DANH MUC̣ BẢ NG VÀ HÌNH Bảng 1: Cán cân vãng lai với tiết kiệm và đầu tưBảng 2: Cán cân vãng lai với xuất nhập khẩuBảng 3: Cán cân vãng lai với tài sản nước ngoài ròngBảng 4: Cán cân vãng lai với sự thay đổi tài sản nước ngoài ròng Bảng 5: Cán cân vãng lai với bội chi ngân sáchBảng 6: Cán cân vãng lai với thu nhập bình quân đầu người Bảng 7: Cán cân vãng lai với tốc độ tăng trưởngBảng 8: Cán cân vãng lai với dân số phụ thuộcBảng 9: Cán cân vãng lai với giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán Bảng 10: Cán cân vãng lai với tổng giá trị cổ phiếu giao dịchBảng 11: Cán cân vãng lai với độ sâu tài chính Bảng 12: Tiết kiêm với độ sâu tài chínhBảng 13: Đầu tư với độ sâu tài chínhBảng 14: Cán cân vãng lai với độ mở tài chính Bảng 15: Tiết kiệm với độ mở tài chínhBảng 16: Đầu tư với với độ mở tài chính Bảng 17: Mô hình đa biến 1Bảng 18: Mô hình đa biến 1 có thêm biến khủng hoảng Bảng 19: Mô hình đa biến 2Bảng 20: Mô hình đa biến 2 có thêm biến khủng hoảng Bảng 21: Tác động của các biến lên tiết kiệm và đầu tư Bảng 22: Dữ liệu cho mô hìnhHình 1: Tài khoản vãng lai Việt Nam (% trên GDP) giai đoạn 1990-2010Hình 2: Tài khoản vãng lai vàtài sản nước ngoài ròngHình 3: Tài khoản vãng lai với thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng Hình 4: Tài khoản vãng lai với sự phát triển thị trường chứng khoán.Hình 5: Tài khoản vãng lai với độ mở thương mại, độ mở và độ sâu tài chính DANH MUC̣ BIẾ N BiếnNguồnGiải thíchNFAIMFTỉ lệ tài sản nước ngoài ròng trên GDPGOVBGDPBộtàichínhTỷ lệ cân đối ngân sách Chính phủ trên GDPRELYIMFTỷ lệ thu nhập bình quân đầu người trên GDP tínhtheo PPPYGRAVGIMFTốc độ tăng trưởng GDPRELDEPYWorld BankTỷ lệ thanh niên phụ thuộcRELDEPOWorld BankTỷ lệ người già phụ thuộcOPENWorld BankTỉ lệ xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, dịch vụtrên GDPSMTVStandard & PoorTổng giá trị cổ phiếu giao dịch trên GDPSMTOStandard & PoorTỷ lệ doanh thu thị trường chứng khoánSMKCStandard & PoorGiá trị vốn hoá thị trường chứng khoán trên GDPODAOAROECDViện trợ và tài trợ chính thức tỷ lệ so với GDPFDEEPIMFM2 trên GDPKAOPENChinn và ItoĐộ mở tài chínhCRISISBáo cáo Triểnvọng kinh tế Đông Nam Á 2010, OECDĐại diện khủnghoảng TÓM TẮT ĐỀ TÀI1.Lý do chọn đề tàiTrong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động, hiện trạng thâm hụt cán cân thương mại và tài khoản vãng lai lớn và kéo dài của Việt Nam đã gây sức ép không nhỏ đến cán cân thanh toán quốc tế về khả năng chống đỡ các cú sốc bên ngoài và tính bền vững của nền kinh tế, từ đó làm dấy lên những quan ngại cho rằng việc nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai là đáng lo ngại.Cán cân vãng lai là chỉ số quan trọng phản ánh môi trường kinh tế vĩ mô của một quốc gia, cụ thể là tình hình của khu vực kinh tế đối ngoại. Với một nước có tình trạng cán cân vãng lai thâm hụt lớn và kéo dài, những biến động của khu vực kinh tế đối ngoại sẽ tạo ra những tác động nhất định đối với khu vực tài chính tiền tệ. Theo kinh nghiệm quốc tế cũng như lý thuyết kinh tế, khi thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và kéo dài mà không có các biện pháp cần thiết (như tăng lãi suất, cắt giảm chi tiêu chính phủ) thì nền kinh tế có thể sẽ gặp phải nguy cơ khủng hoảng tiền tệ.Theo IMF, trong năm 2008 thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam là gần 12% của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), năm 2010 thâm hụt tài khoản vãng lai đã được cải thiện còn xấp xỉ 4,3 tỷ USD, tương đương 4,03% GDP. Với Việt Nam là một nước có tốc độ tăng trưởng cao, thâm hụt tài khoản vãng lai là điều hết sức bình thường, và thậm chí là cần thiết để có thể tận dụng được nguồn vốn từ bên ngoài nhằm phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, nếu con số thâm hụt chỉ ở mức vừa phải (thông thường là dưới 5%), thì không đáng lo ngại nhưng khi thâm hụt tài khoản vãng lai vượt ngưỡng này sẽ gây ra rủi ro cho nền kinh tế.Cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây đã một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu biết rõ ràng về các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai của một quốc gia. Tài khoản vãng lai được sử dụng như là một trong những chỉ số chính hàng đầu thể hiện sức khỏe của một nền kinh tế và là một phần trong quá trình ra quyết định của các nhà hoạch định chính sách, tuy nhiên hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động lên tài khoản vãng lai ở Việt Nam. Đề tài nghiên cứ u “ Nhâṇ diêṇ c ác nhân tố ảnh hưởng tới cán cân tài khoản vãng lai trong trung và dài haṇ : Trườ ng hơp̣ Viêṭ Nam ” mà chú ng chú ng chúng tôi thưc̣ hiêṇ ở đây phần nào giú p làm rõ và giải t hích một số vấn đề còn gây nhiều tranh cãi về cán cân tài khoản vañ g lai đã đề câp̣ phía trên . 2.Xác định vấn đề nghiên cứuVới động cơ điều tra các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai trong trung và dài hạn để làm rõ đâu là nguyên nhân sâu xa tác động đến trạng thái của cán cân vãng lai và từ đó đưa ra giải pháp cải thiện, chúng chúng tôi tập trung nghiên cứu cán cân tài khoản vãng lai ở Việt Nam trong giai đoạn 1990-2010 bằng cách sử dụng một mô hình hồi quy gồm 11 yếu tố mà theo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây là có mức độ ảnh hưởng đáng kể đến cán cân tài khoản vãng lai ở các nước trên thế giới đặc biệt là khu vực các nước đang phát triển Châu Á.3.Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứuQua nghiên cứu này, chúng chúng chúng tôi cung cấp một cuộc điều tra thực nghiệm về các yếu tố quyết định đến tài khoản vãng lai trong trung và dài hạn cho Việt Nam, sử dụng cách tiếp cận dựa trên việc nhấn mạnh các yếu tố kinh tế vĩ mô trong đó yếu tố tiết kiệm và đầu tư dài hạn đóng vai trò quyết định, đồng thời bài nghiên cứu cũng sử dụng một mô hình kiểm soátcác yếu tố liên quan đến sự phát triển thể chế và khủng hoảng tài chính. Bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy OLS để mô tả sự biến đổi của tài khoản vãng lai theo thời gian (giai đoạn 1990-2010), chúng tôi thấy rằng tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai Việt Nam có liên quan với thâm hụt cán cân thương mại, chênh lệch tài sản ròng nước ngoài giảm, thu nhập đầu người và tốc độ tăng trưởng tăng, thị trường chứng khoán phát triển, tăng bội chi ngân sách chính phủ, độ sâu tài chính giảm, tăng độ mở tài chính và độ mở thương mại.Trong nghiên cứu này chúng tôi lần lượt trả lời những câu hỏi sau: •Nhân tố nào tác động lên cán cân tài khoản vãng lai trong trung haṇ , tác động với chiều hướng nào và mức độ bao nhiêu?•Nhân tố nào tác động lên cán cân tài khoản vãng lai trong dài haṇchiều hướng nào và mức độ bao nhiêu? , tác động với •Chúng ta có những giải pháp nào để nào để duy trì tài khoản vãng lai ở mức an toàn?4.Phương pháp nghiên cứuTrong bài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp định tính, định lượng, thống kê và hồi quy phân tích để làm rõ những vấn đề nêu trên. Về măṭ định lượng bằng mô hình hồi quy OLS dựa trên phương pháp tiếp cận của Chinn và Prasad (2003) với bộ số liệu mới cho Việt Nam và bổ sung thêm các biến đại diện cho khủng hoảng và thể chế. Việc bổ sung thêm biến thể chế và đại diện khủng hoảng là dựa theo nghiên cứu của Chinn và Ito (2005) và Joseph W. Gruber và Steven B. Kamin (2005) bởi các biến này có tác động đến tài khoản vãng lai và làm tăng ý nghĩa giải thích của mô hình như chúng tôi đã trình bày ở phần các nghiên cứu trước đây.Mẫu của chúng tôi bao gồm các quan sát năm cho mỗi biến trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2010. Quan tâm chính là các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai trong trung và dài hạn. Phương pháp phân tích chính là hồi quy OLS với tỷ lệ tài khoản vãng lai trên GDP là biến phụ thuộc.5.Nội dung nghiên cứu Nôị dung nghiên cứ u chính trong bài nghiên cứ u củ a chú ng tôi đươc̣ tó m tắt như sau : Mở đầu chú ng tôi muố n đề câp̣ đến môṭ số nghiên cứ u lý thuyết và thưc̣ nghiêṃ trướ c đây về các nhân tố ảnh hưở ng đến cá n cân tài khoản vañ g lai , mứ c đô ̣ và chiều hướ ng củ a tác đôṇ g đó . Theo Bernanke (2007) cũng như lý thuyết kinh tế thì thâm hụt tài khoản vãng lai chính bằng sự chênh lệch giữa đầu tư trong nước và tiết kiệm trong nước. Như vậy, ở mức độ cơ bản nhất ta cần xem xét, hai vấn đề đó là đầu tư và tiết kiệm trong nước. Chúng ta sửdụng một đẳng thức cơ bản trong kinh tế học nói lên quan hệ giữa tài khoản vãng lai, mứctiết kiệm và đầu tư như sau:
