nâng lên đáng kể Đã
Trang 7hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước; bắt đầuphổ cập trung học cơ sở ở một số thành phố, tỉnh đồng bằng Số sinh viên đại học, caođẳng tăng gấp 6 lần Đào tạo nghề được mở rộng Năng lực nghiên cứu khoa học đượctăng cường, ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến Các hoạt động văn hóa, thông tin pháttriển rộng rãi và nâng cao chất lượng
Mỗi năm tạo thêm 1,2 - 1,3 triệu việc làm mới Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn của nướcta) từ trên 30% giảm xuống 11% Người có công với nước được quan tâm chăm sóc Tỷ
lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm từ 2,3% giảm xuống 1,4% Tuổi thọ bình quân từ 65tuổi tăng lên 68 tuổi Việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em, chăm lo sức khỏe cộng đồng,phòng, chống dịch bệnh có nhiều tiến bộ Phong trào thể dục rèn luyện sức khỏe pháttriển; thành tích thi đấu thể thao trong nước và quốc tế được nâng lên
Trong hoàn cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, những thành tựu và tiến bộ về văn hóa, xãhội là sự cố gắng rất lớn của toàn Đảng, toàn dân ta
(5)- Cùng với những nỗ lực to lớn của lực lượng vũ trang nhân dân trong xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội đã tạo điều kiện tăng cườngtiềm lực, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, giữ vững độc lập,chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm ổn định chính trị và trật tự an toàn xãhội
Đánh giá tổng quát, phần lớn các mục tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược kinh tế - xãhội 1991 - 2000 đã được thực hiện Nền kinh tế có bước phát triển mới về lực lượngsản xuất, quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế; đời sống vật chất, tinh thần củanhân dân được cải thiện rõ rệt, văn hóa xã hội không ngừng tiến bộ; thế và lực của đấtnước hơn hẳn 10 năm trước, khả năng độc lập tự chủ được nâng lên, tạo thêm điềukiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nguyên nhân của những thành tựu là đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng cùngnhững cố gắng và tiến bộ trong công tác quản lý của Nhà nước đã phát huy được nhân
tố có ý nghĩa quyết định là ý chí kiên cường, tính năng động, sáng tạo và sự nỗ lựcphấn đấu của nhân dân ta
Tuy nhiên, những thành tựu và tiến bộ đã đạt được chưa đủ để vượt qua tình trạngnước nghèo và kém phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước Trình độphát triển kinh tế của nước ta còn thấp xa so với mức trung bình của thế giới và kém
nhiều nước xung quanh Thực trạng kinh tế - xã hội vẫn còn những mặt yếu kém, bất
cập, chủ yếu là:
(1)- Nền kinh tế kém hiệu quả và sức cạnh tranh còn yếu Tích lũy nội bộ và sức muatrong nước còn thấp Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa, gắn sản xuất với thị trường; cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý Tình trạngbao cấp và bảo hộ còn nặng Đầu tư của Nhà nước còn thất thoát và lãng phí Đầu tưtrực tiếp của nước ngoài giảm mạnh Nhịp độ tăng trưởng kinh tế những năm gần đâygiảm sút, năm 2000 tuy đã tăng lên nhưng còn thấp hơn mức của những năm giữa thập
kỷ 90
(2)- Quan hệ sản xuất có mặt chưa phù hợp, hạn chế việc giải phóng và phát triển lựclượng sản xuất Chưa có chuyển biến đáng kể trong việc đổi mới và phát triển doanhnghiệp nhà nước Kinh tế tập thể phát triển chậm, việc chuyển đổi các hợp tác xã theoLuật ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả thấp Các thành phần kinh tế khácchưa phát huy hết năng lực, chưa thực sự được bình đẳng và yên tâm đầu tư kinhdoanh Cơ chế quản lý, chính sách phân phối có mặt chưa hợp lý, chưa thúc đẩy tiếtkiệm, tăng năng suất, kích thích đầu tư phát triển; chênh lệch giàu nghèo tăng nhanh
Trang 8(3)- Kinh tế vĩ mô còn những yếu tố thiếu vững chắc Hệ thống tài chính, ngân hàng, kếhoạch đổi mới chậm, chất lượng hoạt động hạn chế; môi trường đầu tư, kinh doanh cònnhiều vướng mắc, chưa tạo điều kiện và hỗ trợ tốt cho các thành phần kinh tế phát triểnsản xuất, kinh doanh.
(4)- Giáo dục, đào tạo còn yếu về chất lượng, cơ cấu đào tạo chưa phù hợp, có nhiềutiêu cực trong dạy, học, và thi cử Khoa học và công nghệ chưa thật sự trở thành độnglực phát triển kinh tế - xã hội Cơ sở vật chất của các ngành y tế, giáo dục, khoa học,văn hóa, thông tin, thể thao còn nhiều thiếu thốn Việc đổi mới cơ chế quản lý và thựchiện xã hội hóa trong các lĩnh vực này triển khai chậm
(5)- Đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng núi, vùngsâu, vùng thường bị thiên tai Số lao động chưa có việc làm và thiếu việc làm còn lớn.Nhiều tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi, nạn ma túy, mại dâm, lây nhiễm HIV-AIDS cóchiều hướng lan rộng Tai nạn giao thông ngày càng tăng Môi trường sống bị ô nhiễmngày càng nhiều
Những mặt yếu kém, bất cập nói trên có phần do điều kiện khách quan, nhưng chủ yếu
là do những khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nổi lên là:
Công tác tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật và chính sách của Nhànước chưa nghiêm, kém hiệu lực, hiệu quả Sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành có phầnthiếu nhanh nhạy, chưa thật chủ động tranh thủ thời cơ Vai trò lãnh đạo của Đảng, chứcnăng quản lý, điều hành của Nhà nước ở các cấp chưa được phân định rành mạch vàphát huy đầy đủ Nguyên tắc tập trung dân chủ chưa được thực hiện tốt, trách nhiệm tậpthể chưa được xác định rõ ràng, vai trò cá nhân phụ trách chưa được đề cao; kỷ luậtkhông nghiêm
Một số vấn đề về quan điểm như sở hữu và thành phần kinh tế, vai trò của Nhà nước vàthị trường, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, hội nhập kinh tế quốc tế chưa đượclàm rõ, chưa có sự thống nhất trong nhận thức và thông suốt trong thực hiện, làm choviệc hoạch định chủ trương, chính sách và thể chế hóa thiếu dứt khoát, thiếu nhất quán,chậm trễ, gây trở ngại cho công cuộc đổi mới và công tác tổ chức thực hiện
Công tác cải cách hành chính tiến hành chậm, thiếu kiên quyết cả về xây dựng và hoànthiện thể chế, kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực và làm trong sạch đội ngũ cán bộ,công chức
Công tác tư tưởng, công tác lý luận, công tác tổ chức, cán bộ có nhiều yếu kém, bấtcập Việc tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận không theo kịp yêu cầu Tổ chức bộmáy cồng kềnh, chồng chéo, kém hiệu lực và hiệu quả Một bộ phận không nhỏ cán bộ,công chức thoái hóa biến chất, thiếu năng lực Tình trạng mất dân chủ, tệ quan liêu, cửaquyền, tham nhũng, sách nhiễu dân, lãng phí còn nặng, đang là lực cản của sự pháttriển và gây bất bình trong nhân dân
- Bối cảnh quốc tế
Bối cảnh quốc tế trong thời gian tới có nhiều thời cơ lớn đan xen với nhiều thách thứclớn Khả năng duy trì hòa bình, ổn định trên thế giới và khu vực cho phép chúng ta tậptrung sức vào nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế; đồng thời đòi hỏi phải đề caocảnh giác, chủ động đối phó với những tình huống bất trắc, phức tạp có thể xảy ra.Một số xu thế tác động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta 10 nămtới là:
Khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tiếptục có những bước nhảy vọt, ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúcđẩy sự phát triển kinh tế tri thức, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu
Trang 9sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội Tri thức và sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càngquan trọng Trình độ làm chủ thông tin, tri thức có ý nghĩa quyết định sự phát triển Chutrình luân chuyển vốn, đổi mới công nghệ và sản phẩm ngày càng được rút ngắn; cácđiều kiện kinh doanh trên thị trường thế giới luôn thay đổi đòi hỏi các quốc gia cũngnhư doanh nghiệp phải rất nhanh nhạy nắm bắt, thích nghi Các nước đang phát triển,trong đó có nước ta, có cơ hội thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển, cảithiện vị thế của mình; đồng thời đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn nếu không tranhthủ được cơ hội, khắc phục yếu kém để vươn lên.
Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết cáclĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhaugiữa các nền kinh tế Quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia ngày càngsâu rộng cả trong kinh tế, văn hóa và bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm, thiêntai và các đại dịch Các công ty xuyên quốc gia tiếp tục cấu trúc lại, hình thành nhữngtập đoàn khổng lồ chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế Sự cách biệt giàu nghèo giữa cácquốc gia ngày càng tăng
Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác để pháttriển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triểnbảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, chống lại những ápđặt phi lý của các cường quốc kinh tế, các công ty xuyên quốc gia Đối với nước ta,tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới được nâng lên một bước mới gắnvới việc thực hiện các cam kết quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải ra sức nâng cao hiệuquả, sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quảvào phân công lao động quốc tế
Châu Á - Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động, trong đó Trung Quốc
có vai trò ngày càng lớn Sau khủng hoảng tài chính - kinh tế, nhiều nước ASEAN vàĐông Á đang khôi phục đà phát triển với khả năng cạnh tranh mới Tình hình đó tạothuận lợi cho chúng ta trong hợp tác phát triển kinh tế, đồng thời cũng gia tăng sức épcạnh tranh cả trong và ngoài khu vực
Mục tiêu chiến lược
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược 10 năm 2001 - 2010 là: Đưa nước ta ra khỏi
tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước
ta trên trường quốc tế được nâng cao
Mục tiêu cụ thể của Chiến lược là:
- Đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000 Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sứccạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế; đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêudùng thiết yếu, một phần đáng kể nhu cầu sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu ổn địnhkinh tế vĩ mô; cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh và tăng dự trữ ngoại tệ; bội chingân sách, lạm phát, nợ nước ngoài được kiểm soát trong giới hạn an toàn và tácđộng tích cực đến tăng trưởng Tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt trên 30% GDP Nhịp độtăng xuất khẩu gấp trên 2 lần nhịp độ tăng GDP Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp
16 - 17%, công nghiệp 40 - 41%, dịch vụ 42 - 43% Tỷ lệ lao động nông nghiệp cònkhoảng 50%
- Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta Tốc độ tăng dân sốđến năm 2010 còn 1,1% Xoá hộ đói, giảm nhanh hộ nghèo Giải quyết việc làm ở cả
Trang 10thành thị và nông thôn (thất nghiệp ở thành thị dưới 5%, quỹ thời gian lao động được
sử dụng ở nông thôn khoảng 80-85%); nâng tỷ lệ người lao động được đào tạo nghềlên khoảng 40% Trẻ em đến tuổi đi học đều được đến trường; hoàn thành phổ cậptrung học cơ sở trong cả nước Người có bệnh được chữa trị; giảm tỷ lệ trẻ em (dưới
5 tuổi) suy dinh dưỡng xuống khoảng 20%; tăng tuổi thọ trung bình lên 71 tuổi Chấtlượng đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần được nâng lên rõ rệt trong môi trường xãhội an toàn, lành mạnh; môi trường tự nhiên được bảo vệ và cải thiện
- Năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ đủ khả năng ứng dụng các công nghệhiện đại, tiếp cận trình độ thế giới và tự phát triển trên một số lĩnh vực, nhất là côngnghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hoá
- Kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và
có bước đi trước Hệ thống giao thông bảo đảm lưu thông an toàn, thông suốt quanhnăm và hiện đại hoá một bước Mạng lưới giao thông nông thôn được mở rộng vànâng cấp Hệ thống đê xung yếu được củng cố vững chắc; hệ thống thủy nông pháttriển và phần lớn được kiên cố hóa Hầu hết các xã được sử dụng điện, điện thoại vàcác dịch vụ bưu chính - viễn thông cơ bản, có trạm xá, trường học kiên cố, nơi sinhhoạt văn hóa, thể thao Bảo đảm về cơ bản cơ sở vật chất cho học sinh phổ thônghọc cả ngày tại trường Có đủ giường bệnh cho bệnh nhân
- Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được tăng cường, chi phối các lĩnh vực thenchốt của nền kinh tế; doanh nghiệp nhà nước được đổi mới, phát triển, sản xuất, kinhdoanh có hiệu quả Kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân,kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đều phát triển mạnh và lâudài Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơbản và vận hành thông suốt, có hiệu quả
- Quan điểm phát triển
Chiến lược 10 năm 2001 - 2010 là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển;nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đểđến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiệnđại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềmlực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trườngquốc tế được nâng cao
Mục tiêu cụ thể của Chiến lược là:
- Đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000 Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sứccạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế; đáp ứng tốt hơn nhu cầutiêu dùng thiết yếu, một phần đáng kể nhu cầu sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu ổ nđịnh kinh tế vĩ mô; cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh và tăng dự trữ ngoại tệ;bội chi ngân sách, lạm phát, nợ nước ngoài được kiểm soát trong giới hạn an toàn
và tác động tích cực đến tăng trưởng Tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt trên 30% GDP.Nhịp độ tăng xuất khẩu gấp trên 2 lần nhịp độ tăng GDP Tỷ trọng trong GDP củanông nghiệp 16 - 17%, công nghiệp 40 - 41%, dịch vụ 42 - 43% Tỷ lệ lao động nôngnghiệp còn khoảng 50%
- Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta Tốc độ tăng dân
số đến năm 2010 còn 1,1% Xoá hộ đói, giảm nhanh hộ nghèo Giải quyết việc làm
ở cả thành thị và nông thôn (thất nghiệp ở thành thị dưới 5%, quỹ thời gian lao độngđược sử dụng ở nông thôn khoảng 80-85%); nâng tỷ lệ người lao động được đàotạo nghề lên khoảng 40% Trẻ em đến tuổi đi học đều được đến trường; hoàn thànhphổ cập trung học cơ sở trong cả nước Người có bệnh được chữa trị; giảm tỷ lệ trẻ
Trang 11em (dưới 5 tuổi) suy dinh dưỡng xuống khoảng 20%; tăng tuổi thọ trung bình lên 71tuổi Chất lượng đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần được nâng lên rõ rệt trong môitrường xã hội an toàn, lành mạnh; môi trường tự nhiên được bảo vệ và cải thiện.
- Năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ đủ khả năng ứng dụng các công nghệhiện đại, tiếp cận trình độ thế giới và tự phát triển trên một số lĩnh vực, nhất là côngnghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hoá
- Kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và
có bước đi trước Hệ thống giao thông bảo đảm lưu thông an toàn, thông suốt quanhnăm và hiện đại hoá một bước Mạng lưới giao thông nông thôn được mở rộng vànâng cấp Hệ thống đê xung yếu được củng cố vững chắc; hệ thống thủy nông pháttriển và phần lớn được kiên cố hóa Hầu hết các xã được sử dụng điện, điện thoại
và các dịch vụ bưu chính - viễn thông cơ bản, có trạm xá, trường học kiên cố, nơisinh hoạt văn hóa, thể thao Bảo đảm về cơ bản cơ sở vật chất cho học sinh phổthông học cả ngày tại trường Có đủ giường bệnh cho bệnh nhân
- Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được tăng cường, chi phối các lĩnh vực thenchốt của nền kinh tế; doanh nghiệp nhà nước được đổi mới, phát triển, sản xuất,kinh doanh có hiệu quả Kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tưnhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đều phát triểnmạnh và lâu dài Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hìnhthành về cơ bản và vận hành thông suốt, có hiệu quả
- Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiệntiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường
Phát huy mọi nguồn lực để phát triển nhanh và có hiệu quả những sản phẩm,ngành, lĩnh vực mà nước ta có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước và đẩy mạnhxuất khẩu, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước vàngoài nước Tăng nhanh năng suất lao động xã hội và nâng cao chất lượng tăngtrưởng Triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng tích lũy cho đầu tư phát triển
Các vùng kinh tế trọng điểm có nhịp độ tăng trưởng cao hơn mức bình quân chung,đóng góp lớn vào tăng trưởng của cả nước và lôi kéo, hỗ trợ các vùng khác, nhất làcác vùng có nhiều khó khăn, cùng phát triển
Tăng nhanh năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng vàhiệu quả giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đẩymạnh việc ứng dụng có hiệu quả các công nghệ nhập khẩu Đi nhanh vào côngnghệ hiện đại ở những ngành và lĩnh vực then chốt để tạo bước nhảy vọt về côngnghệ và kinh tế, tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở những sản phẩm và dịch vụ chủlực Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạnphát triển Nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội,từng bước phát triển kinh tế tri thức ở nước ta
Nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho mọi người đều có thể phát huy hết tài năng,tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả phát triển, đồng thời nângcao trách nhiệm của mỗi người góp sức thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh, giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc, đẩy lùi các
tệ nạn xã hội Nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân về ăn, mặc, ở, đi lại,phòng và chữa bệnh, học tập, làm việc, tiếp nhận thông tin, sinh hoạt văn hóa.Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xóa đói, giảm nghèo, tạo điềukiện về hạ tầng và năng lực sản xuất để các vùng, các cộng đồng đều có thể tự pháttriển, tiến tới thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.Thiết thực chăm lo sự bình đẳng về giới, sự tiến bộ của phụ nữ; đặc biệt chăm lo sự
Trang 12phát triển và tiến bộ của trẻ em.
Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sựhài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinhhọc Chủ động phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, của sự biến độngkhí hậu bất lợi và tiếp tục giải quyết hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường.Bảo vệ và cải tạo môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, tăng cường quản lýnhà nước đi đôi với nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người dân Chủ động gắnkết yêu cầu cải thiện môi trường trong mỗi quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự
án phát triển kinh tế - xã hội, coi yêu cầu về môi trường là một tiêu chí quan trọngđánh giá các giải pháp phát triển
- Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho mộtnước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết
Bằng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp các nguồn lực trong nước và ngoài nước, tập trung sức phát triển kinh tế để xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nước công nghiệp theo hướng hiện đại với những nội dung chủ yếu như sau:
Xây dựng tiềm lực kinh tế và cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu công nghiệphóa, hiện đại hóa, bao gồm: kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; nền công nghiệp, trong
đó có công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng, công nghiệp công nghệ cao,công nghiệp quốc phòng; nền nông nghiệp hàng hóa lớn; các dịch vụ cơ bản; tiềmlực khoa học và công nghệ Trên cơ sở hiệu quả tổng hợp về kinh tế - xã hội, trướcmắt và lâu dài, triển khai xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu và xâydựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng, cấp thiết, có điều kiện
về vốn, công nghệ, thị trường, phát huy nhanh tác dụng, đáp ứng yêu cầu phát triểncủa các ngành kinh tế và quốc phòng, an ninh
Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam với yêu cầu ngày càng cao
Hình thành về cơ bản và vận hành thông suốt, có hiệu quả thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
- Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát huy mọi nguồn lực.Tiếp tục đổi mới sâu rộng, đồng bộ về kinh tế, xã hội và bộ máy nhà nước hướngvào hình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩanhằm giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy sức mạnh vậtchất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, tạo động lực và nguồn lực phát triểnnhanh, bền vững
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo Tập trung tháo gỡ mọi vướng mắc, xóa bỏmọi trở lực để khơi dậy nguồn lực to lớn trong dân, cổ vũ các nhà kinh doanh và mọingười dân ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Tiếp tục cải thiện môi trườngđầu tư để thu hút tốt hơn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài Nội lực
là quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với nhau thành nguồn lực tổng hợp đểphát triển đất nước
- Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tếquốc tế
Độc lập tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả Hộinhập kinh tế quốc tế có hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây dựng kinh tế độc lập
Trang 13tự chủ.
Xây dựng kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối phát triểntheo định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạotiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh; có cơcấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả và sức cạnh tranh; có thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm nền kinh tế đủ sứcđứng vững và ứng phó được với các tình huống phức tạp, tạo điều kiện thực hiện cóhiệu quả các cam kết hội nhập quốc tế
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ mọi thời cơ để phát triển trên nguyêntắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia vàbản sắc văn hóa dân tộc; bình đẳng cùng có lợi, vừa hợp tác vừa đấu tranh; đaphương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại; đề cao cảnh giác trước mọi
âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch
Trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chú trọng phát huy lợi thế, nângcao chất lượng, hiệu quả, không ngừng tăng năng lực cạnh tranh và giảm dần hàngrào bảo hộ Nâng cao hiệu quả hợp tác với bên ngoài; tăng cường vai trò và ảnhhưởng của nước ta đối với kinh tế khu vực và thế giới
- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh
Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng tiềm lực và thế trận quốcphòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, được thể hiện trong chiến lược, quyhoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các ngành, các địaphương và trong các dự án đầu tư lớn Phân bố hợp lý việc xây dựng cơ sở vật chất
- kỹ thuật trên các vùng của đất nước, vừa phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội, vừa sửdụng được cho quốc phòng, an ninh khi cần thiết Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội,
ổn định dân cư các vùng xung yếu, vùng biên giới, cửa khẩu, hải đảo phù hợp vớichiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh quốc gia Hoàn chỉnh chiến lược quốcphòng và chiến lược an ninh quốc gia phù hợp với tình hình mới, phục vụ cho pháttriển kinh tế - xã hội, mở rộng kinh tế đối ngoại Phát triển công nghiệp quốc phòng
và kết hợp sử dụng năng lực
A- Định hướng phát triển các ngành
1- Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn
(1)- Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo
hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường
và điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu laođộng, tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn Đưa nhanh tiến bộ khoa học
và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độcông nghệ và về thu nhập trên một đơn vị diện tích; tăng năng suất lao động, nângcao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm Mở rộng thị trường tiêu thụ nôngsản trong và ngoài nước, tăng đáng kể thị phần của các nông sản chủ lực trên thịtrường thế giới
Chú trọng điện khí hóa, cơ giới hóa ở nông thôn Phát triển mạnh công nghiệp chếbiến gắn với vùng nguyên liệu, cơ khí phục vụ nông nghiệp, công nghiệp gia công
và dịch vụ; liên kết nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trên từng địa bàn và trong
cả nước
Tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn Quy hoạch hợp lý
và nâng cao hiệu quả việc sử dụng quỹ đất, nguồn nước, vốn rừng gắn với bảo vệmôi trường Quy hoạch các khu dân cư, phát triển các thị trấn, thị tứ, các điểm văn
Trang 14hóa ở làng xã; nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, xây dựng cuộc sốngdân chủ, công bằng, văn minh ở nông thôn.
(2)- Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Điều chỉnh quy hoạch sản xuất lương thực phù hợp với nhu cầu và khả năng tiêuthụ, tăng năng suất đi đôi với nâng cấp chất lượng Bảo đảm an ninh lương thựctrong mọi tình huống Xây dựng các vùng sản xuất tập trung lúa hàng hóa và ngôlàm thức ăn chăn nuôi; tận dụng điều kiện thích hợp của các địa bàn khác để sảnxuất lương thực có hiệu quả Nâng cao giá trị và hiệu quả xuất khẩu gạo Có chínhsách bảo đảm lợi ích của người sản xuất lương thực
Phát triển theo quy hoạch và chú trọng đầu tư thâm canh các vùng cây công nghiệpnhư cà-phê, cao-su, chè, điều, hạt tiêu, dừa, dâu tằm, bông, mía, lạc, thuốc lá ,hình thành các vùng rau, hoa, quả có giá trị cao gắn với phát triển cơ sở bảo quản,chế biến
Phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm; mở rộngphương pháp nuôi công nghiệp gắn với chế biến sản phẩm; tăng tỷ trọng ngànhchăn nuôi trong nông nghiệp
Phát huy lợi thế về thủy sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàngđầu trong khu vực Phát triển mạnh nuôi, trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ vànước mặn, nhất là nuôi tôm, theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môitrường Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả khai thác hải sản xa bờ;chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác gần bờ; nâng cao năng lực bảoquản, chế biến sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế và trong nước Mởrộng và nâng cấp các cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá Giữ gìn môi trường biển vàsông, nước, bảo đảm cho sự tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản
Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, nâng độ che phủ của rừng lên 43% Hoànthành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài theo hướng xã hội hóa lâmnghiệp, có chính sách bảo đảm cho người làm rừng sống được bằng nghề rừng.Kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và có chính sách hỗ trợ để định canh, định cư,
ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi Ngăn chặn nạn đốt, phá rừng.Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế, tạo nguồn gỗ trụ mỏ, nguyên liệu cho công nghiệpbột giấy, công nghiệp chế biến gỗ và làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu; nâng cao giá trịsản phẩm rừng
(3)- Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp , nhất là
công nghệ sinh học kết hợp với công nghệ thông tin Chú trọng tạo và sử dụnggiống cây, con có năng suất, chất lượng và giá trị cao Đưa nhanh công nghệ mớivào sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩmnông nghiệp ứng dụng công nghệ sạch trong nuôi, trồng và chế biến rau quả, thựcphẩm Hạn chế việc sử dụng hóa chất độc hại trong nông nghiệp Xây dựng một sốkhu nông nghiệp công nghệ cao Tăng cường đội ngũ, nâng cao năng lực và pháthuy tác dụng của cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư
(4)- Tiếp tục phát triển và hoàn thiện về cơ bản hệ thống thủy lợi ngăn mặn,
giữ ngọt, kiểm soát lũ, bảo đảm tưới, tiêu an toàn, chủ động cho sản xuất nôngnghiệp (kể cả cây công nghiệp, nuôi, trồng thủy sản) và đời sống nông dân Đối vớinhững khu vực thường bị bão, lũ, cùng với các giải pháp hạn chế tác hại thiên tai,phải điều chỉnh quy hoạch sản xuất và dân cư thích nghi với điều kiện thiên nhiên.Nâng cao năng lực dự báo thời tiết và khả năng chủ động phòng chống thiên tai,hạn chế thiệt hại
Trang 15(5)- Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn Hình thành các khu
vực tập trung công nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề gắnvới thị trường trong nước và xuất khẩu Chuyển một phần doanh nghiệp gia công(may mặc, da - giày ) và chế biến nông sản ở thành phố về nông thôn Có chínhsách ưu đãi để thu hút đầu tư của mọi thành phần kinh tế vào phát triển côngnghiệp và dịch vụ ở nông thôn
Trên cơ sở chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành, nghề khác,từng bước tăng quỹ đất canh tác cho mỗi lao động nông nghiệp, mở rộng quy môsản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn
Giá trị gia tăng nông nghiệp (kể cả thủy sản, lâm nghiệp) tăng bình quân hàng năm4,0-4,5% Đến năm 2010, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng 40 triệutấn Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 16-17%; tỷ trọng ngành chăn nuôitrong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng lên khoảng 25% Thủy sản đạt sảnlượng 3,0-3,5 triệu tấn (trong đó khoảng 1/3 là sản phẩm nuôi, trồng) Bảo vệ 10triệu ha rừng tự nhiên, hoàn thành chương trình trồng 5 triệu ha rừng Kim ngạchxuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 9-10 tỷ USD, trong đó thủy sản khoảng 3,5 tỷUSD
2- Công nghiệp, xây dựng
2.1- Phát triển công nghiệp
Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh,chiếm lĩnh thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu, như chế biến nông, lâm,thủy sản, may mặc, da - giày, điện tử - tin học, một số sản phẩm cơ khí và hàngtiêu dùng
Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng: dầu khí, luyện kim, cơ khíchế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng với bước đi hợp lý, phùhợp điều kiện vốn, công nghệ, thị trường, phát huy được hiệu quả
Phát triển mạnh các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thôngtin, viễn thông, điện tử, tự động hóa Chú trọng phát triển công nghiệp sản xuấtphần mềm tin học thành ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng vượt trội
Phát triển các cơ sở công nghiệp quốc phòng cần thiết, kết hợp công nghiệp quốcphòng với công nghiệp dân dụng
Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên cả nước Phát triển có hiệu quả cáckhu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thànhcác cụm công nghiệp lớn và khu kinh tế mở
Phát triển rộng khắp các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa với ngành, nghề
đa dạng Đổi mới, nâng cấp công nghệ trong các cơ sở hiện có để nâng cao năngsuất, chất lượng, hiệu quả Sử dụng phù hợp các công nghệ có khả năng thu hútnhiều lao động Phát triển nhiều hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ, vừa
và lớn, giữa sản xuất nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở đảmbảo hài hòa về lợi ích Tăng tỷ lệ nội địa hóa trong công nghiệp gia công, lắp ráp.Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm, bảo hộ sở hữu công nghiệp,bảo vệ môi trường
2.2- Phát triển ngành xây dựng đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, đáp ứng nhu
cầu xây dựng trong nước và có năng lực đấu thầu công trình xây dựng ở nướcngoài ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng và hiệu lực quy hoạch,
Trang 16năng lực thiết kế, xây dựng và thẩm mỹ kiến trúc Phát triển các hoạt động tư vấn
và các doanh nghiệp xây dựng, trong đó chú trọng các doanh nghiệp mạnh theotừng lĩnh vực thủy điện, thủy lợi, cảng, cầu đường Tăng cường quản lý nhà nước
về quy hoạch, kiến trúc và xây dựng
Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp (kể cả xây dựng) bình quân trong
10 năm tới đạt khoảng 10 - 10,5%/năm Đến năm 2010, công nghiệp và xây dựngchiếm 40 - 41% GDP và sử dụng 23 - 24% lao động Giá trị xuất khẩu công nghiệpchiếm 70 - 75% tổng kim ngạch xuất khẩu Bảo đảm cung cấp đủ và an toàn nănglượng (điện, dầu khí, than); đáp ứng đủ nhu cầu về thép xây dựng, phân lân, mộtphần phân đạm; cơ khí chế tạo đáp ứng 40% nhu cầu trong nước, tỷ lệ nội địa hóatrong sản xuất xe cơ giới, máy và thiết bị đạt 60 - 70%; công nghiệp điện tử - thôngtin trở thành ngành mũi nhọn; chế biến hầu hết nông sản xuất khẩu; công nghiệphàng tiêu dùng đáp ứng được nhu cầu trong nước và tăng nhanh xuất khẩu
3- Kết cấu hạ tầng
Phát triển năng lượng đi trước một bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã
hội, bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia Sử dụng tốt các nguồn thủy năng (kếthợp với thủy lợi), khí và than để phát triển cân đối nguồn điện Xây dựng các cụmkhí - điện - đạm ở Phú Mỹ và khu vực Tây Nam Xúc tiến nghiên cứu, xây dựngthủy điện Sơn La Nghiên cứu phương án sử dụng năng lượng nguyên tử Đồng bộhóa, hiện đại hóa mạng lưới phân phối điện quốc gia Đa dạng hóa phương thứcđầu tư và kinh doanh điện; có chính sách thích hợp về sử dụng điện ở nông thôn,miền núi Tăng sức cạnh tranh về giá điện so với khu vực
Phát triển mạng lưới thông tin hiện đại và đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ
thông tin trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong hệ thống lãnhđạo, quản lý và các dịch vụ tài chính, thương mại, giáo dục, y tế, tư vấn Mở rộngkhả năng hòa mạng viễn thông với chi phí có khả năng cạnh tranh quốc tế; phủsóng phát thanh, truyền hình đến các xã, thôn trong cả nước và mở rộng đến nhiềunơi trên thế giới với chất lượng ngày càng cao
Về đường bộ, hoàn thành nâng cấp quốc lộ 1 và xây dựng đường Hồ Chí Minh.
