MỤC LỤC 1. GIỚI THIỆU (INTRODUCTION) ........................................................................... 4 2. TỔNG QUAN VỀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY (LITERATURE REVIEW) ............................................................................................. 7 2.1. Lý thuyết nền tảng về Thâm hụt kép (Theoretical basics)................................. 7 2.1.1 Chính sách tài khóa ..................................................................................... 7 2.1.2 Tài khoản vãng lai ....................................................................................... 8 2.1.3 Thâm hụt kép............................................................................................... 9 2.2. Những bằng chứng thực nghiệm về thâm hụt kép trên thế giới ...................... 10 2.3. Tương quan dự kiến của thâm hụt kép tại Việt Nam....................................... 24 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (METHODOLOGY AND DATA) ................. 33 3.1. Phương pháp nghiên cứu: ................................................................................ 33 3.2. Dữ liệu: ............................................................................................................ 35 4. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (RESULTS) .................................... 36 4.1. Kiểm định tính dừng ........................................................................................ 36 4.2. Kiểm định đồng liên kết................................................................................... 37 4.3. Kiểm định nhân quả Granger ........................................................................... 41 4.4. Kiểm định VECM ............................................................................................ 43 4.5. Giải thích kết quả kiểm định ............................................................................ 47 5. TỔNG KẾT (CONCLUSIONS)............................................................................. 50 5.1. Kết quả nghiên cứu: ......................................................................................... 50 5.2. Khuyến nghị giải pháp ..................................................................................... 50 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CSTK: Chính sách tài khóa BD: Thâm hụt ngân sách CAD: Thâm hụt tài khoản vãng lai IR: Lãi suất ER: Tỷ giá hối đoái LNER: Logarit cơ số tự nhiên của tỷ giá hối đoái ADF: Augmented Dickey – Fuller VECM: Vector Error Correction Model EU: Liên minh Châu Âu OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách, tỷ lệ tăng trưởng GDP giai đoạn 1990 – 1996 Bảng 2.2: Thâm hụt tài khoản vãng lai Việt Nam giai đoạn 1991-1996 Bảng 2.3: Thâm hụt ngân sách so với GDP, tăng trưởng GDP năm 1997-2001 Bảng 2.4: Tài khoản vãng lai, tài khoản vãng lai so với GDP năm 1997-2001 Bảng 2.5: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP năm 2002-2007 Bảng 2.6: Tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP năm 2002-2007 Bảng 4.1: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ADF cho các biến Bảng 4.2: Kết quả kiệm định nghiệm đơn vị ADF cho sai phân bậc 1 và 2 Bảng 4.3: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ADF cho phần dư theo phương pháp Engle – Granger Bảng 4.4: Kết quả kiệm định đồng liên kết Johansen Bảng 4.5: Kết quả kiểm định nhân quả Granger Bảng 4.6: Kết quả kiểm định VECM Bảng 4.7: Kết quả kiệm định ADF phần dư mô hình VEC DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Bốn mối quan hệ có thể có của thâm hụt kép Hình 2.2: Mối quan hệ của các biến kinh tế giữa thâm hụt ngân sách, thâm hụt tài khoản vãng lai, lãi suất và tỷ giá Hình 2.3: Thâm hụt ngân sách, thâm hụt tài khoản vãng lai giai đoạn 1990-2010 Tóm tắt 1. Lý do chọn đề tài Nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua còn tồn tại những vấn đề lớn cần giải quyết, đó là áp lực lạm phát tăng vọt, hệ thống ngân hàng yếu kém và thâm huṭ cán cân tài khoản vãng lai ngày càng tăng…Xu thế tự do hoá thương mại khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO (11/01/2007) cùng với khủng hoảng và bất ổn của nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây đã tác động mạnh mẽ đến thị trường xuất nhập khẩu. Tình trạng nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai là đáng lo ngại. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và liên tục là nguyên nhân của sự mất cân bằng trong kinh tế vĩ mô và điều này có ảnh hưởng lớn đến tiến trình kinh tế trong dài. Trong khi đó, ngân sách Nhà nước luôn trong trạng thái thâm hụt. Thâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai xuất hiện đồng thời ở nước ta. Hiện tượng trên có tên là “thâm hụt kép”, xuất hiện lần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào những năm 1980, đánh dấu một giai đoạn đồng USD bị định giá cao và một sự thay đổi bất thường trong tài khoản vãng lai cũng như thâm hụt ngân sách của Mỹ. Các nước ở Châu Âu như Đức, Thụy Điển… cũng đối mặt với vấn đề tương tự trong những năm đầu thập niên chín mươi. Giả thuyết thâm hụt kép khẳng định rằng một sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách sẽ gây ra một sự gia tăng tương tự trong thâm hụt tài khoản vãng lai và ngược lại. Liệu rằng thâm hụt cán cân vãng lai và thâm hụt ngân sách ở Việt Nam có tồn tại một mối quan hệ tác động qua lại hay không, nhóm chúng tôi tiến hành thực hiện bài nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định mối quan hệ này tại Việt Nam. Từ đó, đưa ra một số đề xuất cải thiện thâm hụt tài khoản vãng lai. 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu: Khái quát được những vấn đề cơ bản về chính sách tài khóa và tài khoản vãng lai như điṇ h nghiã , những bài nghiên cứ u gần đây củ a các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề thâm h ụt kép. Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng đ ể đánh giá sự ảnh hưởng, tác động qua lại của chính sách tài khóa và tài khoản vãng lai . Dưạ trên kết quả củ a ki ểm định, đưa ra những đề xuất, khuyến nghi ̣nhằm cải thiện sự thâm hụt kép tại Việt Nam. 3. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp điṇ h tính thông qua viêc̣ tìm hiểu các lý lu ận cơ bản về chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và những bài nghiên cứ u v ề sự tác động đến tài khoản vãng lai. - Phương pháp điṇ h lươṇ g : kiểm điṇ h các mô hình hồ i quy tuyến tính sử duṇ g các biến thâm hụt ngân sách, thâm hụt tài khoản vãng lai, lãi suất ngắn hạn và tỷ giá hối đoái danh nghĩa USD /VND từ nguồ n IMF , Tồ ng cuc̣ thố ng kê và B ộ Tài chính. Tiến hành kiểm định tính dừng (unit root test) ADF (Augmented Dickey – Fuller), kiểm định đồng liên kết bằng phương pháp Engle-Granger và phương pháp Johasen, tiếp đến thực hiện kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger và cuối cùng là dùng kiểm định VECM. 4. Nội dung nghiên cứu - Phần 1 : Giới thiệu tổng quan về bài nghiên cứu - Phần 2 : Lý thuyết thâm hụt kép và các nghiên cứu thực nghiệm về thâm hụt kép - Chương 3 : Phương pháp và dữ liệu kiểm định giả thuyết thâm hụt kép tại Việt Nam - Chương 4 : Kiểm định giả thuyết thâm hụt kép tại Việt Nam - Chương 5 : Kết luận và các khuyến nghị 5. Đóng góp của đề tài:
Trang 1i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”
TÊN CÔNG TRÌNH: THÂM HỤT KÉP TẠI VIỆT NAM: MỐI QUAN HỆ NHÂN
QUẢ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ TÀI KHOẢN VÃNG LAI
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
Trang 2MỤC LỤC
1 GIỚI THIỆU (INTRODUCTION) 4
2 TỔNG QUAN VỀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY (LITERATURE REVIEW) 7
2.1 Lý thuyết nền tảng về Thâm hụt kép (Theoretical basics) 7
2.1.1 Chính sách tài khóa 7
2.1.2 Tài khoản vãng lai 8
2.1.3 Thâm hụt kép 9
2.2 Những bằng chứng thực nghiệm về thâm hụt kép trên thế giới 10
2.3 Tương quan dự kiến của thâm hụt kép tại Việt Nam 24
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (METHODOLOGY AND DATA) 33
3.1 Phương pháp nghiên cứu: 33
3.2 Dữ liệu: 35
4 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (RESULTS) 36
4.1 Kiểm định tính dừng 36
4.2 Kiểm định đồng liên kết 37
4.3 Kiểm định nhân quả Granger 41
4.4 Kiểm định VECM 43
4.5 Giải thích kết quả kiểm định 47
5 TỔNG KẾT (CONCLUSIONS) 50
5.1 Kết quả nghiên cứu: 50
5.2 Khuyến nghị giải pháp 50
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách, tỷ lệ tăng trưởng GDP giai đoạn 1990 – 1996
Bảng 2.2: Thâm hụt tài khoản vãng lai Việt Nam giai đoạn 1991-1996
Bảng 2.3: Thâm hụt ngân sách so với GDP, tăng trưởng GDP năm 1997-2001
