Nghiên cứu sử dụng phần mềm EXE để biên soạn và đóng gói một số bài giảng Tin học 10 theo chuẩn của E - learning
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đã bước sang thế kỷ mới, thế kỷ đang và nhất định sẽ có rất nhiều những đổi thay to lớn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và bùng nổ thông tin đã làm tác động lên tất
cả các lĩnh vực trong cuộc sống của xã hội, xu thế chung trên thế giới là toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Trong giáo dục và đào tạo đã hình thành và bước đầu phát triển mạnh mẽ các khuynh hướng mới như đa dạng hoá các loại hình giáo dục, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy-học, diễn đàn khoa học trên mạng Internet Đảng ta cũng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội và xác định rõ muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục-đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững
Trước tác động của công nghệ thông tin đối với giáo dục trên thế giới thì
trong Nghị quyết TW2 khóa VIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”
Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng BGD&ĐT đã nêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo Công Nghệ Thông Tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học Công Nghệ Thông Tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập ”
Qúa trình gần 10 năm đổi mới và ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học
đã mang lại rất nhiều hiệu quả trong quá trình dạy và học, đã phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo và quan trọng hơn là đã giúp người học lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng và chủ động hơn Do đó việc ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy và học đã và đang mở ra khả năng xây dựng nhiều phương thức và
Trang 2biện pháp dạy học mới, ảnh hưởng một cách đáng kể đến sự phát triển của hệ thống giáo dục Chính vì vậy năm học 2008-2009 vừa qua được ngành giáo dục đào tạo chọn
là năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
Đại Hội Đảng toàn quốc toàn quốc lần thứ X khẳng định:” nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy học, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin, phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học ”
Có thể nói phương pháp dạy học theo hướng vận dụng công nghệ thông tin và các thiết bị dạy học hiện đại phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú học tập của học sinh để nâng cao chất lượng đào tạo và tạo điều kiện cho người học chủ động trong quá trình học
Ngày nay, việc học tập không chỉ còn bó gọn trong việc học phổ thông, học đại học mà là học suốt đời Hơn thế nữa việc học còn được phải được tiến hành ở mọi lúc mọi nơi, học theo sở thích và vựợt qua giới hạn địa lý để người học có thể làm chủ kho tàng kiến thức của nhân loại
Do vậy, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Ðảng khẳng định, yêu cầu mới của nền giáo dục là: Chuyển từ chủ trương giáo dục cho mọi người sang chủ trương mọi người đều phải thực hiện việc học tập suốt đời
Để đáp ứng được các nhu cầu đó thì hệ thống E-learning đã bắt đầu được triển khai ở nước ta Đây là một hệ thống học tập điện tử bao gồm các hệ thống quản lý học tập, quản lý nội dung học tập, công cụ làm bài giảng Điều quan trọng hơn là E-Learning đã được thế giới chuẩn hoá nên các bài giảng có thể trao đổi với nhau trên toàn thế giới cũng như giữa các trường học ở Việt Nam, và nó sử dụng tối đa những tiện ích có thể có của công nghệ thông tin và truyền thông vào việc thực hiện chương trình giáo dục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng
Tuy nhiên việc tìm hiểu về E-learning và biên soạn những bài giảng e-learning cho các môn học ở trường phổ thông ở Việt Nam không nhiều Do đó vấn đề đặt ra là làm sao có thể ứng dụng E-learning vào quá trình dạy và học một cách rộng rãi, đặc biệt là tạo ra các bài giảng điện tử theo chuẩn của Elearning sinh động, hấp dẫn mang
Trang 3tính tương tác cao giữa người dạy và ngưòi học, mở ra cơ hội cho mọi người tiếp cận với tri thức một cách dễ dàng và thuận tiện hơn
Trước những tình hình đó cùng với mục tiêu chiến lược của giáo dục trong giai đoạn hiện nay là đổi mới phương pháp, cách thức dạy học kết hợp với các phương tiện dạy học với phương châm học mọi lúc mọi nơi và bất cứ lúc nào để làm sao phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, chủ động và tạo cơ hội tốt cho học sinh giao lưu học hỏi, phát biểu ý kiến, phát triển sức sáng tạo, mở rộng quan hệ để có thể tiếp thu và lĩnh hội kho tàng kiến thức vô giá của nhân loại
Thêm vào đó đặc thù của môn tin học là môn học mà rất cần có những bài giảng
có tích hợp đa phương tiện để giúp các em học sinh hứng thú, say mê, tự giác học tập
Chính vì vậy em đã chọn đề tài “Nghiên cứu sử dụng phần mềm EXE để biên soạn và đóng gói một số bài giảng Tin học 10 theo chuẩn của E-learning” làm đề
tài nghiên cứu của mình
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
E-learning là hệ thống học tập điện tử, bài giảng theo chuẩn e -Learning có chuẩn công nghệ SCORM, AICC được thế giới công nhận, nên có thể chia sẻ bài giảng giữa các nước với nhau, có nhiều công cụ xây dựng bài giảng hợp chuẩn, đáp ứng nhu cầu học tập mọi nơi, mọi lúc một cách mềm dẻo, có thể học trực tuyến qua Internet, cũng có thể học ngoại tuyến qua đĩa CD Trong những năm gần đây việc nghiên cứu E-learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn, các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-Learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như:
- Một số Thầy, Cô giáo của Trường ĐHBK Hà Nội biên soạn bài giảng cho sinh viên học trực tuyến
- Trường ĐHSP Huế đang triển khai hệ thống mã nguồn mở Moodle
Tuy nhiên tất cả chỉ bó hẹp tại một số ít các trường đại học mà chưa được phổ biến rộng rãi ở các cấp học dưới, đặc biệt là các bài giảng theo chuẩn của E-learning Cho đến nay, giáo viên (GV) các trường đang chủ yếu soạn bài trình chiếu powerpoint
và một số phần mềm dạy học Vẫn còn có sự nhầm lẫn khá lớn giữa khái niệm về bài
Trang 4giảng điện tử với bài trình chiếu, bài giảng điện tử, giữa thiết bị dạy học với phần mềm Chính vì vậy, mà Bộ GDĐT đã tổ chức cuộc thi GV làm bài giảng điện tử theo công nghệ e-Learning, GV dạy giỏi ứng dụng công nghệ thông tin, nhằm mục đích khuyến khích động viên GV tiếp cận công nghệ mới cũng như chia sẻ kinh nghiệm
Với khẩu hiệu: Nếu mỗi GV góp mỗi năm 1 bài giảng e-Learning, chúng ta sẽ có 1 triệu bài giảng điện tử trong 1 năm và nếu bài giảng đó soạn thêm bằng tiếng Anh, chúng ta có thể chia sẻ với bạn bè GV ở các nước khác về công nghệ làm bài giảng e- Learning Cuộc thi đã giúp cho nhiều GV có cơ hội tiếp cận nhiều hơn với việc biên
