1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Kỷ yếu hội thảo nckh sv khoa kdqt 2021

645 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh doanh quốc tế trong bối cảnh đại dịch Covid-19
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh doanh Quốc tế
Thể loại Hội thảo khoa học sinh viên
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 645
Dung lượng 9,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các Nghiên cứu khoa học của sinh viên Học viện Ngân Hàng năm 2021 về Kinh doanh quốc tế. Hồm nhiều đề tài khác nhau như Logistics, chuỗi cung ứng,... Các bài viết được thực hiện khi thế giới đang trong thời kỳ đại dịch Covid.

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đến nay, đại dịch Covid-19 đã tác động toàn diện tới các lĩnh vực trong xã hội của tất

cả các quốc gia trên thế giới Tháng 10 năm 2020, Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc

tế (IMF) đưa ra dự báo về sự suy giảm mạnh của nền kinh tế thế giới năm 2020, ở mức -5,2% đến -4,4% Trong khi đó, Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD)

dự báo FDI toàn cầu sẽ suy giảm khoảng 40% so với năm 2019 và tiếp tục giảm từ 5-10% trong năm 2021 Tuy là một trong số ít các nước kiểm soát tốt đại dịch nhưng Việt Nam vẫn phải chứng kiến sự suy giảm nghiêm trọng đối với nền kinh tế Theo điều tra của Tổng cục thống

kê, có tới 85,7% số doanh nghiệp được khảo sát bị tác động bởi đại dịch Covid-19 Trong bối cảnh đại dịch vẫn còn diễn biến phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới, việc nghiên cứu các chính sách, giải pháp phù hợp nhằm tiếp tục thích nghi và duy trì các hoạt động kinh tế là vô cùng quan trọng, đảm bảo cân bằng giữa các biện pháp chống dịch song song với phát triển kinh tế Nhằm tạo môi trường nghiên cứu và học hỏi, khoa Kinh doanh quốc tế - Học viện Ngân hàng phát động tới các em sinh viên tham gia viết bài nghiên cứu cho Hội thảo khoa học với chủ đề:

“KINH DOANH QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19”

Sau một thời gian thông báo đến toàn thể sinh viên Học viện Ngân hàng, với sự quan tâm của nhiều bạn sinh viên đam mê nghiên cứu, chỉ trong thời gian ngắn, Ban tổ chức Hội thảo

đã nhận được nhiều bài viết của sinh viên và các nhóm sinh viên đề cập đến những nội dung khác nhau, xoay quanh chủ đề của Hội thảo

Ban tổ chức đã đọc và duyệt kỹ các bài viết tham gia, từ đó chọn được 35 bài viết đăng

Kỷ yếu Hội thảo khoa học Ban tổ chức xin chân thành cảm ơn các nhóm tác giả đã tham gia viết bài, cám ơn các thầy cô Khoa Kinh doanh quốc tế, Học viện Ngân hàng đã hướng dẫn tận tình cho sinh viên, đồng thời có những đóng góp quý báu để các bài viết đạt chất lượng tốt nhất

Mặc dù đã cố gắng, song bản thân sinh viên cũng như Ban tổ chức không thể tránh khỏi những sai sót, kính mong các độc giả tham gia góp ý để hội thảo lần sau được tổ chức tốt hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 6 năm 2021

Ban tổ chức Hội thảo

Trang 4

MỤC LỤC

1 Ngành print on demand dưới sự phát triển của thương mại điện tử trong bối cảnh

Đỗ Thị Ngọc Ánh; Nguyễn Thị Huệ; Phạm Thị Thu; Trần Thị Minh Thúy

2 Ảnh hưởng thời kỳ covid-19 đối với du lịch Việt Nam 26

Hoàng Thùy Dung; Trần Việt Dũng

3 Impact of the covid-19 pandemic on Vietnamese Agriculture 43

Trần Thị Ngọc Mai; Nguyễn Thị Minh Hoài

4 Giải pháp cho doanh nghiệp Logistics Việt Nam thời kỳ dịch covid-19 57

Nguyễn Trâm Anh; Nguyễn Huy Định; Nguyễn Thị Hà; Đặng Lê An Khanh

5 Đánh giá các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của chính phủ đối phó với dịch

Nguyễn Thị Mai Anh

6 Nghiên cứu về hành vi sử dụng dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến của giới trẻ Hà Nội

Trần Thu Hà; Trần Hương Thảo; Nguyễn Thùy Linh

7 Ảnh hưởng của covid-19 đến ngành thực phẩm và đồ uống Việt Nam 105

Cù Thị Hương Sen; Phan Diệu Thúy; Trần Phạm Ngọc Anh;

Nguyễn Thị Thuỳ Linh; Trần Thu Trang

8 Các hoạt động Logistics ở Việt Nam trong bối cảnh đại dịch covid-19: cơ hội và

Trần Thị Thanh Tâm; Mai Thu Huyền; Nguyễn Diệu Linh

9 Tác động của đại dịch covid – 19 đến nền kinh tế Việt Nam 137

Dương Phương Nhung; Tạ Đặng Diễm Quỳnh; Lê Phương Thủy

10 Tác động của đại dịch covid 19 đến chuỗi cung ứng hàng nông sản Việt Nam 153

Nguyễn Thị Huyền Trang; Hà Thị Thương Huyền; Hoàng Thị Kiều Oanh

11 Tác động của covid-19 đến việc tiêu thụ nông sản tại Việt Nam 167

Lê Thị Thơm; Vũ Thị Ninh

Trang 5

12 Tác động của đại dịch tới nền kinh tế Việt Nam và phản ứng của chính phủ thời kỳ

Nguyễn Đức Tuấn; Nguyễn Tấn Sang; Nguyễn Thị Thu Hương; Phạm Minh Hải

13 Phục hồi và phát triển chuỗi giá trị mới ngành công nghiệp điện tử Việt Nam sau

Đỗ Thị Nhàn

14 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của thế hệ Z tại Việt Nam trong

Nguyễn Thị Như Quỳnh; Lưu Thu Hà; Nguyễn Thúy Nga; Nguyễn Thanh Huyền

15 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến qua sàn thương mại điện tử

Nguyễn Quỳnh Chi; Nguyễn Hữu Thị Linh Chi;

Vũ Thị Huyền Trang; Nguyễn Thị Hải Yến

16 Tác động của covid tới nền kinh tế và giải pháp phát triển kinh doanh bền vững

Đỗ Thị Mai Loan; Nguyễn Thu Hoài

17 Ảnh hưởng của người ảnh hưởng (influencer) đến ý định tiêu dùng thực phẩm của

Phạm Hồng Hạnh; Hoàng Ngọc Mai; Vũ Thanh Lam

18 Tác động của đại dịch covid-19 đến các doanh nghiệp Việt Nam 282

Trần Phùng Bích Vân; Nguyễn Kiều Trang; Vũ Quỳnh Chi; Ngô Thị Hoài

19 Tác động của dịch covid-19 đến hoạt động Logistics tại Việt Nam 297

Nguyễn Thị Diệu Linh; Nguyễn Thị Huyền Trang

20 Nghiên cứu mối liên hệ giữa việc học và công việc làm thêm của sinh viên ngành kinh tế tại Hà Nội trước và sau dịch covid-19 312