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NHẬN DIỆN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CÁN CÂN TÀI KHOẢN VÃNG LAI TRONG TRUNG VÀ DÀI HẠN TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2012
Trang 2DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 1: Cán cân vãng lai với tiết kiệm và đầu tư
Bảng 2: Cán cân vãng lai với xuất nhập khẩu
Bảng 3: Cán cân vãng lai với tài sản nước ngoài ròng
Bảng 4: Cán cân vãng lai với sự thay đổi tài sản nước ngoài ròng
Bảng 5: Cán cân vãng lai với bội chi ngân sách
Bảng 6: Cán cân vãng lai với thu nhập bình quân đầu người
Bảng 7: Cán cân vãng lai với tốc độ tăng trưởng
Bảng 8: Cán cân vãng lai với dân số phụ thuộc
Bảng 9: Cán cân vãng lai với giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán
Bảng 10: Cán cân vãng lai với tổng giá trị cổ phiếu giao dịch
Bảng 11: Cán cân vãng lai với độ sâu tài chính
Bảng 12: Tiết kiêm với độ sâu tài chính
Bảng 13: Đầu tư với độ sâu tài chính
Bảng 14: Cán cân vãng lai với độ mở tài chính
Bảng 15: Tiết kiệm với độ mở tài chính
Bảng 16: Đầu tư với với độ mở tài chính
Bảng 17: Mô hình đa biến 1
Bảng 18: Mô hình đa biến 1 có thêm biến khủng hoảng
Bảng 19: Mô hình đa biến 2
Bảng 20: Mô hình đa biến 2 có thêm biến khủng hoảng
Bảng 21: Tác động của các biến lên tiết kiệm và đầu tư
Bảng 22: Dữ liệu cho mô hình
Hình 1: Tài khoản vãng lai Việt Nam (% trên GDP) giai đoạn 1990-2010
Hình 2: Tài khoản vãng lai vàtài sản nước ngoài ròng
Hình 3: Tài khoản vãng lai với thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng Hình 4: Tài khoản vãng lai với sự phát triển thị trường chứng khoán
Hình 5: Tài khoản vãng lai với độ mở thương mại, độ mở và độ sâu tài chính
Trang 3DANH MU ̣C BIẾN
GOVBGDP Bộtàichính Tỷ lệ cân đối ngân sách Chính phủ trên GDP
RELY IMF Tỷ lệ thu nhập bình quân đầu người trên GDP tính
theo PPP
RELDEPY World Bank Tỷ lệ thanh niên phụ thuộc
RELDEPO World Bank Tỷ lệ người già phụ thuộc
OPEN World Bank Tỉ lệ xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ
trên GDP
SMTV Standard & Poor Tổng giá trị cổ phiếu giao dịch trên GDP
SMTO Standard & Poor Tỷ lệ doanh thu thị trường chứng khoán
SMKC Standard & Poor Giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán trên GDP ODAOAR OECD Viện trợ và tài trợ chính thức tỷ lệ so với GDP
KAOPEN Chinn và Ito Độ mở tài chính
CRISIS
Báo cáo Triển vọng kinh tế Đông Nam Á 2010, OECD
Đại diện khủnghoảng
Trang 4TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động, hiện trạng thâm hụt cán cân thương mại và tài khoản vãng lai lớn và kéo dài của Việt Nam đã gây sức ép không nhỏ đến cán cân thanh toán quốc tế về khả năng chống đỡ các cú sốc bên ngoài và tính bền vững của nền kinh tế, từ đó làm dấy lên những quan ngại cho rằng việc nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai là đáng lo ngại
Cán cân vãng lai là chỉ số quan trọng phản ánh môi trường kinh tế vĩ mô của một quốc gia,
cụ thể là tình hình của khu vực kinh tế đối ngoại Với một nước có tình trạng cán cân vãng lai thâm hụt lớn và kéo dài, những biến động của khu vực kinh tế đối ngoại sẽ tạo ra những tác động nhất định đối với khu vực tài chính tiền tệ Theo kinh nghiệm quốc tế cũng như lý thuyết kinh tế, khi thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và kéo dài mà không có các biện pháp cần thiết (như tăng lãi suất, cắt giảm chi tiêu chính phủ) thì nền kinh tế có thể sẽ gặp phải nguy cơ khủng hoảng tiền tệ
Theo IMF, trong năm 2008 thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam là gần 12% của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), năm 2010 thâm hụt tài khoản vãng lai đã được cải thiện còn xấp
xỉ 4,3 tỷ USD, tương đương 4,03% GDP Với Việt Nam là một nước có tốc độ tăng trưởng cao, thâm hụt tài khoản vãng lai là điều hết sức bình thường, và thậm chí là cần thiết để có thể tận dụng được nguồn vốn từ bên ngoài nhằm phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, nếu con số thâm hụt chỉ ở mức vừa phải (thông thường là dưới 5%), thì không đáng lo ngại nhưng khi thâm hụt tài khoản vãng lai vượt ngưỡng này sẽ gây ra rủi ro cho nền kinh tế
Cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây đã một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu biết rõ ràng về các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai của một quốc gia Tài khoản vãng lai được
sử dụng như là một trong những chỉ số chính hàng đầu thể hiện sức khỏe của một nền kinh
tế và là một phần trong quá trình ra quyết định của các nhà hoạch định chính sách, tuy nhiên hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động lên tài khoản
Trang 5vãng lai ở Việt Nam Đề tài nghiên cứu “ Nhâ ̣n diê ̣n c ác nhân tố ảnh hưởng tới cán cân tài khoản vãng lai trong trung và dài ha ̣n : Trường hơ ̣p Viê ̣t Nam ” mà chúng chúng chúng tôi thực hiê ̣n ở đây phần nào giúp làm rõ và giải t hích một số vấn đề còn gây nhiều tranh cãi về cán cân tài khoản vãng lai đã đề câ ̣p phía trên
2 Xác định vấn đề nghiên cứu
Với động cơ điều tra các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai trong trung và dài hạn để làm
rõ đâu là nguyên nhân sâu xa tác động đến trạng thái của cán cân vãng lai và từ đó đưa ra giải pháp cải thiện, chúng chúng tôi tập trung nghiên cứu cán cân tài khoản vãng lai ở Việt Nam trong giai đoạn 1990-2010 bằng cách sử dụng một mô hình hồi quy gồm 11 yếu tố
mà theo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây là có mức độ ảnh hưởng đáng kể đến cán cân tài khoản vãng lai ở các nước trên thế giới đặc biệt là khu vực các nước đang phát triển Châu Á
3 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
Qua nghiên cứu này, chúng chúng chúng tôi cung cấp một cuộc điều tra thực nghiệm về các yếu tố quyết định đến tài khoản vãng lai trong trung và dài hạn cho Việt Nam, sử dụng cách tiếp cận dựa trên việc nhấn mạnh các yếu tố kinh tế vĩ mô trong đó yếu tố tiết kiệm và đầu tư dài hạn đóng vai trò quyết định, đồng thời bài nghiên cứu cũng sử dụng một mô hình kiểm soátcác yếu tố liên quan đến sự phát triển thể chế và khủng hoảng tài chính Bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy OLS để mô tả sự biến đổi của tài khoản vãng lai theo thời gian (giai đoạn 1990-2010), chúng tôi thấy rằng tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai Việt Nam có liên quan với thâm hụt cán cân thương mại, chênh lệch tài sản ròng nước ngoài giảm, thu nhập đầu người và tốc độ tăng trưởng tăng, thị trường chứng khoán phát triển, tăng bội chi ngân sách chính phủ, độ sâu tài chính giảm, tăng độ mở tài chính và
độ mở thương mại
Trong nghiên cứu này chúng tôi lần lượt trả lời những câu hỏi sau:
Nhân tố nào tác động lên cán cân tài khoản vãng lai trong trung hạn , tác động với
Trang 6chiều hướng nào và mức độ bao nhiêu?