Bảng 2.4: Tài khoản vãng lai, tài khoản vãng lai so với GDP năm 1997-2001
Bảng 2.5: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP năm 2002-2007
Bảng 2.6: Tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP năm 2002-2007
Bảng 4.1: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ADF cho các biến
Bảng 4.2: Kết quả kiệm định nghiệm đơn vị ADF cho sai phân bậc 1 và 2
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ADF cho phần dư theo phương pháp Engle – Granger
Bảng 4.4: Kết quả kiệm định đồng liên kết Johansen
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định nhân quả Granger
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định VECM
Bảng 4.7: Kết quả kiệm định ADF phần dư mô hình VEC
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bốn mối quan hệ có thể có của thâm hụt kép
Hình 2.2: Mối quan hệ của các biến kinh tế giữa thâm hụt ngân sách, thâm hụt tài khoản vãng lai, lãi suất và tỷ giá
Hình 2.3: Thâm hụt ngân sách, thâm hụt tài khoản vãng lai giai đoạn 1990-2010
Trang 6Tóm tắt
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua còn tồn tại những vấn đề lớn cần giải quyết, đó là áp lực lạm phát tăng vọt, hệ thống ngân hàng yếu kém và thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai ngày càng tăng…Xu thế tự do hoá thương mại khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO (11/01/2007) cùng với khủng hoảng và bất ổn của nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây đã tác động mạnh mẽ đến thị trường xuất nhập khẩu Tình trạng nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai là đáng lo ngại Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và liên tục là nguyên nhân của sự mất cân bằng trong kinh tế vĩ mô
và điều này có ảnh hưởng lớn đến tiến trình kinh tế trong dài Trong khi đó, ngân sách Nhà nước luôn trong trạng thái thâm hụt Thâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai
xuất hiện đồng thời ở nước ta Hiện tượng trên có tên là “thâm hụt kép”, xuất hiện lần
đầu tiên ở Hoa Kỳ vào những năm 1980, đánh dấu một giai đoạn đồng USD bị định giá cao và một sự thay đổi bất thường trong tài khoản vãng lai cũng như thâm hụt ngân sách của Mỹ Các nước ở Châu Âu như Đức, Thụy Điển… cũng đối mặt với vấn đề tương tự trong những năm đầu thập niên chín mươi Giả thuyết thâm hụt kép khẳng định rằng một sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách sẽ gây ra một sự gia tăng tương tự trong thâm hụt tài khoản vãng lai và ngược lại Liệu rằng thâm hụt cán cân vãng lai và thâm hụt ngân sách ở Việt Nam có tồn tại một mối quan hệ tác động qua lại hay không, nhóm chúng tôi tiến hành thực hiện bài nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định mối quan hệ này tại Việt Nam Từ đó, đưa ra một số đề xuất cải thiện thâm hụt tài khoản vãng lai
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Khái quát được những vấn đề cơ bản về chính sách tài khóa và tài khoản vãng lai như định nghĩa , những bài nghiên cứu gần đây của các tác giả trong
và ngoài nước có liên quan đến vấn đề thâm hụt kép
Trang 7Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng đ ể đánh giá sự ảnh hưởng, tác động qua lại của chính sách tài khóa và tài khoản vãng lai Dựa trên kết quả của ki ểm định, đưa ra những đề xuất, khuyến nghi ̣ nhằm cải thiện sự thâm hụt kép tại Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đi ̣nh tính thông qua viê ̣c tìm hiểu các lý lu ận cơ bản về chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và những bài nghiên cứu v ề sự tác động đến tài khoản vãng lai
- Phương pháp đi ̣nh lươ ̣ng : kiểm đi ̣nh các mô hình hồi quy tuyến tính sử du ̣ng các biến thâm hụt ngân sách, thâm hụt tài khoản vãng lai, lãi suất ngắn hạn và tỷ giá hối đoái danh nghĩa USD /VND từ nguồn IMF , Tồng cu ̣c thống kê và B ộ Tài chính Tiến hành kiểm định tính dừng (unit root test) ADF (Augmented Dickey – Fuller), kiểm định đồng liên kết bằng phương pháp Engle-Granger và phương pháp Johasen, tiếp đến thực hiện kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger và cuối cùng là dùng kiểm định VECM
4 Nội dung nghiên cứu
- Phần 1 : Giới thiệu tổng quan về bài nghiên cứu
- Phần 2 : Lý thuyết thâm hụt kép và các nghiên cứu thực nghiệm về thâm hụt kép
- Chương 3 : Phương pháp và dữ liệu kiểm định giả thuyết thâm hụt kép tại Việt Nam
- Chương 4 : Kiểm định giả thuyết thâm hụt kép tại Việt Nam
- Chương 5 : Kết luận và các khuyến nghị
5 Đóng góp của đề tài:
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi kiểm định mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở Việt Nam Kết quả cho thấy rằng ở nước ta, thâm hụt ngân sách tác động đến thâm hụt tài khoản vãng lai Từ mối quan hệ này, chúng ta có thể đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện tình trạng thâm hụt kéo dài ở Việt Nam Đề
Trang 8tài của chúng tôi đóng góp vào việc xem xét đánh giá mối quan hệ này vào chuỗi những bài kiểm định lý thuyết thâm hụt kép ở các nước trên thế giới
6 Hướng phát triển của đề tài:
Đề tài của chúng tôi còn tồn tài nhiều hạn chế, đó là chưa phân tích được những nhân
tố chính tác động đến thâm hụt tài vãng lai Trong đó các biến số vĩ mô như lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, cung tiền, sản lượng cũng có tác động mạnh mẽ lên tài khoản vãng lai Phân tích về tác động của chính sách tiền tệ lên cán cân vãng lai và kết hợp chính sách tài khóa thông qua thu chi ngân sách và chính sách tiền tệ nhằm cải thiện cán cân vãng lai Việt Nam là hướng phát triển của đề tài
Trang 91 GIỚI THIỆU (INTRODUCTION)
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và liên tục là nguyên nhân của sự mất cân bằng trong kinh tế vĩ mô và điều này có ảnh hưởng lớn đến tiến trình kinh tế trong dài hạn Một trong các biện pháp mà các nhà hoạch định chính sách và chính trị gia dùng để kiểm soát thâm hụt tài khoản vãng lai là tiến hành thực hiện các chính sách tài khóa Vấn đề quan trọng hơn là Chính phủ nên làm gì khi
cả thâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai xuất hiện đồng thời Hiện tượng trên có tên
là “thâm hụt kép”, xuất hiện lần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào những năm 1980, đánh dấu một
giai đoạn đồng USD bị định giá cao và một sự thay đổi bất thường trong tài khoản vãng lai cũng như thâm hụt ngân sách của Mỹ Các nước ở Châu Âu như Đức, Thụy Điển… cũng đối mặt với vấn đề tương tự trong những năm đầu thập niên chín mươi, khi sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách kèm theo một sự đánh giá cao đồng nội tệ đã ảnh hưởng đến tài khoản vãng lai (Ibrahim và Kumah, năm 1996) Giả thuyết thâm hụt kép khẳng định rằng một sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách sẽ gây ra một sự gia tăng tương tự trong thâm hụt tài khoản vãng lai và ngược lại Mối liên hệ của tình trạng thâm hụt kép có thể được xem như là khi một quốc gia trải qua một sự bùng nổ đầu tư, thâm hụt tài khoản vãng lai có thể làm cho đất nước hoặc là giảm các tài sản nước ngoài hoặc là mượn từ phần còn lại của thế giới để tài trợ cho việc đầu tư mới bằng cách bán tài sản cố định và tài chính (trái phiếu chứng khoán, đất ) Vì vậy, thâm hụt tài khoản vãng lai liên tục sẽ làm cho đất nước tăng nợ nước ngoài ròng và kết quả là thâm hụt ngân sách Về mặt lý thuyết, các cơ chế đằng sau trạng thâm hụt kép có thể được giải thích đơn giản thông qua học thuyết Keynes Keynes xem xét sự thay đổi ngân sách Chính phủ là yếu tố chính làm thay đổi các biến số kinh tế Mỗi việc giảm thuế hoặc tăng chi tiêu của Chính phủ là nguyên nhân làm tăng tổng chi tiêu của nền kinh tế và kéo theo sự tăng lên của lạm phát và lãi suất Lãi suất tăng ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước và dòng vốn vào tăng Điều này dẫn đến tỷ giá hối đoái tăng, đồng nội tệ được đánh giá cao, làm tăng nhu cầu nhập khẩu đối với sản phẩm nước ngoài, cũng như dẫn đến giảm nhu cầu của người nước ngoài đối với sản phẩm trong
Trang 10nước Hơn nữa, lạm phát tăng gây ra do thực hiện các chính sách mở rộng tài khóa, kết quả làm tăng giá trị tương đối của hàng hóa trong nước đối với hàng hóa nước ngoài, một lần nữa làm giảm nhu cầu của người nước ngoài đối với hàng trong nước và tăng nhu cầu của người dân trong nước đối với hàng hóa nước ngoài, áp lực làm tăng thâm hụt tài khoản vãng lai trong nền kinh tế Sự xuất hiện của thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở rất nhiều nước đã thu hút sự chú ý ngày càng tăng của nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề thâm hụt kép và đã có nhiều bài nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm của nhiều tác giả để kiểm định giả thuyết này Kết quả nghiên cứu đưa ra bốn mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt ngân sách (BD) và thâm hụt tài khoản vãng lai (CAD), bao gồm BD → CAD, BD ↔ CAD, CAD → BD và BD ↔ CAD