soạn bài giảng e-learning nhưng nó vẫn chỉ dừng lại ở phạm vi là một cuộc thi, do đó việc biên soạn bài giàng theo chuẩn e-learning còn khá ít đối với các môn học nói chung và môn tin học nói riêng, hơn nữa Tin học là một môn học mới chỉ được Bộ giáo dục và đào tạo đưa vào làm môn học chính thức bắt đầu từ năm học 2006-2007 nên còn ít tác giả nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sử dụng phần mềm eXe để biên soạn
và đóng gói một số bài giảng Tin học 10 theo chuẩn của E-learning”
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở tìm hiểu E-learning, nghiên cứu lý luận dạy học và quá trình dạy học tin học ở trường phổ thông và khai thác sử dụng phần mềm EXE để biên soạn và đóng gói một số bài giảng Tin học 10 theo chuẩn e-learning theo hướng đổi mới phương pháp và cách thức tổ chức dạy-học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh, nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Lý luận dạy học, phương pháp dạy học Tin học, đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học
Sách giáo khoa, sách bài tập, sách GV tin học 10
Phần mềm soạn bài giảng EXE
V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu các phương pháp giáo dục hiện đại
Nghiên cứu và tìm hiểu về E-learning, so sánh E-learning với các phương pháp dạy học truyền thống, và tìm hiểu công cụ soạn bài giảng của một trong các hệ thống của E-learning
Tìm hiểu về chuẩn của Elearning
Trang 5 Nghiên cứu và tìm hiểu về phần mềm EXE
Sử dụng phần mềm EXE là công cụ để biên soạn và đóng gói bài giảng E-learning vào một số bài trong sách giáo khoa Tin học 10
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu tài liệu về phương pháp dạy học hiện đại và cách thức soạn bài giảng điện tử
Nghiên cứu và tìm hiểu các khoá học E-learing và đặc biệt là các bài giảng được soạn theo E-learning
Xây dựng bài giảng bằng phần mềm EXE
Bám sát nội dung chương trình sách giáo khoa Tin học 10
VII NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
- Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Chương 2: E-Learning và việc ứng dụng E-Learning trong quá trình dạy học Chương 3: Sử dụng phần mềm EXE để biên soạn một số bài giảng Tin học 10 Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
- Phần kết luận:
Đánh giá những việc đã làm được, những việc chưa làm được và hướng phát triển
Trang 6của đề tài
Trang 7B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG
TIN TRONG DẠY HỌC
1.1 Vai trò của công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.[5]
Công nghệ thông tin đã mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Ngoài ra, sự ra đời kịp thời của World Wide Web WWW cung cấp cơ sở hạ tầng chung được xây dựng trên các chuẩn phổ dụng giúp cho mọi người khả năng truy cập bất cứ nơi đâu, bất cứ khi nào tới thông tin và tri thức trên toàn cầu Những phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng, dạy học qua cầu truyền hình
Tóm lại, công nghệ thông tin đã góp phần to lớn vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học, cung cấp nhiều phương tiện và hình thức dạy học phong phú, nhằm mục đích cung cấp tri thức cho người học, đặc biệt hơn là phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu, chiếm lĩnh tri thức Tạo điều kiện cho người học có thể học mọi lúc, mọi nơi dần tiến tới một xã hội học tập góp phần vào sự nghiệp xây dựng, đổi mới đất nước
1.2 Ưu điểm của phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin so với phương pháp dạy học truyền thống.[12]
Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh video, camera… với âm thanh, văn bản, biểu đồ… được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan
- Kỹ thuật đồ họa nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong
tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường
Trang 8- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và những người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet… có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và giúp tăng cường khả năng suy luận Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông, điều này chắc chắn sẽ có những tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh
và làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới
Tóm lại, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động,
tích cực chống lại thói quen học tập thụ động của học sinh điều rằng: đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp với các phương pháp dạy học hiện đại Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy đã được nhiều trường học trong cả nước phát triển để nâng cao chất lượng bài giảng
1 3 Sự phát triển của phương tiện dạy học và vai trò của nó trong quá trình dạy học [12][5]
Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể như: bộ office, Carbi, crocodile, LessonEditor/Violet, Elearning và các phần mềm đóng gói, tiện ích khác Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi người đều có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng Nhờ có sử dụng các phần mềm dạy học này mà học sinh trung bình, thậm chí học sinh trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập Phần mềm dạy học được sử dụng ở nhà sẽ nối dài cánh tay của giáo viên tới từng gia đình học sinh thông qua hệ thống mạng Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế các giáo án giảng dạy trở nên sinh động hơn,
Trang 9tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra nội dung của bài giảng với những
âm thanh hình ảnh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi học sinh Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học Những khả năng mới
mẻ và ưu việt này của công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn là cách ra quyết định của con người
Do đó mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần là „thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình học tập, tự rèn luyện của bản thân
1.4 Vai trò của máy vi tính với multimedia trong sự phát tri ển của giáo dục hiện nay
1.4.1 Multimedia.[11]
Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông, một phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy tính, sử dụng nhiều dạng truyền thông tin như văn bản, đồ hoạ và âm thanh cùng với sự gây ấn tượng bằng tương tác
Sự phổ cập của máy vi tính và do yêu cầu khách quan của xã hội mà máy vi tính cần có
hệ thống đa phương tiện- Multimedia Chính vì thế mà máy vi tính với hệ thống đa phương tiện ra đời
1.4.2 Chức năng hỗ trợ dạy học của máy vi tính [11]
Hơn bất cứ một phương tiện dạy học nào khác, khả năng trình diễn thông tin như việc dùng máy tính chiếu tường (Projector) hay màn hình phẳng kích thước lớn, máy ảnh, máy quay phim kỹ thuật số , máy vi tính với Multimedia đã có thể đưa vào lớp học không chỉ những dòng văn bản với các kiểu dáng, kích thước màu sắc khác nhau