Nâng cấp, xây dựng các tuyến quốc lộ khác, chú trọng các tuyến đường biên giới,các tuyến đường vành đai và tuyến đường nối các vùng tới các trung tâm phát triểnlớn, các cầu vượt sông lớn, các tuyến nối với các nước thuộc tiểu vùng sông Mê-kông mở rộng Phát triển, nâng cấp hệ thống giao thông trên từng vùng, kể cả giaothông nông thôn, bảo đảm thông suốt quanh năm Nâng cấp hệ thống đường sắthiện có, mở thêm tuyến mới đến các trung tâm kinh tế Hoàn thiện hệ thống cảngbiển quốc gia và mạng lưới các cảng địa phương theo quy hoạch Phát triển vận tảithủy, tăng năng lực vận tải biển gắn với phát triển công nghiệp đóng và sửa chữatàu Hiện đại hóa các sân bay quốc tế, nâng cấp các sân bay nội địa
Cung cấp đủ nước sạch cho đô thị, khu công nghiệp và cho trên 90% dân cư
nông thôn Giải quyết cơ bản vấn đề thoát nước và xử lý chất thải ở các đô thị
4- Các ngành dịch vụ
Phát triển mạnh thương mại, nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động để mở
rộng thị trường trong nước và hội nhập quốc tế có hiệu quả Hình thành các trungtâm thương mại lớn, các chợ nông thôn, nhất là ở miền núi, bảo đảm cung cấp một
số sản phẩm thiết yếu cho vùng sâu, vùng xa và hải đảo; tạo thuận lợi cho việc tiêuthụ nông sản Phát triển thương mại điện tử Nhà nước, các hiệp hội, các doanhnghiệp phối hợp tìm kiếm, mở rộng thị trường cho sản phẩm Việt Nam
Trang 17Phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hàng hóa , hành khách ngày
càng hiện đại, an toàn, có sức cạnh tranh, vươn nhanh ra thị trường khu vực và thếgiới Dành thị phần lớn cho doanh nghiệp trong nước trong vận chuyển hàng hóaViệt Nam theo đường biển và đường hàng không quốc tế Phát triển mạnh vậnchuyển hành khách công cộng ở các thành phố lớn
Tiếp tục phát triển nhanh và hiện đại hóa dịch vụ bưu chính - viễn thông; phổ cập sử dụng Internet Điều chỉnh giá cước để khuyến khích sử dụng rộng rãi.
Đến năm 2010, số máy điện thoại, số người sử dụng Internet trên 100 dân đạt mứctrung bình trong khu vực
Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất
lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinhthái, truyền thống văn hóa, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và pháttriển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực Xâydựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm, đẩy mạnhhợp tác, liên kết với các nước
Mở rộng các dịch vụ tài chính - tiền tệ như tín dụng, bảo hiểm, kiểm toán, chứng
khoán, đi thẳng vào công nghệ hiện đại, áp dụng các quy chuẩn quốc tế Từngbước hình thành trung tâm dịch vụ tài chính lớn trong khu vực
Phát triển mạnh các dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ tư vấn, dịch vụ phục vụ đời sống,
đáp ứng nhu cầu đa dạng trong sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội
Toàn bộ các hoạt động dịch vụ tính theo giá trị gia tăng đạt nhịp độ tăng trưởngbình quân 7 - 8%/năm và đến 2010 chiếm 42 - 43% GDP, 26 - 27% tổng số laođộng
B- Định hướng phát triển các vùng
Các vùng, khu vực đều phát huy lợi thế để phát triển, tạo nên thế mạnh của mìnhtheo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước Nhànước tiếp tục thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tàu tăngtrưởng nhanh, đồng thời tạo điều kiện và đầu tư thích đáng hơn cho vùng nhiềukhó khăn Thống nhất quy hoạch phát triển trong cả nước, giữa các vùng, tỉnh,thành phố, tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại, đầu tư, giúp đỡ kỹthuật và nguồn nhân lực Nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đápứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và khu vực Gắn chặt phát triểnkinh tế - xã hội với bảo vệ, cải thiện môi trường và quốc phòng, an ninh
Khu vực đô thị: Phát huy vai trò của các trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóatrên từng vùng và địa phương, đi nhanh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, đi đầu trong việc phát triển kinh tế trithức Tạo vành đai nông nghiệp hiện đại ở các thành phố lớn
Quy hoạch mạng lưới đô thị với một số ít thành phố lớn, nhiều thành phố vừa và
hệ thống đô thị nhỏ phân bố hợp lý trên các vùng; chú trọng phát triển đô thị ởmiền núi Xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng đồng bộ theo quy hoạch Đưaviệc quy hoạch và quản lý đô thị vào nền nếp, ngày càng xanh sạch đẹp, vănminh Hoàn thiện quy hoạch giao thông lâu dài, hợp lý ở tất cả các đô thị; khắcphục tình trạng ách tắc giao thông ở các đô thị lớn Cung cấp đủ nước sạch, thoátnước và xử lý chất thải; xóa nhà tạm bợ Đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng đờisống văn hóa, tinh thần lành mạnh
Khu vực nông thôn đồng bằng: Phát triển nông nghiệp sinh thái đa dạng trên nềncây lúa, cây rau, quả, chăn nuôi, thủy sản và ứng dụng phổ biến các tiến bộ khoa
Trang 18học, công nghệ trong sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm Hoànthành điện khí hóa và thực hiện cơ giới hóa ở những khâu cần thiết Nâng caonhanh thu nhập trên một đơn vị diện tích nông nghiệp Chuyển nhiều lao độngsang khu vực công nghiệp và dịch vụ Phát triển mạnh tiểu, thủ công nghiệp, cáclàng nghề, mạng lưới công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và các dịch vụ.Khu vực nông thôn trung du, miền núi: Phát triển mạnh cây dài ngày, chăn nuôiđại gia súc và công nghiệp chế biến Bảo vệ và phát triển vốn rừng Hoàn thành
và ổn định vững chắc định canh, định cư Bố trí lại dân cư, lao động theo quyhoạch đi đôi với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội để khai thác có hiệu quảcác nguồn tài nguyên Phát triển kinh tế trang trại Giảm bớt khoảng cách pháttriển với nông thôn đồng bằng Có chính sách đặc biệt để phát triển kinh tế - xãhội ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, cửa khẩu
Khu vực biển và hải đảo: Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo,phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục địa Tăng cường điều tra
cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển Đẩy mạnhnuôi, trồng, khai thác, chế biến hải sản; thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí;phát triển đóng tàu thuyền và vận tải biển; mở mang du lịch; bảo vệ môi trường;tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển Phát triển tổng hợp kinh tế biển và venbiển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng pháttriển cao, thúc đẩy các vùng khác Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến
ra biển khơi Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển.Trong 10 năm tới, phát triển từng vùng lớn tập trung vào những định hướng quantrọng như sau:
1- Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đưa nhiều lao động nôngnghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ và đi lập nghiệp nơi khác
Phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng Cùng với lương thực, đưa vụ đôngthành một thế mạnh, hình thành các vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, thịt, hoa;
mở rộng nuôi, trồng thủy sản Phát triển mạnh công nghiệp chế biến và cơ khíphục vụ nông nghiệp, các cụm, điểm công nghiệp, dịch vụ và làng nghề ở nôngthôn
Trong vùng kinh tế trọng điểm, phát triển các khu công nghiệp, khu công nghệcao, công nghiệp xuất khẩu, công nghiệp điện tử, thông tin và một số cơ sở cơ khíđóng tàu, luyện kim, phân bón; các dịch vụ có hàm lượng tri thức cao; các trungtâm mạnh của vùng và cả nước về đào tạo, khoa học và công nghệ, thương mại,
y tế, văn hóa, du lịch
Hoàn thiện và nâng cấp kết cấu hạ tầng, trước hết là các tuyến trục quốc lộ, cáccảng khu vực Hải Phòng, Cái Lân, các sân bay
2- Miền Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Hình thành và phát huy vai trò các trung tâm thương mại, xuất khẩu, viễn thông,
du lịch, tài chính, ngân hàng, khoa học và công nghệ, văn hóa, đào tạo đối với khuvực phía Nam và cả nước Đẩy mạnh công nghiệp khai thác dầu khí; sản xuấtđiện, phân bón và hóa chất từ dầu khí Hoàn chỉnh và nâng cấp các khu côngnghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao Mở mang công nghiệp ở các tỉnh,không tập trung quá mức vào các đô thị lớn
Trang 19Phát triển mạnh cây công nghiệp (cao su, cà phê, điều, mía đường, bông ), cây
ăn quả, chăn nuôi công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, hình thành các vùngchuyên canh tập trung gắn với công nghiệp chế biến, tạo điều kiện thu hút thêmlao động từ đồng bằng sông Cửu Long
Nâng cấp các tuyến quốc lộ nối với các vùng và quốc tế; nâng cấp và xây dựngmới một số cảng biển, sân bay Xây dựng đô thị trên các trục phát triển gắn vớikhu công nghiệp Giải quyết tốt hệ thống giao thông đô thị, cấp và thoát nước,khắc phục ô nhiễm môi trường
3- Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền TrungPhát huy thế mạnh kinh tế biển, khai thác có hiệu quả các tuyến đường trục Bắc -Nam, các tuyến đường ngang, các tuyến đường xuyên á , các cảng biển Hìnhthành các khu công nghiệp ven biển, các khu công nghiệp - thương mại tổng hợp
và phát triển kinh tế trên các cửa khẩu và hành lang dọc các tuyến đường Pháttriển các ngành công nghiệp lọc, hóa dầu, vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến
và chế tạo khác, các loại hình dịch vụ Xây dựng theo quy hoạch một số cảngnước sâu, với tiến độ hợp lý Đẩy nhanh việc xây dựng khu kinh tế Dung Quất -Chu Lai Phát triển thế mạnh du lịch biển và ven biển, gắn liền với các khu di tích,danh lam thắng cảnh của cả vùng, đặc biệt là trên tuyến Huế - Đà Nẵng - Hội An -Nha Trang
Phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, tăng nhanhsản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, kết hợp với côngnghiệp chế biến, đẩy mạnh trồng rừng Có giải pháp hạn chế tác hại của thiên tai
lũ lụt, hạn hán nặng, kết hợp với bố trí lại sản xuất và dân cư Phát triển kinh tế
-xã hội gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường toàn dải ven biển Khai thác có hiệuquả vùng đất phía Tây, chú ý xây dựng các hồ chứa nước chống lũ và làm thủyđiện
Từng bước tạo điều kiện để vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ liên kết vớiTây Nguyên tham gia có hiệu quả việc hợp tác kinh tế với Lào, Campuchia, nhất
là các tỉnh biên giới
4- Trung du và miền núi Bắc Bộ (Tây Bắc và Đông Bắc)
Phát triển mạnh cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây đặc sản, chănnuôi đại gia súc gắn với chế biến Tạo các vùng rừng phòng hộ đầu nguồn sông
Đà, rừng nguyên liệu công nghiệp, gỗ trụ mỏ
Xúc tiến nghiên cứu và xây dựng thủy điện Sơn La Phát triển công nghiệp khaithác, chế biến khoáng sản, nông sản, lâm sản, chú trọng chế biến xuất khẩu Hìnhthành một số cơ sở công nghiệp lớn theo tuyến đường 18 gắn với vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ Phát triển nhanh các loại dịch vụ, chú trọng thương mại Nângcấp các tuyến đường trục từ Hà Nội đi các tỉnh biên giới, hoàn thành các tuyếnđường vành đai biên giới và các đường nhánh Phát triển thủy lợi nhỏ gắn vớithủy điện nhỏ, giải quyết việc cấp nước sinh hoạt và điện cho đồng bào vùng cao.Phát triển các đô thị trung tâm, các đô thị gắn với khu công nghiệp Nâng cấp cáccửa khẩu biên giới và phát triển kinh tế cửa khẩu
Thực hiện tốt chính sách dân tộc, định canh, định cư vững chắc, ổn định và cảithiện đời sống cho đồng bào dân tộc