Nhân tố nào tác động lên cán cân tài khoản vãng lai trong dài ha ̣n , tác động với chiều hướng nào và mức độ bao nhiêu?
Chúng ta có những giải pháp nào để nào để duy trì tài khoản vãng lai ở mức an toàn?
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp định tính, định lượng, thống kê
và hồi quy phân tích để làm rõ những vấn đề nêu trên
Về mặt định lượng bằng mô hình hồi quy OLS dựa trên phương pháp tiếp cận của Chinn
và Prasad (2003) với bộ số liệu mới cho Việt Nam và bổ sung thêm các biến đại diện cho khủng hoảng và thể chế Việc bổ sung thêm biến thể chế và đại diện khủng hoảng là dựa theo nghiên cứu của Chinn và Ito (2005) và Joseph W Gruber và Steven B Kamin (2005) bởi các biến này có tác động đến tài khoản vãng lai và làm tăng ý nghĩa giải thích của mô hình như chúng tôi đã trình bày ở phần các nghiên cứu trước đây
Mẫu của chúng tôi bao gồm các quan sát năm cho mỗi biến trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2010 Quan tâm chính là các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai trong trung và dài hạn Phương pháp phân tích chính là hồi quy OLS với tỷ lệ tài khoản vãng lai trên GDP là biến phụ thuộc
5 Nội dung nghiên cứu
Nô ̣i dung nghiên cứu chính trong bài nghiên cứu của chúng tôi được tóm tắt như sau: Mở đầu chúng tôi muốn đề câ ̣p đến mô ̣t số nghiên cứu lý thuyết và thực nghiê ̣m trước đây về các nhân tố ảnh hưởng đến cá n cân tài khoản vãng lai , mức đô ̣ và chiều hướng của tác
đô ̣ng đó Theo Bernanke (2007) cũng như lý thuyết kinh tế thì thâm hụt tài khoản vãng lai chính bằng sự chênh lệch giữa đầu tư trong nước và tiết kiệm trong nước Như vậy, ở mức
độ cơ bản nhất ta cần xem xét, hai vấn đề đó là đầu tư và tiết kiệm trong nước Chúng ta sử dụng một đẳng thức cơ bản trong kinh tế học nói lên quan hệ giữa tài khoản vãng lai, mức tiết kiệm và đầu tư như sau:
CA = S – I (1)
Trang 7Trong đó CA (current account) là mức thâm hụt hoặc thặng dư tài khoản vãng lai, S (domestic savings) là mức tiết kiệm trong nền kinh tế và I (investment) là đầu tư Đẳng thức cơ bản này cho thấy rất rõ mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoản vãng lai với mức tiết kiệm và đầu tư trong nước
Lý thuyết vòng đời tiết kiệm của Franco Modigliani cho rằng các nước có tỷ lệ tăng trưởng dân số và tăng trưởng năng suất cao thì có tỷ lệ tiết kiệm cao, vì ở các quốc gia này tiết kiệm của các thế hệ trẻ tương đối lớn để dành dụm tiền tiêu xài lúc tuổi già
Cách tiếp cận của Chinn và Prasad (2003) cũng đi từ quan điểm cân bằng tiết kiệm - đầu tư dài hạn, với vai trò của các yếu tố quyết định tiết kiệm và đầu tư trung hạn được nhấn mạnh Chinn và Prasad đã phát triển một cơ sở dữ liệu đa quốc gia lớn cho một khoảng thời gian tương đối dài và ước lượng một loạt các hồi quy liên quan tới các yếu tố quyết định bao gồm: thâm hụt ngân sách, tài sản ròng nước ngoài, thu nhập bình quân đầu người, tăng trưởng sản lượng, các biến nhân khẩu học, biến động thương mại, và độ mở thương mại Kết quả thu được từ mô hình cho thấy cán cân tài khoản vãng lai tương quan dương (thuận chiều) với cân đối ngân sách chính phủ và tài sản ròng nước ngoài Ở các nước phát triển, các thước đo độ sâu tài chính có tương quan dương trong khi chỉ số độ mở thương mại tương quan âm với tài khoản vãng lai.Ở các nước đang phát triển, độ sâu tài chính tương quan âm với cả tiết kiệm khu vực công và tư nhân, tuy nhiên, nó thậm chí còn tương quan âm mạnh mẽ hơn nữa với đầu tư, có lẽ bởi sự vắng mặt của các thị trường vốn phát triển tốt
Joseph W Gruber và Steven B Kamin (2005) cũng đã tìm thấy một mô hình gồm các biến giải thích tương tự - yếu tố quyết định tài khoản vãng lai dựa trên cách tiếp cận của Chinn
& Prasad (2003) Việc tăng cường thêm một biến đại diện cho ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đã giải thích tốt sự thặng dư tài khoản vãng lai của các nước thị trường mới nổi châu Á và làm tăng đáng kể khả năng dự báo của mô hình Cuộc khủng hoảng tài chính ở các nước đang phát triển châu Á đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thặng dư, trực tiếp thông qua hạn chế chi tiêu trong nước, đặc biệt là đầu tư, và gián tiếp thông qua khuyến khích các cơ quan có thẩm quyền giữ cho tỷ giá hối đoái cạnh tranh
Chinn and Hiro Ito (2005) sử dụng một mô hình kiểm soát các yếu tố liên quan đến sự phát
Trang 8triển thể chế, kết quả thực nghiệm cho thấy rằng lập luận các thị trường tài chính càng phát triển thì quốc gia đó càng ít tiết kiệm là không phù hợp mà mối quan hệ này chỉ đúng cho các nước có hệ thống pháp lý phát triển và độ mở tài chính cao Đối với các nước kém phát triển và các nước thị trường mới nổi, ngược lại, sự phát triển tài chính cao hơn dẫn đến tiết kiệm cao hơn Sự tập trung vào sự phát triển thị trường chứng khoán cũng được thúc đẩy bởi lập luận của Clarida (2005a) Và thị trường chứng khoán càng phát triển thì các nước càng có nhiều khả năng thâm hụt tài khoản vãng lai
Tác động của các yếu tố trên có thể được tóm tắt ngắn gọn trong bảng sau:
Quan điểm1: Là 1 thành phần của CA Quan điểm2: dựa trên quan điểm của tiết kiệm và quan điểm của quốc gia con nợ
GOVBGDP - Bội chi S, I
RELY + Kinh tế phát triển xuất khẩu vốn
YGRAVG +/-
Quan điểm1: Kinh tế phát triển xuất khẩu vốn Quan điểm2: Tiềm năng thu nhập trong tương lai làm S, I
RELDEPO
Già: tiêu xài tiền tiết kiệm Trẻ: nhu cầu vốn và tiêu xài OPEN - Hấp dẫn vốn nước ngoài
SMTV
SMTO
SMKC
- Thị trường chứng khoán càng bùng nổ, càng nhiều khả năng
đất nước trải qua sự suy giảm trong tài khoản vãng lai ODAOAR + Cho phép quốc gia tài trợ cho thâm hụt lớn hơn
FDEEP +/- Quan điểm1: Tiết kiệm nhiều hơn ở các nước mới nổi
Quan điểm2: Giảm tiết kiệm cho phòng ngừa
KAOPEN +/- Quan điểm1: Tiết kiệm tăng
Quan điểm2: Dòng vốn chảy vào CRISIS Tăng ý nghĩa của mô hình
Trang 9Với
NFA IMF Tỉ lệ tài sản nước ngoài ròng trên GDP
GOVBGDP Bộtàichính Tỷ lệ cân đối ngân sách Chính phủ trên GDP
RELY IMF Tỷ lệ thu nhập bình quân đầu người trên GDP tính
theo PPP YGRAVG IMF Tốc độ tăng trưởng GDP
RELDEPY World Bank Tỷ lệ thanh niên phụ thuộc
RELDEPO World Bank Tỷ lệ người già phụ thuộc
OPEN World Bank Tỉ lệ xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ trên
GDP SMTV Standard & Poor Tổng giá trị cổ phiếu giao dịch trên GDP
SMTO Standard & Poor Tỷ lệ doanh thu thị trường chứng khoán
SMKC Standard & Poor Giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán trên GDP
ODAOAR OECD Viện trợ và tài trợ chính thức tỷ lệ so với GDP
KAOPEN Chinn và Ito Độ mở tài chính
CRISIS
Báo cáo Triển vọng kinh tế Đông Nam Á
2010, OECD
Đại diện khủng hoảng
Dựa trên những bài nghiên cứu này, chúng chúng tôi sử dụng các biến cân bằng tiết kiệm