mà cả những hình ảnh tĩnh, động, phim học tập cùng với âm thanh rất sinh động Những hiệu quả đáng chú ý mà Multimedia sẽ mang lại cho quá trình dạy học được khái quát như sau:
Trang 10- Kích thích được hứng thú, sự chú ý ở mức độ cao bởi khả năng đa dạng hoá trong cách trình diễn thông tin
- Làm cho quá trình nhận thức của học sinh,nhờ vào khả năng dễ tái tạo lại đối tượng nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau; tăng cường độ bền, sâu của kiến thức nhờ việc tiếp thu thông tin theo nhiều kênh (Chữ, hình, tiếng)
- Giảm thiểu một cách đáng kể các hoạt động chân tay và một phần lao động trí
óc của giáo viên như : nói; viết bảng; vẽ hình; thao tác thực hành mẫu; thực hiện một
số thí nghiệm biểu diễn; ghi nhớ những nội dung quan trọng của bài giảng, đáp án của các câu hỏi, bài tập; thực hiện các phép tính toán
- Dành được nhiều thời gian để giáo viên thiết kế, tổ chức, điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh Đây cũng chính là tình thần của việc cải cách sách giáo khoa hiện nay
- Tạo được nhiều điều kiện thuận lợi cho việc ôn tập, củng cố hệ thống hoá kiến thức thông qua các thư viện tranh ảnh, phim, các tài liệu điện tử như sách bài tập, sách giáo khoa, tài liệu tự học theo kiểu chương trình hoá, chương trình gia sư Các tài liệu điện tử được lưu trữ trên máy tính theo thời gian sẽ ngày càng được chuẩn hoá đồng thời có tác dụng giảm chi phí học tập của học sinh về việc mua sắm tài liệu bằng cách truy cập các tài liệu dùng chung này trên mạng máy tính
- Tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên giám sát, kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy
và học bộ môn; phát huy đượcc sáng tạo của giáo viên , giúp họ dễ dàng đúc rút và tích luỹ kinh nghiệm, trao đổi học thuật để nâng cao chất lượng giảng dạy
Các khả năng hỗ trợ đó phần nào đã được thực hiện hoá trên các ấn phẩm điện tử, các phương thức giáo dục mới đang lần lượt xuất hiện trên thị trường giáo dục hiện nay
1.4.3 Vai trò của máy vi tính với Multimedia trong sự phát triển của nền giáo dục điện tử.[11]
Sự ra đời của hệ thống đa phương tiện đã làm thay đổi diện mạo vai trò của máy
vi tính - với tư cách là công cụ trong dạy học Sự ra đời của máy vi tính với Multimedia cùng với mạng náy tính toàn cầu WWW không những đánh dấu một sự tiến bộ vược bậc của khoa học kỹ thuật mà đã dẫn tới những thay đổi sâu sắc về
Trang 11phương pháp dạy học, về phương thức đào tạo, tổ chức và quản lý giáo dục, thậm chí
có thể làm thay đổi cả mục tiêu giáo dục Những sự thay đổi đó là cơ sở cho việc hình thành những đặc điểm của một “nền giáo dục điện tử”, “một xã hội học tập” trong thời đại thông tin Đó là một nền giáo dục được dựa trên nền tảng áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông ở mức độ cao cả về phương diện tổ chức các phương tiện vật chất cho quá trình dạy học lẫn việc bố trí các nội dung kiến thức cần thiết phải tiếp thu trong quá trình học tập
Các khái niệm về “lớp học” giờ đây không còn là một không gian điạ lý cụ thể, cố định nữa, cũng không phải là nơi bắt buộc phải đến khi học sinh muốn học, bục giảng bây giờ không còn là nơi làm việc duy nhất của giáo viên, mà bây giờ một “lớp học ảo”, người ta đã có thể dạy và học ở bất kỳ đâu Người học có thể đăng ký học qua mạng
Giáo viên trong nền giáo dục điện tử, sự liên kết vô hạn giữa các thành phần kiến thức khác nhau (trên mạng Internet) đã làm cho học sinh trong mỗi thời điểm học tập
có thể dễ dàng và nhanh chóng chuyển từ việc nghiên cứu kiến thức của lĩnh vực này sang nghiên cứu kiến thức của lĩnh vực khác Sự liên kết mạnh như thế giữa các phân môn cũng đòi hỏi người giáo viên phải có một kiến thức bao quát rộng hơn so với trước, phải theo dõi được tất cả các liên kết có ích cũng như các liên kết làm lệch trọng tâm kiến thức Mối quan hệ thầy trò trong nền giáo dục điện tử đã có sự thay đổi một cách cơ bản Đó là quan hệ nhiều thầy với một trò Các phương tiện công nghệ thông tin dùng trong dạy học giúp cho người dạy có thể nắm bắt tình trạng học tập của từng
cá thể học sinh nhưng nó cũng làm cho mối quan hệ người dạy- người học thay đổi Mặc dù vai trò của giáo viên vẫn luôn là cần thiết trong một nền giáo dục như thế, nhưng người ta vẫn có thể học mà không cần một giáo viên cụ thể - “giáo viên ảo” Nền giáo dục đã dẫn đến hệ quả: một sự dân chủ hóa cao độ trong hưởng thụ quyền được giáo dục Người học được quyền lựa chọn người dạy, chọn môn học mà mình thích Mọi người các cấp lãnh đạo giáo dục, người học và gia đình học sinh có thể theo dõi hoạt động tức thời hoạt động giảng dạy và học tập, những chủ trương, những quy chế, những chính sách, đánh giá kết quả học tập vào bất kỳ lúc nào họ muốn Xóa bỏ ranh giới giữa các vùng, giữa các quốc gia, giữa các tầng lớp trong xã
Trang 12hội Những tri thức khoa học, những thành tựu trên mọi lĩnh vực mà mỗi quốc gia đã đạt được và cả truyền thông, văn hóa trở thành tài sản của mọi người Những đặc điểm như vậy chỉ có thể trong một “xã hội học tập”, trong đó mọi người đều có quyền bình đẳng như nhau: Ai cũng được học hành (open learning), học ở mọi nơi (anywhere), học ở mọi lúc (anytime), học mọi thứ (anythings), học suốt đời (lifelong learning) và học ở mọi người (any one) Hàng loạt các khái niệm mới về phương tiện điện tử hỗ trợ cho hoạt động dạy và học cũng đã lần lượt ra đời
1.5 Mạng máy tính, Website, Internet và việc ứng dụng chúng trong dạy học.[11]
Các máy vi tính ngày nay không bị cô lập như trước đây nữa, nó có thể được nối với mạng cục bộ trong một phòng học, trong một trường, một sở hay được liên kết trong mạng Internet toàn cầu Những môi trường học tập theo những lĩnh vực, những ngành nghề khác nhau không còn quá xa xôi đối với người học Cho dù mỗi một quốc gia, mỗi một dân tộc, do những điều kiện hoàn cảnh khác nhau nên mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục khác nhau, những những tác động
và hiệu quả của chúng mang tính toàn cầu Dù muốn hay không nó cũng đang từng bước xâm nhập vào nền giáo dục của tất cả các quốc gia trên thế giới
Các khái niệm mạng máy tính, Internet, Website đang dần trở nên quen thuộc với mọi người Trẻ em ngày nay đang được hưởng những thành quả lớn lao mà công nghệ thông tin và truyền thông mang lại Giáo viên không còn độc quyền về tri thức nữa, học sinh đang đứng trước một kho tàng tri thức đồ sộ của nhân loại