Việt Nam cũng tồn tại trường hợp tương tự như các nước trên thế giới vì trong suốt khoảng thời gian sau khi mở cửa, ngân sách Chính phủ và cán cân vãng lai luôn trong trạng thái thâm hụt Trừ năm các từ 1999-2001, những năm mà lần đầu tiên cán cân vãng lai Việt Nam chuyển sang thặng dư, suốt thời gian còn lại cán cân vãng lai luôn trong trạng thái thâm hụt, đặc biệt là năm 2008, thâm hụt tăng lên đến mức 9 tỷ đô la
Mỹ do bị ảnh hưởng của khủng hoàng tài chính thế giới Ngân sách của Việt Nam luôn trong trạng thái thâm hụt vì thuế không bù đắp đủ cho chi tiêu của Chính phủ nhằm phát triển kinh tế và điều tiết nền kinh tế vĩ mô Liệu rằng thâm hụt cán cân vãng lai và thâm hụt ngân sách ở Việt Nam có tồn tại một mối quan hệ tác động qua lại hay không, nhóm chúng tôi tiến hành thực hiện bài nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định mối quan hệ này tại Việt Nam, thu thập dữ liệu về thâm hụt tài khoản vãng lai, thâm hụt ngân sách, lãi suất ngắn hạn và tỷ giá hối đoái USD/VND theo quý, từ quý 1 năm 2000 đến quý 3 năm 2011 Phần 2 của bài nghiên cứu này trình bày về cơ sở lý thuyết của giả thuyết “thâm hụt kép”, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây ở các quốc gia trên thế giới và thực trạng thâm hụt kép tại Việt Nam trong những năm qua Phần 3 trình bày mô hình và phương pháp ước lượng, chúng tôi sử dụng kiểm định tính dừng (unit root test) ADF (Augmented Dickey – Fuller), kiểm định đồng liên kết bằng phương pháp Engle-Granger và phương pháp Johasen, tiếp đến thực hiện kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger và cuối cùng là dùng kiểm định VECM Phần 4 đưa ra
Trang 11các kết quả kiểm định và phân tích kết quả kiểm định Phần cuối bài nghiên cứu sẽ kết luận về mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách tại Việt Nam
Trang 122 TỔNG QUAN VỀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC
ĐÂY (LITERATURE REVIEW)
2.1 Lý thuyết nền tảng về Thâm hụt kép (Theoretical basics)
Chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với hoạt động kinh tế Tùy vào thực trạng của nền kinh tế và mục tiêu điều tiết nền kinh tế, Chính phủ
sẽ sử dụng các chính sách tài khóa khác nhau:
- Chính sách tài khóa trung lập là chính sách cân bằng ngân sách, khi đó G=T, (trong đó G: chi tiêu Chính phủ, T: thu nhập từ thuế), chi tiêu của Chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ thuế và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên mức độ của các họa động kinh tế
- Khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái,Nhà nước có thể áp dụng chính sách tài khóa mở rộng, chính sách tăng cường chi tiêu của Chính phủ (G > T) thông qua chi tiêu Chính phủ tăng hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả hai Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng
- Ngược lại, khi nền kinh tế ở tình trạng lạm phát và có hiện tượng nóng, Nhà nước có thể sử dụng chính sách tài khóa thu hẹp, trong đó chi tiêu của Chính phủ ít đi thông qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp
Trang 13cả hai Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn hơn so với trước đó, hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng 2.1.2 Tài khoản vãng lai
Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán của một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và thu nhập giữa người cư trú trong nước với người cư trú ngoài nước Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi vào bên "nợ" Còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nước được ghi vào bên "có" Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn hơn bên nợ Cán cân tài khoản vãng lai bao gồm:
- Cán cân thương mại hàng hóa: ghi lại các giao dịch về xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai Tuy nhiên, đối với một số quốc gia có phần tài sản hay tiêu sản ở nước ngoài lớn thì thu nhập ròng từ các khoản cho vay hay đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và xuất khẩu ròng thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước, nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này
- Cán cân dịch vụ: ghi chép lại các giao dịch về vận tải, du lịch, và các dịch vụ khác của một quốc gia
- Cán cân thu nhập: ghi chép những khoản thu nhập của người lao động như kiều hối, thu nhập từ đầu tư
- Cán cân chuyển khoản: bao gồm những khoản viện trợ không hoàn lại, giá trị của những khoản quà tặng, và các chuyển giao khác bằng tiền và hiện vật cho mục đích tiêu dùng của người cư trú và không cư trú
Tất cả các khoản thanh toán của các bộ phận Nhà nước hay tư nhân đều được gộp chung vào trong tính toán này
Trang 14Cùng với tài khoản vốn, và thay đổi trong dự trữ ngoại hối, tài khoản vãng lai hợp thành cán cân thanh toán
Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, hay khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc gia nhập nhiều hơn hay đầu tư nhiều hơn Mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hàm ý quốc gia gặp hạn chế trong tìm kiếm nguồn tài chính để thực hiện nhập khẩu và đầu tư một cách bền vững
2.1.3 Thâm hụt kép
Theo lý thuyết thâm hụt kép, sự thay đổi trong thâm hụt ngân sách dẫn đến sự thay đổi tương tự trong thâm hụt tài khoản vãng lai và ngược lại Để làm rõ mối quan hệ giữa hai biến này, chúng ta bắt đầu với định nghĩa thu nhập quốc gia cho một nền kinh tế mở:
Trong đó Y là thu nhập quốc dân; C là tiêu dùng tư nhân; I là chi tiêu đầu tư thực sự trong nền kinh tế như chi tiêu cho thiết bị, xây dựng, nhà máy; G là chi tiêu của Chính phủ về hàng hoá và dịch vụ; cuối cùng, X là xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ, và M là nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ
Từ phương trình (1), tài khoản vãng lai (CA) được định nghĩa là bằng sự chênh lệch giữa xuất khẩu (X) trừ nhập khẩu (M), có thể được viết lại là:
Với (C + I + G) được xác định là chi tiêu của người dân trong nước Trong một nền kinh tế đóng, không có thương mại quốc tế, tiết kiệm (S) bằng đầu tư (I) (S = I) Tuy nhiên, trong một nền kinh tế mở được có thể được định nghĩa là:
Từ phương trình (3), chúng ta biết rằng trong một nền kinh tế mở, một quốc gia có thể tìm kiếm quỹ đầu tư cả trong nước và quốc tế để tăng thu nhập trong tương lai Tiết
Trang 15kiệm quốc gia có thể được chia thành các thành phần tư nhân và Chính phủ Tiết kiệm
tư nhân, ký hiệu là Sp trong khi tiết kiệm Chính phủ, ký hiệu là Vn:
Trong bối cảnh khác, theo giả thuyết cân bằng Ricardo, khi Chính phủ cắt giảm thuế và tăng thâm hụt ngân sách, người dân dự đoán rằng họ sẽ phải đối mặt với thuế cao hơn trong tương lai và sau đó họ phải trả lại các khoản nợ của Chính phủ Vì vậy, người dân sẽ giảm chi tiêu của họ và tăng tiết kiệm (tư nhân) để bù đắp cho sự sụt giảm trong tiết kiệm của Chính phủ Như vậy, thâm hụt ngân sách không có ảnh hưởng đến thâm hụt tài khoản vãng lai
2.2 Những bằng chứng thực nghiệm về thâm hụt kép trên thế giới
Trang 16Như đã đề cập trước đây, mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách Chính phủ và thâm hụt tài khoản vãng lai là một vấn đề được chú ý của các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu trong các thập kỷ qua, và rất nhiều lý thuyết và nghiên cứu và thực nghiệm đã được thực hiện Các nước đã đối mặt với thâm hụt tài khoản vãng lai cố gắng áp dụng chính sách tài khóa nhằm giảm thâm hụt hoặc loại bỏ nó Đã có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về giả thuyết thâm hụt kép Theo các nghiên cứu, có thể có 4 mối quan hệ nhân quả có thể có giữa thâm hụt ngân sách (BD) và thâm hụt tài khoản vãng lai (CAD), bao gồm BD → CAD, BD↔ CAD, CAD → BD và BD ↔ CAD
Hình 2.1: Bốn mối quan hệ có thể có của thâm hụt kép (4 possible types of relationship between twin deficit)
Nguồn: Jui-Chuan Chang và Zao-Zhou Hsu (2009)
Đầu tiên, lý thuyết giải thích quan hệ giữa BD và CAD là mô hình Mundell-Fleming
Mô hình Mundell - Fleming cho rằng sự gia tăng trong BD gây ra một áp lực lên lãi suất, và lãi suất sẽ tác động đến dòng vốn chảy vào, làm tăng tỷ giá hối đoái, cuối cùng
Trang 17dẫn đến sự gia tăng trong CAD Lý thuyết thứ hai giải thích mối liên kết giữa trạng thâm hụt kép là lý thuyết hấp thụ Keynes, cho thấy rằng sự gia tăng trong BD sẽ gây ra
sự hấp thụ trong nước và do đó tăng nhập khẩu, gây ra sự gia tăng hoặc làm xấu đi trạng thái thâm hụt tài khoản vãng lai Cả hai mô hình Mundell-Fleming và lý thuyết Keynes đều hỗ trợ các mối quan hệ gián tiếp BD tới CAD (BD → CAD)