và đầu tư, các nhân tố vĩ mô và thể chế như thâm hụt ngân sách, tài sản ròng nước ngoài, thu nhập bình quân đầu người, tăng trưởng sản lượng, các biến nhân khẩu học, độ mở thương mại, biến thể chế và khủng hoảng tài chính và phương pháp ước lượng là hồi quy OLS để hồi quy mô hình với số liệu của Việt Nam nhằm xem xét thực nghiệm các tác động của những biến này lên tài khoản vãng lai Việt Nam giai đoạn 1990-2010
Đầu tiên, chúng chúng tôi thực hiện kiểm định mô hình riêng cho từng biến để nhận diện
Trang 10và xem tác động cụ thể của chúng lên tài khoản vãng lai, sau đó một mô hình đa nhân tố tác động lên tài khoản vãng lai được xem xét trong hai trường hợp có và không có bổ sung biến đại diện khủng hoảng cho kết quả với mô hình hồi quy đơn biến như sau:
Trang 11Kết quả hồi quy trong mô hình đa biến
Sau khi lần lượt loại bỏ bớt các yếu tố không có tác động ý nghĩa lên tài khoản vãng lai Việt Nam trong mô hình đa nhân tố, chúng chúng tôi thu được một mô hình đa nhân tố có
ý nghĩa với R2 tương đối cao (mô hình 1) Các hệ số vẫn thể hiện mối tương quan như khi thực hiện mô hình hai nhân tố Ngoài ra, thú vị hơn trong mô hình đa nhân tố này thì biến
độ mở thương mại và biến thu nhập bình quân đầu người đã có tác động âm có ý nghĩa lên tài khoản vãng lai với hệ sốlần lượt là-0,13 và -1,13 trong khi chúng không thể hiện tác động có ý nghĩa này khi chỉ hồi quy đơn biến
Trang 12Tuy nhiên, mô hình này lại xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến giữa hai biến OPEN và FDEEP nên kết quả hồi quy có thể không còn chính xác, do đó để khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến chúng chúng tôi thực hiện loại bỏ bớt biến Với mô hình mới (mô hình 2) đã loại biến OPEN, mô hình đa nhân tố với tài khoản vãng lai là biến phụ thuộc đã khắc phục được đa cộng tuyến cũng như không xảy ra hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi, các hệ số có ý nghĩa thống kê cao Đồng thời, mô hình cũng đã xác nhận vai trò của việc xuất hiện thêm biến đại diện khủng hoảng làm tăng ý nghĩa cho mô hình, chúng tôi thực hiện hai kiểm định với mô hình không có và có biến CRISIS, kết quả R2 tăng từ 85% lên 90%
Thông qua bài nghiên cứu thực nghiệm này, chúng ta đã có cái nhìn rõ hơn về các nhân tố trực tiếp tác động đến cán cân tài khoản vãng lai trong giai đoạn những năm 1990-2010, các yếu tố không thể thiếu là xuất nhập khẩu, tỉ giá hối đoái, tiết kiệm và đầu tư trong nước, ngoài ra còn các biến vĩ mô khác như tài sản ròng nước ngoài, bội chi ngân sách, thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng, sự phát triển thị trường chứng khoán, độ sâu tài chính, độ mở tài chính và độ mở thương mại Cụ thể hơn, tài khoản vãng lai thâm hụt có liên quan với thâm hụt cán cân thương mại, chênh lệch tài sản ròng nước ngoài giảm, thu nhập đầu người và tốc độ tăng trưởng tăng, thị trường chứng khoán phát triển, tăng bội chi ngân sách chính phủ, độ sâu tài chính giảm, tăng độ mở tài chính và độ mở thương mại Nghiên cứu của chúng tôi cung cấp nhiều bằng chứng ủng hô ̣ q uan điểm cho rằng thâm hụt tài khoản vãng lai có thể được gây ra bởi các hoạt động kinh tế mạnh và một môi trường thể chế thân thiện được hỗ trợ bởi chính phủ Nghiên cứu này cũng xác định sự mất cân đối về kinh tế vĩ mô là yếu tố quyết định cơ bản dẫn đến tình hình cán cân thanh toán thâm hụt như hiện nay
Một trong những nguyên nhân khác mà chúng tôi chứng minh được đã gây ra thâm hụt tài khoản văng lai ở Việt Nam là do nhu cầu đầu tư tăng cao hơn mức tiết kiệm trong nền kinh
tế Nếu thâm hụt là do nhu cầu đầu tư vào xây dựng nhà xưởng, mua sắm công cụ sản xuất thì thâm hụt không phải là một vấn đề đáng lo ngại vì trong tương lai năng suất sẽ cao hơn, sản xuất hàng hóa nhiều hơn làm tăng xuất khẩu và cân bằng cán cân thương mại và tài khoản vãng lai Tuy nhiên, nếu nhu cầu đầu tư tăng cao là đổ vào các khu vực phi sản xuất thì lại đáng lo ngại vì khu vực này thường không làm tăng năng suất cũng như tạo ra các
Trang 13sản phẩm xuất khẩu Để giảm thâm hụt tài khoản vãng lai, chúng ta cần giảm nhu cầu đầu
tư trong nước cho các lĩnh vực phi sản xuất, điều này đặc biệt có ý nghĩa khi nền kinh tế phát triển quá nóng, trong dài hạn cần tăng hiệu quả đầu tư và chỉ số ICOR của nền kinh tế
Nguyên nhân chính yếu thứ hai gây ra hiện trạng thâm hụt cán cân thương mại là do năng lực sản xuất hàng xuất khẩu Việt Nam còn thấp so với khu vực, trong khi đó nhu cầu nhập khẩu để chế biến xuất khẩu với giá trị gia tăng thấp, nhu cầu nhập khẩu cho xây dựng cơ sở
hạ tầng làm cho tăng trưởng nhập khẩu luôn vượt quá tốc độ tăng trưởng xuất khẩu Để cải thiện tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai bắt nguồn từ thâm hụt cán cân thương mại, Việt Nam cần có nhiều biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh đối với hàng xuất khẩu Việt Nam, thay đổi cơ cấu chi tiêu từ hàng nhập khẩu sang hàng sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu và sử dụng các mặt hàng thay thế
Bên ca ̣nh đó, kết quả hồi quy còn cho thấy có nhiều nhân tố phu ̣ trợ khác có ảnh hưởng tới cân bằng cán cân tài khoản vãng lai Đầu tiên là v iệc thị trường chứng khoán tăng trưởng nóng trong giai đoạn vừa qua với lượng vốn đầu tư lớn được huy động, rõ ràng là mức đầu
tư của Việt Nam đã tăng lên rất nhiều, hệ quả tất yếu cũng là thâm hụt tài khoản vãng lai Bội chi ngân sách cũng là vấn đề cần được quan tâm đặc biệt là việc đầu tư công tràn lan không hiệu quả, để giảm thâm hụt cần thiết phải giảm bội chi ngân sách, biện pháp trong ngắn hạn là cắt giảm chi tiêu chính phủ ở cả chi thường xuyên và chi đầu tư cho các dự án không hiệu quả, tăng cường kiểm soát hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước Như kết quả hồi quy cho thấy, các nguồn vốn viện trợ và chuyển nhượng ròng góp phần giảm thâm hụt cán cân vãng lai do đó cần tăng cường thu hút các nguồn ODA trên cơ sở thận trọng và thu hút kiều hối Như vậy, viê ̣c chính phủ q uan tâm đến độ sâu tài chính và mức độ mở cửa hiện nay cũng là điều cần thiết để đảm bảo thâm hụt tài khoản vãng lai nằm trong mức giới hạn an toàn
Chúng tôi trình bày nô ̣i dung nêu trên của bài nghiên cứu theo kết cấu sau:
Phần 1: Giới thiệu tổng quan các nội dung chính của chuyên đề tốt nghiệp và các vấn đề nghiên cứu
Phần 2: Trình bày các nghiên cứu trước đây trên thế giới về lí thuyết cũng như các nghiên
Trang 14cứu thực nghiệm các yếu tố tác động đến tài khoản vãng lai
Phần 3: Dựa trên các nghiên cứu, tập trung giải thích các biến được lựa chọn cho mô hình
và lập mô hình hồi quy cho Việt Nam trong giai đoạn 1990-2010