Mạng máy tính, Internet, Website đã được ứng dụng trong giáo dục của nhiều nước, đây vừa là môi trường thông tin, vừa là diễn đàn trao đổi, hợp tác có tính tương tác mạnh Nhiều những công trình nghiên cứu khoa học giáo dục, những thư viện tranh ảnh, video clip, những thí nghiệm mô phỏng, những vấn đề về nội dung, phương pháp dạy học đã được đưa lên Website giáo dục của nhiều quốc gia phát triển sẽ trở thành cơ sở hiện thực hóa việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo của các nước chậm và đang phát triển Việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin ở nước ta hiện nay mà đặc biệt là sử dụng máy vi tính với hệ thống Multimedia, mạng Internet, Website cũng chính là xác định con đường để đi đến sự hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa nhiều lĩnh vực hiện nay
Trang 13KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Đổi mới phương pháp dạy học hiện đang là vấn đề cốt lõi để nâng cao chất lương dạy học Đó là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong cải cách giáo dục ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm đổi mới nội dung phương pháp dạy học là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên Do đó,
để đẩy mạnh việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong thời gian tới có hiệu quả, không có gì khác hơn là nhà nước tăng dần mức đầu tư để không ngừng nâng cao, hoàn thiện, hiện đại hóa thiết bị, công nghệ dạy học, đồng thời hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông để mọi trường học đều có thể kết nối vào mạng Internet Bên cạnh đó, có sự chỉ đạo đầy đủ, đồng bộ thống nhất bằng các văn bản mang tính pháp quy để các trường có cơ sở huy động nguồn vốn đầu tư cho hoạt động này, góp phần làm thay đổi nội dung, phương pháp hình thức dạy học và quản lý dạy học, tao nên được sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội qua mạng làm cơ sở để tiến tới một xã hội học tập
Trang 14CHƯƠNG 2 E-LEARNING VÀ VIỆC ỨNG DỤNG E-LEARING TRONG QUÁ
TRÌNH DẠY HỌC 2.1 Tổng quan về E-learning
2.1.1 Khái niệm E-learning [6]
E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-Learning Hiểu theo nghĩa rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin; trong đó, nội dung học có thể thu được từ: website, đĩa, video, audio, v v… thông qua máy tính hay tivi; người dạy và học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức: Thư điện tử (e-mail), thảo luận trực tuyến
(chat), diễn đàn (forum)…
Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet, Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…
Có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học: giao tiếp đồng bộ (Synchronous) và giao tiếp không đồng bộ (Asynchronous) Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó có nhiều người truy cập mạng tại cùng một thời điểm và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video, nghe đài phát sóng trực tiếp, xem tivi phát sóng trực tiếp… Giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà những người giao tiếp không nhất thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví
dụ như: các khoá tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn Đặc trưng của kiểu học này là giảng viên phải chuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn ra Học viên được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học
2.1.2 Đặc điểm của E-learning.[6]
Thứ nhất, nó dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông hay công nghệ mạng,
kĩ thuật đồ họa, kỹ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán
Trang 15Thứ hai, hiệu quả của E-Learning cao hơn so với cách học truyền thống do E-Learning
có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng, sở thích
Thứ ba, E-Learning đang trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện nay, E-Learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới; có rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E-Learning ra đời
2.1.3 Chuẩn của E-learning [15]
Theo ISO- chuẩn là “Các thoả thuận trên văn bản chứa các đặc tả kĩ thuật hoặc các tiêu chí chính xác khác được sử dụng một cách thống nhất như các luật, các chỉ dẫn, hoặc các định nghĩa của các đặc trưng, để đảm bảo rằng các vật liệu, sản phẩm, quá trình và dịch vụ phù hợp với mục đích của chúng”
Mỗi hệ thống khác nhau có cách trao đổi thông tin khác nhau trên mạng Nhờ có các chuẩn mà chúng ta có thể trao đổi thông tin trên mạng một cách nhanh chóng Chuẩn Internet bao gồm các chuẩn được IEEE công nhận: HTTP, HTML, FTP, TCP/IP, SMTP…
Trong hệ thống E-Learning cũng có các chuẩn và trong lĩnh vực này chuẩn rất quan trọng Bởi vì nếu không có chuẩn chúng ta không thể trao đổi thông tin với nhau hay sử dụng lại các đối tượng Nhờ có chuẩn toàn bộ thị trường E-Learning (người bán công cụ, khách hàng, người phát triển nội dung) sẽ tìm được tiếng nói chung, hợp tác với nhau được cả về mặt kĩ thuật và mặt phương pháp
Các chuẩn hỗ trợ tính linh hoạt trong hệ thống học tập
Người sản xuất tạo ra các module đơn lẻ (hoặc đối tượng học) rồi tích hợp thành một khoá học thống nhất
Các chuẩn cho phép ghép các khoá học tạo bởi các công cụ, các nhà sản xuất
khác nhau thành các gói nội dung (packages) được gọi là các chuẩn đóng gói (packaging standards) Chuẩn đóng gói mô tả các cách ghép các đối tượng học tập
riêng rẽ để tạo ra một bài học, khóa học, hay các đơn vị nội dung khác, sau đó vận chuyển và sử dụng lại được trong nhiều hệ thống quản lý khác nhau (LMS/LCMS) Các chuẩn này đảm bảo hàng trăm hoặc hàng nghìn file được đóng gói và cài đặt đúng
vị trí Chuẩn đóng gói bao gồm:
Trang 16 Cách để ghép nhiều đơn vị nội dung khác nhau thành một gói nội dung duy nhất Các đơn vị nội dung có thể là các khóa học, các file HTML, ảnh, multimedia, style sheet và mọi thứ khác cho đến một icon nhỏ nhất
Thông tin mô tả tổ chức của một khoá học hoặc modul sao cho có thể nhập vào được hệ thống quản lý và hệ thống quản lý có thể hiển thị một menu mô tả cấu trúc của khoá học và học viên sẽ học dựa trên menu đó
Các chuẩn kĩ thuật hỗ trợ chuyển các khoá học hoặc modul từ hệ thống quản lý này sang hệ thống quản lý khác mà không phải cấu trúc lại nội dung bên trong Các chuẩn này cho phép các hệ thống quản lý đào tạo có thể hiển thị từng bài học đơn lẻ
Và có thể theo dõi được kết quả kiểm tra của học viên, quá trình học tập của học viên
được gọi là chuẩn trao đổi thông tin (communication standards), trong E-Learning,
các chuẩn trao đổi thông tin xác định một ngôn ngữ mà hệ thống quản lý đào tạo có thể trao đổi thông tin được với các modul Chuẩn trao đổi thông tin bao gồm 2 phần: giao thức và mô hình dữ liệu Giao thức xác định các luật quy định cách mà hệ thống quản
lý và các đối tượng học tập trao đổi thông tin với nhau Mô hình dữ liệu xác định dữ liệu dùng cho quá trình trao đổi như điểm kiểm tra, tên học viên, mức độ hoàn thành của học viên
Các chuẩn quy định cách các nhà sản xuất nội dung có thể mô tả các khoá học
và các modul của mình để các hệ thống quản lý có thể tìm kiếm và phân loại được khi
cần thiết được gọi là chuẩn metadata (metadata standards): Metadata là dữ liệu về dữ