5- Tây Nguyên
Trang 20Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước cả về kinh tế - xã hội
và quốc phòng - an ninh, có lợi thế để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp sản xuấthàng hóa lớn kết hợp với công nghiệp chế biến, phát triển công nghiệp nănglượng và công nghiệp khai thác khoáng sản Có chiến lược và quy hoạch xâydựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững mạnh về quốc phòng, an ninh, tiến tớithành vùng kinh tế động lực
Phát triển nhanh theo hướng thâm canh là chính đối với các cây công nghiệp gắnvới thị trường xuất khẩu (cà phê, cao su, chè, bông ), chăn nuôi đại gia súc,trồng và bảo vệ rừng, cây dược liệu, cây đặc sản và công nghiệp chế biến nông,lâm sản Phát triển thủy điện lớn và vừa, các hồ chứa nước cho thủy lợi Khai thác
và chế biến quặng bôxít Phát triển công nghiệp giấy Nâng cấp, khai thác tốt cáctuyến đường trục và đường ngang nối xuống vùng Duyên hải Phát triển sự hợptác liên kết kinh tế - thương mại - dịch vụ với các nước láng giềng Lào,Campuchia Có chính sách thu hút vốn đầu tư, bố trí dân cư và lao động theo quyhoạch, nâng cao dân trí và trình độ công nghệ Thực hiện tốt chính sách dân tộc,thật sự cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào dân tộc
6- Đồng bằng sông Cửu Long
Tiếp tục phát huy vai trò của vùng lúa và nông sản, thủy sản xuất khẩu lớn nhất cảnước; đẩy mạnh sản xuất và nâng cao chất lượng lương thực, rau quả, chăn nuôi,thủy sản hàng hóa Phát triển công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp,các ngành, nghề tiểu, thủ công nghiệp và các dịch vụ Triển khai xây dựng cáccụm công nghiệp sử dụng khí Tây Nam Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, tăng tỷtrọng lao động công nghiệp, dịch vụ
Hoàn chỉnh mạng lưới đường bộ và mạng giao thông thủy Nâng cấp và mở rộngquốc lộ 1A, mở thêm một số tuyến trục để phát triển giao thông phía Tây Nam.Nâng cấp các quốc lộ đến các tỉnh lỵ Xây dựng cầu qua sông Hậu và có đủ cầutrên các tuyến này Phát triển mạng đường liên huyện và giao thông nông thôn,xây cầu kiên cố thay cầu khỉ Hoàn chỉnh các cảng sông, nâng cấp các sân bay.Quy hoạch và xây dựng khu dân cư, kết cấu hạ tầng phù hợp với điều kiện chống
lũ hàng năm và ngăn mặn
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn và tiêu thụ nông sản
Phát biểu tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X, ngày 7/12/2001, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Công Tạn đã dành phần lớn thời gian đề cập tới các vấn đề cơ bản của sản xuất nông nghiệp hiện nay, đó là: chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tiêu thụ nông sản và các giải pháp đột phá trong năm 2002 Quốc Tế xin trích đăng dưới đây các nội dung cơ bản đó Đầu đề nhỏ trong bài là của Quốc Tế
Trong nhiệm kỳ từ năm 1997 đến nay, Chính phủ đã có 3 phiên họp để bàn về vấn
đề nông nghiệp nông thôn, tập trung chủ yếu về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp vàtiêu thụ nông sản
Nghị quyết Chính phủ số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 "về một số chủ trương vàchính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp" đã đề
ra yêu cầu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp phải bảo đảm nhanh, hiệu quả, pháttriển bền vững, đạt giá trị cao trên một đơn vị diện tích và tăng thu nhập cho nôngdân Chuyển dịch cơ cấu là lựa chọn cơ cấu ngành sản xuất nông nghiệp căn cứvào lợi thế về tài nguyên và nhu cầu của thị trường Cơ cấu kinh tế ngành nôngnghiệp gồm 3 lĩnh vực: đối tượng (cây, con ), loại sản phẩm và quy mô sản xuất
Trang 21Cơ cấu ngành sản xuất trong nông nghiệp là những định hướng mang tính chínhxác tương đối Trong quá trình thực thi sẽ được điều chỉnh ăn khớp với sự tác độngcủa tiến bộ mới về khoa học, công nghệ và biến động về thị trường
Định hướng cơ bản chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn:
Tiếp tục coi trọng an ninh lương thực quốc gia (chủ yếu dựa vào sản xuất lúa), tiếptục phát triển sản xuất lương thực ở những vùng đặc biệt khó khăn, nhưng trênphạm vi cả nước, phải chuyển mạnh sang sản xuất lúa gạo có chất lượng cao, tạo
ra những sản phẩm gạo đắt tiền, nhằm nâng cao thu nhập của người trồng lúa.Nhanh chóng thay thế phần lớn hàng nông sản phải nhập khẩu như: đường, bông,thuốc lá, ngô, đậu tương, sữa, bột giấy
Điều chỉnh, duy trì và phát triển ở mức hợp lý các hàng nông sản xuất khẩu có lợithế cao như: cao su, cà phê, chè, điều, tiêu, dứa, thịt lợn
Tập trung phát triển rừng kinh tế phục vụ Chương trình sản xuất giấy và chế biếnlâm sản: phát triển các loại tre, trúc, keo, thông các loại, bạch đàn làm nguyên liệuphát triển ngành sản xuất giấy để ngành này sớm trở thành ngành sản xuất lớn nhất
về chế biến lâm sản của cả nước Hàng năm, sản xuất khoảng 1 triệu tấn giấy cácloại, tiến tới xuất khẩu về bột giấy và giấy Phải đưa lâm nghiệp thành một ngànhlàm giàu cho đồng bào miền núi, có đóng góp lớn vào tổng GDP nông nghiệp và bảo
vệ môi trường:
Khai thác có hiệu quả mặt nước, kể cả chuyển một phần đất sản xuất nông nghiệpsang nuôi trồng thuỷ sản - ngành sản xuất có lợi thế lớn nhất của nền nông nghiệpViệt Nam Đạt sản lượng thuỷ sản 3,0-3,5 triệu tấn/năm, nâng kim ngạch xuất khẩuvươn lên hàng đầu trong khu vực châu Á
Phát triển mạnh mẽ các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn,nhất là công nghiệp chế biến nông lâm sản, đồng thời thúc đẩy công nghiệp hoánông thôn, nâng cao nhanh đời sống nhân dân sống ở nông thôn
Để định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn ở một số vùng, Chínhphủ đã ban hành các Quyết định về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, vềphát triển kinh tế xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long và về phát triển kinh tế - xãhội 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc, định hướng phát triển một số câycon thời kỳ 2000 đến 2005 và 2010: cây chè, cây điều, cây rau quả, hoa, lợn xuấtkhẩu, bò sữa, muối và Chương trình nuôi trồng thuỷ sản
Cùng với Quyết định về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, Thủ tướng Chínhphủ đã ban hành các quyết định có liên quan phục vụ chuyển dịch cơ cấu nôngnghiệp, nông thôn: về kiên cố hoá kênh mương (dành 1.500 tỷ đồng cho các địaphương vay lãi suất bằng 0%); về cơ chế tài chính thực hiện chương trình đườnggiao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản, cơ sở hạ tầng làng nghề ởnông thôn (dành một khoản ngân sách cho các tỉnh vay theo dự án với lãi suất bằng0%)
Về tiêu thụ nông sản: Năm 2001, giá một số nông sản thế giới có nhiều biến động
bất lợi, thị trường khó khăn Một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam như: lúa gạo, càphê, cao su, chè, điều, thuỷ sản (tôm), trong đó lúa gạo, cà phê có thời điểm giá trênthị trường thế giới xuống dưới mức giá thành sản xuất trong nước, gây thiệt hại lớncho cả người sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu
Về khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ là giải pháp có hiệu quả nhất để
nâng cao sức cạnh tranh về chất lượng và giá trên thị trường Thủ tướng Chính phủ
Trang 22đã phê duyệt chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệpthời kỳ 2000-2005 (QĐ số 225/ 1999/QĐ-TTg ngày 10/12/1999), một số chính sáchkhuyến khích phát triển giống thuỷ sản (QĐ số 103/ 2000/QĐ-TTg ngày 25/8/2000);Khuyến khích các nhà đầu tư và các địa phương nhập giống, đồng thời Chính phủcũng hỗ trợ một số địa phương và doanh nghiệp nhập giống cây trồng, vật nuôi cónăng suất, chất lượng cao, khả năng chống bệnh tốt.
Tuy nhiên, giống hiện nay vẫn là khâu yếu nhất, chưa có đủ các loại giống tốt và giá
rẻ, đảm bảo chất lượng để cung cấp cho người sản xuất, việc kiểm tra chất lượnggiống còn nhiều yếu kém đã tác động xấu đến năng suất và chất lượng nông sảncủa ta
Về phương thức sản xuất theo hợp đồng: Nghị quyết 09 ghi "Khuyến khích các
doanh nghiệp kinh doanh về chế biến và thương mại thuộc các thành phần kinh tế
mở rộng diện ký hợp đồng tiêu thụ với hợp tác xã hoặc ký trực tiếp với nông dân,gắn kết cho được sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuấtkhẩu" Đến nay, mới chỉ có một số doanh nghiệp và công ty ký hợp đồng sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm cho nông dân Hầu như trong toàn bộ nền sản xuất nông nghiệphiện nay, người nông dân tự lo phát triển sản xuất, không có người đứng ra ký hợpđồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho họ Đó là nỗi băn khoăn lớn nhất của nôngdân sản xuất hàng hóa
Về một số chính sách tài chính: Đã thực hiện giảm, miễn thuế nhập khẩu phân bóncác loại; miễn giảm 50% thuế năm 2001 đối với người sản xuất lúa và cà phê, miễnthu thuế buôn chuyến
Về tín dụng và bảo hiểm: năm 2001 hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng khoảng 188 tỷđồng (lúa 150 tỷ, cà phê 38 tỷ) để tạm trữ 1 triệu tấn gạo trong 12 tháng, 150.000tấn cà phê trong 6 tháng, hỗ trợ 70% lãi suất vốn vay cho các doanh nghiệp thu muachế biến cà phê đã xuất khẩu đến tháng 9/2000 (khoảng 55,5 tỷ đồng) Hỗ trợ tiềnnhập khẩu giống Khoanh nợ vay ngân hàng trong thời gian 3 năm cho người trồng
cà phê, thu mua, chế biến và xuất khẩu cà phê (khoảng 2.500 tỷ đồng) và tiếp tụccho vay mới để có vốn chăm sóc cà phê
Việc xúc tiến lập quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ bảo hiểm xuất khẩu ngành hàng làmcòn chậm
Về công tác thị trường, tiếp thị: Đã thực hiện thưởng xuất khẩu nông sản Tổng
số thưởng cho gạo xuất khẩu khoảng 110 tỷ đồng, cà phê khoảng 77 tỷ đồng Việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu đã có nhiều cố gắng Riêng về gạo, những camkết có tính chất Nhà nước đã lên tới mức 1,5 triệu tấn/năm Chính phủ cũng đã chophép bán hàng hoá trả chậm, hàng đổi hàng, để hỗ trợ xuất khẩu (nhất là về gạo)
4 giải pháp đột phá cơ bản:
1 Các ngành trung ương cùng địa phương rà soát lại quy hoạch, đề ra định hướngphát triển từng loại cây con, từng loại sản phẩm và mức sản xuất hợp lý Nội dungquy hoạch phải được thông tin đầy đủ cho dân về thị trường từng loại sản phẩm,yêu cầu về chất lượng hàng hóa Cần truyền đạt đầy đủ những thông tin mới nhất
về kinh tế, kỹ thuật đến nông dân và các doanh nghiệp Chính phủ tiếp tục đề ra cácchính sách kinh tế thúc đẩy việc thực hiện định hướng trong quy hoạch
2 Có biện pháp khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệpdân doanh làm chế biến hoặc tiêu thụ mở rộng diện ký hợp đồng với hộ nông dânhoặc hợp tác xã nông nghiệp Trước mắt phải tập trung vào ký hợp đồng sản xuất
Trang 23và tiêu thụ các mặt hàng: sản xuất gạo xuất khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long, tiêuthụ cao su, cà phê, điều, tiêu, bông, mía đường, sữa bỏ, thuỷ sản Các tỉnh phải xácđịnh cho được danh mục các doanh nghiệp đứng ra để ký hợp đồng sản xuất và tiêuthụ hàng hoá với nông dân ở địa phương mình và có lộ trình thực thi phương thứcsản xuất theo hợp đồng cho từng loại sản phẩm từ năm 2002 đến 2005 Riêng ởmiền núi phía Bắc, doanh nghiệp Nhà nước phải có trách nhiệm đi đầu lo tiêu thụsản phẩm cho nông dân, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp miền núi pháttriển theo hướng sản xuất hàng hóa.