Laney (1984) tìm thấy mối quan hệ một chiều từ thâm hụt ngân sách tới thâm hụt tài khoản vãng lai khi ông nghiên cứu mối quan hệ giữa đồng đô la Mỹ được định giá quá cao, thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai lớn của Mỹ và các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển khác Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS), kết quả cho thấy rằng cân bằng tài khóa là một yếu tố quyết định sự cân bằng bên ngoài, có ý nghĩa thống kê đáng chú ý ở các nước đang phát triển hơn là các nước công nghiệp Trong khi đó, Ahmed (1986) báo cáo rằng một sự thay đổi rõ ràng
và tạm thời trong chi tiêu Chính phủ sẽ dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai thông qua cầu giảm Các nghiên cứu khác ủng hộ các đề xuất của Keynes, trong đó sự gia tăng thâm hụt ngân sách dẫn đến tài khoản vãng lai trở nên thâm hụt hơn bao gồm Abell (1990), Zietz và Pemberto (1990), Bachman (1992), Rosensweig và Tallman (1993), Dibooglu (1997), Vomvoukas (1997), Piersanti (2000), Akbostanci và Tunc (2001), và Leachman và Francis (2002)
Trong bài nghiên cứu xem xét lại giả thuyết thâm hụt kép, điều tra tác động của việc củng cố tài khóa lên tài khoản vãng lai của tác giả John Bluedorn và Daniel Leigh Dữ liệu được lấy từ năm 1978-2009 của 16-17 quốc gia Kiểm định bằng mô hình hồi quy với các biến: thay đổi trong tỉ lệ tài khoản vãng lai trên GDP, biên độ lớn của hành động dựa trên sự bền vững tài khóa theo phần trăm GDP, đó chính là tác động của ngân sách lên thay đổi trong thuế và chi tiêu được thúc đẩy bởi mong muốn giảm thâm hụt ngân sách dựa trên các số liệu của Devries (2011) Xem kết quả thu được dựa trên phương pháp chuẩn CAPB, kết quả cho thấy sự bền vững tài khóa có tác dụng đáng kể đến tài khoản vãng lai Ước tính cho thấy tỷ lệ bền vững tài khóa trên GDP tăng 1% làm tăng tỷ lệ tài khoản vãng lai trên GDP khoảng 0,6%
Trang 18Thứ hai, Một giải thích khác về mối quan hệ giữa BD và CAD được dựa trên giả định
rằng thâm hụt kép này không liên quan với nhau Họ tuyên bố rằng thâm hụt ngân sách không gây ra bất kỳ sự thay đổi nào về lãi suất và tỷ giá hối đoái (Garcia và Ramajo, 2004), do đó không ảnh hưởng đến sự mất cân bằng tài khoản vãng lai Do đó, theo lý thuyết cân bằng Ricardo, thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai là độc lập,
có nghĩa là, BD ↔ CAD
Barro (1974) phát hiện ra rằng không có mối tương quan giữa thâm hụt trong khu vực công và sự mất cân bằng trong tài khoản vãng lai, khi ông bắt đầu từ trường hợp tiêu chuẩn "nợ trung lập" Điều này có thể được hiểu bằng cách giảm tiết kiệm công do thâm hụt ngân sách sẽ gắn liền với một sự gia tăng tương ứng trong tiết kiệm tư nhân (xem Barro, 1989) Lý do đằng sau là người tiêu dùng mong đợi rằng cắt giảm thuế ngày hôm nay mà kết quả là thâm hụt tài khóa sẽ dẫn đến sự gia tăng thuế trong tương lai để phục vụ nợ công, do đó, họ sẽ tiết kiệm tiền ngày hôm nay để trả tiền tăng thuế trong tương lai Các nghiên cứu thực nghiệm bởi Miller và Russek (1989), Dewald và Ulan (1990), Enders và Lee (1990), Evans và Hasan (1994), Wheeler (1999) cũng tìm thấy bằng chứng hỗ trợ cho lý thuyết cân bằng Ricardo, trong đó thâm hụt tài khóa bên trong và bên ngoài là không tương quan
Theo nghiên cứu của Kaufmam và các cộng sự (2002), liệu tài khoản vãng lai của của
Áo có chịu sự tác động của thâm hụt ngân sách quốc gia (thông qua liên kết giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai là lãi suất, như đã được trình bày trong
mô hình truyền thống Mundell – Fleming) hay chịu sự tác động của sự tái phân bổ giữa chi tiêu dùng và đầu tư (như đã nhấn mạnh trong giả thuyết cân bằng Ricardo) Sử dụng kiểm định VECM bao gồm 3 vecto đồng tích hợp và độ trễ bổ sung của biến nội sinh là 4, tác giả tính toán phương sai sai số dự báo của biến tài khoản vãng lai và phản ứng đẩy Sử dụng dữ liệu theo quý từ năm 1976 đến năm 1997, các biến bao gồm GDP
là thước đo thu nhập, năng suất nội địa, và một thước đo cho năng suất nước ngoài, chi tiêu Chính phủ; thặng dư ngân sách và tài khoản vãng lai thể hiện dưới dạng phần trăm trên GDP Các biến tài chính bao gồm lãi suất dài hạn và điều khoản thương mại Biến
Trang 19năng suất là sản phẩm công nghiệp bình quân trên số lao động, điều khoản thương mại
là tỷ lệ giá xuất khẩu/giá nhập khẩu Tính toán phương sai sai số dự báo đưa ra kết quả là: trong dài hạn, năng suất nội địa và điều khoản thương mại chiếm 65% sai số dự đoán Lãi suất ko có ý nghĩa đáng kể, thâm hụt ngân sách là 14%, trong khi chi tiêu Chính phủ chỉ chiếm khoảng gần 5% phương sai sai số dự đoán Mặc dù bằng chứng này không mâu thuẫn với giả thuyết thâm hụt kép, song phương sai sai số dự báo cũng cho thấy rằng lãi suất chỉ giải thích một phần nhỏ của sai số của tài khoản vãng lai Tác giả lập luận rằng lãi suất là một biến quan trọng trong mô hình Mundell-Fleming, do đó
có thể xem đây như là bằng chứng chống lại sự liên kết giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai
Trong bài nghiên cứu về cú sốc sản lượng, thâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai của Matthieu Busiere, Marcel Fratzscher và Gernot J.Muller (2005), tác giả sử dụng mẫu gồm 21 quốc gia thuộc OECD với dữ liệu thời gian từ năm 1960 đến 2003 Tác giả đã xem xét rất nhiều biến tài chính tác động đến tài khoản vãng lai như sản lượng, tiết kiệm, đầu tư, ngân sách Chính phủ Kết quả kiểm định về tác động của ngân sách Chính phủ lên tài khoản vãng lai cho thấy rằng tác động này rất thấp Đối với các quốc gia G7 thì mô hình hồi quy không có ý nghĩa còn đối với cả mẫu trong OECD, hệ số
là 0.07 Trong khi đó, yếu tố cú sốc sản lượng của mỗi quốc gia thì có ý nghĩa ở hầu hết các quốc gia
Thứ ba, Một quan hệ nhân quả theo một hướng từ thâm hụt tài khoản vãng lai tác
động đến thâm hụt ngân sách cũng có thể tồn tại Kết quả này xảy ra khi sự suy thoái trong tài khoản vãng lai dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn và dẫn đến sự gia tăng thâm hụt ngân sách Một đất nước trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng khả năng thanh toán do thâm hụt tài khoản vãng lai quá mức có thể phải đối mặt với tình huống trong đó lượng lớn quỹ công được bơm vào để phục hồi ngành tài chính đang gặp khó khăn, cải thiện hệ thống quản trị doanh nghiệp, và để giảm cuộc suy thoái Ví dụ tại Hàn Quốc, thâm hụt tài khóa được phép tăng đáng kể cho các mục đích hỗ trợ các hoạt động kinh tế và tăng sức mạnh mạng lưới an toàn xã
Trang 20hội sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 Mối quan hệ nhân quả trong trường hợp này có chiều từ thâm hụt tài khoản vãng lai tới thâm hụt ngân sách (CAD → BD)
Mối quan hệ nhân quả đảo ngược này được gọi là "tài khoản vãng lai mục tiêu ' của Summers (1988) Ông cho rằng điều chỉnh bên ngoài có thể tìm kiếm thông qua chính sách tài khóa Điều này đặc biệt đúng đối với một nền kinh tế nhỏ mở cửa, đang phát triển phụ thuộc lớn vào dòng vốn đầu tư nước ngoài (ví dụ như đầu tư trực tiếp nước ngoài) để tài trợ cho sự phát triển kinh tế Nói cách khác, ngân sách của một quốc gia
sẽ bị ảnh hưởng bởi dòng vốn chảy vào lớn hoặc thông qua tích lũy nợ và điều này cuối cùng sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách Nghiên cứu về tình hình của châu Mỹ La Tinh và một số các nước Đông Á đã minh họa cho điều này (xem Reisen, 1998) Các bài viết bởi Anoruo và Ramchander (1998) về Philipin, Ấn Độ, Indonesia và Hàn Quốc; Khalid
và Teo (1999) về Indonesia và Pakistan cũng đã cung cấp đầy đủ bằng chứng để hỗ trợ cho giả thuyết này Theo họ, điều này sẽ xảy ra nếu Chính phủ của một quốc gia sử dụng chính sách tài khóa để thực hiện mục tiêu cân bằng tài khoản vãng lai
Alkswani và Al-Towaijari (1999) cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ nhân quả đảo ngược giữa hai thâm hụt cho Ả-rập Xê-út Trong khi đó Anoruo và Ramchander (1998) cũng khám phá ra rằng thâm hụt thương mại gây ra thâm hụt ngân sách ở một số nước châu Á Họ lập luận rằng các Chính phủ ở các nước đang phát triển
có thể tham gia vào các kích thích tài chính để giảm bớt hậu quả kinh tế và tài khóa do
sự thâm hụt thương mại lớn Nền kinh tế tăng trưởng chậm do thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hiện nay không những làm tăng chi tiêu của Chính phủ mà còn giảm doanh thu thuế
Trong bài nghiên cứu của ông Carlos Fonseca Marinheiro (2007), nghiên cứu về tính hợp lý của giả thuyết thâm hụt kép ở Ai Cập Sử dụng dữ liệu về CAD và BD theo tỷ lệ phần trăm của GDP trong giai đoạn từ năm 1974 đến năm 2004 Đầu tiên, ông kiểm định giả thuyết cân bằng Ricardo liệu rằng thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai có quan hệ với nhau hay không, một sự gia tăng trong thâm hụt có được bù đắp bằng một sự gia tăng trong tiết kiệm tư nhân hay không Kết quả thực nghiệm đã