liệu Với E-Learning, metadata mô tả các khoá học và các module Các chuẩn metadata cung cấp các cách để mô tả các module E-Learning mà các học viên và các người soạn bài có thể tìm thấy modul họ cần Metadata giúp nội dung E-Learning hữu ích hơn đối với người bán, người mua, học viên và người thiết kế Metadata cung cấp một cách chuẩn mực để mô tả các khóa học, các bài, các chủ đề và media Những mô tả đó sẽ được dịch ra thành các catalog hỗ trợ cho việc tìm kiếm được nhanh chóng và dễ dàng Với metadata bạn có thể thực hiện các tìm kiếm phức tạp Metadata có thể giúp người soạn bài tìm nội dung họ cần và sử dụng ngay hơn là phải phát triển từ đầu Các thành phần cơ bản của metadata (trong chuẩn IEEE 1484 12):
Title: tên chính thức của khoá học
Trang 17 Language: Xác định ngôn ngữ được sử dụng trong khoá học
Description: mô tả về khoá học
Keyword: bao gồm từ khoá hỗ trợ cho việc tìm kiếm
Structure: mô tả cấu trúc bên trong của khoá học tuần tự, phân cấp và nhiều hơn nữa Aggregation Level xác định kích thước của đơn vị
Version: xác định phiên bản của khoá học
Format: quy định các định dạng file được dung trong khoá học
Size: Kích thước tổng của toàn bộ các file có trong khoá học
Location: ghi địa chỉ website mà học viên có thể truy cập khoá học
Requirement: liệt kê các thứ như trình duyệt và hệ điều hành cần thiết để
có thể chạy được khoá học
Duration: quy định cần bao nhiêu thời gian để tham gia khoá học
Cost: học phí của khoá học
Các chuẩn nói đến chất lượng của các modul và các khoá học được gọi là
chuẩn chất lượng (quality standards), chuẩn này kiểm soát toàn bộ quá trình thiết kế
khoá học cũng như khả năng hỗ trợ của khoá học với những người tàn tật Các chuẩn này đảm bảo nội dung của chương trình có thể dùng được, học viên dễ dàng đọc và hiểu nội dung đó
Chuẩn thiết kế E-Learning: chính là chuẩn E-Learning Courseware Certification Standards của Viện ASTD1 (E-Learning Certification Institute) Viện này cấp chứng nhận cho các khoá học E-Learning tuân thủ một số chuẩn nhất định như thiết kế giao diện, tương thích với các hệ điều hành và các công cụ chuẩn, chất lượng sản xuất và thiết kế giảng dạy
Chuẩn về tính truy cập được (Accessibility Standards): Các chuẩn này liên quan tới làm như thế nào để công nghệ thông tin có thể truy cập được với tất cả mọi người
Ngoài ra còn một số chuẩn khác như:
Test Questions: Đây là chuẩn về các câu hỏi kiểm tra
Trang 18
Enterprise Information Model: tìm một cách để xác định các định dạng cho phép trao đổi các dữ liệu quản lý gì các hệ thống
Learner Information Packaging: xác định một định dạng chung về thông tin học viên 2.1.4 So sánh e-learning với dạy học truyền thống [6]
Ưu điểm:
E-learning có sự kết hợp cả ưu điểm tương tác giữa học sinh và giáo viên của hình thức tổ chức dạy học trên lớp lẫn sự linh hoạt trong việc tự xác định thời gian khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh Nên so với đào tạo truyền thống, E-learning có một số những ưu điểm nổi bật sau:
Không bị giới hạn bời không gian và thời gian: sự phổ cập rộng rãi của
Internet đã xóa dần đi khoảng cách thời gian và không gian cho E-learning Một khóa học E-learning được truyền tải qua mạng tới máy tính để bàn hay máy tính xách tay của học sinh, điều này cho phép họ học bất cứ nơi nào, bất cứ nơi đâu
Tính hấp dẫn: với sự hỗ trợ của công nghệ multimedia, các bài giảng tích hợp
text, hình ảnh minh học, âm thanh, video,…, tăng tính hấp dẫn cho bài học Học sinh giờ đây không chỉ nghe giảng mà còn xem ví dụ minh họa trực quan, thậm chí còn có thể tương tác với bài học nên khả nawmg nắm kiến thức tăng lên
Tính cập nhật: Nội dung khóa học thường xuyên được cập nhật và thay đổi
mới trên máy chủ có chứa chương trình đào tạo nhằm đáp ứng và phù hợp nhất với học sinh Bên cạnh đó thì quá trình và kết quả học sẽ được điều chỉnh đánh giá một cách thường xuyên, khách quan kịp thời và nhanh chóng
Tính linh hoạt: Một khóa học E-learning được phục vụ theo nhu cầu học sinh,
không nhất thiết phải bám theo một thời gian biểu cố định Vì thế học sinh có thể tự điều chỉnh quá trình học, kiểm soát tốc dộ học, công cụ học tập, địa điểm học cũng như khối lượng kiến thức mà họ muốn thu nhận Họ được tự mình quyết định cách thức thu nhận kiến thức, kĩ năng phù hợp với khả năng và phong cách của chính mình
Tính dễ tiếp cận: Do cách tiếp cận của cá nhân học sinh với các đối tượng nhận
thức thông qua các thiết bị, phương tiện thông tin truyền thông nên E-learning thích hợp với mọi đối tượng học sinh có các hoàn cảnh, lứa tuổi khác nhau, đặt biệt với những người ở những nơi xa các trung tâm, co sở giáo dục hay các người tàn tật
Trang 19 Truy cập ngẫu nhiên: Bảng danh mục các bài giảng, các kháo học sẽ cho phép
học sinh chủ động lựa chọn đơm vị tri thức, tài liệu lien quan trực tiếp nhất tới kiến thức nền tảng, nhiệm vụ và công việc của mình tại thời điểm đó Học sinh có thể tự tìm
ra kỹ năng học cho riêng mình với sự giúp đõ của những tài liệu trực tuyến
Có tính hợp tác và phối hợp: Học sinh có thể dễ dàng trao đổi với nhau, với GV
qua mạng trong quá trình học Các trao đổi này có tác dụng hỗ trợ tích cực cho quá trình học tập của học sinh
Tiết kiệm thời gian : E-learning cho phép học sinh có thể học với tốc độ nhanh
nhất có thể Giúp cho học sinh ghi nhớ kiến thức nhanh hơn thông qua tính tương tác của nó, cho phép học sinh tăng tốc độ học thông qua các công cụ học tập mà họ đã quen thuộc và tiếp nhận những công cụ học tập mà họ ít sử dụng nhất
Phân tán rộng rãi với chi phí thấp: E-learning không cần phải có một cơ chế
phân tán nào Học sinh có thể truy cập từ bất cứ một máy tính nào ở bất cứ đâu trên thế giới với chi phí thấp Góp phần giải quyết bài toán với mặt bằng cơ sở vật chất, giao thông, giữa mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục
Bảng so sánh giữa dạy học truyền thống và dạy học E-learning
Dạy học truyền thống Dạy học E-learning
Thời gian - Hoạt động dạy và học xảy
ra tại một thời điểm và trong một thời gian cố định
- Việc học không bị ràng buộc về thời gian, học sinh chủ động xếp thời gian biểu
để học tập
Địa điểm - Học sinh phải tập trung về
học tại một thời điểm xác định
- Có thể học từ bất cứ nơi nào, vượt qua giới hạn địa lý
Chi phí
- Chi phí xây dựng tài liệu, bài giảng thấp hơn, nếu giáo viên giỏi và phương thức học tập hiện đại thì chi phí rất
- Chi phí ban đầu cho việc xây dựng nôi dung học tập khá lớn, nhưng có thể sử dụng cho nhiều khóa học
Trang 202.1.5 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning trên thế giới và ở Việt Nam[16]
Trên thế giới
Trên thế giới E-learning phát triển không đồng đều: mạnh nhất là ở khu vực Bắc
Mỹ, triển vọng ở châu Âu và đang hòa nhập ở châu Á
Tại Mỹ, theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2007 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng
Mỹ đưa ra mô hình E-learning, số người tham gia học tăng 43% hàng năm trong
cao
Tuổi - Thường tổ chức tập trung
cho một lứa tuổi nhất định
- Mọi lứa tuổi có nhu cầu đều
có thể tham gia và lựa chọn trình độ thích hợp để học tập
Tương tác - Hầu hết hoạt động dạy và
học là sự tương tác giữa thầy
và trò trong phạm vi một lớp học
- Truyền thông tường tác đa chiều học sinh-học sinh-giáo viên- kiến thức với phạm vi rộng
Môi trường học tập - Học sinh bị hạn chế bởi
nhiều rào cản; văn hóa, ngôn ngữ thể chất…
- Môi trường học tập cộng tác vượt qua rào cản về địa
lý, văn hóa, ngôn ngữ…
Tài nguyên học tập - Tài nguyên học tập tiếp cận
còn nhiều khó khăn, chưa được phổ biến rộng rãi: thư viện, tài liệu tham khảo…
- Thư viện điện tử cùng rất nhiều tài nguyên khác trên mạng internet hầu như vô hạn luôn sẵn sàng để học sinh truy cập và tải về học tập, nghiên cứu
Sự tương tác và tự do
diễn đạt
- Không tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự do phát biểu ý kiến, tự do diễn đạt ý tưởng, phát triển sức sáng tạo
- E-learning mang lại cơ hội tốt cho học sinh giao lưu học hỏi, phát biểu ý kiến, phát triển sức sáng tạo, mở rộng quan hệ,…
Trang 21khoảng thời gian 2004-2007 Ở các công ty, việc xây dựng và triển khai E-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống đã mang lại hiệu quả cao
Cộng đồng châu Âu: IDC ước đoán rằng thị trường E-learning của châu Âu tăng tới 10 tỷ USD trong năm 2008 với tốc độ tăng 96%/năm Giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning như dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu Đây là mạng E-Learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-Learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực: khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của sinh viên đại học, sau đại học và các nhà chuyên môn
Tại châu Á, E-learning vẫn chưa nhiều thành công vì một số lý do: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu Á, ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia Nhưng, đó chỉ là những rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo đang trở nên ngày càng không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu Á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning mang lại Các nước có nền kinh tế phát triển đang có những nỗ lực ứng dụng E-learning tại quốc gia mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc
Ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin, giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo như: Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin Đại học Quốc gia Hà Nội và Khoa Công nghệ Thông tin Trường Đại học Bách khoa Hà Nội phối hợp tổ chức vào tháng 03/2007 Đây là hội thảo khoa học chuyên đề về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu, triển khai E-learning về các phần mềm hỗ trợ đào tạo
và cho các kết quả khả quan: Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, Đại học Đà Nẵng Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển
Trang 22khai cổng E-learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin E-Learning trên thế giới và ở Việt Nam
Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm đã tung ra sản phẩm hỗ trợ đào tạo: Công
ty cổ phần GK với thương hiệu VietnamLearning www vietnamlearning com vn cung cấp các giải pháp đào tạo trực tuyến tổng thể (E-learning Solutions) cho các doanh nghiệp lớn và các khóa học cho đối tượng là các cá nhân Việt Nam đã gia nhập mạng E-Learning châu Á: Asia E-learning Network-AEN www asia-elearning net với
sự tham gia của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Ở Huế
Tình hình ứng dụng E-learning cũng đang dần được triển khai ở các trường Đại học, trung tâm học liệu, khai thác được các hệ thống mã nguồn mở để bước đầu triển khai cho sinh viên học tập Bên cạnh đó các trường THPT trong tỉnh cũng tham gia tạo các bài giảng E-learning ứng dụng vào trường học
2.1.6 Ứng dụng của e-learning trong dạy học ở trường phổ thông hiện nay.[6]
E-learning là phương pháp đào tạo và học tập hiện đại mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng (trường học và học sinh) Cụ thể là giảm chi phí đào tạo, tiết kiệm thời gian, kiểm soát quá trình học, nội dung bài học sinh động hơn, tăng tính tương tác giữa
GV và học sinh, bài giảng được cập nhật liên tục, nâng cao hiệu quả đào tạo…
Tuy nhiên, E-learning không phải phù hợp với tất cả mọi người, nó chỉ phù hợp với những học sinh có nhu cầu và tự giác học tập cao Không phải bất kì nội dung học tập nào cũng dễ dàng chuyển đổi sang E-learning Hơn nữa E-learning không thể thay được giáo viên, vai trò của giáo viên cũng rất quan trọng trong quá trình dạy học Chính vì thế để đem lại hiệu quả cao nhất cho học sinh, giải pháp hợp lí là phối hợp giữa dạy học truyền thống và E-learning Giải pháp của dạy học kết hợp này được gọi
là Blended Solution, là sự kết hợp giữa online và offline E-learning; nhiều định dạng bài học khác nhau (điện tử, giấy) formal, informal E-learning hoặc đồng bộ hoặc không đồng bộ
Trong hình thức dạy học kết hợp, dạy học truyền thống vẫn giữ vai trò trung tâm Tuy nhiên, kiểu dạy học này được hỗ trợ bằng các nội dung được số hóa mỗi ngày một nhiều Nội dung dạy học kéo theo các bài giảng có nhiều đổi khác và các nội dung
Trang 23được truy cập trên mạng Các nội dung, tư liệu chuẩn bị cho nội dung cemina, thực hành đều được đưa lên mạng Các bài trắc nghiệm khách quan trên mạng một mặt giúp việc kiểm tra đánh giá của giáo viên, mặt khác giúp học sinh tự đánh giá quá trình học tập của họ Việc thông tin và giao tiếp được tạo nhiều điều kiện đã tạo nên một phương pháp dạy học mới, trong đó học sinh luôn được coi là trung tâm
E-learning chỉ là phương tiện cho quá trình dạy học và quá trình dạy học vẫn đạt được những thành quả to lớn trong quá khứ Và rõ ràng vai trò người dạy vẫn vô cùng quan trọng và thiết yếu Người giáo viên có thể xuất hiện dưới dạng ảo hay thực tùy nội dung cần giảng dạy
Do đó để phát huy hiệu quả của hình thức dạy học kết hợp này, trước hết giáo viên cần phải đưa công nghệ thông tin vào trong giảng dạy thông qua các giáo án điện
tử, các bản tin, bài viết trên mạng và cả trò chơi điện tử cho môn học Lên kế hoạch học tập cụ thể như giao các nhiệm vụ, câu hỏi, bài tập cho học sinh để họ có thể gặp nhau trao đổi trực tiếp hoặc qua diễn đàn học tập