Hoàng Thị Ngọc Ánh; Dương Ngọc Thúy

Trang 6

Phiên 2: Góc nhìn quốc tế 341

21 Tác động của đại dịch covid-19 tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp: Bằng

Đồng Thị Hải Yến; Vũ Thị Hạnh Trang

22 Tác động của các hiệp định thương mại tự do đến tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt

Nguyễn Thị Thanh Thảo; Bùi Ngọc Kim Oanh Hoàng Thị Quỳnh Anh; Đặng Thị Dịu; Đinh Quang Hưng

23 Tác động của các hiệp định đầu tư song phương đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh covid – 19 379

Trương Ngọc Cung Như; Nguyễn Thị Minh Anh; Đinh Thị Hương Giang

24 Các nhân tố tác động đến gian lận thương mại quốc tế ở Việt Nam 400

Nguyễn Thị Diệu Linh; Nguyễn Thị Huyền Trang

25 Cước vận tải biển tăng cao: nguyên nhân và giải pháp 418

Trần Khánh Dư; Trần Thị Minh Nguyệt; Đào Thị Khánh Huyền

26 Xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu sau đại dịch covid-19: cơ hội và

Trần Thị Thúy Hằng; Lê Phương Anh

27 Covid-19 và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có sở hữu nước ngoài 441

Nguyễn Thị Huyền Trang; Phạm Thị Thu Hiền;

Nguyễn Thị Nhung; Lê Thị Minh Hương

28 Tác động của đại dịch covid-19 đến tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam 456

Nguyễn Minh Phương; Nguyễn Thị Phượng; Phạm Thị Bích Phượng

29 Hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong thời kỳ dịch bệnh Covid-19 474

Nguyễn Thị Như Quỳnh; Hoàng Thị Ngọc Huyền

30 Tác động của dịch covid-19 đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt

Vũ Thị Hồng Hạnh; Nguyễn Thị Mai Anh

31 Thực trạng xuất nhập khẩu của Việt Nam thời kì covid-19 và tác động của hiệp định EVFTA tới hoạt động xuất nhập khẩu trong thời gian này 502

Vũ Thị Thu Huệ

Trang 7

32 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động Logistics tại Châu Á - một số đề

Trịnh Thùy Trang; Nguyễn Thị Hiếu; Trần Nhật Ninh

33 Chính sách thương mại ứng phó với covid-19 trên thế giới và ở Việt Nam 543

Phùng Ngọc Huyền; Nguyễn Thị Minh Hiền;

Đinh Thị Thu Hà; Nguyễn Thị Thúy Linh

34 Tình hình xuất khẩu nông sản Việt Nam trong bối cảnh đại dịch covid - 19 568

Lê Minh Nguyệt; Khúc Thị Hương Giang; Đinh Ngân Hà

35 Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ E-logistics

Nguyễn Phương Hồng Nhung; Nguyễn Thị Quyên

36 Tác động của trợ cấp Chính phủ tới xuất khẩu của doanh nghiệp trong thời kỳ

Đông Thị Hải Yến; Vũ Thị Hạnh Trang; Đỗ Trần Quang Anh;

Đoàn Ngọc Thắng; Đỗ Phú Đông

37 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng trên địa bàn

thành phố Hà Nội qua mô hình bán lẻ đa kênh Omnichannel 621

Ths Vũ Thị Kim Chi; Phạm Minh Ánh; Bùi Minh Ngọc;

Lê Thị Xuân Mai; Nguyễn Thị Khánh Linh

Trang 8

Phiên 1: Góc nhìn Việt Nam

NGÀNH PRINT ON DEMAND DƯỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG BỐI CẢNH COVID-19

Đỗ Thị Ngọc Ánh – K21 KDQTE Nguyễn Thị Huệ – K21 KDQTE Phạm Thị Thu – K21 KDQTE Trần Thị Minh Thúy – K21 KDQTE

POD: Print on Demand: In theo yêu cầu

TPR: Theory of Perceived Risk: Thuyết nhận thức rủi ro

TPB: Theory of planned behavior model: Thuyết hành vi mua hàng dự định

TAM: Techonology Acceptance Model: Thuyết chấp nhận công nghệ

1 Tổng quan nghiên cứu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh thế giới đang bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, thương mại điện tử hiện đang nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia vì những đóng góp lớn cho tăng trưởng nền kinh tế Cùng với xu thế phát triển công nghệ trên thế giới, thương mại điện tử ở Việt Nam đang từng bước hình thành, tăng trưởng mạnh mẽ, và giữ vai trò ngày càng quan trọng trong phân phối hàng hóa Đại dịch Covid 19 đã làm tăng số lượng người làm việc từ xa, điều này đã cách mạng hóa thói quen hàng ngày của họ Doanh số bán lẻ truyền thống ngày càng giảm, điều đó đã gây ra sự sụp đổ kinh tế Một giai đoạn gây tranh cãi như vậy đã được đánh dấu bằng sự gia tăng 44,5% trong thương mại điện tử, mức tăng trưởng nhanh nhất trong hơn hai thập kỷ! Việc mua sắm dễ dàng và giao hàng nhanh chóng thu hút khách hàng

Thương mại điện tử phát triển, song song với nó là sự xuất hiện của nhiều hình thức kinh doanh mới, mở ra cho các cá nhân và doanh nghiệp nhiều cơ hội phát triển quy mô kinh doanh của mình, ngành Print on Demand (POD) cũng vậy Hiện nay, Print on Demand là một trong những xu hướng kinh doanh mới được quan tâm nhất trên phạm vi toàn cầu Khác với các hình thức kiếm tiền online khác đã và đang dần bộc lộ nhiều điểm yếu, POD trở thành một

sự lựa chọn đáng cân nhắc khi mang lại nhiều ưu điểm vượt trội

Trang 9

Do đó, nhóm chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Ngành Print on Demand dưới sự

phát triển của thương mại điện tử trong bối cảnh đại dịch Covid 19” nhằm phân tích thực

trạng phát triển của ngành POD và những tác động của thương mại điện tử tới ngành trong bối cảnh đại dịch, đồng thời đề xuất một số giải pháp để ngành Print on Demand (POD) phát triển mạnh mẽ hơn ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung trong thời gian tới

1.2 Tính mới của đề tài

Trong những năm gần đây, thương mại điện tử ngày càng có những bước phát triển vượt trội, song song với sự phát triển ấy là hình thức mua sắm trực tuyến đang trở nên phổ biến hơn

và có xu hướng thay thế cho hình thức mua sắm truyền thống Ngành Print on Demand (POD), hay còn gọi là in ấn theo yêu cầu, tuy không còn quá xa lạ với thị trường Việt Nam nhưng không phải bất cứ công dân nào cũng hiểu và có kiến thức về ngành này

Hiện nay, tại Việt Nam, chưa có bất cứ một công trình nghiên cứu hay bài báo cáo chính thức nào liên quan sự phát triển, cũng như mối quan hệ mật thiết giữa ngành POD và xu hướng thương mại điện tử