Việc tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng là giải pháp cơ bản nhất để đưasản xuất nông nghiệp hàng hóa của nước ta đi vào quỹ đạo của nền kinh tế thịtrường, vừa bảo vệ được lợi ích của nông dân, vừa hạn chế được rủi ro
3 Ngoài việc tăng cường đầu tư nghiên cứu về khoa học, công nghệ trong nước,phải đi tắt đón đầu tiếp thu những thành tựu của trí tuệ nhân loại Đối với nhữnggiống cây, giống con tốt trong nước chưa sản xuất được hoặc chưa đủ và đối vớinhững công nghệ mới thì khuyến khích mạnh việc nhập khẩu Đồng thời tổ chức tốtmạng lưới khuyến nông để chuyển tải những tiến bộ kỹ thuật mới kịp thời cho dân.Sớm ban hành tiêu chuẩn chất lượng hàng nông sản Việt Nam, từng bước thực hiệnchiến lược phát triển hàng nông sản Việt Nam có nhãn hiệu, thương hiệu nổi tiếng đivào thị trường thế giới
4 Làm tốt dịch vụ về vốn và xúc tiến thương mại Với cơ chế tín dụng hiện nay, hộnông dân đã được vay với mức 30 triệu đồng/hộ không phải thế chấp Những hộsản xuất hàng hóa lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đòi hỏi vay tín dụng mứccao hơn, dài hạn hơn, nhưng hiện nay việc tiếp cận của họ với các tổ chức tín dụngcòn rất hạn chế Bộ Tài chính cùng Ngân hàng Nhà nước sớm có cơ chế xử lý vấn
đề này, trong đó có việc hình thành Quỹ bảo lãnh tín dụng để giúp đỡ những đốitượng này vay vốn ở các tổ chức tín dụng, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển nềnsản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn
Tiếp tục đẩy các biện pháp xúc tiến thương mại Từng bước hình thành hệ thốngchợ giao dịch nông sản lớn ở các vùng sản xuất hàng hóa lớn
Chỉ đạo thực hiện tốt những giải pháp trên đây, chúng ta tin rằng nền nông nghiệpnước ta sẽ có những chuyển biến mới, đáp ứng được nguyện vọng của nông dân
và góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Chính sách tài chính và tiền tệ tác động như thế nào đến các công ty đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam
TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Theo chúng tôi, cho đến nay chúng ta có rất ít những công trình, những nghiên cứu
về các hậu quả của chính sách tài chính và tiền tệ ảnh hưởng như thế nào đến cáccông ty đa quốc gia (MNC) hoạt động tại nước ta Từ kinh nghiệm của các quốc giatrên thế giới, các nhà nghiên cứu thấy rằng chính sách tiền có tác động rất mạnh mẽđối với các MNC hoạt động tại các quốc gia đang phát triển Thông thường các nhàhoạch định chính sách chỉ chú ý đến những tác động của chính sách tài chính tiền tệtác động như thế nào đến các hoạt động của các doanh nghiệp trong nước mà ítchú ý đến những tác động của chúng lên hoạt động của các MNC Trong lộ trình hộinhập WTO vào năm 2005, Chính phủ cần phải nghiên cứu đầy đủ những tác độngtrong chính sách tài chính và tiền tệ của quốc gia tác động như thế nào chẳngnhững đối với các doanh nghiệp trong nước mà còn đến các MNC hoạt động tại VN
Trang 24Chính sách tiền tệ thắt chặt chỉ làm lợi cho các MNC và tác động bất lới đối với các doanh nghiệp trong nước
Các MNC cũng chịu những hạn chế về tín dụng và tiền tệ như các công ty trongnước Nhưng họ lại có nhiều thuận lợi hơn trong nhưng trường hợp chính phủ củanước chủ nhà thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt hoặc nếu như nguồn vốn trongnước trở nên quá đắt hoặc không có sẵn vì những hạn chế của chính phủ nước chủnhà Trong những trường hợp như thế, một chi nhánh của các MNC có lẽ sẽ tiếpcận nguồn vốn từ công ty mẹ và những công ty con khác hoặc đơn giản là họ sẽ tiếpcận thị trường Euro đô la hải ngoại (Eurodollar) Do vậy, công ty con có thể thựchiện những kế hoạch chi tiêu của mình bất chấp những hạn chế của chính phủ nướcchủ nhà Trong khi đó những công ty trong nước của quốc gia chủ nhà sẽ gặp phảibất lợi do không tiếp cận được với nguồn vốn nước ngoài Bài học kinh nghiệm từcác quốc gia trên thế giới cho thấy rằng trong trường hợp này chính phủ của quốcgia nước chủ nhà sẽ dễ phạm phải sai lầm khi tác động vào hệ thống ngân hàngthông qua các khoản tài trợ cho chính phủ để cấp tín dụng gián tiếp cho các công tytrong nước Đây đáng là tình huống ảnh hưởng để cho các nhà hoạch định chínhsách VN tham khảo
Thị trường vốn VN một mặt vẫn còn phân cách và còn quá nhiều rào cản chẳngnhững đối với thị trường vốn trong nước mà còn đối với thị trường vốn nước ngoài.Trong khi đó việc nới lỏng những rào cản trên thị trường tài chính trong nước đốivới các MNC là điều mà chính phủ phải chịu nhiều nhượng bộ khi đàm phán trong lộtrình hội nhập WTO vào năm 2005 Tình hình này sẽ càng bất lợi cho các doanhnghiệp VN mỗi khi Chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soátlạm phát Chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát vô hình chung lại làm lợi cho chínhcác MNC và do đó càng đẩy các doanh nghiệp trong nước vào thế cạnh tranh khôngcân xứng
Một bài học mà các nhà hoạch định chính sách nước ta cần phải rút kinh nghiệmtrong việc điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2003 vừa qua đó là tình trạng cácngân hàng và các quỹ đầu tư thực hiện một cuộc đua tăng lãi suất đến mức chóngmặt Chẳng hạn như Quỹ đầu tư phát triển đô thị TPHCM và một số các định chế tàichính khác đã huy động vốn, có lúc lên đến 8,5% năm, trong khi lãi suất quốc tế lạixuống đến mức thấp nhất trong vòng 45 năm qua Chính sách tiền tệ như trên, rõràng đã đẩy các doanh nghiệp VN, vốn đã ở vào thế yếu so với các MNC hoạt độngtại VN, lại gặp phải nhiều bất lợi hơn nữa Các doanh nghiệp trong nước hoàn toànkhông thể tiếp cận nguồn tài trợ từ thị trường tiền tệ quốc tế trong bối cảnh lãi suấttrong nước quá cao Trong khi đó đây lại là một ưu thế của các MNC hoạt động tạiVN
Nhưng mặt khác hoạt động của các MNC có khả nàng tạo ra sự bất ổn trong cung tiền nội địa
Khi đánh giá về hoạt động của các MNC hoạt động tại các quốc gia tiếp nhận đầu
tư, chính phủ tại các quốc gia tiếp nhận phân tích rất kỹ tác động của cung tiền dohoạt động của các MNC tạo ra Vấn đề phiền toái sẽ nảy sinh trong chính sách tiền
tệ của quốc gia tiếp nhận khi các MNC bất thình lình chuyển một số lượng lớn ngoại
tệ sang đồng nội tệ để mua một công ty trong nước, hoặc thực hiện 1 một dự án đầu
tư lớn hoặc đơn giản chuyển sang các quỹ đầu cơ tạm thời trong khi tìm cách nétránh khủng hoảng trên thị trường ngoại hối ở một hay nhiều nước khác Đây là tìnhtrạng mà các nhà chuyên môn gọi là dòng tiền nóng tiềm ẩn trong một quốc gia Cácnước Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Ý, Thụy Sĩ là những nạn nhân thường xuyên của những
sự biến dạng tạm thời trong cung tiền như thế Trong hầu hết các trường hợp, việcchuyển đổi ngoại lực sang nội tệ tạo ra một sự gia tăng ngay lập tức cung tiền trongnước Tai hại ở chỗ là sự gia tăng ngay lập tức này phải được sự can thiệp kịp thờicủa NHTW trên thị trường mở Nếu không như thế, hoạt động của các MNC có thểdẫn đến áp lực lạm phát tại các quốc gia chủ nhà
Trang 25Nhằm thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và các MNC nóiriêng, chính phủ VN đang tìm cách ngày càng nới lỏng các điều kiện để các nhà đầu
tư nước ngoài nắm giữ nhiều sở hữu hơn đối với các công ty trong nước Đây làmột chính sách đương nhiên và phù hợp với lộ trình hội nhập trong khi đàm phángia nhập vào WTO năm 2005 Nhưng mặt khác một nguy cơ tiềm ẩn về một dòngtiền nóng cũng đang chực chờ để bộc phát và tác động ngược trở lại nền kinh tế
VN Đây chính là một thách thức thật sự đối với VN trong quá trình soạn thảo cácvăn bản pháp lý liên quan đến các chủ trương thu hút nguồn vốn đầu tư FDI vànguồn vốn đầu tư gián tiếp FPI vào VN
Theo chúng tôi, trước mắt các nhà hoạch định chính sách cần phải nghiên cứu thật
kỹ tình huống trên trong quá trình soạn thảo các văn bản pháp lý hên quan đến việc
cổ phần hoá các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại VN, cũngnhư các chủ trương cho phép các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ cổ phần đối vớicác doanh nghiệp trong nước
Chính sách tài khoá công khai minh bạch và bình đẳng có quan hệ đến cân đối ngân sách tại các địa phương có hoạt động của các MNC
Các hoạt động của các MNC cũng có thể dẫn đến mâu thuẫn với chính sách tàikhoá nước chủ nhà Nhằm thu hút nguồn vốn từ các MNC, chính phủ ở một số quốcgia thường phạm phải những sai lầm trong các chính sách thuế theo hướng ưu đãiquá mức cho các MNC về thuế suất và cơ sở tính thuế Thực tế thì cho dù không cónhững ưu đãi quá đáng về chính sách thuế, thì các MNC cũng có khả năng giảmđược thuế tại quốc gia nước chủ nhà thông qua một kỹ thuật gọi là định giá chuyểngiao (transter pricing) Đây là một kỹ thuật mà các MNC tận dụng từ những ưu đãikhác nhau của các quốc gia trên toàn thế giới về các chính sách thuế, lãi suất đểxác định giá của các nhập lượng (chi phí đầu vào) và xuất lượng (giá bán) sao cho
có lợi nhất Đây là một kỹ thuật mà hầu như bất kỳ MNC nào cũng phải tận dụngnhằm tối thiểu hoá số thuế phải nộp tại quốc gia nơi các MNC đang hoạt động Vấn
đề nằm ở chỗ là các MNC có tận dụng những kẽ hở trong luật lệ của nước chủ nhà
để trốn thuế chứ không phải là tối thiểu hoá số thuế phải nộp hay không mà thôi Theo chúng tôi, mặc dù hiện nay chúng ta vẫn chưa có một bằng chứng xác đángnào chứng minh được hành vi trốn thuế của các MNC tại VN nhưng kỹ thuật tốithiểu hoá số thuế phải nộp tại VN sao cho có lợi nhất tại nước ta là một ưu thếđương nhiên và có thật của bất kỳ một MNC nào Vì vậy việc ưu đãi quá mức vềthuế cho các MNC hoạt động tại nước ta, theo chúng tôi có thể dẫn đến nhiều bất lợicho các doanh nghiệp trong nước, làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
VN trong quá trình hội nhập
Mặt khác cũng phải thấy rằng, trong điều kiện mà ngân sách chính phủ luôn bội chinhư hiện nay thì các MNC lại có khả năng tạo ra nhiều nhu cầu tăng thêm về việcphát triển các dịch vụ kinh tế xã hội, những lĩnh vực mà NSNN không có khả nàngđầu tư
Chính sách tài khoá của chúng ta trong những năm qua đã có tác động đáng kể đếnhoạt động của các MNC tại VN, theo hướng rất có nhiều thuận lợi Theo báo cáo mớinhất của Quốc hội thì từ chỗ cả nước chỉ có 8% tỉnh thành tự cân đối ngân sách,nay tỉ lệ này sẽ nâng lên gấp ba lần tức là vào khoảng 15/64 tỉnh thành vào năm
2004 Lần đầu tiên người dân đã nghe nói đến ‘’Câu lạc bộ 15’’ so với trước đây chỉ
là 5 anh tỉnh thành cõng 56 anh tỉnh thành Thành quả mới nhất này là do các địaphương mới phất lên như Vĩnh Phúc, Khánh Hoà, Hải Phòng Các tỉnh thành nàyđều có chung một điểm là có cơ chế thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoàihợp lý Chẳng hạn như Vĩnh Phúc đã tận dụng nguồn thu thuế rất lớn từ các MNCthuộc các lĩnh vực ô tô và xe máy như Toyota, Hon da Nhưng quan trọng hơn, theođánh giá của Quốc hội, chính sách tài khoá hợp lý thông qua việc phân bổ nguồnthu đã giúp cho tỉnh giải quyết được công ăn việc làm cho rất nhiều lao động, và
Trang 26ngành dịch vụ khác cũng phát triển theo với tốc độ rất cao, phù hợp với độ của cácMNC hoạt động tại địa phương.
Từ thực tiễn trên, một điều chúng ta cần phải lưu ý khi hoạch định các chính sách đối phó với các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và các MNC nói riêng là không nên có cách nhìn mang tính chất phân biệt đối với các MNC hoạt động tại VN Không phải là toàn bộ, nhưng có thể khẳng định rằng phần lớn cân đối ngân sách các địa phương mới nổi lên ở nước ta là có đóng góp rất lớn từ hoạt động của các MNC Kết quả này có được là chúng ta đã thực hiện luật ngân sách mới, dẫn đến
có sự thay đổi mới trong cơ cấu thu chi giữa NS trung ương và NS địa phương Chính sách tài khóa minh bạch, không phân biệt đối xử rõ ràng đã có tác động rất đáng kể đối với hoạt động của các MNC, và do đó góp phần vào việc thúc đẩy các hoạt động của các doanh nghiệp nội địa
Chúng ta có thể rút ra được gì từ những phân tích trên? Trước hết không nên có ảotưởng quá mức về những gì mà các MNC mang lại cho nền kinh tế trong nước CácMNC không bao giờ cho không, có lẽ không có một chân lý nào đúng hơn là chân lýnày Nhưng mặt khác, những tác động của chính sách tài chính và tiền tệ quốc gialại có tác động rất lớn đế việc hấp thụ tối đa những lợi ích mà các MNC mang lại vàhạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro trong quá trình hội nhập là điều mà chínhphủ cần phải tính đến trong quá trình đàm phán gia nhập WTO
(Theo T/c Phát triển kinh tế, tháng 2/2004
Cơ sở hạ tầng, lao động và dịch vụ hỗ trợ ở Tp Hồ Chí Minh đã có nhiều thay đổi kể từ sau cuộc gặp đầu tiên hồi cuối năm 2002 giữa các công ty tư vấn nước ngoài với chính quyền Thành phố Cuộc họp lần hai được tổ chức sáng 19/3 vừa qua đã đặt ra nhiều vấn đề mới
Trả lời qua mạng có đủ căn cứ pháp lý?
Ông Nguyễn Thiện Nhân, Phó Chủ tịch UBND Tp.Hồ Chí Minh và
các nhà đầu tư nước ngoài tại Thành phố
Đại diện các công ty tư vấn và công ty nước ngoài đang hoạt động tại Tp Hồ ChíMinh tỏ ra hài lòng với các nỗ lực của Thành phố trong việc giải quyết những đềxuất của họ tại cuộc gặp đầu tiên hồi tháng 10 năm 2002 về các lĩnh vực thuế, hảiquan, sở kế hoạch - đầu tư Cơ sở hạ tầng về giao thông, Internet, công nghiệp hỗtrợ, nguồn lao động, dịch vụ hỗ trợ của chính quyền đã có sự thay đổi đáng kể ở Tp
Hồ Chí Minh theo nguyện vọng của các nhà đầu tư dù mức độ chưa cao
Bà Lucy Wayne, Luật sư của Văn phòng Luật sư Lucy Wayne & Associates - mộttrong những hãng luật nước ngoài có tầm hoạt động lớn ở Tp Hồ Chí Minh, đánhgiá cao về mạng đối thoại doanh nghiệp nơi mà nhiều ý kiến và thắc mắc hoặc thậmchí những góp ý từ các nhà đầu tư nước ngoài đến được với chính quyền thành phốmột cách nhanh chóng và được giải đáp một cách thỏa đáng Tuy nhiên bà đặt vấnđề: những văn bản trả lời qua mạng một cách gián tiếp đó có tính pháp lý hay không
và cơ quan nào chịu trách nhiệm đối với tính pháp lý của văn bản đó khi các nhàđầu tư vận dụng mà gặp rắc rối với cơ quan thực thi
Trang 27Bao giờ có thị trường vốn?