Trang 21bác bỏ tính hợp lệ của giả thuyết này đối với trường hợp của Ai Cập: chỉ có sự cân bằng một phần, tức là tiêu dùng tư nhân chỉ bù đắp được một phần (chưa được một nửa) thuế hoán đổi nợ công trong tương lai Tiếp tục nghiên cứu về giả thuyết thâm hụt kép, ông cũng đã thực sự tìm thấy bằng chứng (yếu) ủng hộ mối quan hệ dài hạn giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai
CADt = 0.308*BDEFtTrong thực tế, nếu đây là một vector đồng tích hợp, nó sẽ cho thấy một mối tương quan tích cực giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai Tuy nhiên, việc phát hiện một mối tương quan tích cực không chỉ ra quan hệ nhân quả rằng: liệu thâm hụt ngân sách là nguyên nhân gây thâm hụt bên ngoài, hay là chiều ngược lại Ông tiếp tục kiểm định mô hình nhân quả Granger trong mô hình VECM và mô hình quan hệ nhân quả Granger truyền thống, và kết quả chỉ ra rằng: có mối quan hệ nhân quả Granger chạy từ thâm hụt tài khoản vãng lai tới thâm hụt ngân sách:
CAD BD Giải thích cho mối quan hệ nhân quả đảo ngược này dựa trên sự chịu ảnh hưởng của cán cân ngân sách với các biến động về sản lượng trong nước Thứ nhất, dòng vốn vào
có xu hướng đánh giá cao tỷ giá hối đoái, từ đó làm suy giảm thương mại Ngoài ra, một cú sốc ngoại sinh tiêu cực, có thể dẫn đến sự giảm sút trong xuất khẩu hoặc làm tăng nhập khẩu Sự suy thoái trong cân bằng bên ngoài, phản ánh sự thay thế của hàng sản xuất trong nước bằng hàng nhập khẩu (tương đối rẻ hơn), có tác động tiêu cực đối với sản lượng trong nước, từ đó dẫn đến doanh thu thuế giảm và làm suy giảm cán cân ngân sách Thứ hai, Chính phủ có thể sử dụng kích thích tài chính để giảm thiểu tác động tiêu cực của thâm hụt tài khoản vãng lai đối với sản lượng trong nước Trong trường hợp này, thâm hụt tài khoản vãng lai gây ra sự suy thoái kinh tế, làm tăng chi tiêu Chính phủ và làm giảm doanh thu thuế Điều này cho thấy thâm hụt ngân sách của Chính phủ không tác động đến thâm hụt bên ngoài, mà thay vào đó là mối nhân quả đảo ngược chạy từ thâm hụt bên ngoài tới thâm hụt ngân sách bên trong Do đó, sự cải thiện cân bằng bên ngoài cho phép làm giảm thâm hụt ngân sách Do đó không phải
Trang 22giảm các khoản thu thuế cũng không phải tăng chi Chính phủ để đối phó với sự suy giảm tăng trưởng Tác giả đề xuất rằng chính sách cần được áp dụng chủ yếu là giảm thâm hụt tài khoản vãng lai Từ những phân tích, bài nghiên cứu cũng nhấn mạnh tính quan trọng của việc duy trì tính linh hoạt trong hệ thống tỷ giá hối đoái Điều này sẽ làm cho nền kinh tế Ai Cập ít bị tổn thương do tác động của dòng vốn đầu cơ và tránh các chi phí vô hiệu hóa
Antonio Afonso và Christophe Rault (2009) cũng sử dụng kiểm định nhân quả Granger
để kiểm định mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản bên ngoài cho các nước EU và OECD Bài nghiên cứu này này góp phần vào khẳng định mối quan hệ nhân quả giữa các cân đối ngân sách và cân bằng bên ngoài tại các nước Liên minh châu Âu và các nước OECD, trong giai đoạn 1970-2007 Trong cách tiếp cận tác giả, tác giả chấp nhận mối tương quan giữa các quốc gia, mà không cần kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test) Tất cả các dữ liệu số dư tài khoản vãng lai, ngân sách Chính phủ và tỷ giá hối đoái thực được lấy từ Ủy ban châu Âu AMECO (Annual Macro-Economic Data), từ IMF và dữ liệu của OECD Tác giả chia thành bốn nhóm quốc gia khác nhau: EU15, EU25, Cgroup21, và Cgroup26 để dễ dàng trong việc kiểm định Tác giả xây dựng kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger dựa trên phương pháp tiếp cận của Konya (2006) trên hai biến (tài khoản vãng lao, (CA), ngân sách Chính phủ, (BUD)) hoặc ba biến (CA, BUD và tỷ giá hối đoái thực, (REX)) trong giai đoạn 1970-2007, cho một số nước EU và các nhóm nước OECD Tác giả sử dụng các phương pháp tiếp cận của Konya (2006), dựa trên hệ thống SUR và kiểm định Wald Tác giả xây dựng mô hình có một số lợi thế Thứ nhất, nó không giả định rằng các dữ liệu bảng là đồng nhất, do đó, có thể kiểm tra quan hệ nhân quả Granger trên mỗi bảng riêng biệt Tuy nhiên, bởi mối tương quan được chấp nhận qua các nước, làm cho có thể khai thác thêm các thông tin được cung cấp bởi các dữ liệu bảng Thứ hai, cách tiếp cận này không yêu cầu kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định đồng liên kết, mặc dù
nó vẫn còn đòi hỏi các đặc điểm kỹ thuật của cấu trúc độ trễ Đây là một tính năng quan trọng bởi vì kiểm định nghiệm đơn vị và đồng liên kết nói chung là khả năng thấp, và các kiểm định khác nhau thường dẫn đến kết quả trái ngược Thứ ba, phương
Trang 23pháp tiếp cận quan hệ nhân quả Granger cho phép các nhà nghiên cứu phát hiện cho bao nhiêu và cho biến nào của dữ liệu tồn tại một quan hệ nhân quả, quan hệ nhân quả hai chiều hoặc không có quan hệ nhân quả Granger Đối với thiết lập dựa trên hai biến thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai, tác giả kiểm định được sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả Granger trực tiếp một chiều từ ngân sách Chính phủ đến tài khoản vãng lai (BD CAD) tại năm quốc gia châu Âu: Bulgaria, Cộng hòa Séc, Phần Lan, Lithuania, và Xlô-va-ki-a, trong đó Phần Lan không phải là một nước thành viên mới (NMS) của EU Khi tỷ giá hối đoái thực được đưa vào mô hình, kiểm định còn cho thấy tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều từ ngân sách Chính phủ đến tài khoản vãng lai ở Estonia, Hungary, Ba Lan, Pháp và Italy Về sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả từ tài khoản vãng lai đến Ngân sách Chính phủ ( CAD BD), có bằng chứng thống kê cho một bộ khác nhau của các quốc gia, bảy quốc gia thuộc Liên minh châu
Âu (Áo, Bỉ, Ireland, Tây Ban Nha, Cộng hòa Séc, Estonia, và Ý), và năm quốc gia không thuộc EU (Úc, Canada, Na Uy, Iceland, và Mexico) Kết quả không thay đổi khi thêm biến tỷ giá hối đoái thực vào mô hình kiểm định
Thứ tư, quan hệ nhân quả hai chiều có thể tồn tại giữa ngân sách và thâm hụt tài khoản
vãng lai, (BD ↔ CAD) Trong khi thâm hụt ngân sách có thể gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai, sự tồn tại của thông tin phản hồi có thể gây ra mối quan hệ nhân quả giữa hai biến trong cả hai hướng Các nhà nghiên cứu Darrat (1988), Islam (1998) và Mansouri (1998) đã tiến hành một số nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra mối liên kết hai chiều của thâm hụt kép Darrat (1988) sử dụng kiểm định nhân quả đa biến Granger kết hợp với tiêu chí dự đoán sai số Akaike để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở Mỹ cho giai đoạn từ 1/1960 đến 4/1984 Kết quả thực nghiệm cho thấy một liên kết hai chiều tồn tại giữa hai biến Islam (1998) phân tích sự liên quan của giả thuyết trạng thâm hụt kép ở Brazil cho giai đoạn 1973 - 1991 Kết quả của ông cũng cho kết quả quan hệ hai chiều giữa cán cân ngân sách và sự mất cân bằng thương mại Đối với trường hợp của Marốc, sử dụng kiểm định đồng liên kết
và các mô hình hiệu chỉnh sai số, Mansouri (1998) cho rằng có hai hướng ngắn hạn và dài hạn trong quan hệ nhân quả giữa thâm hụt tài chính trong và bên ngoài
Trang 24Trong bài nghiên cứu kiểm định giả thuyết thâm hụt kép ở Iran (2011) của tác giả Akbar Zamanzadeh, bộ nội vụ Kinh tế và Tài chính Iran cùng Mohsen Mehrara, khoa kinh tế, đại học Tehran, Iran Để minh họa mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và tài khoản vãng lai, bằng cách sử dụng mô hình cung cầu của Keynes cho một quốc gia mở cửa, tác giả xem xét phương trình tổng thu nhâp quốc dân, tác giả lý luận rằng trong điều kiện cân bằng, xuất khẩu ròng phải bằng tổng tiết kiệm tư nhân và khu vực công,
nó có nghĩa là nếu ngân sách Chính phủ cân bằng (G-T=0), tiết kiệm tư nhân bằng đầu
tư (S-I=0), thì sẽ không có bất kỳ thâm hụt hay thặng dư tài khoản vãng lai (N-X=0)
NX = (S-I) + (G-T) Chia phương trình trên cho GDP
𝐶𝐴𝐷𝐺𝐷𝑃 𝑡 = CBD
𝐺𝐷𝑃 t + €t Các biến được sử dụng bao gồm tổng sản phẩm quốc nội (GDP), xuất khẩu (không tính xuất khẩu dầu), nhập khẩu (M), chi tiêu Chính phủ(G) và thuế (T), tất cả được tính ở mức giá không đổi ở năm 1997, nguồn lấy từ Ngân hàng Trung ương Iran trong khoảng thời gian từ năm 1959-2007 Sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM), hệ số của sai số hiệu chỉnh (EET) âm và ở mức ý nghĩa 5%, điều này chứng minh cho sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài ổn định giữa các biến số Hệ số EET đạt giá trị khoảng -0,25, ngụ ý rằng một độ lệch từ trạng thái cân bằng được điều chỉnh từ trạng thái cân bằng khoảng 25% sau mỗi năm, để cho bất kỳ sự mất cân bằng trong tài khoản vãng lai của Iran phải mất bốn năm để đạt được trạng thái cân bằng mới Kiểm định quan hệ nhân quả Granger giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai, kết quả cho thấy có mối quan hệ ngẫu nhiên hai chiều giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức độ tin cậy 90% Phát hiện này tái khẳng định giả thuyết trạng thái thâm hụt kép, chống lại giả thuyết tương đương với Ricardo