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần xây dựng tiến trình học tập một cách linh hoạt đối với những bài học để phù hợp với trình độ khác nhau của các học sinh Tổ chức những buổi hội thảo, thảo luận qua mạng hoặc trực tiếp tại lớp dưới sự chủ trì của giáo viên Tăng cường cho học sinh học nhóm, thảo luận nhóm, làm việc theo nhóm và thực hiện các dự án học tập theo nhóm Tập cho học sinh quan với việc tự học, tự nghiên cứu như tìm tài liệu trên mạng, chia sẽ tài liệu bằng cách cho đề tài, giới thiệu địa chỉ như trang web liên quan, những tài liệu tham khảo,… Về kiểm tra, đánh giá học sinh có thể dùng hình thức trắc nghiệm tại lớp trên giấy hoặc làm ngay trên máy tính Tuy nhiên khi sử dụng hình thức dạy học kết hợp này cần chú ý những điểm sau: Một lớp học truyền thống làm cho mọi người gần gũi, chia sẽ tình cảm tốt hơn, thân thiện hơn, còn với E-learning (100%) có tính ảo, con người ít biểu lộ được tình cảm hơn, tính gắn bó, hòa đồng, thân thiện sẽ tạo môi trường học tập tốt nên nếu kết hợp đúng đắn thì môi trường đó vẫn tồn tại và phát huy trong quá trình học tập Ngoài ra, E-learning xuất hiện như một thực tế tất yếu cho một nền kinh tế tri thức, cho một xã hội học, phục vụ cho việc học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc Vì là sản phẩm của nền kinh tế tri thức nên việc ứng dụng nó chỉ có hiệu quả trong nền kinh tế ấy E-learning
Trang 24chỉ là phương thức, là công cụ học, là môi trường học tùy theo góc cạnh sử dụng, nó sẽ phản tác dụng khi ứng dụng sai
2.2 Khái niệm bài giảng điện tử và đặc điểm bài giảng điện tử e-Learning
2.2.1 Những cơ sở lý luận về bài giảng điện tử [11]
Trong những năm gần đây việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đang phát triển mạnh mẽ Máy vi tính được sử dụng rộng rãi trong nhà trường với tư cách là phương tiện dạy học Từ đó lần lượt nhiều loại hình phần mềm dạy học được thiết kế dưới các quan điểm khác nhau Đó là các quan điểm cổ điển, quan điểm vì thế giới, hệ tác giả, hệ chuyên gia Hình thức sử dụng máy vi tính vào dạy học rất đa dạng và phong phú như để minh hoạ, mô phỏng, ứng dụng vào một giai đoạn nào đó trong bài dạy để mô phỏng vấn đề cho dễ hiểu Tuy nhiên, bài giảng điện tử là một hình thức
sử dụng phổ biến hiện nay Bài giảng điện tử có thể được thiết kế dưới bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào tuỳ theo trình độ công nghệ thông tin của người viết hoặc dựa vào đặc điểm từng môn học
a Khái niệm bài giảng điện tử [11]
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua môi trường Multimedia do máy vi tính tạo ra
Từ đó khái niệm bài giảng điện tử được hiểu là toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh cùng với các phương tiện dạy và học như tranh ảnh, biểu bảng, biểu đồ, các thí nghiệm thực được quay phim, chụp ảnh hay mô phỏng bằng các ảnh động trên không gian 2, 3 chiều của một tiết học, được
số hoá và cài đặt vào máy tính dưới dạng một chương trình nhằm thực hiện mục đích của quá trình dạy học đã đặt ra là truyền thụ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ
và hình thành nhân cách cho học sinh
b Đặc điểm của Bài giảng điện tử E-learning.[9][14]
Bài giảng điện tử E-Learning là sự kết hợp giữa các bài giảng truyền thống với các thiết bị điện tử, trong đó người giáo viên thể hiện bài giảng của mình thông qua các đoạn văn bản , các hình ảnh, video, bảng biểu minh họa, hay các câu hỏi gợi mở, các câu hỏi trắc nghiệm…
Trang 25* Có 2 kiểu bài giảng điện tử là trực tuyến Online và ngoại tuyến offline
Hệ thống online học trực tuyến, qua việc truy cập Internet vào website
Hệ thống offline học ngoại tuyến Bài giảng có thể chứa trong đĩa CD, USB, ổ cứng … và người học không cần truy cập Internet
2.2.2 Mô hình cấu trúc của nội dung bài giảng điện tử E-Learning.[14][9]
Trong môi trường E-Learning, một bài giảng điện tử được phân thành nhiều mô đun khác nhau Như vậy, chúng ta có thể coi một khóa học như là một mô đun chính, chứa các mô đun nhỏ hơn
Việc phân chia thành các mô đun sẽ đem lại nhiều lợi điểm:
Người kiến tạo nội dung có thể đưa ra một cấu trúc cây nội dung hoàn chỉnh, sau đó có thể phân chia cho những người tham gia viết nội dung, mỗi người phụ trách một hoặc một số mô đun nào đó
Bản thân mỗi mô đun sẽ đóng gói theo chuẩn định trước Mỗi gói này khi đóng gói sẽ có kích thước khác nhau Việc tách nhỏ nội dung sẽ cho phép chúng ta dễ dàng tải từng phần mềm lên mạng rồi ghép lại với nhau
Kết luận chương 2
E-learning là phương pháp đào tạo và học tập hiện đại mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng Tuy nhiên E-learning không phải phù hợp với tất cả mọi người, nó chỉ phù hợp với những học sinh có nhu cầu và tự giác học tập cao Chính vì thế, để đem lại hiệu quả cao nhất cho học sinh, giải pháp hợp lí là phối hợp dạy học truyền thống và E-learning Không phải bất kì nội dung học tập nào cúng dễ dàng chuyển đổi sang E-learning Hơn nữa E-learning không thể thay được giáo viên, vai trò của giáo viên cũng rất quan trọng trong quá trình dạy học E-learning xuất hiện như một thực tế tất yếu cho một nền kinh tế tri thức, cho một xã hội học, phục vụ cho việc học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc
Trang 26Vì là sản phẩm của nền kinh tế tri thức nên việc ứng dụng nó chỉ có hiệu quả trong nền kinh tế ấy E-learning chỉ là phương thức, là công cụ học, là môi trường học tùy theo góc cạnh sử dụng
Trang 27CHƯƠNG 3 SỬ DỤNG PHẦN MỀM EXE ĐỂ BIÊN SOẠN MỘT SỐ
BÀI GIẢNG TIN HỌC 10
3.1 Chương trình Tin học 10
3.1.1 Thực tiễn của việc dạy học môn Tin học.[2]
Năm học 2006-2007 lần đầu tiên được đưa vào là một môn học chính thức ở nhà trường phổ thông Về nội dung và cấu trúc của chương trình mới đã có những thay đổi so với chương trình sách giáo khoa thí điểm Điều này có lẽ phần nào cũng gây ra một số khó khăn và lúng túng cho một số giáo viên mà đã quen dạy theo phương pháp truyền thống và nội dung chương trình cũ Nhưng để đáp ứng được yêu cầu thực tiễn thì đòi hỏi người giáo viên phải tìm ra được phương pháp tổ chức hoạt động dạy học phù hợp với nội dung của chương trình mới
Về cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học môn học: Nhìn chung trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi môn học được đưa vào giảng dạy chính thức đã được đầu
tư và có những chuyển biến rõ Do đó, việc “học chay” đối với môn tin học bước đầu
đã được khắc phục Thể hiện ở số tiết học thực hành và bài tập trong chương trình được tăng lên, đồng nghĩa với việc học sinh sẽ được tạo điều kiện để rèn luyện các kĩ năng, kỹ xảo trong các bài học Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận một điều rằng, vẫn không còn ít những trường đang còn thiếu cơ sở vật chất cơ bản (máy chiếu, số lượng máy hạn chế,…) Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học của môn học
Giáo viên và học sinh do chịu ảnh hưởng từ rất lâu của phương pháp dạy học truyền thống (hầu hết là thuyết tình, giảng giải khi không có phương tiện dạy học hỗ trợ) Do đó, hiện nay vẫn còn tồn tại hiện tượng thầy đọc – trò ghi trong tiết học Nhưng điều đó đã và đang được các nhà trường, bản thân người dạy và người học đang dần từng bước khắc phục