Các hình thức kinh doanh mới đang dần xuất hiện, mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các doanh nghiệp trên môi trường trực tuyến trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, và Print

on Demand (POD) là một ví dụ điển hình Không chỉ nghiên cứu mối quan hệ giữa ngành POD

và sự phát triển của thương mại điện tử trên phạm vi không gian lãnh thổ Việt Nam, nhóm chúng tôi còn mở rộng nghiên cứu ra phạm vi toàn cầu - nơi mà thị trường web-to-print (W2P) được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong giai đoạn 2019-2023

2 Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu

2.1 Thương mại điện tử

2.1.2 Vai trò của thương mại điện tử

Đối với doanh nghiệp, thương mại điện tử giúp mở rộng thị trường với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với các hình thức thương mại truyền thống, từ đó quảng bá thông tin và tiếp

Trang 10

thị sản phẩm với chi phí cực kì thấp bao gồm chi phí giấy tờ, chi phí quản lý, chi phí đăng kí giấy phép kinh doanh, chi phí làm thủ tục hành chính, giúp tăng hiệu quả giao dịch thương mại

Đối với người tiêu dùng, thương mại điện tử giúp tiết kiệm thời gian mua sắm, loại bỏ

những trở ngại về không gian cũng như thời gian, khách hàng có thể đặt hàng, tìm kiếm, so sánh giá cả từ nhiều nhà cung cấp về bất cứ sản phẩm hoặc dịch vụ nào mà họ quan tâm Không những vậy, thông qua các công cụ tìm kiếm bằng hình ảnh, thông tin trả về trên sàn thương mại điện tử vô cùng đa dạng và phong phú

2.1.3 Những hạn chế của thương mại điện tử

Thương mại điện tử chịu tác động của môi trường kinh tế trong và ngoài nước, bị ảnh hưởng sâu sắc bởi những thay đổi về công nghệ Bên cạnh đó, người mua và người bán có liên

hệ trực tiếp với nhau thông qua các nền tảng thương mại điện tử, đòi hỏi họ phải có trình độ, hiểu biết sử dụng và làm chủ hoạt động kinh doanh của mình

Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ phải chịu chi phí đầu tư công nghệ cao hơn, ít có khả năng đầu tư hoàn thiện và lâu dài Ngoài ra, người tiêu dùng có thể vấn đề gặp phải hàng giả, hàng nhái hay hàng kém chất lượng do không thể tìm hiểu trực tiếp về sản phẩm trước khi mua hàng

2.2 Ngành Print on Demand

2.2.1 Khái niệm

Tại Việt Nam, khái niệm Print on Demand (POD) cũng được nhắc đến với tần suất ngày một dày đặc Print on demand (POD) hay còn được hiểu theo nghĩa tiếng Việt là in theo yêu cầu Đây là một hình thức kiếm tiền online, một mô hình thương mại điện tử vô cùng hiệu quả nhờ vào việc in ấn các thiết kế có sẵn lên các sản phẩm thông dụng như áo thun, túi tote, cốc, tranh canvas…

2.2.2 Mô hình kinh doanh Print on Demand

Các chủ thể tham gia vào quy trình POD bao gồm:

• Seller (người bán): cá nhân, tổ chức…

• Platform (nền tảng): là nhà cung cấp dịch vụ POD, họ thường đảm nhận luôn cả khâu đóng gói và vận chuyển hàng hoá

• Xưởng in: là xưởng sản xuất và in sản phẩm POD (là đối tác của POD Platform)

Trang 11

• Online Store: người bán cần một giao diện website để bán hàng, những nhà cung cấp phổ biến nhất là Shopify và WooCommerce Trong nhiều trường hợp, chính Platform POD cung cấp cả dịch vụ online store

Đầu tiên, người bán sản phẩm POD nên biết thiết kế hoặc thuê được người thiết kế để làm hình in lên các sản phẩm tuỳ chỉnh như áo phông, cốc, chăn POD cũng giống Dropshipping1, thích hợp bán cho thị trường quốc tế hơn thị trường Việt Nam do đặc thù chất lượng nhà cung ứng nước ngoài tốt hơn và lợi nhuận thu về từ thị trường quốc tế cao hơn Khi

có đơn hàng, nhà cung ứng sẽ in, sản xuất rồi đóng gói, gửi đến cho khách hàng Đây là mô hình kinh doanh mới trong thời kỳ thương mại điện tử bùng nổ hiện nay, nó phù hợp với tất cả mọi người với quy trình như sau:

• Chọn thị trường ngách (niche)

Niche là một thị trường ngách, mục tiêu nhóm nhỏ của người tiêu dùng Người bán cần chọn một thị trường ngách phục vụ nhu cầu của khách hàng chính cũng như có phạm vi tiếp cận rộng rãi để có thể mở rộng hoạt động kinh doanh của mình trong tương lai

Ví dụ: ngành thời trang Các thị trường nhỏ hơn khi phân khúc ra gồm có thời trang cho

nữ, thời trang cho nam Phân khúc nhỏ hơn nữa là thời trang cho bé gái, cho học sinh, dân văn phòng Rồi tiếp tục phân khúc sẽ được ngách nhỏ như thời trang cổ điển cho dân văn phòng Đây chính là thị trường ngách của thị trường thời trang

Sau khi chọn một thị trường ngách, người bán nên quyết định sẽ bán những sản phẩm

cụ thể nào và đảm bảo rằng chúng đang thịnh hành, có thể khiến khách hàng mong muốn về sở thích hay nhu cầu của họ

• Xây dựng sản phẩm: người bán có thể dùng Mockup2 để có những bức ảnh hấp dẫn hơn về sản phẩm và dùng google trend để phân tích xu hướng quan tâm của dư luận

• Thiết lập cửa hàng Có 2 cách phổ biến khi thiết lập cửa hàng online, đó là:

Cách 1: sau khi đăng ký tên miền, người bán chọn nền tảng thương mại điện tử phù hợp

để đưa cửa hàng vào hoạt động, ví dụ như Merchize, Shopify, WooCommerce, Wix, PrestaShop and BigCommerce…

Cách 2: nếu chưa có một cửa hàng online cho riêng mình, người bán có thể lựa chọn một chợ thương mại điện tử (marketplace) để tạo gian hàng và bán hàng trên các sàn như: Amazon, eBay, etsy…

1 Dropshipping: phương pháp thực hiện bán lẻ mà một cửa hàng không lưu giữ sản phẩm được bán trong kho

của mình.