Trong một cuộc điều tra thực nghiệm cho giả thuyết thâm hụt kép cho 6 nước mới nổi
là Brazil, cộng hòa Séc, Nam Phi, Colombia, Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ của Sadullah Ceck và Pinar Deniz, sử dụng dữ liệu hàng quý từ năm 1996 đến năm 2006 Các quốc
Trang 25gia được lựa chọn dựa theo sự tồn tại lâu dài của thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách Cả hai thâm hụt điều được chuyển đổi sang đồng USD Trung bình hàng quý của tỷ giá hối đoái được sử dụng được chuyển đổi từ nội tệ sang đô la Mỹ Phù hợp với phát hiện thực nghiệm, tác giả tìm thấy tồn tại mối quan hệ giữa hai tình trạng thâm hụt
Baharumshah đã có bài nghiên cứu thực nghiệm về giả thuyết thâm hụt kép tại chín nước thuộc khu vực Đông và Nam Á (2006) Tác giả bài nghiên cứu đã đưa ra một đánh giá của các nghiên cứu trong hai thập kỷ qua cho thấy: thứ nhất, nhấn mạnh tầm quan trọng của các biến số tài chính như lãi suất và tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ với thâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai Hầu hết các nghiên cứu trước đó đã bỏ qua vai trò của hai biến tài chính này trong việc làm cầu nối liên kết giữa hai thâm hụt Thứ hai, không giống như các cuộc khủng hoảng nợ vào những năm
1980 được thúc đẩy thâm hụt ngân sách, năm 1994 Mexico và cuộc khủng hoảng Đông
Á 1997-1998 là do sự mất cân bằng trong tài khoản vãng lai Tác giả đưa biến được sử dụng trong nghiên cứu là thâm hụt tài khoản vãng lai, thâm hụt ngân sách, tỷ giá hối đoái danh nghĩa và lãi suất ngắn hạn được thống kê từ năm 1980 đến năm 2001 Tác giả xây dựng một dữ liệu bảng gồm bốn biến với chín quốc gia, mỗi biến sẽ có 198 quan sát (t = 22, n = 9) trong đó t là số chuỗi thời gian và n là số quốc gia Để thống nhất, tất cả các biến được thể hiện bằng đô la Mỹ Kết quả kiểm định cho thấy thâm hụt tài khóa không gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai được bác bỏ tại mức ý nghĩa 5% Hơn nữa, kiểm định Wald cho thấy mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa hai biến Điều này cho thấy rằng thâm hụt tài khóa không phải là nguyên nhân chính của thâm hụt vãng lai và ảnh hưởng từ thâm hụt vãng lai đến thâm hụt tài khóa có mức ý nghĩa cao hơn Điều này phù hợp với các bài nghiên cứu trước đó của Anoruo và Ramchander (1998), Khalid và Teo (1999) dựa trên các nước đang phát triển Khalid và Teo (1999) lưu ý rằng mối quan hệ chặt chẽ giữa thâm hụt kép nhiều khả năng xảy ra ở các nước đang phát triển hơn là các nền kinh tế phát triển Phát hiện này dường như trái ngược với quan điểm thông thường, trong đó nhấn mạnh rằng mối quan hệ nhân quả chạy từ thâm hụt ngân sách đến thâm hụt tài khoản vãng lai và không thể là ngược lại Kiểm
Trang 26định Granger cho thấy thâm hụt ngân sách gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai bằng thông qua các kênh tỷ giá hối đoái và lãi suất Tác giả kiểm định lẫn nhau giữa cán cân tài khoản vãng lai và cán cân tài khóa bằng cách sử dụng thiết lập cụ thể từng nước Tác giả tiến hành kiểm định VAR Kết quả là tồn tại quan hệ hai chiều giữa ngân sách
và cán cân tài khoản vãng lai ở sáu trong chín quốc gia được điều tra Kết luận, tác giả bài nghiên cứu đưa ra mối quan hệ giữa ngân sách Chính phủ và tài khoản vãng lai theo những cách sau đây Thứ nhất, tác giả thấy rằng mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai thông qua hai kênh: một cách trực tiếp giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai và một cách gián tiếp là thông qua lãi suất
và tỷ giá hối đoái Thứ hai, tác giả thấy rằng tồn tại quá trình liên tục với hiện tượng
“vòng tròn luẩn quẩn” trong mối quan hệ giữa ngân sách Chính phủ và cán cân vãng lai.Mối quan hệ “vòng tròn luẩn quẩn” này được biểu diễn ở hình 2.2
Hình 2.2: Mối quan hệ của các biến kinh tế giữa thâm hụt ngân sách, thâm hụt tài khoản vãng lai, lãi suất và tỷ giá
Trang 27: mối quan hệ một chiều
: mối quan hệ hai chiều
Nguồn: Khalid và Teo (1999)
“Vòng tròn luẩn quẩn” này được giải thích như là ngân sách Chính phủ tác động lên lãi suất, lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến tỷ giá, và sau đó tỷ giá tạo áp lực lên tài khoản vãng lai, tài khoản vãng lai lại ảnh hưởng trở lại ngân sách Chính phủ Trong khi đó, ngân sách Chính phủ cũng tác động ngược lại lên tài khoản vãng lai Mối quan hệ này trở thành vòng tròn khép kín
Tổng kết các nghiên cứu thực nghiệm:
Qua các nghiên cứu về lý thuyết “thâm hụt kép”, phản ánh về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở các nước trên thế giới, thực tế có thể có
4 mối quan hệ khác nhau như sau:
- BD CAD: mối quan hệ nhân quả một chiều từ thâm hụt ngân sách lên thâm hụt cán cân vãng lai, hay một sự tăng (giảm) thâm hụt ngân sách quốc gia sẽ làm trầm trọng (cải thiện) thâm hụt tài khoản vãng lai Có 2 mô hình giải thích cho mối quan hệ này: theo mô hình Mundell – Flaming, sự gia tăng trong BD gây ra một áp lực lên lãi suất, và lãi suất sẽ tác động đến dòng vốn chảy vào và và làm
IR
EXC
BD
CAD
Trang 28tăng tỷ giá hối đoái, cuối cùng dẫn đến sự gia tăng trong CAD Lý thuyết thứ hai giải thích mối liên kết giữa các trạng thâm hụt kép là lý thuyết hấp thụ Keynes, cho thấy rằng sự gia tăng trong BD sẽ gây ra sự hấp thụ trong nước và do đó tăng nhập khẩu, gây ra sự tăng hoặc xấu đi của CAD
- BD ↔ CAD: thâm hụt kép là không liên quan với nhau: thâm hụt ngân sách không gây ra bất kỳ sự thay đổi nào về lãi suất và tỷ giá hối đoái (Garcia và Ramajo, 2004), do đó không ảnh hưởng đến sự mất cân bằng tài khoản vãng lai, thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai là độc lập Điều này có thể được hiểu bằng cách giảm tiết kiệm công do thâm hụt ngân sách sẽ gắn liền với một sự gia tăng tương ứng trong tiết kiệm tư nhân Lý do đằng sau là người tiêu dùng tin rằng cắt giảm thuế ngày hôm nay mà kết quả là thâm hụt tài khóa sẽ dẫn đến sự gia tăng thuế trong tương lai để phục vụ nợ công, do đó, họ sẽ tiết kiệm tiền ngày hôm nay để trả tiền tăng thuế trong tương lai
- CAD BD: quan hệ nhân quả theo một hướng từ thâm hụt tài khoản vãng lai tác động đến thâm hụt ngân sách cũng có thể tồn tại Kết quả này xảy ra khi sự suy thoái trong tài khoản vãng lai dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn
và dẫn đến sự gia tăng thâm hụt ngân sách Mối quan hệ nhân quả đảo ngược này được gọi là "tài khoản vãng lai mục tiêu” Điều này đặc biệt đúng đối với một nền kinh tế nhỏ mở cửa, đang phát triển phụ thuộc lớn vào dòng vốn đầu tư nước ngoài (ví dụ như đầu tư trực tiếp nước ngoài) để tài trợ cho sự phát triển kinh tế Nói cách khác, ngân sách của một quốc gia sẽ bị ảnh hưởng bởi dòng vốn chảy vào lớn hoặc thông qua tích lũy nợ và điều này cuối cùng sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách
- BD ↔ CAD: quan hệ nhân quả hai chiều có thể tồn tại giữa ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai: Trong khi thâm hụt ngân sách có thể gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai, sự tồn tại của thông tin phản hồi có thể gây ra mối quan hệ nhân quả giữa hai biến trong cả hai hướng Mối quan hệ nhân quả giữa ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai thông qua hai kênh: một cách trực tiếp giữa thâm
Trang 29hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai và một cách gián tiếp là thông qua lãi suất và tỷ giá hối đoái
2.3 Tương quan dự kiến của thâm hụt kép tại Việt Nam
Nghiên cứu về giả thuyết thâm hụt kép tại Việt Nam, liệu rằng giả thuyết này có tồn tại hay không tại Việt Nam, và mối quan hệ này có chiều như thế nào, chúng tôi tiến hành xem xét thực trạng về ngân sách Chính phủ và tài khoản vãng lai qua nhiều giai đoạn như sau:
Giai đoạn tăng trưởng (1991-1996):
Trong giai đoạn từ năm 1990-1996, Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, khống chế bội chi và kiềm chế lạm phát Cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước dần dần thay đổi theo hướng tích cực Nguồn thu trong nước đã đủ cho chi thường xuyên, tình trạng