3.1.2 Vị trí chương trình Tin học.[2]
Lần đầu tiên bộ môn tin học được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo chính thức đưa vào làm môn học bắt buộc trong chương trình trung học phổ thông, góp phần hoàn chỉnh vốn văn hoá phổ thông, chuẩn bị cho học sinh những hiểu biết cần thiết để bước vào
Trang 28cuộc sống hay tiếp tục học lên Là cơ sở cho học sinh có đủ trình độ tiếp thu những kiến thức sâu rộng ở các lớp trên
3.1.3 Mục tiêu của chương trình tin học 10.[2]
*Kiến thức: Cung cấp tương đối có hệ thống các khái niệm cơ bản nhất ở mức phổ thông về tin học, các khái niệm về thuật toán
*Thái độ: Rèn luyện suy nghĩ và làm việc của con người trong thời đại tin học
+ Sự ham hiểu biết
+ Tìm tòi sáng tạo
+ Chuẩn mực chính xác trong suy nghĩ và hành động
+ Say mê môn học
+ Cẩn thận trong công việc
* Kỹ năng :
Học sinh rèn luyện một số kỹ năng cơ bản của hoạt động tư duy, so sánh tổng hợp, khái quát hoá và một số kỹ năng thực hành trên máy tính, kỹ năng thực hành với bàn phím …
* Giáo dục :
Xây dựng niềm tin khoa học và khả năng con người có thể nhận thức để cải tạo cuộc sống
Trang 293.1.5 Cấu trúc nội dung chương trình tin học 10.[2]
Chương I: Một số khái niệm cơ bản của tin học
Gồm có 9 bài lý thuyết, 2 bài thực hành, 3 bài đọc thêm Giới thiệu một cách khái quát về các khái niệm cơ bản của tin học, khái niệm thông tin và dữ liệu, khái niệm bài toán và thuật toán, cấu trúc và hoạt động của máy tính
Chương II: Hệ điều hành
Gồm có 4 bài lý thuyết, 3 bài thực hành, 1 bài đọc thêm Giới thiệu một số kiến thức cơ sở về hệ điều hành, một số thao tác cơ bản sử dụng hệ điều hành
Chương III: Soạn thảo văn bản
Gồm có 6 bài lý thuyết, 4 bài thực hành, 1 bài đọc thêm Giới thiệu một số kiến thức cơ sở về hệ soạn thảo văn bản Cụ thể giới thiệu hệ soạn thảo văn bản Microsoft Word
Chương IV: Mạng máy tính và Internet
Gồm có 3 bài lý thuyết, 2 bài thực hành, 2 bài đọc thêm Giới thiệu một số kiến thức cơ sở về mạng máy tính, một số dịch vụ trên Internet
- Các mục, các bài tập và các bài thực hành,các bài đọc thêm, các bài minh hoạ được đánh số thứ tự thống nhất Trong toàn bộ sách gồm 22 bài, 11 bài tập và thực hành và 7 bài đọc thêm
- Ngoài một số hình minh hoạ trực tiếp, các hình minh hoạ còn lại đều được đánh số, số hình minh hoạ khoảng 100 hình
3.2 Một số bài giảng đề xuất
3.2.1 Đánh giá phần mềm thiết kế bài giảng EXE.[13][9]
Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một xu hướng rất phổ biến và việc ứng dụng nó ngày càng rộng rãi Trong đó thì hình thức sử dụng bài giảng điện tử là một hình thức sử dụng phổ biến hiện nay Bài giảng điện tử có thể được viết dưới bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào tuỳ theo trình độ công nghệ thông tin của người viết hoặc dựa vào các phần mềm sẳn có như : Front page, Publisher, PowerPoint, Sockect, Dreamweaver
eLearning XHTML editor (eXe) là một công cụ xây dựng nội dung đào tạo (authoring) được thiết kế chạy trên môi trường web để giúp đỡ các giáo viên và các
Trang 30học viện trong việc thiết kế, phát triển và xuất bản các tài liệu dạy và học trên web mà không cần phải thành thạo về HTML, XML hay các ứng dụng xuất bản web rắc rối khác eXe đã được phát triển để dễ dàng vượt qua những giới hạn:
Các ứng dụng như Frontpage và Dreamweaver có thể cung cấp cho người dùng một công cụ khá tinh vi để thiết kế web Tuy nhiên, trong việc thiết kế bài giảng thì các công cụ này yêu cầu bạn phải có một trình độ khá cao, tiêu tốn nhiều thời gian
* Các phần mềm xây dựng nội dung trên web truyền thống đòi hỏi những kiến thức không hợp lý, chúng không trực quan và các ứng dụng trước đây không được thiết
kế để xuất bản nội dung kiến thức Do vậy các giáo viên và các học viện đã không chấp nhận các kỹ thuật này để xuất bản nội dung kiến thức trực tuyến eXe nhắm đến việc cung cấp một công cụ trực quan, dễ sử dụng cho phép các giáo viên xuất bản các trang web chuyên nghiệp để dạy học
* Hiện nay, các hệ thống learning management system – LMS không cung cấp các công cụ authoring phức tạp cho nội dung web (khi so sánh khả năng của phần mềm web-authoring hoặc các kỹ năng của các nhà phát triển web có kinh nghiệm) eXe sẽ phát triển một công cụ cho phép cung cấp những khả năng chuyên nghiệp về web – publishing, sao cho chúng có thể tham chiếu một cách dễ dàng hoặc được import bởi các hệ thống tương thích LMS chuẩn
* Phần lớn các hệ quản lý nội dung và LMS sử dụng mô hình web server tập trung, vì thế yêu cầu sự kết nối để soạn thảo Điều này sẽ giới hạn các nhà biên soạn có kết nối băng thông thấp hoặc không kết nối mạng eXe được phát triển như là một công
cụ authoring offline mà không cần thiết phải kết nối mạng
* Rất nhiều các hệ quản trị nội dung và LMS không cung cấp môi trường trực quan để các tác giả có thể nhìn thấy nội dung của họ sẽ trông ra sao trên trình duyệt khi
đã xuất bản, đặc biệt là khi làm việc offline eXe sẽ bắt chước các tính năng mới cho phép người dùng nhìn thấy được nội dung của họ sẽ như thế nào khi xuất bản lên mạng
* Tạo tài nguyên học tập và biểu diễn trong các mẫu với kỹ thuật đơn giản và
dễ dùng Trong môi trường eXe, các mẫu này được biết đến dưới dạng các iDevices Bằng cách xây dựng một trình tự học tập bao gồm cấu trúc nội dung và một số các
Trang 31iDevices, người dùng có thể bắt đầu để phát triển các mẫu của riêng mình để tạo ra và tái sử dụng nội dung Nếu như các iDevice có sẵn không đủ dùng, eXe cho phép chúng
ta có thể tự xây dựng các iDevice khác Trên mỗi iDevice cũng có sẵn những dòng tip
hỗ trợ, chỉ dẫn việc sử dụng các iDevice để dạy học Các tip còn được cung cấp gần các trường trên mẫu biểu của iDevice's để giúp đỡ người soạn trong việc sinh ra các nội dung thích hợp
3.2.2 Cấu trúc một bài học trong EXE [13]
Phần I: Xác định mục tiêu cần đạt được, các yêu cầu đối với người học các kiến thiết
để người học hoàn thành khóa học
Phần II: Nội dung bài học
Nội dung bài học có thể chứa các hoạt động học tập như: các hoạt động học - trả lời câu hỏi, xem các đoạn video mô phỏng, giải quyết các bài tập, các thao tác thực hiện… Mỗi hoạt động này sẽ được điều khiển bởi các iDevice có chức năng tương
Phần III: Các bài tập dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm nhằm mục đích hỗ trợ quá trình
học tập của người học chứ không phải đánh giá tính điểm
3.2.3 Bài giảng đề xuất.[1][2][3]
§20 Mạng máy tính ( Tiết 1)
1) Mục tiêu bài học
Về kiến thức :
- Biết nhu cầu mạng máy tính trong lĩnh vực truyền thông
- Biết khái niệm mạng máy tính
- Biết được các phương tiện truyền thông của mạng máy tính
Về kỹ năng :
Phân biệt được qua hình vẽ :
- Các mạng không dây, có dây
- Một số thiết bị kết nối mạng máy tính
Về thái độ :
- Tiếp tục khơi gợi lòng ham thích môn tin học