Phần 4: Kết quả đạt được từ mô hình, từ đó giải thích sự mất cân bằng tài khoản vãng lai Việt Nam
Phần 5: Kết luận, tóm lại kết quả nghiên cứu, nêu các đề xuất, hạn chế của chuyên đề và hướng nghiên cứu tiếp theo
6 Ý nghĩa khoa học của công trình
Về mặt lý thuyết, bài nghiên cứu này đã hệ thống và phân tích được mối quan hệ giữa cán cân tài khoản vãng lai và các biến vĩ mô, biến thể chế, thị trường chứng khoán xem xét trong mối tương tác với độ sâu và độ mở của thị trường tài chính Bên cạnh đó chúng chúng chúng tôi cũng hệ thống lại chiều hướng tác động cụ thể của các nhân tố lên tài khoản vãng lai quốc gia thông qua tổng hợp một số nghiên cứu khoa học của các nhà kinh
tế trên thế giới
Về mặt thực tiễn, chúng tôi đã đi sâu phân tích và hồi quy tác động của các nhân tố lên tài khoản vãng lai về chiều hướng và mức độ tác động Từ đó, giúp các nhà hoạch định chính sách sẽ có cái nhìn đúng đắn hơn về tác động và con đường tác động để hoạch định một chính sách hợp lý giúp nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững, cán cân vãng lai ổn định
ở mức an toàn
7 Hạn chế và hướng phát triển của đề tài
Kết quả bước đầu của nghiên cứu đã đa ̣t được là nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân vãng lai để từ đó đề ra một vài hàm ý chính sách, tuy nhiên không thể tránh khỏi vài hạn chế còn tồn đọng, đáng kể nhất là số liệu thu thâ ̣p trong nghiên cứu chưa đủ dài với số quan sát không nhiều và không đầy đủ số liệu cho giai đoạn từ 1990-2010 Bên cạnh đó, do khó khăn trong việc tổng hợp số liệu nên không thể đưa hết các biến vào mô hình đa biến
để tìm ra mô hình tối ưu Trong đi ̣nh hướng phát triển nghiên cứu này trong tương lai gần
Trang 15nhất, chúng tôi tiến hành thu thập , xữ lý và đưa vào mô hì nh những biến còn la ̣i mà chúng tôi đã đề câ ̣p trên phần cơ sở lý thuyết mà chưa thực hiê ̣n được trong thi ̣ trường Viê ̣t Nam
để tăng độ chính xác và tin cậy của nghiên cứu này
NỘI DUNG NGHIÊN CƢ́U
1 GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động, hiện trạng thâm hụt cán cân thương mại và tài khoản vãng lai lớn và kéo dài của Việt Nam đã gây sức ép không nhỏ đến cán cân thanh toán quốc tế về khả năng chống đỡ các cú sốc bên ngoài và tính bền vững của nền kinh tế, từ đó làm dấy lên những quan ngại cho rằng việc nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai là đáng lo ngại
Cán cân vãng lai là chỉ số quan trọng phản ánh môi trường kinh tế vĩ mô của một quốc gia,
cụ thể là tình hình của khu vực kinh tế đối ngoại Với một nước có tình trạng cán cân vãng lai thâm hụt lớn và kéo dài, những biến động của khu vực kinh tế đối ngoại sẽ tạo ra những tác động nhất định đối với khu vực tài chính tiền tệ Theo kinh nghiệm quốc tế cũng như lý thuyết kinh tế, khi thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và kéo dài mà không có các biện pháp cần thiết (như tăng lãi suất, cắt giảm chi tiêu chính phủ) thì nền kinh tế có thể sẽ gặp phải nguy cơ khủng hoảng tiền tệ
Theo IMF, trong năm 2008 thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam là gần 12% của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), năm 2010 thâm hụt tài khoản vãng lai đã được cải thiện còn xấp
xỉ 4,3 tỷ USD, tương đương 4,03% GDP Với Việt Nam là một nước có tốc độ tăng trưởng cao, thâm hụt tài khoản vãng lai là điều hết sức bình thường, và thậm chí là cần thiết để có thể tận dụng được nguồn vốn từ bên ngoài nhằm phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, nếu con số thâm hụt chỉ ở mức vừa phải (thông thường là dưới 5%), thì không đáng lo ngại nhưng khi thâm hụt tài khoản vãng lai vượt ngưỡng này sẽ gây ra rủi ro cho nền kinh tế
Cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây đã một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết phải hiểu biết rõ ràng về các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai của một quốc gia Tài khoản vãng lai được
Trang 16sử dụng như là một trong những chỉ số chính hàng đầu thể hiện sức khỏe của một nền kinh
tế và là một phần trong quá trình ra quyết định của các nhà hoạch định chính sách, tuy nhiên hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động lên tài khoản vãng lai ở Việt Nam
Nhận thức được vấn đề này và sau quá trình tìm hiểu chú ng tôi đã thực hiê ̣n nghiên cứu
“Nhâ ̣n diê ̣n c ác nhân tố ảnh hưởng tới cán cân tài khoản vãng lai trong trung và dài ha ̣n : Trường hợp Viê ̣t Nam ” với mong muốn phần nào làm rõ những vấn đề nóng bỏng về cán cân tài khoản vãng lai đã đề câ ̣p ở trên Với động cơ điều tra các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai trong trung và dài hạn để làm rõ đâu là nguyên nhân sâu xa tác động đến trạng thái của cán cân vãng lai và từ đó đưa ra giải pháp cải thiện, chúng tôi tập trung nghiên cứu cán cân tài khoản vãng lai ở Việt Nam trong giai đoạn 1990-2010 bằng cách sử dụng một mô hình hồi quy gồm 11 yếu tố mà theo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
là có mức độ ảnh hưởng đáng kể đến cán cân tài khoản vãng lai ở các nước trên thế giới đặc biệt là khu vực các nước đang phát triển Châu Á
Chúng tôi trình bày bài nghiên cứu theo kết cấu như sau:
Phần 1: Giới thiệu tổng quan các nội dung chính của bài nghiên cứu và các vấn đề nghiên cứu
Phần 2: Trình bày các nghiên cứu trước đây trên thế giới về lí thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố tác động đến tài khoản vãng lai
Phần 3: Dựa trên các nghiên cứu, tập trung giải thích các biến được lựa chọn cho mô hình
và lập mô hình hồi quy cho Việt Nam trong giai đoạn 1990-2010, phương pháp tiếp cận của mô hình
Phần 4: Kết quả đạt được từ mô hình, từ đó giải thích sự mất cân bằng tài khoản vãng lai Việt Nam
Phần 5: Kết luận, tóm lại kết quả nghiên cứu, nêu các đề xuất, hạn chế của chuyên đề và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 171.1 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Các mô hình nghiên cứu về sự mất cân bằng tài khoản vãng lai toàn cầu được chú ý đáng
kể trong những năm gần đây Trong đó nổi bật nhất là thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ
đã tăng từ 125 tỷ USD vào năm 1995 đến 470,2 tỷ USD trong năm 2010, tương đương với
từ 1,5% GDP đến 3,2% GDP và cán cân tài khoản vãng lai tổng hợp của các nước đang phát triển đã chuyển sang thặng dư từ năm 2000 Trong khi đó cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam lại liên tục thâm hụt