đi vay hoặc dựa vào phát hành tiền cho chi thường xuyên đã chấm dứt Hệ thống thuế đã bắt đầu được cải cách, đổi mới tương đối đồng bộ, cơ cấu tương đối hợp lý, bước đầu phát huy được nhiều tác dụng tích cực như đảm bảo ổn định và phát triển nguồn thu ngân sách Nhà nước Thâm hụt ngân sách trung bình hàng năm từ 1991 đến 1997 ở mức 3,7% so với GDP, cải thiện hơn đáng kể so với thâm hụt ngân sách trong giai đoạn 1987-1990, giai đoạn mà chính sách tài khóa mở rộng được thực thi, đẩy mạnh tiêu dùng kích thích cung cầu của nền kinh tế, thâm hụt ngân sách ở mức trung bình lên đến 7,3% so với GDP
Bảng 2.1: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách, tỷ lệ tăng trưởng GDP giai đoạn 1990-1996
Tỷ lệ thâm hụt ngân
Trang 30Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ tài chính
Là một bộ phận chính yếu trong cán cân thanh toán quốc tế, cán cân vãng lai ghi nhận các giao dịch thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ, thu nhập và chuyển giao ròng từ nước ngoài Trong đó, cán cân thương mại hàng hóa chiếm một phần lớn và thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa là nguyên nhân chủ yếu gây ra thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam Bảng 4.9 trình bày thâm hụt tài khoản vãng lai Việt Nam giai đoạn 1991-1996
Bảng 2.2: thâm hụt tài khoản vãng lai Việt Nam giai đoạn 1991-1996
1993, Việt Nam bắt đầu tìm kiếm các nguồn tài trợ từ nhiều nước và cán cân vãng lai bắt đầu thâm hụt trở lại với mức độ ngày càng lớn, năm 2005 thâm hụt lên tới 12,8%, năm 1996, mức thâm hụt là 9,9% so với GDP
Trang 31Giai đoạn 1997-2001 (giai đoạn suy thoái)
Cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực đã làm cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, chính sách tài khóa thắt chặt trong giai đoạn 1991-1996 đã không còn phù hợp và kiểm hãm sự phát triển kinh tế Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện nhiều chính sách năng động khác nhau để kích thích kinh tế, như đẩy mạnh các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng, tăng mức bội chi, tăng lương tối thiểu, cải cách thể chế kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, mở cửa thu hút vốn đầu
tư và thúc đẩy thương mại quốc tế
Bảng 2.3: thâm hụt ngân sách so với GDP, tăng trưởng GDP năm 1997-2001
Tỷ lệ thâm hụt ngân
Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ tài chính
Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách tài khóa nới lỏng để kích thích kinh tế vẫn làm thâm hụt ngân sách được kiềm chế ở mức thấp, khoảng 4,4 % GDP Giai đoạn 1997-
2001 tình hình thu chi NSNN tiếp tục có chuyển biến tích cực, thu không những đủ bù chi thường xuyên mà còn cho đầu tư phát triển Cùng với việc cơ cấu lại các khoản nợ công qua câu lạc bộ Paris thì nợ công của Việt Nam so với GDP đã giảm đi đáng kể so với giai đoạn trước đó Gánh nặng trả nợ cũng thấp hơn
Mức thâm hụt cán cân vãng lai được co hẹp trở lại trong hai năm 1997 - 1998 và đạt thặng dư trong năm 1999 Nguyên nhân là do nỗ lực của Chính phủ nhằm kiểm soát nhập khẩu, đặc biệt là hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng, kích thích xuất khẩu Hơn nữa, cuộc khủng hoảng tài chính khu vực đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn đầu tư nước ngoài FDI vào Việt Nam Số lượng và mức giải ngân các dự án FDI mới giảm mạnh sau năm 1998 Vì vậy, máy móc, thiết bị nhập khẩu thuộc khối FDI
Trang 32cũng giảm theo Như vậy, sau một thời gian dài trạng thái cán cân vãng lai luôn ở trong tình trạng thâm hụt, năm 1999, lần đầu tiên cán cân này chuyển về trạng thái thặng dư Trong những năm tiếp theo, tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu nên thặng dư cán cân vãng lai dần thu hẹp lại và chuyển sang trạng thái thâm hụt ngày càng rộng ra, đặc biệt trong những năm gần đây
Bảng 2.4: Tài khoản vãng lai, tài khoản vãng lai so với GDP năm 1997-2001
Giai đoạn 2002-2007 (phục hồi)
Trong giai đoạn này, Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng với quan điểm thúc đẩy sự hình thành và phát triển đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững Bội chi NSNN trong giai đoạn này về cơ bản được cân đối ở mức 4,9%-5% GDP Nếu chỉ xét ở tỷ lệ
so với GDP, cũng thấy bội chi NSNN trong những năm gần đây tăng cao hơn các năm trước đó khá nhiều vì giai đoạn năm 1991-2001, mức bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 3,5% so với GDP Trong giai đoạn này, tổng thu ngân sách Nhà nước liên tục tăng, từ khoảng 22,7% so với GDP năm 2002 tăng lên khoảng 27% so với GDP năm
2007 Song song với việc tăng thu, chi ngân sách cũng liên tục tăng, năm 2002 chi ngân sách là 27,7% so với GDP và năm 2007 là 32,2% GDP Bội chi gia tăng dẫn đến lượng trái phiếu phát hành để cân đối lớn Luật Ngân sách Nhà nước và luật Ngân hàng Nhà nước không cho phép in tiền trực tiếp để tài trợ cho bội chi ngân sách, tuy nhiên với cơ chế tiền tệ hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đã gián tiếp phát hành một lượng tiền
Trang 33không nhỏ để “tiền tệ hóa” trái phiếu Chính phủ Sự cân đối bội chi còn phải được viện trợ bởi một phần vốn vay nước ngoài dưới hình thức ODA Quy mô vốn ODA tham gia vào bù đắp bội chi chiếm 1/3 tổng số thiếu hụt, tương đương 1,5% – 1,7% so với GDP hàng năm Lượng ngoại tệ đổ vào trong nước đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải phát hành nhiều tiền đồng hơn để nội tệ hóa vì đồng nội tệ mất giá so với ngoại tệ… Cộng với một vài nguyên nhân khác, kết quả cơ chế tiền tệ trên dẫn đến hậu quả, trong 3 năm
từ 2005 đến 2007 lượng tiền trong lưu thông tăng tới 135%, trong khi tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ ở mức 27% Điều này có nghĩa rằng Nhà nước đã phát hành thêm một lượng tiền lớn hơn gấp nhiều lần trị giá của cải mà xã hội làm ra được trong
3 năm trên Điều này cho thấy sách tài khóa đã gây ra lạm phát Lạm phát tăng cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng thâm hụt tài khoản vãng lai
Bảng 2.5: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP năm 2002-2007
tư toàn xã hội có xu hướng tăng, trong đó tỷ lệ tiết kiệm so với GDP có phần giảm hơn
so với những năm trước, mức chệnh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư âm cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng của tài khoản vãng lai xấu hơn giai đoạn trước Cùng với nguyên nhân là chính sách tài khóa mở rộng, việc cắt giảm thuế nhập khẩu từ ASEAN, khuyến khích đầu tư… kim ngạch nhập khẩu tăng, đặc biệt là nhập khẩu máy móc thiết bị đã làm cho thâm hụt tài khoản vãng lai trong giai đoạn này tăng nhanh hơn thâm hụt ngân sách nhà nước
Bảng 2.6: Tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP năm 2002-2007
Trang 348 nhóm giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tăng trưởng bền vững và thực thi chính sách an sinh xã hội mà Nghị quyết số 10/2008/NĐ-CP ngày 17-4-2008 đã đề ra: Trong tháng 8-2008 đã có hai lần điều chỉnh giảm giá bán xăng và dầu hỏa, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người sử dụng; tăng cường công tác thu ngân sách để đảm bảo nhiệm vụ được giao, kết hợp với việc rà soát
nợ đọng thuế, chống thất thu; tiếp tục rà soát lại chi ngân sách, yêu cầu các bộ, ngành địa phương cắt giảm, đình hoãn các dự án đầu tư chưa thực sự cấp bách và dự án đầu
tư không hiệu quả; không tăng chi ngoài dự toán, dành nguồn kinh phí cho đảm bảo an sinh xã hội; xem xét điều chỉnh giảm mức thuế xuất khẩu, nhập khẩu nhằm ổn định thị trường, hạn chế nhập siêu Thâm hụt ngân sách năm 2008 ở mức khoảng 4,5% so với GDP
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái, kinh tế trong nước đang đối mặt với nhiều khó khăn và chịu ảnh hưởng sâu sắc vì thị trường Việt Nam có độ mở tương đối cao Sau khi khủng hoảng nổ ra, thị trường xuất khẩu và đầu tư giảm sút đột ngột, nền kinh
tế lập tức rơi vào suy giảm, từ mức tăng trưởng trên 7% (năm 2008) xuống còn 3,1% vào quý I-2009 Giá một số mặt hàng xuất khẩu chính giảm mạnh Kinh tế rơi vào khó khăn, kèm theo đó, trong năm 2008 và 2009, thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra với mức độ lớn Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, lạm phát tăng, thất nghiệp cao…Các doanh nghiệp rơi vào tình trạng suy kiệt, một số doanh nghiệp bị phá sản
Trang 35Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp điều hành quyết liệt nhằm chặn đà suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô và hướng tới tăng trưởng bền vững Một trong những giải pháp chủ yếu là chính sách tài khóa mở rộng, gồm các gói kích cầu Gói thứ nhất được triển khai nhằm hỗ trợ lãi suất khoảng 17.000 tỉ đồng, gói kích cầu thứ hai, với tổng nguồn vốn khoảng 8 tỉ USD, hỗ trợ lãi suất trong trong trung và dài hạn nhằm kích cầu đầu tư, phát triển sản xuất Ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô và tạo việc làm, đây