2 Mockup: một mô hình ví dụ cho đối tượng hoặc thiết bị được tạo ra dựa trên một thiết kế cụ thể theo tỉ lệ hoặc

kích thước đầy đủ

Trang 12

• Tìm nhà cung cấp

Khi cửa hàng và sản phẩm của đã sẵn sàng, người bán sẽ cần tìm một nhà cung cấp độc lập để in thiết kế và giao cho khách hàng hoặc sử dụng nền tảng POD trong đó dịch vụ hoàn thiện sản phẩm được bao phủ như PrintBase hay Merchize

• Quảng cáo sản phẩm

Bước cuối cùng để thực sự đưa cửa hàng vào hoạt động là đưa thiết kế đến với khách hàng để họ có thể mua hàng Có nhiều cách quảng cáo sản phẩm, trong đó những cách phổ biến nhất là quảng cáo trả phí trên mạng xã hội, chẳng hạn như quảng cáo Facebook, quảng cáo TikTok và tiếp thị thông qua người có ảnh hưởng trên mạng xã hội

2.2.3 Các hình thức in

• POD 2D

Mô hình 2D (two dimensions): là hình thức đầu tiên du nhập vào Việt Nam, có thể in các thiết kế đơn giản lên mặt trước hoặc mặt sau của sản phẩm, không đòi hỏi làm theo một template (khuôn) sẵn hay cơ sở vật chất quá hiện đại như máy in công nghệ cao, nên basecost3

cho một sản phẩm POD 2D khá thấp Đồng thời, thời gian để fulfill4 một đơn hàng (bao gồm nhận đơn, xử lý, in, đóng gói và giao hàng) có thể được rút ngắn, đem lại trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng

Tuy nhiên hình thức này đang dần trở nên yếu thế so với các hình thức khác khi yêu cầu của khách hàng ngày càng tăng, đòi hỏi các mẫu thiết kế ngày càng độc đáo, đột phá hơn để thu hút lượng mua hàng đối với sản phẩm đó

• POD 3D

Mô hình 3D (all-over-print): có thể in những thiết kế sáng tạo lên toàn bộ mặt của sản phẩm, yêu cầu phải làm theo template (khuôn) sẵn mà bên xưởng sản xuất cung cấp Ví dụ: đối với sản phẩm T-shirt (áo phông), in 3D sẽ là in toàn bộ thiết kế lên mặt trước, mặt sau và phần cánh tay của áo, chiếc áo sẽ trông độc đáo hơn so với việc chỉ in một vài thiết kế nhỏ lên mặt trước và mặt sau như cách in 2D Vì đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật máy móc phức tạp nên basecost cho các sản phẩm in 3D sẽ cao hơn so với hình thức in 2D Mặc dù basecost có chênh lệch hơn nhưng hình thức này đã giải quyết được một số nhược điểm của in 2D, do vậy mà các sản phẩm POD 3D đang trở thành xu hướng và được khách hàng ưu ái sử dụng hơn ở thời điểm hiện tại

• POD Personalized

3 Basecost: là giá từ các nền tảng cung cấp dịch vụ, chi phí phải trả cho nhà cung cấp dịch vụ POD

4 Fulfill: quá trình từ lúc hàng hóa được nhập vào kho đến lúc người mua nhận hàng, bao gồm lấy hàng, lưu

kho, xử lý đơn hàng, đóng gói và vận chuyển.

Trang 13

Mô hình POD Personalized là mô hình sản xuất các sản phẩm cá nhân hóa, phát triển từ hai mô hình POD 2D và POD 3D, khách hàng có thể lựa chọn một trong hai cách thức in, sau

đó chỉnh sửa các mẫu thiết kế tùy theo sở thích cá nhân Người bán sẽ tạo sẵn các sự lựa chọn

để khách hàng có thể tùy ý biến theo sở thích cá nhân Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi cao về

kỹ thuật và nền tảng website tốt để khách hàng dễ tiếp cận và chỉnh sửa thiết kế riêng của họ

Khách hàng ngày càng có xu hướng cá nhân hóa, họ muốn thể hiện hình ảnh độc nhất

và phong cách của riêng mình qua các món đồ mà họ sử dụng, và những sản phẩm có thể tùy chỉnh đáp ứng rất tốt nhu cầu này của họ Thậm chí, họ sẵn sàng chờ lâu hơn cho một sản phẩm

cá nhân hoá được cho ra mắt Nắm bắt được nhu cầu của khách hàng, mô hình này đang ngày càng được khai thác và phát triển rộng rãi

2.3.4 Ưu điểm, nhược điểm của ngành Print on Demand

➢ Ưu điểm

• Không phải lo về vấn đề tồn kho

Mô hình POD giúp giảm bớt nỗi lo lớn nhất khi tham gia thị trường thương mại điện tử,

đó là chi phí lưu kho Do sản phẩm sẽ chỉ được sản xuất và in hình sau khi được khách hàng đặt mua, vì vậy người bán sẽ không cần phải bận tâm về việc không đẩy được hàng hay chịu cảnh hàng tồn kho đội chi phí

• Vốn đầu tư thấp

Không cần đầu tư về xưởng sản xuất, vận tải mà mọi công đoạn đều được xử lý bởi bên thứ ba, chính vì thế mà có thể thử nghiệm kinh doanh với mô hình POD hoặc dễ dàng chuyển đổi hình thức kinh doanh nếu không mang lại lợi nhuận mong muốn

• Giảm công đoạn fulfillment

Nền tảng POD sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ khía cạnh đóng gói và vận chuyển sản phẩm, như vậy người bán sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức khi không cần phải trực tiếp tìm cách

để đưa sản phẩm đến được tay khách hàng cuối cùng

• Dễ dàng để bắt đầu

Hầu hết các nền tảng POD hiện nay đều thân thiện với người dùng và dễ sử dụng Vì vậy, người bán có thể dễ dàng khởi tạo và vận hành công việc kinh doanh chỉ bằng cách đăng

ký tài khoản, tạo trang thông tin cá nhân trên nền tảng và đăng tải sản phẩm chỉ trong vài phút

và không cần lo lắng về yêu cầu tính kỹ thuật

➢ Nhược điểm

Trang 14

• Biên lợi nhuận thấp hơn

Chi phí cho mỗi mặt hàng sẽ cao hơn so với việc mua số lượng lớn, các sản phẩm theo yêu cầu có thể mang lại lợi nhuận thấp hơn, tùy thuộc vào cách định giá sản phẩm và thu hút khách hàng Điều này đòi hỏi phải có định hướng cụ thể lôi kéo khách hàng đến với sản phẩm của mình

• Sản phẩm thiếu tính đa dạng, khả năng tùy chỉnh sản phẩm bị hạn chế

Các chủng loại sản phẩm có thể bán với mô hình POD thường bị giới hạn, mặc dù ngành này hiện tại đang phát triển, các chủng loại cũng đa dạng hơn, nhưng không hẳn đáp ứng được hết các sản phẩm mà khách hàng yêu cầu Vì vậy, POD sẽ không phù hợp với những nhà bán

lẻ muốn tạo sự khác biệt

Mặt khác, khả năng tùy chỉnh sản phẩm phụ thuộc vào nhà cung cấp và sản phẩm Các seller sẽ phải cân nhắc chi phí cơ bản, các tùy chọn tùy chỉnh, kỹ thuật in và kích thước có sẵn khi quyết định tùy chỉnh sản phẩm nào vì đa số các sản phẩm sẽ theo chất liệu và kích thước cố định của bên xưởng sản xuất

• Giới hạn khả năng gia tăng trải nghiệm khách hàng

Những nền tảng POD sẽ có quy trình fulfillment cố định và điều này sẽ hạn chế khả năng tạo ra bất ngờ cho khách hàng khi nhận được sản phẩm Ví dụ, người bán muốn trang trí đặc biệt hơn cho bao bì sản phẩm của khách hàng thân thiết hoặc gửi kèm thêm một tấm thiệp cảm ơn trong gói hàng, họ không làm được điều đó khi áp dụng mô hình POD