Các nhà đầu tư nước ngoài trong buổi gặp gỡ chính quyền Tp Hồ Chí MinhCác công ty tư vấn và công ty nước ngoài, luôn đề nghị các cơ chế và chính sáchcho thị trường vốn mỗi khi họ có cơ hội gặp gỡ với giới chức Việt Nam Họ mongmuốn thị trường vốn được hình thành tại Việt Nam vì đó là kênh tạo vốn dài hạn chonhững dự án lâu dài của các nhà đầu tư không chỉ trong nước mà cả nước ngoài.Ông Alain Cany, Tổng Giám đốc Ngân hàng HSBC Vietnam, nói rằng các ngân hàng
ở Việt Nam đã tạo nên một thị trường vốn nhưng đó không phải là thị trường mà cácnhà đầu tư nước ngoài trông đợi "Đó chỉ là thị trường cho những nguồn vốn ngắnhạn bởi nguồn vốn các ngân hàng huy động được cũng ngắn hạn từ dân chúng theo
kỳ hạn trong khi các phương tiện sản xuất, nhà xưởng, của các dự án đầu tư cầnnguồn vốn dài hạn", ông Cany phát biểu Thêm vào đó, ông cũng mong muốn rằngthị trường vốn được hình thành (mà theo ông là nên ở Tp Hồ Chí Minh) cần minhbạch và ổn định bên cạnh việc mở rộng cửa cho các định chế tài chính trung gianhình thành và hoạt động để hỗ trợ cho thị trường vốn
Một trong những kênh của thị trường vốn mà các nhà đầu tư đặt nhiều kỳ vọngchính là thị trường chứng khoán, ông Kevin Snowball - Giám đốc Công ty Quản lýTài sản PXP Việt Nam (PXP Vietnam Asset Management) cho rằng, đó chưa thực
sự là "sân chơi" của các nhà đầu tư nước ngoài Hàng hóa ít và kém hấp dẫn khiếncho thị trường chứng khoán Việt Nam còn quá nhỏ để huy động nguồn vốn dài hạn.Ông Snowball cũng nhấn mạnh đến quy định tối đa 30% sở hữu nước ngoài đối vớicác công ty Việt Nam cũng như cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đang trở nên
"vô nghĩa" đối với họ khi mà cổ phiếu niêm yết có sở hữu 30% nước ngoài ngàycàng nhiều "Điều đó có nghĩa vài tháng nữa sẽ không còn cổ phiếu để các nhà đầu
tư nước ngoài được phép giao dịch trên thị trường", ông nhận định
Thương hiệu cho Thành phố
Thương hiệu Thành phố góp phần cho sự thành công của thương hiệu sản phẩm
Đó là vấn đề mới lần đầu tiên các nhà đầu tư nước ngoài đặt ra cho chính quyềnthành phố Ông Tim Hennessy, Giám đốc điều hành Công ty Lowe Limited cho rằngmỗi quốc gia và thành phố đều tạo thương hiệu riêng và thương hiệu này tạo nên sựhấp dẫn cho sản phẩm; chẳng hạn như nói đến Italia thì thời trang không có nơi nàosánh bằng; hoặc nói đến công nghệ là phải nghĩ ngay đến Nhật Bản "Vậy tại saoThành phố không có thương hiệu?"
Những vấn đề các công ty nước ngoài đề cập trong buổi gặp gỡ lần này không còngiới hạn ở khu vực Tp Hồ Chí Minh, mà là vấn đề cho cả chính sách quốc gia đốivới chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài Ông Richard Irwin của PricewaterhouseCoopers cho rằng chính sách thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài hiện đang "thụtlùi" Ông đưa ra một vài ví dụ như, mức điều chỉnh của thuế thu nhập hiện naykhông phù hợp, thuế Giá trị Gia tăng đối với dịch vụ xuất khẩu không khuyến doanhnghiệp xuất khẩu dịch vụ ra nước ngoài
Trang 28Ưu điểm và lợi thế của trái phiếu Chính phủ
VietNamNet, 13/10/2003, 10h45
Ưu điểm và lợi thế của Trái phiếu Chính phủ là được phát hành đồng thời
cả bằng đồng nội tệ và ngoại tệ, với nhiều kỳ hạn và lãi suất hấp dẫn Trái phiếu Chính phủ được bán buôn hay bán lẻ, đều là một công cụ nợ có độ tin cậy cao nhất, do Chính phủ bảo lãnh
Theo tính toán của các ngành chức năng, trong giai đoạn từ nay đến năm
2010, mỗi năm chúng ta cần khoảng 250 nghìn tỷ đồng cho đầu tư phát triển Riêng lĩnh vực giao thông, thủy lợi, nhu cầu vốn bổ sung cho các công trình trọng điểm mỗi năm hơn 15 nghìn tỷ đồng
Qua số liệu điều tra cơ bản, tiềm năng vốn trong nền kinh tế của ta hiện nay còn rất tiềm tàng Về nội tệ, nguồn vốn có thể huy động cho đầu tư bình quân hằng năm khoảng 45 - 50 nghìn tỷ đồng Về ngoại tệ, nguồn vốn có thể huy động khoảng 2 - 2,5 tỷ USD/năm Tuy nhiên, để có thể huy động được các nguồn vốn này, cần phải có chính sách và giải pháp thích hợp, theo đó, những ngành nào, lĩnh vực nào cần được đưa vào diện đầu
tư ưu tiên, nhu cầu vốn cần thiết là bao nhiêu tất cả những vấn đề này cần phải được nghiên cứu và tính toán kỹ lưỡng
Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (số 182/2003/QÐ-TTg ngày 2003), nhu cầu vốn đầu tư cho các công trình giao thông, thủy lợi giai đoạn 2003-2010 sẽ được huy động dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ là 63 nghìn tỷ đồng Số vốn này được đầu tư cho 38 công trình -
5-9-dự án trọng điểm, trong đó 20 công trình giao thông với tổng số vốn
41.500 tỷ đồng, bao gồm dự án đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 6, 70, 14C, 22B; vành đai biên giới phía bắc, các quốc lộ khu vực đồng bằng sông Cửu Long; 16 công trình thủy lợi với tổng số vốn gần 14.000 tỷ đồng tập trung ở khu vực miền trung và Tây Nguyên; hai dự án tái định cư của thủy điện Sơn La và Tuyên Quang với tổng vốn đầu tư là 8.800 tỷ đồng Sốvốn nêu trên chưa tính các tuyến đường Ðông Trường Sơn và miền tây Thanh Hóa, Nghệ An Toàn bộ các công trình giao thông và thủy lợi nêu trên sau khi hoàn thành và đưa vào khai thác sẽ hình thành một hệ thống kết cấu hạ tầng đã được nâng cấp và xây dựng mới khá hoàn chỉnh, tạo thế và lực để khai thác các nguồn tài nguyên tiềm năng, đẩy mạnh thu hútnguồn vốn đầu tư nước ngoài, tạo đà để hợp tác và hội nhập kinh tế quốc
tế
Trái phiếu Chính phủ để huy động vốn cho các công trình giao thông, thủy lợi hiện nay có nhiều ưu điểm và lợi thế so với các loại trái phiếu công trình và công trái xây dựng Tổ quốc đã phát hành trong những năm vừa qua
Trước hết, trái phiếu được phát hành đồng thời cả bằng nội tệ và ngoại tệ nhằm mở rộng phạm vi thu hút các nguồn nội lực, kể cả kiều hối và ngoại
tệ của các tổ chức kinh tế đang tạm thời gửi ở nước ngoài với lãi suất rất thấp và không ổn định
Về kỳ hạn trái phiếu, gồm hai loại chủ yếu là 5 năm và 10 năm; đồng thời, Chính phủ cho phép Bộ Tài chính lựa chọn các loại kỳ hạn ngắn hơn và dài hơn để bảo đảm huy động thuận lợi, phù hợp tình hình của thị trường vốn
Trang 29Về lãi suất trái phiếu, phải tôn trọng quy luật khách quan của thị trường, theo đó các loại trái phiếu phát hành dưới hình thức đấu thầu hoặc bảo lãnh, lãi suất trái phiếu được hình thành trong quan hệ cung cầu vốn của từng phiên hoặc từng đợt phát hành Ðối với trái phiếu phát hành qua hệ thống Kho bạc Nhà nước, lãi suất bao giờ cũng được quy định thấp hơn hoặc tương đương lãi suất huy động vốn bình quân của các Ngân hàng thương mại Nhà nước
Về đối tượng mua trái phiếu: Có sự phân biệt đáng kể giữa hai hình thức bán buôn và bán lẻ Ðối với trái phiếu phát hành dưới hình thức đấu thầu
và bảo lãnh (bán buôn), đối tượng mua trái phiếu chỉ trong phạm vi các tổ chức tài chính - tín dụng đã được cấp giấy phép là thành viên của thị trường đấu thầu và bảo lãnh trái phiếu Hiện nay, có tất cả 32 đơn vị là thành viên chính thức gồm 14 ngân hàng thương mại, 9 công ty chứng khoán, 8 công ty bảo hiểm và Quỹ Ðầu tư phát triển đô thị thành phố Hồ Chí Minh
Ðiểm mới trong cấu trúc đấu thầu trái phiếu Chính phủ lần này là các cá nhân và tổ chức không phải là thành viên của thị trường nhưng vẫn được tham gia đấu thầu gián tiếp dưới hình thức hùn vốn và phân phối khối lượng trái phiếu trúng thầu qua một đơn vị thành viên chính thức Ðồng thời, được phân chia một phần phí đấu thầu trái phiếu bằng 0,05% tính trên khối lượng trái phiếu trúng thầu được phân phối Việc quy định nộp tiền ký quỹ 0,5% tính trên khối lượng đặt thầu cũng đã được xóa bỏ
Những quy định mới này tạo sức hấp dẫn để các tổ chức tài chính tín dụngloại vừa và nhỏ có thể tham gia đấu thầu và phân phối trái phiếu
Với những giải pháp nêu trên, hy vọng thị trường đấu thầu và bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ trong thời gian tới hoạt động có hiệu quả
Trong năm 2003, Bộ Tài chính quyết định phát hành trái phiếu với khối lượng 4.500 tỷ đồng, trong đó 3.000 tỷ đồng là nội tệ và 100 triệu ngoại tệ(thu bằng USD, tương đương 1.500 tỷ đồng Việt Nam)
Về nội tệ, sẽ được chia thành 3 kênh: Phát hành qua hệ thống Kho bạc trong cả nước từ ngày 15-10 với khối lượng khoảng 1.500 tỷ đồng, kỳ hạn trái phiếu 5 năm, lãi suất 8,5% năm, được thanh toán lãi hằng năm
Những chủ sở hữu của loại trái phiếu không ghi tên sẽ được đăng ký, niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán Khối lượng trái phiếu phát hành dưới hình thức đấu thầu và bảo lãnh khoảng 1.500 - 2.000 tỷ đồng với hai loại kỳ hạn 5 năm và 10 năm Lãi suất sẽ được thỏa thuận giữa nhà phát hành và nhà đầu tư Trong trường hợp cần thiết có thể công bố trước lãi suất thanh toán (lãi suất Coupon) để chọn khối lượng trái phiếu trúng thầu Từ tháng 10-2003, Kho bạc Nhà nước sẽ phối hợp tổ chức liên tục hằng tuần các phiên đấu thầu và bảo lãnh phát hành trái phiếu nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu giải ngân vốn đầu tư các công trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Trang 30Về ngoại tệ, trước mắt chỉ phát hành trái phiếu kỳ hạn 5 năm, thu và thanh toán bằng USD qua hai kênh: đấu thầu qua sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước (khoảng 80 triệu USD) và phát hành thí điểm qua Kho bạc Nhà nước Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 20 triệu USD) với mức lãi suất 3,5%/năm bắt đầu từ ngày 15-10-2003 Số ngoại tệ thu được có thể
sử dụng để thanh toán trực tiếp các thiết bị nhập khẩu, phần còn lại sẽ bán cho Ngân hàng Nhà nước để lấy đồng Việt Nam và quản lý tập trung trên một tài khoản riêng của Kho bạc Nhà nước
Phát hành trái phiếu Chính phủ để đầu tư các công trình giao thông, thủy lợi quan trọng là một chương trình dài hạn nằm trong chiến lược huy động vốn cho đầu tư phát triển giai đoạn 2001-2010 Tuy nhiên, khi trái phiếu đến hạn thanh toán, chắc chắn phải huy động trên mức dự kiến để hỗ trợ
dự toán chi của NSNN Mặc dù cơ chế phát hành và thanh toán trái phiếu Chính phủ lần này đã được bổ sung và hoàn thiện đáng kể, tuy nhiên, xuấtphát từ điều kiện thực tế của nền kinh tế nói chung cũng như thị trường vốn nói riêng, chúng ta phải có những bước đi thích hợp Vừa làm vừa rút kinh nghiệm để tìm các giải pháp khả thi, có hiệu quả hơn Chúng ta đã thu được một số thành công bước đầu trong việc phát hành các loại trái phiếu và công trái có mục đích để huy động vốn cho các dự án đầu tư của Trung ương và của địa phương Nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế hết sức to lớn Cùng với việc hoàn thiện cơ chế huy động vốn trong nước, chúng ta cần tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết và học hỏi kinh nghiệm của các nước để sớm triển khai chương trình phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế
BÀN VỀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
Phát triển đồng bộ các loại thị trường, trong đó có thị trường tài chính và thị trường tiền tệ là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa IX, Chương trình hành động của Chính phủ và của ngành Ngân hàng Điều này càng trở nên cấp thiết hơn khi Việt Nam đang tiến gần đến hội nhập với khu vực và thế giới, như AFTA, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và dự kiến tham gia WTO vào năm 2005 Để đưa những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước sớm đi vào cuộc sống, góp phần phát triển kinh tế đất nước, trong phạm vi bài viết này là một số nội dung bàn về thị trường tiền tệ và những giải pháp phát triển thị trường tiền tệ hiện nay ở Việt Nam.
Thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính, là thị trường vốn ngắn hạn (có thời hạn dưới 1 năm) Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các Tổ chức tín dụng (sửa đổi) cho phép các giấy tờ có giá dài hạn được giao dịch trên thị trường tiền tệ còn giúp cho thị trường tiền tệ đóng vai trò là thị trường thứ cấp của các công cụ nợ dài hạn Với sự tham gia của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương, các trung gian tài chính, thị trường tiền tệ được đánh giá là thị trường có
độ an toàn cao và là thị trường bán buôn hữu hiệu Thị trường tiền tệ được biết đến như là một thị trường phi tập trung, sôi động và mang tính toàn cầu Các giao dịch trên thị trường tiền tệ thường
có thời hạn ngắn và rất ngắn, đặc biệt thị trường cho vay qua đêm rất phát triển và chiếm một tỷ trọng đáng kể trong doanh số hoạt động của thị trường tiền tệ Khởi nguồn từ hoạt động cho vay/đi vay giữa các ngân hàng, thị trường tiền tệ ngày càng phát triển đa dạng và linh hoạt Với mục tiêu ban đầu là thị trường để bảo đảm khả năng thanh khoản của các trung gian tài chính, thị trường tiền tệ đã phát triển trở thành thị trường đầu tư vốn ngắn hạn, thị trường kinh doanh chênh lệch giá, thị trường của các công cụ phòng ngừa rủi ro (heging) và các thị trường phái sinh Thị trường tiền
tệ là thị trường hết sức nhạy cảm với những sự kiện biến động về kinh tế, chính trị, xã hội vì vậy nó được coi như là thước đo của nền kinh tế.
Dễ dàng nhận ra một điều là thị trường tài chính nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng của Việt Nam chưa phát triển Sự chưa phát triển của thị trường tiền tệ Việt Nam thể hiện ở chỗ: Các công cụ giao dịch trên thị trường còn nghèo nàn và khối lượng giao dịch còn hạn chế; thị trường thứ cấp các công cụ giao dịch của thị trường gần như là chưa có, hoạt động của thị trường sơ cấp còn hạn chế, thị trường chưa thu hút được đông đảo các thành viên tham gia và chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp của thị trường
Trang 31Một số nguyên nhân làm cho thị trường tiền tệ của Việt Nam chưa phát triển
Thứ nhất, sự hoạt động hiệu quả thấp của thị trường vốn ở các nước thị trường phát triển thì huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu và các công cụ nợ dài hạn phải đáp ứng trên 60% nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế Việt Nam với tốc độ tăng trưởng GDP liên tục nhiều năm đạt mức trên 7% đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư rất lớn, trong khi đó huy động thông qua thị trường chứng khoán hầu như không đáng kể; gánh nặng về vốn đầu tư đổ dồn lên vai các ngân hàng với
tư cách là các trung gian tài chính, đi vay để cho vay Nói cách khác, áp lực về vốn tín dụng đầu tư đối với các ngân hàng thương mại là rất lớn và các ngân hàng nhận thấy rằng việc đầu tư vào thị trường tín dụng hiệu quả hơn nhiều so với đầu tư thông qua các công cụ trên thị trường tiền tệ Điều này hoàn toàn khác với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, đó là hầu hết các doanh nghiệp lớn, làm ăn có hiệu quả đều lựa chọn việc huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu
và các trái phiếu công ty, vì chi phí rẻ và doanh nghiệp chủ động hơn là vay tín dụng ngân hàng Các ngân hàng chỉ có thể tiếp cận được với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có “thương hiệu” trên thị trường; tuy nhiên, việc cho vay với các đối tượng khách hàng loại này là rủi ro rất cao; vì vậy, các ngân hàng phải cân nhắc và họ thích đầu tư vào thị trường tiền tệ hơn Sự thiếu quan tâm tới các “sản phẩm” trên thị trường tiền tệ vì cho rằng không hiệu quả bằng đầu tư vào thị trường tín dụng của các ngân hàng là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự hoạt động trầm lắng của thị trường tiền tệ trong thời gian qua.
Các ngân hàng thương mại là những trung gian tài chính rất quan trọng trên thị trường tài chính nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng, bởi vì các ngân hàng thương mại có khả năng tài chính lớn, phạm vi hoạt động rộng và đưa ra các “sản phẩm dịch vụ ” thoả mãn được nhu cầu đa dạng của thị trường Các ngân hàng thương mại thường đóng vai trò là những người tạo lập thị trường (market maker), cụ thể là phải thường xuyên yết giá 2 chiều của tất cả các công cụ của thị trường Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại Việt Nam chưa làm được điều này Ngay thị trường vốn ngắn hạn liên ngân hàng là thị trường hoạt động tích cực nhất hiện nay thì các ngân hàng tham gia cũng nhằm đáp ứng mục tiêu bảo đảm thanh khoản là chủ yếu (chưa đặt vấn đề kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường này) Vì vậy, các ngân hàng cũng thường chỉ đặt giá 1 chiều (vay hoặc đi vay) khi có nhu cầu phát sinh Vai trò tạo lập thị trường của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn rất mờ nhạt.
Thứ hai, sự thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động của thị trường tiền tệ Sự thiếu chuyên nghiệp thể hiện ở chỗ các công cụ của thị trường không theo những quy chuẩn của thị trường Hiện nay, trên thị trường tiền tệ Việt Nam đã hình thành một số “hàng hoá” nhất định, có thể tham gia giao dịch như tín phiếu, trái phiếu Kho bạc Nhà nước; giấy tờ có giá của các ngân hàng thương mại; trái phiếu của chính quyền địa phương (Tp Hồ Chí Minh), trái phiếu doanh nghiệp (Tổng Công ty dầu khí) và tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên, khối lượng các công cụ có thể giao dịch được trên thị trường không lớn và chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường Để thị trường thứ cấp giao dịch giấy tờ có giá phát triển đòi hỏi các thủ tục mua - bán, trao đổi phải hết sức đơn giản, thuận tiện trong khi đó phần lớn các giấy tờ có giá hiện nay đều là các giấy tờ có giá ghi danh Những tín phiếu, trái phiếu vô danh chiếm một tỷ trọng rất nhỏ vì thế gây ra sự bất tiện khi giao dịch trên thị trường Mặt khác, thời hạn của các giấy tờ có giá đơn điệu và phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu vốn của người phát hành Tín phiếu kho bạc là một ví dụ điển hình: Bộ Tài chính trong những năm qua chủ yếu phát hành loại tín phiếu kho bạc có thời hạn là 364 ngày, vì thế không thể căn cứ vào lãi suất tín phiếu kho bạc để xác định đường cong lãi suất chuẩn của thị trường Sự thiếu tính chuyên nghiệp của thị trường tiền tệ Việt Nam còn thể hiện ở chỗ thiếu những nhà tạo lập thị trường, những tổ chức trung gian trên thị trường như các nhà kinh doanh chuyên nghiệp, các công ty môi giới, những công ty xếp hạng tín dụng… Người kinh doanh chuyên nghiệp và tạo lập thị trường là những người được yêu cầu phải yết giá mua và giá bán của tất cả các công cụ đang giao dịch trên thị trường, nói cách khác, họ phải mua của những người cần bán và bán cho những người cần mua trên thị trường và được hưởng chênh lệch giá Tuy nhiên, ở Việt Nam, các ngân hàng chưa làm tốt vai trò này, nhiều ngân hàng phát hành các kỳ phiếu có cam kết sẽ mua lại trước hạn và coi đó như là sự “ưu việt” của kỳ phiếu của ngân hàng mình còn hầu hết người chủ
sở hữu các giấy tờ có giá có nhu cầu tạm thời về vốn phải đi vay có thế chấp bằng các kỳ phiếu, trái phiếu, sổ tiết kiệm… mà mình đang nắm giữ với thủ tục rất phức tạp Do chủ sở hữu các công
cụ của thị trường khi cần vốn không biết bán ở chỗ nào cho nên đã phản ứng tiêu cực lại đối với thị trường sơ cấp phát hành ra các công cụ đó Vào thời điểm giữa năm 2003, trong khi hầu hết các ngân hàng đều thực hiện việc tăng lãi suất như là đòn bẩy kinh tế để mở rộng huy động vốn, tuy nhiên,l vẫn không thu hút được nguồn vốn trung dài hạn mà lý do là những người đầu tư không dám “mạo hiểm” đầu tư vào các công cụ có thời hạn dài mà khi cần vốn họ không thể bán lại được trên thị trường.
Thứ ba, các văn bản pháp lý cho hoạt động của thị trường tiền tệ chưa đồng bộ Có thể nói, các nội dung cơ bản của thị trường tiền tệ đều đã được luật pháp hoá, cụ thể là ở các mức độ khác nhau (Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quy chế, Thông tư…), chúng ta đã ban hành các quy định đối
Trang 32với hoạt động của thương phiếu; phát hành tín phiếu và trái phiếu Chính phủ, phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu của các tổ chức tín dụng, quy định về quan hệ tín dụng giữa các tổ chức tín dụng… Tuy nhiên, các quy định này còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ Mặc dù Pháp lệnh
Thương phiếu đã ban hành từ năm 1999, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã có Nghị định và các văn bản hướng dẫn, tuy nhiên cho đến nay các quy định này vẫn chưa đi vào cuộc sống Tín phiếu kho bạc là một công cụ tài chính rất được ưa chuộng giao dịch trên thị trường tiền tệ; tuy nhiên, hiện nay việc phát hành tín phiếu kho bạc chủ yếu với mục đích bù đắp thiếu hụt của Ngân sách Nhà nước mà chưa chú trọng đến vai trò thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển của nó, cho nên hiện nay, Bộ Tài chính chỉ phát hành một loại kỳ hạn 364 ngày là chủ yếu (ở nhiều quốc gia, ví dụ Singapore, mặc dù Ngân sách luôn bội thu nhưng Trái phiếu Chính phủ vẫn được phát hành với khối lượng lớn, thời hạn đa dạng để phục vụ cho hoạt động của thị trường tiền tệ)
Thứ tư, xuất phát điểm thấp của nền kinh tế và công tác thông tin tuyên truyền cho các sản phẩm của thị trường tiền tệ chưa đáp ứng được yêu cầu Xuất phát điểm từ một nền sản xuất nhỏ
đi lên chủ nghĩa xã hội, lại trải qua một thời gian dài trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, cho nên
cơ sở hạ tầng cũng như nhận thức của công chúng về nền kinh tế thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính - thị trường tiền tệ còn rất hạn chế Đơn cử ví dụ, hình thức gửi tiền truyền thống của dân chúng hiện nay vẫn là gửi tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại và giữ đến khi đáo hạn để hưởng lãi; Đa phần người dân chưa có thói quen mua các công cụ nợ (như tín phiếu, trái phiếu) và mua bán lại các công cụ nợ đó trên thị trường Vì vậy, muốn thị trường tiền tệ phát triển thì đòi hỏi các đơn vị có liên quan (đặc biệt là hệ thống ngân hàng) phải tích cực thông tin, tuyên truyền, quảng cáo về các tiện ích của các giao dịch trên thị trường tiền tệ Trong thời gian qua, do các ngân hàng chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động của thị trường tiền tệ; vì vậy, công tác thông tin, tuyên truyền còn hạn chế; thị trường giao dịch giữa khách hàng với các ngân hàng không phát triển, dẫn đến thiếu cơ sở vững chắc cho thị trường giữa các trung gian tài chính.
Những giải pháp phát triển thị trường tiền tệ
Để thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển cần có sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:
Một là, chuẩn hoá các công cụ giao dịch trên thị trường tiền tệ: Để thị trường thứ cấp phát triển thì một mặt, phải tạo nên nhiều “hàng hoá” đồng thời phải chuẩn hoá các công cụ tài chính trên thị trường Trong thời kỳ đầu, cần phải tăng cường việc phát hành các giấy tờ có giá dưới dạng chứng chỉ để công chúng nắm giữ (sau này khi thị trường đã phát triển thì có thể phát hành thông qua ghi
sổ tại ngân hàng) Các giấy tờ có giá này phải bảo đảm lưu thông một cách dễ dàng, điều này đồng nghĩa với việc các giấy tờ có giá này phải không ghi danh và có thể chuyển nhượng, chiết khấu, thanh toán một cách dễ dàng (như vậy các giấy tờ có giá này sẽ phải được thiết kế an toàn giống như tiền) Ngoài ra, thời hạn của các giấy tờ có giá này phải đa dạng để đáp ứng nhu cầu của thị trường (nhất là tín phiếu kho bạc và các chứng chỉ tiền gửi của ngân hàng).
Để phát triển thị trường tiền tệ và thị trường tài chính, đề nghị Bộ Tài chính xem xét phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc thêm nhiều loại kỳ hạn, như 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng… (Kho bạc Mỹ thường công bố kế hoạch đấu thầu tín phiếu, trái phiếu kho bạc hằng năm, với thời hạn từ
Ba là, nâng cao vai trò của các ngân hàng thương mại trên thị trường tiền tệ, như là những người tạo lập thị trường.
Trên cơ sở các công cụ tài chính được quy chuẩn giao dịch trên thị trường, các ngân hàng thương mại (đặc biệt là các ngân hàng thương mại Nhà nước, các ngân hàng TMCP quy mô lớn) phải đóng vai trò là các tổ chức tạo lập thị trường; cụ thể là:
- Phải quan tâm và dành một nguồn vốn nhất định để tham gia trên thị trường tiền tệ và đưa ra nhiều “sản phẩm” để đáp ứng nhu cầu về vốn, đầu tư, phòng ngừa rủi ro của thị trường, như chiết
Trang 33khấu các giấy tờ có giá, các hợp đồng REPO, các hợp đồng SWAPS, Option…
- Phải niêm yết giá chào 2 chiều (cả cho vay và đi vay) trên thị trường liên ngân hàng và sẵn sàng thực hiện các giao dịch theo các mức lãi suất đã niêm yết.
- Phải niêm yết lãi suất chiết khấu; giá mua, giá bán các giấy tờ có giá công khai tại các hội sở
và chi nhánh của ngân hàng và thực hiện giao dịch theo các mức giá đã được niêm yết đó Đối với các trái phiếu do ngân hàng phát hành, phải cam kết sẽ chiết khấu (mua lại) trước hạn theo mức lãi suất chiết khấu của ngân hàng tại thời điểm chiết khấu.
- Thực hiện việc liên kết giữa các ngân hàng trong việc sẵn sàng chiết khấu các giấy tờ có giá
do các ngân hàng khác phát hành; hoặc tổ chức thanh toán bù trừ về nghiệp vụ này.
- Nâng cao vai trò người cho vay cuối cùng của Ngân hàng Nhà nước, thông qua nghiệp vụ thị trường mở và nghiệp vụ cho vay qua đêm đối với các ngân hàng
Bốn là, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng để phục vụ cho các giao dịch trên thị trường tiền tệ
và thu thập xử lý thông tin của thị trường.