là hai điều quan trọng nhất thể hiện khá rõ vai trò của Nhà nước thông qua các gói kích cầu Việc thực hiện một cách linh hoạt và đồng bộ các chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác đã giúp nền kinh tế Việt Nam vượt qua khủng hoảng và tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 đạt 5,3%, tỷ lệ lạm phát đã giảm còn 6,88% (từ 23% năm 2008) Thâm hụt ngân sách trong năm 2009 lên đến gần 7% so với GDP
Thâm hụt tài khoản vãng lai năm 2008 tăng lên đến 11,92% so với GDP Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu năm 2007 đã làm cho luồng vốn vào Việt Nam giảm mạnh, thoái đầu tư và rút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tạo áp lực tăng thâm hụt tài khoản vãng lai Thâm hụt tài khoản vãng lai năm 2009 giảm còn 7,1 tỷ USD, chiếm 7,8% GDP
Năm 2010 thâm hụt ngân sách giảm còn khoảng 6% Thu ngân sách đạt 520.000 tỷ đồng, tăng 17,6% so với năm 2009 Tổng chi ngân sách khoảng 637.000 tỷ đồng, tăng 9% so với năm 2009 Bội chi ngân sách có giảm so với năm 2009 nhưng vẫn còn ở mức cao (chưa về mức 5% như đã duy trì trong nhiều năm) và là một trong những nhân
tố góp phần làm gia tăng lạm phát Xuất khẩu năm 2010 tăng là do sự đóng góp lớn của mặt hàng công nghiệp chế biến cộng với sự phục hồi của nền kinh tế thế giới làm cho xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản được lợi về giá
Tài khoản vãng lai của Việt Nam được chiếm phần lớn bởi cán cân thương mại Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại lớn ở Việt Nam bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu cho thấy hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam không có gì nổi trội so với các quốc gia trong khu vực Có rất nhiều mặt hàng trong nhóm hàng công
Trang 36nghiêp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, hơn nữa phải nhập khẩu nguyên liệu, nhập khẩu dây chuyền sản xuất Tổng giá trị nhập khẩu ngày càng gia tăng và nhập khẩu thuộc nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm tỷ trọng rất lớn, trung bình khoảng 92% tổng giá trị nhập khẩu, 8% còn lại chủ yếu là hàng tiêu dùng Trong nhóm hàng tư liệu sản xuất thì nhóm hàng máy móc thiết bị chiếm khoảng 29% tổng giá trị nhập khẩu Ngoài ra, lộ trình tự do hoá thương mại của Việt Nam kể từ năm 2007 - năm Việt Nam trở thành thành viên WTO đã thu hút một nguồn vốn FDI khá lớn hàng năm và kèm theo đó là nhu cầu nhập khẩu trang thiết bị, dây chuyền sản xuất phục vụ đầu tư Đó chính là một
số nguyên nhân gây thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa, gây áp lượng lên thâm hụt tài khoản vãng lai
Hình 2.3: Thâm hụt ngân sách, thâm hụt tài khoản vãng lai giai đoạn 1990-2010
Trang 37Thâm hụt ngân sách / GDP
Thâm hụt tài khoản vãng lai/GDP
Nguồn: Bộ Tài chính, IMF
Và một nguyên nhân làm thâm hụt tài khoản vãng lai mà chúng tôi nói đến ở đây đó chính là thâm hụt ngân sách Nhà nước Hình 2.3 thể hiện mức thâm hụt ngân sách và thâm hụt vãng lai trong giai đoạn 1990-2010 Qua phân tích thực trạng ngân sách Nhà nước và tài khoản vãng lai trong thời gian từ 1991-2010, tài khoản vãng lai biến động mạnh hơn so với ngân sách Chính phủ, tuy nhiên nhìn vào hình 2.3 chúng ta có thể thấy được tương quan giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai với biến trễ khoảng gần hai năm Vậy liệu rằng thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở Việt Nam có thật sự tồn tại mối quan hệ với nhau hay không Chúng tôi tiến hành thực hiện kiểm định mối quan hệ này
Trang 383 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (METHODOLOGY AND DATA)
3.1 Phương pháp nghiên cứu:
Sự xuất hiện của hiện tượng thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách ở nhiều nước đã thu hút được sự chú ý ngày càng tăng về vấn đề thâm hụt kép Theo Abell năm
1990, Ibrahim và Kumah năm (1996), lãi suất và tỷ giá cũng đóng vai trò quan trọng trong kênh mà thông qua đó thâm hụt ngân sách ảnh hưởng đến thâm hụt tài khoản vãng lai Theo đánh giá của Lau, Evan và các công sự (2006) từ các nghiên cứu về thâm hụt kép trong hai thập kỷ qua, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các biến số tài chính như lãi suất và tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ với thâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai, và hầu hết các nghiên cứu trước đó đã bỏ qua vai trò của hai biến tài chính này trong việc làm cầu nối liên kết giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai Lau và Evan đã tiến hành kiểm định giả thuyết thâm hụt kép bằng nghiên cứu thực nghiệm tại các nước thuộc khu vực Đông và Nam Á: Malaysia, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Mianma, Philipin, Nepal, Sri Lanka Tác giả đã tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai thông qua ba bước: kiểm định tính dừng, kiểm định tính đồng liên kết và kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger, với các biến được đưa vào mô hình là thâm hụt tài khoản vãng lai, thâm hụt ngân sách, tỷ giá hối đoái danh nghĩa so với USD và lãi suất trong ngắn hạn, được thống kê theo quý Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ trực tiếp
và gián tiếp giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai Đầu tiên, tác giả thấy rằng thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai có mối quan hệ trực tiếp với nhau, và gián tiếp thông qua lãi suất và tỷ giá hối đoái, thứ hai, tác giả cho thấy rằng những biến kinh tế này tồn tại mối quan hệ như một vòng luẩn quẩn Với các nước thuộc khu vực Đông và Nam Á có nền kinh tế mở, theo chúng tôi thì có thể áp dụng mô hình kiểm định này ở Việt Nam
Dựa trên phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu của tác giả Lau, Evan và các cộng sự (2006) như đã đề cập ở trên, chúng tôi tiến hành xem xét các yếu tố tác động đến cán
Trang 39cân tài khoản vãng lai gồm: thâm hụt ngân sách (BD), lãi suất (IR) và tỷ giá hối đoái (ER), trong đó chúng tôi có hiệu chỉnh biến tỷ giá hối đoái thành logarit cơ số tự nhiên của tỷ giá để chuỗi dữ liệu ổn định hơn
CAD = β1 + β2BDt + β3IRt + β4LNERt + Ut
Trong đó:
- Biến thâm hụt tài khoản vãng lai CAD – biến phụ thuộc, được đo lường bằng tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai so với GDP, giá trị dương thể hiện thâm hụt tài khoản vãng lai, giá trị âm thể hiện thặng dư trong tài khoản vãng lai
- Biến thâm hụt ngân sách BD – biến độc lập, được đo lường bằng tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP, giá trị âm thể hiện thặng dư trong ngân sách, giá trị dương thể hiện thâm hụt ngân sách
- Biến lãi suất ngắn hạn IR – biến độc lập
- Biến tỷ giá hối đoái ER – biến độc lập, vì đồng USD chiếm phần lớn trong các giao dịch quốc tế của Việt Nam nên chúng tôi chọn tỷ giá USD/VND làm tỷ giá đại diện cho biến ER Và để biến ER là ổn định hơn, chúng tôi đo lường biến ER bằng cách tính Logarit cơ số tự nhiên của ER hay là biến LNER
Phương pháp ước lượng:
Dựa trên phương pháp ước lượng của Lau, Evan và các cộng sự (2006), chúng tôi tiến hành kiểm định tính dừng, kiểm định đồng liên kết và kiểm định nhân quả Granger Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thêm vào kiểm định VECM để kiểm định mối quan hệ trong ngắn hạn của các biến
Bước 1: Vì CAD, BD, IR, LNER là các chuỗi thời gian, chuỗi số lấy theo thời gian của
những đại lượng kinh tế còn nhiều biến động nên thường có nghiệm đơn vị (tức chuỗi không dừ ng), do đó chúng tôi tiến hành kiểm định tính dừng của các biến (Unit Root Test) bằng kiểm định ADF (Augmented Dickey – Fuller), nếu các biến là không dừng, tiếp tục lấy sai phân cho đến khi chuỗi dừng trước khi đưa vào mô hình thực nghiệm
Trang 40Bước 2: Giữa các chuỗi không dừng có thể tồn tại mối quan hệ đồng liên kết, chúng tôi
tiến hành kiểm định đồng liên kết giữa các biến, sử dụng kiểm định Engle – Granger và kiểm định Johansen Nếu kết quả kiểm định là tồn tại đồng liên kết giữa các biến, nghĩa
là có mối quan hệ trong dài hạn giữa biến phụ thuộc là thâm hụt tài khoản vãng lai và biến độc lập là thâm hụt ngân sách, lãi suất và tỷ giá hối đoái Sau đó, chúng tôi tiến hành kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger giữa các biến để xem xét tồn tại hay không sự tác động qua lại giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai
Bước 3: Nếu các chuỗi là không dừng và có tính đồng liên kết, chúng tôi tiếp tục kiểm
định mối quan hệ trong ngắn hạn giữa các biến, sử dụng mô hình VECM Sau khi đã ước lượng mô hình thì ta tiếp tục kiểm định sự phù hợp của mô hình bằng cách kiểm định phần dư
Để thống nhất trong việc tính toán, tất cả dữ liệu được đưa vào bài nghiên cứu của chúng tôi được tính bằng VND, số liệu về thâm hụt ngân sách được chuyển đổi sang VND theo tỷ giá USD/VND tương ứng