2.3 Các mô hình tác động lên mối quan hệ giữa thương mại điện tử và ngành Print on

Demand

2.3.1 Mô hình lý thuyết nhận thức rủi ro – TPR

Trong thuyết nhận thức rủi ro (Theory of Perceived Risk), (Bauer, 1960) cho rằng hành

vi tiêu dùng sản phẩm công nghệ thông tin có nhận thức rủi ro, bao gồm hai yếu tố:

• Nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch vụ: mất tính năng, mất tài chính, tốn thời gian, mất cơ hội và nhận thức rủi ro toàn bộ với sản phẩm/dịch vụ

• Nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến: các rủi ro có thể xảy ra khi người tiêu dùng thực hiện giao dịch thương mại điện tử trên các phương tiện – thiết bị điện tử liên quan đến: sự bí mật (privacy), sự an toàn-chứng thực (security-authentication), không khước từ (non repudiation), và nhận thức rủi ro toàn bộ về giao dịch trực tuyến

Trang 15

Hình 1: Mô hình thuyết nhận thức rủi ro (Bauer, 1960)

Mô hình nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch thương mại điện tử để đi đến hành vi mua hàng gồm có ba thành phần: nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến, nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/dịch vụ và hành vi mua hàng

Kiểm định lại mối liên hệ lý thuyết của các thành phần tác động đến thương mại điện tử hành vi mua hàng bị tác động bởi hai yếu tố, đó là nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến và nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm, dịch vụ và tác động này là thuận chiều Điều này có nghĩa là khả năng nhận thức được các loại rủi ro liên quan đến thương mại điện tử tăng hay giảm đều làm cho hành vi mua hàng cũng tăng hay giảm

2.3.2 Mô hình lý thuyết hành vi mua hàng dự định – TPB

Trong theory of planned behavior model - TPB, hay còn gọi là mô hình lý thuyết hành

vi mua hàng dự định (Ajzen & FishBein, 1975), nhân tố trung tâm trong lí thuyết hành vi có kế hoạch là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định Hành vi hoạch định khẳng định rằng quyết định hành vi là một chức năng của thái độ và ảnh hưởng xã hội Hành vi hoạch định thêm nhận thức kiểm soát hành vi xác định quyết định hành vi Thuyết hành vi có

kế hoạch có thể được sử dụng để hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu về hành vi của khách hàng, người tiêu dùng trong marketing

Ba yếu tố quyết định cơ bản trong thuyết này:

• Thái độ: được định nghĩa như đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện Ajzen lập luận rằng một cảm xúc tích cực hay tiêu cực cá nhân, cụ thể là thái độ để thể hiện một hành vi bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý và các tình huống đang gặp phải

• Ảnh hưởng xã hội: đề cập đến ảnh hưởng và tác động của những người quan trọng và gần gũi có thể tác động đến cá nhân thực hiện hành vi

Nhận thức rủi ro liên quan

đến giao dịch

Hành vi mua Nhận thức rủi ro liên quan

đến sản phẩm dịch vụ

Trang 16

• Nhận thức kiểm soát hành vi: được định nghĩa như là đánh giá của chính mình về mức

độ khó khăn hay dễ dàng để thực hiện hành vi đó (Ajzen & FishBein, 1975) đề nghị rằng nhân

tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến quyết định thực hiện hành vi, và nếu như người tiêu dùng chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình thì kiểm soát hành vi còn dự báo được cả hành vi Trong bối cảnh mua sắm trực tuyến, kiểm soát hành vi đề cập đến nhận thức của các cá nhân có các nguồn lực cần thiết, kiến thức và khả năng trong quá trình sử dụng internet để mua sắm trực tuyến

Hình 2: Mô hình lý thuyết hành vi mua hàng dự định (Ajzen và Fishbein, 1975)

Hạn chế của thuyết này: các nhân tố để xác định quyết định thì không giới hạn thái độ, ảnh hưởng xã hội và kiểm soát hành vi (Ajzen & Fishbein, 1975) Do đó, cũng có thể mở rộng các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hành vi Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng chỉ 40% các biến của hành vi có thể được giải thích bằng cách sử dụng hành vi hoạch định

2.3.3 Mô hình lý thuyết chấp nhận công nghệ - TAM

Theo (Davis & Arbor, 1989), Mô hình lý thuyết chấp nhận công nghệ được công nhận

rộng rãi là một mô hình tin cậy và căn bản trong việc mô hình hóa việc chấp nhận công nghệ thông tin của người sử dụng Lý thuyết gồm 5 yếu tố chính sau:

• Biến ngoại sinh: ảnh hưởng đến nhận thức sự hữu ích và nhận thức tính dễ sử dụng

• Nhận thức sự hữu ích: người sử dụng chắc chắn nhận thấy rằng việc sử dụng các hệ thống ứng dụng riêng biệt sẽ làm tăng hiệu quả làm việc của họ đối với một công việc cụ thể

• Nhận thức tính dễ sử dụng: mức độ dễ dàng mà người dùng mong đợi khi sử dụng

• Thái độ hướng đến việc sử dụng: là thái độ hướng đến việc sử dụng một hệ thống được tạo lập bởi sự tin tưởng về sự hữu ích và dễ sử dụng

Hành vi thực sự

Trang 17

• Quyết định sử dụng: là quyết định của người dùng khi sử dụng hệ thống Quyết định

sử dụng có mối quan hệ chặt chẽ đến việc sử dụng thực sự

Hình 3: Mô hình lý thuyết chấp nhận công nghệ (Davis, D Fred, và Arbor, Ann, 1989)

TAM được xem là mô hình đặc trưng để ứng dụng trong việc nghiên cứu việc sử dụng một hệ thống, đo lường và dự đoán việc sử dụng hệ thống thông tin Vì vậy, thương mại điện

tử cũng là một sản phẩm của phát triển công nghệ thông tin Các công nghệ mới như máy tính

cá nhân rất phức tạp và một yếu tố không chắc chắn tồn tại trong tâm trí của những người ra quyết định đối với việc áp dụng thành công chúng, mọi người hình thành thái độ và ý định cố gắng học cách sử dụng công nghệ mới trước khi bắt đầu các nỗ lực hướng vào việc sử dụng

Hạn chế của mô hình: TAM vẽ thiếu biến liên quan đến việc kiểm soát hành vi bên trong như thời gian, cơ hội và hợp tác của người khác Bên cạnh đó, mô hình không có bất cứ biến nào giải thích cho yếu tố văn hóa, xã hội cần thiết phải giải thích hành vi Cuối cùng, mô hình thiếu tính linh hoạt và có khả năng áp dụng hạn chế

3 Phân tích thực trạng

3.1 Sự phát triển của thương mại điện tử trước Covid 19

Năm 2018 thương mại điện tử Việt Nam tiếp tục phát triển toàn diện với tốc độ tăng trưởng trên 30% Theo một kết quả thống kê cho thấy, có khoảng 64 triệu người dân Việt Nam