Các giao dịch trên thị trường tiền tệ đòi hỏi phải thực hiện nhanh và trên phạm vi rộng (toàn cầu) vì vậy đòi hỏi việc chào giá, thoả thuận và thực hiện giao dịch phải thông qua hệ thống mạng
có độ an toàn cao Hiện nay, gần 30 ngân hàng thương mại đã thực hiện giao dịch vốn (gửi
tiền/cho vay và nhận tiền gửi/ đi vay) liên ngân hàng thông qua hệ thống giao dịch của Hãng
Reuters
Tuy nhiên, do thông tin (lãi suất, thời hạn…) trên thị trường liên ngân hàng rất quan trọng đối với Ngân hàng Trung ương trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia cho nên ở các nước có thị trường phát triển thì Ngân hàng Trung ương thường xây dựng các mạng riêng của mình (như Fed Wire của Mỹ; BOK Wire của Hàn Quốc…) và cho phép các ngân hàng thực hiện các giao dịch vốn ngắn hạn liên ngân hàng thông qua mạng này Việc hình thành mạng này có vai trò tích cực đối với hoạt động của thị trường vì thông qua việc cho phép các ngân hàng giao dịch qua mạng này, Ngân hàng Trung ương có thể nắm bắt được đầy đủ các thông tin về thị trường và thực hiện vai trò kiểm soát thị trường của mình Đối với các ngân hàng thì giao dịch qua mạng của Ngân hàng Trung ương sẽ tiết kiệm được chi phí (nhiều nước Ngân hàng Trung ương còn miễn phí giao dịch thông qua mạng này) so với thuê của các tổ chức khác Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu để đầu tư một thiết bị mạng tương tự
Ngoài ra, cần phải thu thập, phân tích và công bố các chỉ số cơ bản của thị trường để công chúng và các định chế tài chính tham khảo Trong các thông số đó thì lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng là một thông số quan trọng để đánh giá sự biến động của thị trường Hiện nay, Hãng Reuters đã xây dựng được trang lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam (VNIBOR) trên cơ sở chào giá hằng ngày của một số ngân hàng Tuy nhiên, trong thực tế lãi suất này ít được tham chiếu vì nó chưa phản ánh chính xác lãi suất của thị trường
vì vậy cần phải tổ chức lại cho phù hợp hơn.
Năm là, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, đào tạo cán bộ phục vụ cho hoạt động của thị trường tiền tệ
Các nghiệp vụ của thị trường tiền tệ là các nghiệp vụ rất mới mẻ đối với công chúng và cả các ngân hàng Vì vậy, các ngân hàng cần phải tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, quảng cáo
để các khách hàng biết được những tiện ích mang lại khi họ tham gia các nghiệp vụ này Đối với các ngân hàng thì việc đào tạo, bồi dưỡng các cán bộ có trình độ về chuyên môn, ngoại ngữ để thực hiện kinh doanh trên thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế là hết sức quan trọng, đảm bảo hoạt động hiệu quả và thành công của ngân hàng trên thị trường tiền tệ.
Tạ Quang Khánh
Quản lý Nhà nước về phát triển thị trường và thương mại nội địa Theo mục tiêu CNH,
HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế
PGS.TS Ngô Quang Minh
Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Trang 34Đối với Việt Nam, một quốc gia đang trong quá trình tiến hành CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc
tế thì vai trò quản lý của Nhà nước đối với phát triển kinh tế nói chung, đặc biệt là trong việc phát triển thị trường và thương mại nội địa là hết sức quan trọng
Vai trò của Nhà nước đối với phát triển thị trường và thương mại nội địa thể hiện ở các chức năng của Nhà nước trong quản lý kinh tế như: tạo môi trường thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh
tế cùng tham gia vào thị trường bình đẳng, định hướng sự phát triển của thị trường và thương mại nội địa, điều tiết sự vận động, phát triển của thị trường, kiểm soát sự hoạt động của nền kinh tế nói chung, của thị trường và thương mại nội địa nói riêng
Trong nền kinh tế thị trường luôn có ba nhân tố là hệ thống thị trường, Nhà nước và các doanh nghiệp Hệ thống thị trường vận hành theo cơ chế thị trường với những quy luật vốn có của nó Nhà nước làm chức năng kích thích, điều tiết từ bên trong để tạo thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Các doanh nghiệp hoạt động tự chủ trong thị trường, chịu sự tác động của
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Sự hoạt động của các doanh nghiệp luôn bị chi phối bởi hai nhân tố là thị trường và Nhà nước Do vậy, trình độ phát triển của thị trường và trình độ quản lý thị trường của Nhà nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sự hoạt động, phát triển của các doanh nghiệp, đến sự phát triển của thương mại nội địa Quan hệ Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp có thể đưa đến ba khả năng:
- Thị trường phát triển đầy đủ, đồng bộ, lành mạnh, Nhà nước quản lý, điều tiết nhịp nhàng, có hiệu lực, hiện thực hóa cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Trong điều kiện đó, các doanh nghiệp sẽ hoạt động, phát triển thuận lợi, đúng hướng Đây là mục tiêu phát triển kinh tế thị trường của chúng ta hiện nay.
- Thị trường không phát triển, Nhà nước vẫn làm thay, can thiệp bằng mệnh lệnh, hành chính vào mọi hoạt động kinh tế, phân bổ các nguồn lực, trực tiếp điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp, hạn chế sự ra đời và phát triển của thị trường; có nguy cơ trở lại mô hình quản lý hành chính chỉ huy Do vậy, thương mại nội địa cũng không có cơ hội để phát triển.
- Thị trường phát triển nhưng trình độ và khả năng điều tiết, quản lý của Nhà nước yếu, kém, không có hiệu lực, dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý, Nhà nước mất khả năng điều tiết thị trường, các doanh nghiệp hoạt động hoàn toàn theo sự điều tiết của "bàn tay vô hình" của thị trường, thậm chí phát triển trong sự hỗn loạn.
Hiện nay, nền kinh tế của nước ta đang bị xu hướng thứ hai và thứ ba chi phối rất lớn Có nhiều nơi, có nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước bị buông lỏng, có lúc quản lý nhà nước lại can thiệp quá sâu gây cản trở, kìm hãm sự phát triển của thị trường, của doanh nghiệp
Khác với những quốc gia có thị trường phát triển ở trình độ cao, cơ chế thị trường đã bộc lộ rõ tất
cả những mặt mạnh, mặt yếu, những thuộc tính vốn có của nó, ở đó, Nhà nước chủ yếu điều tiết thị trường nhằm mục tiêu đã định ở nước ta hiện nay, kinh tế thị trường mới ở mức sơ khai, các yếu tố của thị trường chưa hình thành đồng bộ Do vậy, Nhà nước vừa phải thực hiện các biện pháp thúc đẩy sự hình thành đồng bộ các yếu tố của thị trường, vừa phải điều tiết thị trường Hai nhiệm vụ này có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó, nhiệm vụ tạo lập hệ thống thị trường đẩy
đủ đồng bộ là nhiệm vụ cơ bản nhất Việc ra đời và phát triển thị trường ở nước ta phải gắn liền với sự quản lý của Nhà nước.
Vai trò thúc đẩy sự ra đời và phát triển thị trường và thương mại nội địa của Nhà nước ở nước ta hiện nay, thể hiện trên hai mặt:
Một là, Nhà nước tạo mọi điều kiện cho các chủ thể sản xuất, kinh doanh phát triển Trên cơ sở có nền kinh tế hàng hóa phát triển, hệ thống thị trường và cơ chế thị trường sẽ đẩy đủ và hoàn thiện Khi đó Nhà nước có vai trò như "bà đỡ”, không ra lệnh, không tác động trực tiếp, mà cho phép, bảo hộ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế thị trường phát triển Nhà nước cần tác động hợp với các quy luật của thị trường
Hai là, Nhà nước như một nhân tố từ bên trong, trực tiếp tham gia vào việc hình thành và phát triển các loại thị trường, bằng các nguồn lực của mình Nhà nước xuất hiện như một sức mạnh, một nhân tố chủ động của thị trường, lúc đó, Nhà nước thật sự trở thành "một nhà buôn sỉ" như Lênin đã từng nói.
Cả hai mặt này có quan hệ mật thiết với nhau, cùng hướng vào mục tiêu chung là thúc đẩy hệ thống thị trường và thương mại nội địa ở nước ta phát triển Sự tác động như vậy sẽ giúp Nhà nước thực hiện được cả hai chức năng: đẩy nhanh sự ra đời và phát triển các loại thị trường, đồng thời ngay từ đầu Nhà nước đã điều tiết được thị trường và các hoạt động thương mại nội địa Cũng giống như quá trình thúc đẩy sự ra đời, phát triển hoàn thiện các yếu tố thị trường và thương mại nội địa, mọi tác động điều tiết, quản lý của Nhà nước được thực hiện trên hai mặt:
Trang 35Thứ nhất, Nhà nước điều tiết thị trường thông qua luật pháp, chính sách và các công cụ điều tiết khác, bao gồm: quan điểm, chiến lược phát triển, pháp luật, kế hoạch và quy hoạch phát triển, chính sách, bộ máy và cán bộ quản lý, các nguồn lực quốc gia như: dự trữ quốc gia, tài nguyên thiên nhiên,… Để thúc đẩy sự ra đời, phát triển, hoàn thiện hệ thống thị trường, thương mại nội địa, Nhà nước trước hết phải có sự nhất quán từ lý luận đến thực tiễn về chiến lược phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN Nhà nước cần đưa ra được những chính sách, biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào hệ thống thị trường, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế khác nhau Quản lý nhà nước phải kích thích được sự hợp tác, liên kết, hỗ trợ nhau giữa các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh lành mạnh
Nhà nước thông qua các công cụ quản lý của mình xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật và gian lận thương mại Nhà nước cũng cần có những biện pháp điều hòa lợi ích của các chủ tham gia thị trường và lợi ích chung của xã hội, thông qua các chính sách: thuế, hệ thống bảo hiểm, để Nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ lợi ích này Bảo vệ lợi ích của người lao động, người tiêu dùng, kiểm soát và hạn chế độc quyền kinh doanh cũng là những nội dung mà quản lý nhà nước trong kinh tế thị trường phải chú trọng
Mặt khác, Nhà nước trực tiếp tham gia vào thị trường như một nhân tố, một sức mạnh từ bên trong để điều chỉnh thị trường Nhà nước, thông qua lực lượng vật chất, các nguồn lực kinh tế của mình tác động trực tiếp vào thị trường và thương mại nội địa Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, kinh tế nhà nước là một bộ phận đặc biệt của nền kinh tế quốc dân Bằng lực lượng kinh tế của mình, Nhà nước có thể đầu tư phát triển mạnh một ngành, một lĩnh vực, một vùng, một loại thị trường nào đó Đồng thời, kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất và công cụ sắc bén để Nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế, bảo đảm những cân đối lớn, những định hướng kinh tế - xã hội, chính trị của toàn bộ nền kinh tế, là lực lượng cơ bản đảm bảo khả năng định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường Hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước nhằm mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, do đó, tất yếu thúc đẩy thị trường và thương mại nội địa phát triển Kinh tế nhà nước còn giúp Nhà nước khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, điều chỉnh các "lỗ hổng" trong quan hệ cung cầu hàng hóa và dịch vụ do cơ chế thị trường tạo ra Trong các lĩnh vực rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nhưng khả năng sinh lời thấp, không hấp dẫn các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác đầu tư vào, như: đầu tư cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi
xã hội , bảo vệ môi trường, thường kinh tế nhà nước phải trực tiếp đảm nhận
Khu vực kinh tế nhà nước gồm nhiều bộ phận cấu thành, trong đó hệ thống doanh nghiệp nhà nước là bộ phận cơ bản nhất Các doanh nghiệp nhà nước vừa là chủ thể trực tiếp tạo ra cơ sở vật chất cho xã hội, vừa là lực lượng nòng cốt để Nhà nước dẫn dắt, mở đường cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển Hệ thống doanh nghiệp nhà nước vừa là các đơn vị kinh tế tự chủ, độc lập, vừa là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước để Nhà nước thúc đẩy sự ra đời, phát triển đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, thúc đẩy sự phát triển của thương mại nội địa Với cách điều tiết thứ nhất, Nhà nước tạo ra những hành lang, những rào chắn cần thiết để định hướng sự vận động của thị trường và thương mại nội địa Với cách điều tiết thư hai, Nhà nước dùng chính sức mạnh kinh tế của mình tác động hợp quy luật của thị trường để định hướng sự vận động của nó Nếu sự tác động của Nhà nước để thúc đẩy thị trường phát triển có hiệu quả thì tác động điều chỉnh vận động của thị trường cũng có hiệu lực và ngược lại.
Quá trình Nhà nước tham gia thúc đẩy sự ra đời, phát triển thị trường và thương mại nội địa, cũng như quá trình Nhà nước điều tiết thị trường đồng thời là quá trình phát hiện những lệch lạc trong
sự vận động của thị trường và những thiếu sót của bản thân quản lý nhà nước đối với thị trường và thương mại nội địa Trên cơ sở đó, Nhà nước có những điều chỉnh, khắc phục kịp thời.
Hiện nay, chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng XHCN Quá trình này diễn ra rất phức tạp, khó khăn Bởi vì, bản thân quá trình chuyển đổi là quá lớn, sâu sắc, toàn diện; đồng thời còn do chủ thể quản lý chưa có kinh nghiệm, chưa có kiến thức, lại phải tự đấu tranh với chính bản thân mình Chủ nghĩa tư bản,
để có được hệ thống thị trường phát triển đồng bộ và ở trình độ cao như hiện nay, đã phải trải qua
sự vận động, phát triển hàng trăm năm Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu, không trải qua giai đoạn TBCN mà quá độ thẳng lên CNXH, xuất phát điểm của nền kinh tế rất thấp Không những thế, nền kinh tế lại phải trải qua mấy thập kỷ phát triển theo hướng kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, không có quan hệ hàng hóa, tiền tệ, xóa bỏ hẳn thị trường, kỳ thị với thị trường Chính vì vậy, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của nước ta sẽ khó khăn gấp bội Chúng ta không chỉ đi từ thấp đến cao, mà còn phải chuyển đổi từ cái cũ sang cái mới, từ trong tư duy đến cách làm Để thực hiện tốt chức năng của mình, quản lý nhà nước không chỉ học cách tác động, điều tiết thị trường hiệu quả mà còn phải tự đổi mới chính bản thân mình, đổi mới
từ tư duy đến hành động.