Các mô hình hiện tại về sự mất cân bằng tài khoản vãng lai trên thế giới mâu thuẫn với quan điểm rằng các nền kinh tế công nghiệp trưởng thành sẽ xuất khẩu vốn sang cho các nước đang phát triển nghèo Bởi vì các nước đang phát triển có tỷ lệ lao động trên vốn cao hơn, nên về nguyên tắc năng suất biên của vốn cao hơn và thu hút vốn từ các nền kinh tế công nghiệp chảy vào (Helpman và Sibert, Richard S Eckaus).Do đó nhiều bài nghiên cứu thực nghiệm đã cố gắng đánh giá các nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai và giải thích sự mất cân bằng tài khoản vãng lai toàn cầu với những dự đoán khác nhau về các yếu tố quyết định và về mức độ của mối quan hệ giữa biến động tài khoản vãng lai và những yếu tố quyết định này
Theo Bernanke (2007) cũng như lý thuyết kinh tế thì thâm hụt tài khoản vãng lai chính bằng sự chênh lệch giữa đầu tư trong nước và tiết kiệm trong nước Như vậy, ở mức độ cơ bản nhất ta cần xem xét, hai vấn đề đó là đầu tư và tiết kiệm trong nước Chúng ta sử dụng một đẳng thức cơ bản trong kinh tế học nói lên quan hệ giữa tài khoản vãng lai, mức tiết kiệm và đầu tư như sau:
CA = S – I (1)
Trong đó CA (current account) là mức thâm hụt hoặc thặng dư tài khoản vãng lai, S (domestic savings) là mức tiết kiệm trong nền kinh tế và I (investment) là đầu tư Đẳng thức cơ bản này cho thấy rất rõ mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoản vãng lai với mức tiết kiệm và đầu tư trong nước
Một tập hợp nhiều bài nghiên cứu đã khám phá những yếu tố quyết định của tiết kiệm cho
Trang 18cả hai nhóm nước đang phát triển và nhóm nước công nghiệp (Schmidt-Hebbel, Webb và Corsetti 1992; Edwards 1995; Masson, Bayoumi và Samiei, 1997) hay riêng ở các nước đang phát triển (Serven 1998) Nhiều bài trong số đó đã cố gắng để liên kết tiết kiệm khu vực công và tư nhân với các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai bao gồm mức độ phát triển kinh tế, nhân khẩu học… Ghosh (1995), Ghosh và Ostry (1995) ứng dụng những hiểu biết bắt nguồn từ các tài liệu về tiêu dùng để lập mô hình chotài khoản vãng lai Tuy nhiên, những bài viết này tập trung chủ yếu vào các động lực trong ngắn hạn của tài khoản vãng lai
Razin (1995), Obstfeld và Rogoff (1998), đã cố gắng để mở rộng các mô hình tối ưu hóa với bối cảnh nền kinh tế mở Lý thuyết vòng đời tiết kiệm của Franco Modigliani cho rằng các nước có tỷ lệ tăng trưởng dân số và tăng trưởng năng suất cao thì có tỷ lệ tiết kiệm cao,
vì ở các quốc gia này tiết kiệm của các thế hệ trẻ tương đối lớn để dành dụm tiền tiêu xài lúc tuổi già.Jaume Ventura (2002) cũng đã xác định bất kể ước tính hồi quy bằng cách sử dụng dữ liệu giữa các nước hoặc trong một nước, một sự gia tăng trong việc tiết kiệm có liên quan với mức tăng trong tài khoản vãng lai, đầu tư và tài khoản vãng lai cũng có tương quan âm trong một nước
Cách tiếp cận của Chinn và Prasad (2003) cũng đi từ quan điểm cân bằng tiết kiệm - đầu tư dài hạn, với vai trò của các yếu tố quyết định tiết kiệm và đầu tư trung hạn được nhấn mạnh Chinn và Prasad đã phát triển một cơ sở dữ liệu đa quốc gia lớn cho một khoảng thời gian tương đối dài và ước lượng một loạt các hồi quy liên quan tới các yếu tố quyết định bao gồm: thâm hụt ngân sách, tài sản ròng nước ngoài, thu nhập bình quân đầu người, tăng trưởng sản lượng, các biến nhân khẩu học, biến động thương mại, và độ mở thương mại Kết quả thu được từ mô hình cho thấy cán cân tài khoản vãng lai tương quan dương (thuận chiều) với cân đối ngân sách chính phủ và tài sản ròng nước ngoài Ở các nước phát triển, các thước đo độ sâu tài chính có tương quan dương trong khi chỉ số độ mở thương mại tương quan âm với tài khoản vãng lai.Ở các nước đang phát triển, độ sâu tài chính tương quan âm với cả tiết kiệm khu vực công và tư nhân, tuy nhiên, nó thậm chí còn tương quan âm mạnh mẽ hơn nữa với đầu tư, có lẽ bởi sự vắng mặt của các thị trường vốn phát triển tốt Tác động mạnh mẽ và âm của độ sâu tài chính được tìm thấy bởi Blanchard và
Trang 19Giavazzi (2003) và Paolo Zanghieri (2004)
Joseph W Gruber và Steven B Kamin (2005) cũng đã tìm thấy một mô hình gồm các biến giải thích tương tự - yếu tố quyết định tài khoản vãng lai dựa trên cách tiếp cận của Chinn
& Prasad (2003) Việc tăng cường thêm một biến đại diện cho ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đã giải thích tốt sự thặng dư tài khoản vãng lai của các nước thị trường mới nổi châu Á và làm tăng đáng kể khả năng dự báo của mô hình Cuộc khủng hoảng tài chính ở các nước đang phát triển châu Á đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thặng dư, trực tiếp thông qua hạn chế chi tiêu trong nước, đặc biệt là đầu tư, và gián tiếp thông qua khuyến khích các cơ quan có thẩm quyền giữ cho tỷ giá hối đoái cạnh tranh.Tài khoản vãng lai càng lớn tương ứng với thu nhập bình quân đầu người cao hơn, thay đổi thấp hơn trong tăng trưởng, tài sản ròng nước ngoài cao hơn, tỉ lệ dân số phụ thuộc thấp hơn, và mức
độ độ mở của nền kinh tế cao hơn Kết quả này khác với Chinn & Prasad (2003).Joseph W Gruber và Steven B Kamin (2005)đã hỗ trợ cho giả thuyết về dư thừa tiết kiệm toàn cầu Quan điểm thâm hụt tài khoản vãng lai có thể được gây ra bởi các hoạt động kinh tế phát triển mạnh và một môi trường thể chế thân thiện cũng được hỗ trợ bởi nghiên cứu này
Chinn and Hiro Ito (2005) sử dụng một mô hình kiểm soát các yếu tố liên quan đến sự phát triển thể chế Sự phát triển thể chế là một yếu tố quyết định quan trọng đối với cán cân tài khoản vãng lai, nhưng chủ yếu là cho các nước có thu nhập cao Thú vị hơn, kết quả thực nghiệm cho thấy rằng lập luận các thị trường tài chính càng phát triển thì quốc gia đó càng
ít tiết kiệm là không phù hợp mà mối quan hệ này chỉ đúng cho các nước có hệ thống pháp
lý phát triển và độ mở tài chính cao Đối với các nước kém phát triển và các nước thị trường mới nổi, ngược lại, sự phát triển tài chính cao hơn dẫn đến tiết kiệm cao hơn Chinn and Hiro Ito (2005) chú ý đặc biệt đến hiệu quả của sự phát triển tài chính, được thúc đẩy bởi lập luận “độ sâu tài chính” là một trong những yếu tố quyết định quan trọng của tiết kiệm (Edwards, 1996) Sự tập trung vào sự phát triển thị trường chứng khoán cũng được thúc đẩy bởi lập luận của Clarida (2005a) Và thị trường chứng khoán càng phát triển thì các nước càng có nhiều khả năng thâm hụt tài khoản vãng lai
Ahmed (1987) và Yi (1993) tìm thấy một số bằng chứng của một mối quan hệ nghịch biến
Trang 20giữa sự tăng tạm thời trong chi tiêu của chính phủ và cán cân thương mại Sự gia tăng trong chi tiêu của chính phủ cho hàng hóa cuối cùng tương ứng với 1% GDP sẽtác động suy giảm trong cán cân tài khoản vãng lai gần 0,5% GDP, như trong Baxter (1995) Calderon và cộng sự (2002) nhận ra rằng độ mở thương mại có xu hướng tạo ra thâm hụt lớn hơn, có lẽ do là khu vực giao dịch lớn hơn cho thấy một khả năng trả nợ tốt hơn