đã sử dụng Internet và trung bình mỗi người sẽ truy cập Internet 2 giờ/ngày; số người sử dụng smartphone hiện nay ở Việt Nam chiếm khoảng 82% dân số và nhiều người còn sử dụng hơn 2

Các biến

ngoại sinh

Nhận thức tính dễ sử dụng

Nhận thức sự hữu ích

Thái độ hướng đến sử dụng

Quyết định hành vi

Sử dụng hệ thống thực sự

Trang 18

chiếc điện thoại Điều này cho thấy khả năng truy cập vào các website thương mại điện tử lớn hơn bao giờ hết Đây chính là nền tảng để lĩnh vực E-Commerce phát triển mạnh ở nước ta

Theo báo cáo của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (2019), mức tăng trưởng của thương mại điện tử ở Việt Nam trong giai đoạn 2015-2019 có nhiều bước tiến nổi bật Năm

2018, cùng với sự phát triển vững chắc của nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng GDP trên 7% là

sự tăng trưởng mạnh mẽ của thương mại điện tử, tăng trên 30% so với năm 2017 Dù có xuất phát điểm là xấp xỉ 4 tỷ USD vào năm 2015 nhưng nhờ tốc độ tăng trưởng trung bình trong 3 năm liên tiếp cao nên quy mô thị trường thương mại điện tử năm 2018 đã lên tới khoảng 7,8 tỷ USD

Thương mại điện tử đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, đặc biệt là

ở các nước phát triển, chiếm hơn 90% tổng giá trị giao dịch thương mại điện tử toàn cầu, trong

đó riêng phần của Bắc Mỹ và Châu Âu đã lên tới trên 80% Tốc độ phát triển thương mại điện

tử nhanh nhất ở khu vực Bắc Mỹ, tiếp đến là tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và Tây Âu Tại Châu Á có hai nước Singapore và Trung Quốc là có tốc độ phát triển thương mại điện tử nhanh chóng và theo kịp với các nước Bắc Mỹ Còn những nước còn lại ở Châu Á, thương mại điện tử có phát triển tuy nhiên còn rất là chậm

Trong bối cảnh người tiêu dùng mất dần hứng thú với việc mua sắm tại các cửa hàng truyền thống, thị trường thương mại điện tử đang chớp lấy thời cơ để bước vào thời điểm phát triển mạnh Theo thống kê năm 2016, có 1,61 tỷ người trên toàn cầu mua hàng trực tuyến, họ dành nhiều thời gian và tiền bạc hơn cho hoạt động này Dự kiến, doanh thu bán lẻ trực tuyến trên toàn thế giới sẽ tăng từ 1.900 tỷ USD năm 2016

Theo đánh giá về tình hình tiêu dùng năm 2017 của Consumer Conditions Scoreboard,

tỷ lệ mua sắm trực tuyến tại Liên minh châu Âu (EU) đã tăng gấp 2 lần trong 10 năm qua Mua bán trực tuyến hiện đóng góp hơn 9% tổng doanh số bán lẻ tại Châu Âu và tính trong những tháng đầu năm 2016, có tới 18 triệu người dùng mạng Internet ở khu vực Bắc Âu mua hàng trực tuyến Trong năm 2016, thương mại điện tử là điểm sáng trong ngành bán lẻ của Mỹ Thống

kê cho thấy doanh thu bán hàng qua mạng trong năm 2016 đạt 394,86 tỷ USD, tăng 15,6% so với với năm 2015, ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2013

3.2 Sự phát triển của ngành Print on Demand trước Covid 19

Các công ty POD Việt Nam bán sản phẩm cho người tiêu dùng tại Mỹ và Châu Âu bùng

nổ mạnh từ đầu những năm 2012 và luôn nằm trong top đầu những nhà cung cấp trong lĩnh vực

áo thun với thị trường Mỹ Những quốc gia này có độ tăng trường về thanh toán, mua hàng

Trang 19

online rất mạnh và khi mua những sản phẩm được thiết kế riêng, họ thường mặc những áo mà mang lại sự tự hào, thể hiện phong cách riêng của họ Dữ liệu từ The Deloitte Consumer Review cho thấy hơn 50% người mua sắm chọn hình thức mua sắm được cá nhân hóa nhờ sự dễ dàng trong việc tìm kiếm các dịch vụ cho phép tạo ra một sản phẩm đặc biệt, như trang trí một món

đồ hoặc tạo một thiết kế độc đáo bằng in kỹ thuật số Xu hướng này là một sự phát triển hợp lý

ở Việt Nam dù còn tương đối mới mẻ

Anh Nguyễn Thanh Bình - CEO của Spectech PTE LTD, cho biết kết quả kinh doanh với số liệu ấn tượng được ghi nhận vào giai đoạn 2018 khi công ty tập trung khai thác thế mạnh trong lĩnh vực Print on Demand

Dù hầu hết các nền tảng POD hiện nay đều thân thiện với người dùng và dễ sử dụng nhưng người tiêu dùng Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến các sản phẩm POD, họ thường mua của những thương hiệu quốc tế nổi tiếng trên thị trường hay các local brand Việt Nam Ví dụ như ngành thời trang, khách hàng Việt Nam có xu hướng sử dụng các thương hiệu như Zara, H&M, Lacoste… thay vì những chiếc áo T-shirts POD Theo sau đó, các công ty POD chưa chú trọng vào việc marketing sản phẩm ở thị trường nội địa dù có rất nhiều phương tiện truyền thông và mạng xã hội làm tốt nhiệm vụ quảng cáo hiện nay như Facebook, Instagram, Tiktok hay Youtube… Nói riêng ở thị trường Việt Nam thì POD vẫn chưa có nhiều nền tảng hỗ trợ hoạt động, giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh cho người bán Tuy nhiên hiện tại, các nền tảng đã bắt đầu quan tâm hơn nhiều tới người bán sản phẩm POD, hỗ trợ những ứng dụng tự động cho quy trình fulfillment Những nền tảng do người Việt phát triển như ShopBase, PrintBase rất chịu khó lắng nghe ý kiến người dùng, phản hồi cực kì nhanh chóng và rất chủ động giúp các công

ty POD giải quyết các vấn đề mà cửa hàng đang gặp phải

Trang 20

Khác với ở thị trường Việt Nam, ngành POD toàn cầu đang tăng dần về quy mô Chi phí chung thấp, đầu tư tối thiểu và tiềm năng ký quỹ tốt là những lợi thế khiến mô hình POD trở nên lý tưởng cho các doanh nhân Do áp lực giá cả mạnh mẽ, sự hợp nhất và quan hệ đối tác của nhiều công ty, thị trường POD rất cạnh tranh Dù vậy, điều này không thể ngăn cản hàng triệu doanh nhân mở cửa hàng trực tuyến của họ và tiến hành giao dịch thành công Sự tăng trưởng của những sản phẩm cá nhân hoá này dự kiến sẽ thống trị thị trường vào năm 2025