Freund (2000) thấy rằng tài khoản vãng lai của hầu hết các nước công nghiệp đã phản ứng với những thay đổi trong tăng trưởng GDP thực, thâm hụt thường mở rộng trong giai đoạn tăng trưởng của một chu kỳ kinh doanh và thặng dư khi tăng trưởng GDP thực giảm Điều này xảy ra là do đầu tư và nhập khẩu tăng mạnh trong thời kì kinh tế bùng nổ
Tác động của sự thay đổi các nhân tố kinh tế lên tài khoản vãng lai có thể thay đổi tùy theo nguồn gốc, sự liên tục, và thời gian thay đổi của chúng Đối với nguồn gốc, những cú sốc năng suất toàn cầu có tác động lên thâm hụt tài khoản vãng lai nhỏ hơn so với cú sốc tại các quốc gia cụ thể (Glick và Rogoff (1995), Razin (1995)) Tương tự như vậy, sự liên tục của các cú sốc, dù là tạm thời hoặc vĩnh viễn, có thể dẫn đến phản ứng khác nhau trong tài khoản vãng lai Ví dụ, một cú sốc năng suất vĩnh viễn có thể mở rộng thâm hụt tài khoản vãng lai vì nó có thể tạo ra một sự đột biến trong đầu tư và suy giảm tiết kiệm Mặt khác, các cú sốc năng suất tạm thời có thể chuyển tài khoản vãng lai thành thặng dư, không có phản ứng của đầu tư với một cú sốc tạm thời (Glick và Rogoff (1995), Obstfeld và Rogoff (1995))
Nhìn chung, những bài nghiên cứu trước đây dù xem xét các yếu tố tác động đến tài khoản vãng lai trong ngắn hạn hay trung và dài hạn đều khẳng định vai trò của việc cân bằngtiết kiệm và đầu tư đối với cán cân này, ngoài ra các nhân tố vĩ mô và thể chế như thâm hụt ngân sách, tài sản ròng nước ngoài, thu nhập bình quân đầu người, tăng trưởng sản lượng, các biến nhân khẩu học, độ mở thương mại, biến thể chế và khủng hoảng tài chính đã được xem xét trong nhiều mô hình cho các nước phát triển và đang phát triển, chúng đều cho thấy ảnh hưởng có ý nghĩa lên cán cân vãng lai Dựa trên những bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các biến vừa nêu và phương pháp ước lượng để hồi quy mô hình với số liệu của Việt Nam nhằm xem xét thực nghiệm các tác động của những biến này lên tài khoản
Trang 21vãng lai Việt Nam giai đoạn 1990-2010
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp thực nghiệm
Định lượng bằng mô hình hồi quy OLS (phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường) dựa trên phương pháp tiếp cận của Chinn và Prasad (2003) với bộ số liệu mới cho Việt Nam và bổ sung thêm các biến đại diện cho khủng hoảng vàthể chế Việc bổ sung thêm biến thể chế và đại diện khủng hoảng là dựa theo nghiên cứu của Chinn và Ito (2005)
và Joseph W Gruber và Steven B Kamin (2005) bởi các biến này có tác động đến tài khoản vãng lai và làm tăng ý nghĩa giải thích của mô hình như tôi đã trình bày ở phần các nghiên cứu trước đây
Mẫu của chúng tôi bao gồm các quan sát năm cho mỗi biến trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2010 Quan tâm chính là các yếu tố quyết định tài khoản vãng lai trong trung và dài hạn Phương pháp phân tích chính là hồi quy OLS với tỷ lệ tài khoản vãng lai trên GDP là biến phụ thuộc
Chúng tôi tóm tắt lại các biến giải thích trong mô hình dưới đây
3.2 Mô tả dữ liệu
3.2.1 Biến vĩ mô
• Tỉ lệ tài sản nước ngoài ròng trên GDP
Tài sản nước ngoài ròng (NFA) được IMF định nghĩa là tổng tài sản nước ngoài được nắm giữ bởi các cơ quan quản lý tiền tệ và tiền gửi ngân hàng trừ đi các khoản nợ nước ngoài NFA ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập ròng từ đầu tư, và do đó ảnh hưởng tới cán cân tài khoản vãng lai Theo quan điểm Intertemporal, NFA là một trong những biến quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến tài khoản vãng lai vì tài khoản vãng lai là tổng của cán cân thương mại và lợi nhuận (khoản chi trả ròng) từ NFA.Mối quan hệ còn được cho bởi công thức CA = g * NFA, trong đó g là tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa (theo Calderon,
Trang 22Loayza và Serven, 2000) Còn theo lí thuyết truyền thống, cán cân tài khoản vãng lai chính bằng sự thay đổi trong NFA Mặt khác, từ quan điểm của việc tiết kiệm, mức tài sản ròng nước ngoài cao hơn sẽ kết hợp với cán cân tài khoản vãng lai thấp hơn
Cũng có thể có sự khác biệt có tính hệ thống giữa quốc gia con nợ và chủ nợ trong các mối quan hệ giữa tài khoản vãng lai với NFA Kraay và Ventura (2000) lập luận rằng các việc phản ứng của tài khoản vãng lai với những cú sốc thu nhập tạm thời phụ thuộc vào phần tài sản nước ngoài trong tổng tài sản của một quốc gia, dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai ở các nước con nợ và thặng dư tài khoản vãng lai ở các nước chủ nợ
Với nhiều quan điểm trái ngược như trên, việc xem xét tác động của NFA đến tài khoản vãng lai ở Việt Nam là cần thiết Số liệu NFA được lấy từ dữ liệu của IMF Trong mô hình chúng tôi sử dụng biến NFAGDP là tỉ lệ NFA trên GDP cho phương trình hồi quy
• Tỷ lệ cân đối ngân sách Chính phủ trên GDP
Một loạt các mô hình dự đoán một mối tương quan dương giữa ngân sách chính phủ và cán cân tài khoản vãng lai trong trung hạn, sựgia tăng trong ngân sách của chính phủ có thể dẫn đến sự gia tăng tiết kiệm quốc gia Theo Chinn và Ito 2005, mối tương quan dương có ý nghĩa giữa tài khoản vãng lai và cân bằng ngân sách chính phủ được phát hiện trong tất cả các nhóm mẫu, phân tích của Gruber và Kamin (2005) cũng có kết quả tương tự Chính phủ thâm hụt ngân sách có xu hướng tạo ra thâm hụt tài khoản vãng lai bằng cách phân phối thu nhập từ thế hệ tương lai đến hiện tại (Obstfeld và Rogoff, năm 1998) và sự gia tăng trong đầu tư công có thể kích thích đầu tư tư nhân
Chúng tôi sử dụng biến tỉ lệ bội chi ngân sách trên GDP (GOVBGDP) cho mô hình, với số liệu lấy từ Bộ tài chính
• Thu nhập tương đối
Như đã nói ở trên, lý thuyết kinh tế dự đoán ở các nước đang phát triển với lao động nhiều
và thiếu vốn nên nhập khẩu ròng vốn, và thâm hụt tài khoản vãng lai, trong khi các nước phát triển thừa vốn nên xuất khẩu vốn và thặng dư tài khoản vãng lai Thêm vào đó, giả
Trang 23thuyết “giai đoạn phát triển” của cán cân thanh toán cho rằng các nước khi đi từ mức thấp đến một giai đoạn trung gian của sự phát triển, điển hình sẽ là nhập khẩu vốn và thâm hụt tài khoản vãng lai Khi đạt đến một giai đoạn phát triển cao hơn, sẽ có thặng dư tài khoản vãng lai để thanh toán nợ tích lũy bên ngoài và cũng xuất khẩu vốn đến các nền kinh tế kém phát triển hơn
Để phản ánh điều này, chúng tôi sử dụng tỷ lệ thu nhập bình quân đầu người trên GDP tính theo PPP (biến RELY) trong hồi quy (theo Chinn và Prasad 2003).Dữ liệu có được bằng cách chia GDP theo PPP cho tổng dân số được lấy từ dữ liệu IMF
• Tốc độ tăng trưởng
Sự gia tăng tốc độ tăng trưởng năng suất tương đối so với các nước khác sẽ đi kèm với một cán cân tài khoản vãng lai lớn hơn, nhưng cũng có thể sự gia tăng tỉ suất sinh lợi trên vốn đầu tư và tiềm năng thu nhập cao hơn trong tương lai làm giảm tiết kiệm Chinn và Prasad (2003) phát hiện có một mối tương quan dương mạnh mẽ giữa tăng trưởng sản lượng trung bình và tài khoản vãng lai
Trong mô hình, những thay đổi trong tăng trưởng năng suất được thể hiện bởi sự thay đổi trong tốc độ tăng trưởng GDP Biến YGRAVG đại diện cho tốc độ tăng trưởng GDP với nguồn số liệu có sẵn tại IMF
• Nhân khẩu học
Các tài liệu về các yếu tố quyết định tiết kiệm của một quốc gia đã chỉ ra một số yếu tố trong đó có nhân khẩu học Masson và cộng sự (1998) cho thấy tỷ lệ phụ thuộc là một trong những yếu tố quyết định quan trọng của tiết kiệm tư nhân.Lý thuyết chu kì của tiêu dùng và tiết kiệm cho rằng các hộ gia đình trẻ vay mượn nhiều, hộ gia đình trung niên tăng tiết kiệm cho thời kì hưu trí, và hộ gia đình đang nghỉ hưu thì tiêu xài tiền đã dành dụm được Do đó những quốc gia có dân số tương đối trẻ và tương đối già đều có khả năng thâm hụt tài khoản vãng lai
Để phản ánh điều này, chúng tôi sử dụng tỷ lệ thanh niên phụ thuộc và người già phụ thuộc
Trang 24trong hồi quy Tỷ lệ thanh niên phụ thuộc được World Bank định nghĩa là tỷ lệ dân số trong độ tuổi từ 0 – 15, tỷ lệ người già phụ thuộc được định nghĩa là tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên
Biến RELDEPY: tỷ lệ thanh niên phụ thuộc
RELDEPO: tỷ lệ người già phụ thuộc
Số liệu này được lấy từ nguồn World Bank
• Độ mở thương mại
Mức độ độ mở đối với thương mại quốc tế có thể phản ánh sự lựa chọn chính sách của Chính phủ, bao gồm cả chế độ thuế quan Để đo lường độ mở thương mại tôi sử dụng tỉ lệ xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ trên GDP
Ở các nước đang phát triển, có một mối tương quan âm giữa tỷ lệ độ mở và tài khoản vãng lai (Chinn và Prasad (2003)) Biến độ mở cũng có thể chỉ ra bởi các thuộc tính như tự do hóa thương mại, tiếp thu chuyển giao công nghệ, và khả năng trả nợ bên ngoài thông qua doanh thu xuất khẩu Vì vậy, các nước tiếp xúc nhiều hơn với thương mại quốc tế có xu hướng hấp dẫn hơn đối với vốn nước ngoài Khi kiểm tra các kết quả riêng cho tiết kiệm và đầu tư, họ thấy rằng độ mở tương quan dương mạnh mẽ với đầu tư quốc gia ở các nước đang phát triển
Biến động thương mại cũng là một yếu tố quyết định Các công ty tại các nền kinh tế phải đối mặt với nhiều biến động về thương mại sẽ tiết kiệm nhiều hơn cho mục đích phòng ngừa Các quốc gia có nhiều biến động thương mại có thể ít hấp dẫn vốn quốc tế Đối với các nước đang phát triển, biến động thương mại cao hơn liên kết với tài khoản vãng lai lớn hơn Đối với các nước công nghiệp, mặt khác, biến động thương mại xuất hiện mối tương quan âm với tài khoản vãng lai (Chinn và Prasad 2003)
Biến OPEN: tỉ lệ xuất khẩu cộng nhập khẩu trên GDP
• Thị trường Chứng khoán
Trang 25Thực nghiệm ngẫu nhiên của Chinn và Ito cho thấy một mối tương quan âm giữa các thước
đo sự phát triển thị trường chứng khoán và cán cân tài khoản vãng lai cho các nước công nghiệp và các nước thị trường mới nổi Châu Á, bằng cách sử dụng hai thước đo sự phát triển thị trường cổ phiếu là tổng giá trị cổ phiếu giao dịch và tỷ lệ doanh thu thị trường chứng khoán Gruber and Kamin (2005) kết luận rằng thị trường chứng khoán càng bùng
nổ, càng nhiều khả năng đất nước trải qua sự suy giảm trong tài khoản vãng lai
Chúng tôi xem xét 3 thước đo hành vi của thị trường chứng khoán: sự vốn hoá thị trường chứng khoán, tổng giá trị cổ phiếu giao dịch, và tỷ lệ doanh thu thị trường chứng khoán, tất
cả được rút ra từ Beck và cộng sự (2001) Beck và cộng sự xem giá trị vốn hoá thị trường như một thước đo quy mô của thị trường chứng khoán, tỷ lệ doanh thu như một thước đo mức độ hoạt động của thị trường chứng khoán và tổng giá trị cổ phiếu giao dịch như là một biến kết hợp cả hai khía cạnh
Biến SMTV: tổng giá trị cổ phiếu giao dịch trên GDP
SMTO: tỷ lệ doanh thu thị trường chứng khoán
SMKC: giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán trên GDP
Nguồn dữ liệu: Standard & Poor Thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ mới bắt đầu từ năm 2000 do đó tôi chỉ thu thập số liệu trong giai đoạn 2000-2010
Biến viện trợ và tài trợ chính thức:
Các biến ngoại sinh trong tài khoản vãng lai ở nước đang phát triển có thể là do viện trợ và chuyển giao từ nước ngoài Để đối phó với vấn đề này Chinn và Prasad đã bao gồm biến viện trợ và tài trợ chính thức (tỷ lệ so với GDP) như một biến bổ sung Hệ số biến viện trợ
âm và có ý nghĩa cho tất cả các nước đang phát triển Đây là kết quả mong đợi, vì các nguồn vốn viện trợ về nguyên tắc cho phép một quốc gia tài trợ cho thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hơn
Biến ODAOAR, nguồn dữ liệu có sẵn tại OECD
Trang 263.2.2 Các nhân tố thể chế
• Độ sâu (sự phát triển) tài chính
Một yếu tố quyết định của tiết kiệm là “độ sâu tài chính” (Edwards (1995)), được đo lường bởi tỷ lệ của một tập hợp tiền tệ như M2 trên GDP (Chinn và Prasad (2003)), tuy nhiên Gruber và Kamin 2005 sử dụng tỉ lệ tín dụng tư nhân trên GDP Biến này là một thước đo chiều sâu và sự phức tạp của hệ thống tài chính và cho thấy độ sâu tài chính có thể dẫn đến tiết kiệm nhiều hơn.Tuy nhiên lại có một quan điểm trái ngược, thị trường tài chính phát triển hơn làm giảm nhu cầu tiết kiệm cho phòng ngừa, và do đó làm giảm tỷ lệ tiết kiệm Bernanke (2005) lập luận rằng sự phát triển tài chính cao hơn sẽ khắc phục dư thừa tiết kiệm toàn cầu trong thời gian dài bằng cách làm suy giảm tỷ lệ tiết kiệm trong khu vực các nước mới nổi châu Á
Kết quả thực nghiệm của Chinn và Ito 2005 cho nhóm các nước công nghiệp cho thấy mức
độ độ mở thị trường tài chính càng cao, thì cán cân tài khoản vãng lai có xu hướng càng giảm Phát hiện này phù hợp với quan điểm rằng nền kinh tế có cơ sở hạ tầng thể chế phát triển và độ mở thị trường tài chính lớn hơn có xu hướng thu hút dòng vốn nước ngoài lớn hơn và thâm hụt tài khoản vãng lai Tuy nhiên, chỉ có nhóm các nước công nghiệp có kết quả phù hợp với quan điểm này Các kết quả hồi quy cho thấy sự phát triển tài chính tác động có ý nghĩa lên tiết kiệm quốc gia, dẫn đến tỉ lệ tiết kiệm cao hơn- hệ số là dương và
có ý nghĩa ở các nước kém phát triển và mới nổi
Với những lập luận này, tôi tin rằng sự phát triển thị trường tài chính phải được xem xét nghiêm túc trong bất kỳ kiểm tra thực nghiệm nào
Trong bài này tôi sử dụng thước đo FDEEP theo Chinn & Prasad 2003, được đo bởi tỉ lệ M2/GDP, nguồn dữ liệu được lấy từ IMF
• Độ mở tài chính
Theo Chinn và Prasad (2003), độ mở tài chính cũng là một trong các yếu tố quyết định của tài khoản vãng lai thông qua ảnh hưởng đến dòng vốn giữa các nước Đối với các nền kinh