Hiện nay, có rất nhiều nền tảng được phát triển nhằm hỗ trợ người bán trong việc bán hàng và marketing sản phẩm, ví dụ như: PrintBase, RedBubble, Printify, Printful Một doanh nghiệp Print on Demand nên lựa chọn được nền tảng bán tốt, điều này sẽ giảm thiểu được nhiều chi phí phát sinh như giá sản xuất, phí vận chuyển, phí thanh toán, từ đó nâng cao lợi nhuận của mình

Đối với ngành POD, các ngày lễ trong năm rất quan trọng vì những món quà thay lời cảm ơn với thông điệp ấm áp sẽ là sản phẩm tiềm năng cho kế hoạch bán hàng của thị trường Print on demand và Dropshipping toàn cầu Theo số liệu báo cáo từ chính Google, doanh số bán của lĩnh vực thương mại điện tử mùa lễ hội đang chứng kiến mức tăng trưởng mạnh, lên tới 18% qua từng năm Người bán sản phẩm POD thường tập trung vào các ngày lễ quan trọng như: Valentine, Lễ Tạ ơn, Ngày Quốc Khánh, Halloween, Black Friday, Christmas Theo thống kê từ 2009 – 2019 về xu hướng tiêu dùng trong dịp Quốc Khánh Mỹ, trung bình mỗi năm

có đến 88% người dân kỷ niệm ngày lễ này Năm 2020, với ảnh hưởng của dịch Covid-19, tỷ

lệ này giảm xuống ở mức 76% Tuy vậy, kế hoạch chi tiêu trung bình của từng người đạt $76.49, cao hơn năm 2019 ($73.33) và đạt mức cao nhất từ năm 2014 đến nay Mặc dù mùa cao điểm ngắn hạn nhưng lượng cạnh tranh vô hạn, thị trường POD sẽ thuộc về những người bán hiểu được hành vi và những thói quen mua sắm của khách hàng

3.3 Sự lên ngôi của thương mại điện tử tác động trực tiếp lên ngành Print on Demand

trong bối cảnh covid 19

Trong những năm vừa qua, không chỉ ngành thương mại điện tử mà toàn bộ đời sống kinh tế xã hội đều bị ảnh hưởng bởi đại dịch toàn cầu Covid-19 Tuy nhiên, có lẽ khác với các ngành còn lại, riêng thương mại điện tử lại đón nhận những ảnh hưởng vô cùng tích cực Chính

vì những lo ngại sức khỏe và lệnh giãn cách xã hội tại nhiều quốc gia trên thế giới mà những cửa hàng truyền thống dần trở nên vắng khách và bắt buộc phải đóng cửa Điều này đã mở rộng con đường cho sự lên ngôi của thương mại điện tử trên toàn thế giới

Trang 21

Theo thống kê, trên thế giới, có 2,05 tỷ người đã thực hiện ít nhất một lần mua hàng trực tuyến vào năm 2020 Riêng tại Hoa Kỳ, doanh số từ các nhà bán lẻ và dịch vụ ăn uống từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2020 đã giảm 7,7% so với cùng kỳ năm 2019, doanh số bán hàng trên các trang thương mại điện tử đã tăng lên đến 16% Ở EU, doanh số bán lẻ qua việc đặt hàng qua thư hoặc Internet vào tháng 4 năm 2020 tăng 30% so với tháng 4 năm 2019

Còn tại Việt Nam, theo báo cáo của Niesel Việt Nam, Covid-19 khiến người tiêu dùng mua sắm online nhiều hơn 25% Người dân tăng cường tiêu dùng trong nhà, giảm mua sắm tại các kênh bán hàng truyền thống và tăng tần suất giao dịch trực tuyến trên các nền tảng thương mại điện tử Nhiều mặt hàng trước đây vốn không thường được giao dịch trực tuyến nhưng hiện tại lại rất đắt hàng Đặc biệt có thể kể đến như các mặt hàng y tế, phòng dịch Sau dịch, ngành thương mại điện tử tăng 16% lên 14 tỉ USD, do một bộ phận người dùng đã quen dần và trở nên thích thú với việc mua hàng online, nhận hàng tận nhà

Hàng triệu công ty đã mở cửa hàng trực tuyến trên nhiều nền tảng, bao gồm cả thị trường POD Số lượng người dùng trung bình hàng tháng của Printify đã tăng trưởng ba con số từ năm

2019 đến năm 2020 Các nền tảng thương mại điện tử đã gia tăng chi tiêu ngân sách cho quảng cáo eBay có hàng triệu người mua và người bán và đã tăng 8 triệu người mua trong quý 2/2020 Vào tháng 5/2020, Etsy báo cáo lượng người bán hoạt động tăng 26,4% so với năm trước eMarketer cũng ước tính rằng chi tiêu quảng cáo trên các nền tảng thương mại điện tử sẽ tăng 39%, đạt 17,4 tỷ đô la trong năm 2021, chiếm khoảng 12% tổng chi tiêu cho quảng cáo kỹ thuật

số ở Hoa Kỳ Tăng trưởng chi tiêu trong ngành đang tăng khá nhanh do đại dịch Covid 19

Những lợi thế tích cực về sự thay đổi thói quen mua hàng online, cộng với sự mạnh tay chi tiêu quảng bá của các nền tảng sẽ tạo một đòn bẩy lớn cho POD phát triển trong năm 2021 Thị trường POD trên toàn cầu được dự báo sẽ tăng khoảng 8% trong giai đoạn 2019 –2023 và doanh số sản phẩm áo thun POD dự kiến sẽ đạt 10 tỷ USD vào năm 2025 Theo thông tin từ Printify, chỉ tính riêng trong tháng 6 năm 2020, lượng đơn đặt hàng mà các cửa hàng POD Printify đã nhận được là hơn 400.000 đơn đặt hàng, tăng 311% so với cùng kỳ năm ngoái

Bên cạnh đó, sự ra mắt của một nền tảng mới đã giảm thiểu rủi ro khi thanh toán và vấn

đề pháp lý khi người tiêu dùng mua sản phẩm POD PrintBase là nền tảng bán POD ra mắt cuối năm 2019 Chỉ trong vòng chưa đầy 10 tháng, PrintBase đã thu hút gần 19.000 người bán POD

và xây dựng cộng đồng gần 6.000 thành viên Dù hình thành muộn nhưng PrintBase đã khắc phục được các tính năng mà các nền tảng trước còn thiếu còn thiếu, ví dụ như: cổng thanh toán tích hợp sẵn ShopBase Payment, được đăng ký giấy phép đầy đủ, giảm thiểu tình trạng chặn,

Trang 22

khóa cổng và kiện cáo như nhiều bên khác Khi sử dụng ShopBase Payment, người bán chỉ cần chờ vài ngày là có thể nhận tiền thanh toán trực tiếp từ khách hàng

Năm 2021, do bị ảnh hưởng của dịch covid 19, các xưởng sản xuất và in sản phẩm POD gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu và công nhân xưởng, vì vậy giá của một số sản phẩm POD

có sự điều chỉnh nhẹ Cụ thể, theo Smartify, một đơn vị cung cấp dịch vụ POD toàn cầu của Việt Nam, cho biết giá sản phẩm POD Crocs tăng $0.5 so với ban đầu và tuy nhiên vẫn có thể đảm bảo giữ nguyên được thời gian sản xuất Mặc dù có nhiều xáo trộn nhưng năm 2020 là một năm thú vị và đầy thách thức đối với ngành POD đang phát triển Danh mục sản phẩm POD mà khách hàng quan tâm cũng đa dạng và phong phú hơn rất nhiều Báo cáo của (AliDropship & Newswire, 2021) cũng đã đưa ra một số dự báo xu hướng sản phẩm đang và sẽ nhận được sự quan tâm từ khách hàng, điển hình là:

• Khẩu trang: một hành trang không thể thiếu khi ra ngoài trong thời điểm dịch Covid

19 diễn biến căng thẳng Đeo khẩu trang để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và an toàn cho xã hội

• Đồ dùng trang trí nhà cửa: Theo một nghiên cứu thị trường, lĩnh vực trang trí nhà cửa trên toàn cầu đạt giá trị 616,6 tỷ USD vào năm 2019 và sẽ tiếp tục tăng trưởng trong những năm tới Họ dự báo rằng nó có thể đạt giá trị ngành là 838,6 tỷ đô la vào năm 2027 PR Newswire cũng cho biết rằng sẽ có mức tăng trưởng CARG (tỷ lệ tăng trưởng hàng năm tổng hợp) ở mức 3,9% từ năm 2020 đến năm 2027

• Cá nhân hóa sản phẩm vẫn luôn là xu hướng mới của ngành POD Các sản phẩm cá nhân hóa không chỉ giúp các công ty POD đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà còn giúp họ có

cơ hội để hiểu khách hàng của mình hơn và xây dựng thương hiệu, giữ chân khách hàng Theo nghiên cứu của Deloitte, người tiêu dùng không chỉ tìm kiếm sự cá nhân hoá và tuỳ chỉnh, mà còn có tới 34% cho biết rằng họ thấy các sản phẩm và dịch vụ tiêu chuẩn có sẵn không phải là thứ họ thật sự mong muốn

• Phụ kiện mặc nhà: Tìm kiếm cho từ khóa "đồ ngủ" tăng đáng kể vào năm 2020 Trong khi so với các năm trước, từ khóa này dường như chỉ được tìm kiếm gần mùa đông hoặc các ngày lễ

Trang 23

Nguồn: Google trends

Việc phân tích hành vi người tiêu cũng một phần giúp doanh nghiệp POD đánh giá đúng hơn về hành vi của các nhóm khách hàng, giúp cho các hoạt động marketing và kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao hơn Đối với các công ty POD, nếu khách hàng mục tiêu là thanh thiếu niên, họ sẽ dùng các nền tảng như Snapchat, Instagram hoặc Youtube để thúc đẩy hoạt động marketing Những người lớn tuổi hơn, công ty POD sẽ chọn Facebook là một công cụ quảng cáo

4 Đề xuất giải pháp

4.1 Trong nước

Dù phát triển rất mạnh mẽ ở các thị trường như Mỹ, Châu Âu… song, tại Việt Nam, khái niệm về ngành Print on Demand (POD) cũng như các sản phẩm POD vẫn còn tương đối mới mẻ đối với người tiêu dùng Sau đây, nhóm chúng tôi xin đề xuất một vài giải pháp cho các công ty POD tại Việt Nam để họ có thể mở rộng quy mô ngay trên thị trường nước nhà

• Mở rộng hoạt động marketing, quảng cáo sản phẩm

Các công ty POD Việt Nam có thể mời những người nổi tiếng để quảng cáo cho hình ảnh thương hiệu và sản phẩm của họ Tặng sản phẩm của công ty cho các review blogger Thông thường, khách hàng sẽ đọc phần review sản phẩm trước khi họ quyết định có nên mua sản phẩm

đó hay không

Các công ty POD có thể quảng cáo sản phẩm trên các mạng xã hội có nhiều người dùng hiện nay như: Facebook, Tiktok, Instagram… Bắt đầu với một tài khoản IG tập trung tạo

Trang 24

content, xây dựng hình ảnh đẹp mắt thu hút đến nhóm khách hàng mục tiêu (thu hút nhiều like, lượt theo dõi )

• Tăng trải nghiệm khách hàng

Các website bán hàng cần được tạo dựng và đảm bảo có tốc độ load nhanh và tỉ lệ chuyển đổi cao Đây cũng là một vấn đề cơ bản khi các công ty Việt Nam thường mắc phải khi tạo lập website một cách không hệ thống với nhiều sản phẩm một cách rối mắt

Thu thập các dữ liệu khách hàng đã sử dụng sản phẩm hoặc đã từng quan tâm đến sản phẩm, phân tích được hành vi tiêu dùng của khách hàng để dễ dàng chăm sóc khách hàng cũ và tiếp cận được khách hàng tiềm năng khác, từ đó sẽ tăng doanh thu và tạo cơ sở giúp doanh nghiệp phát triển bền vững sau này

• Chủ động cập nhật những tính năng mới của các nền tảng POD

Các công ty POD cần chủ động cập nhật những tính năng mới, triển khai nhiều yếu tố công nghệ vào việc kinh doanh mô hình này, giúp khách hàng hài lòng hơn và cho phép họ tùy chỉnh được các lựa chọn khác nhau như hình ảnh, màu, text, font, hiệu ứng,… một cách tự động sau đó sẽ xác nhận tùy chỉnh và gửi người bán để có thể hoàn thành đơn hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện cho khách hàng

• Xây dựng đội ngũ nhân sự chất lượng cũng là một trong những giải pháp giúp các công ty POD có một lợi thế cạnh tranh và phát triển ngày càng lớn mạnh hơn trong lĩnh vực này

• Xây dựng thêm những nền tảng mới và cải thiện những nền tảng đã có để tạo điều kiện tốt nhất cho những công ty POD Tại Việt Nam, hiện nay vẫn chưa có nhiều những nền tảng hữu ích để có thể hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh POD Để có hiệu quả kinh doanh tốt thì cần phải có một nền tảng tốt

4.2 Nước ngoài

Các nền tảng Print on Demand (POD) cần xây dựng các tính năng mới, bao gồm các tính năng định tuyến đơn hàng giúp di chuyển các đơn hàng mới và hiện có sang các nhà cung cấp thay thế nếu cần, giúp người bán hợp lý hóa và tối ưu hóa cửa hàng của họ

Bên cạnh đó, các công ty cũng cần phải mở rộng hoạt động marketing để hướng tới khách hàng mục tiêu mới, tăng mức độ nhận diện thương hiệu và bán hàng của mình để tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng

Trang 25

Hơn cả, các công ty POD cần theo kịp xu hướng tiêu dùng; nhắm mục tiêu thị trường sinh lợi, cá nhân hóa và cung cấp các sản phẩm khác biệt phù hợp với thị trường cụ thể Công

ty cần phải xem xét khách hàng mục tiêu trước, thay vì chỉ tạo ra các thiết kế chung và sau đó nghĩ về cách bán sản phẩm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ajzen, & FishBein (1975) Theory of Reasoned Action

AliDropship, & Newswire, P (2021) 2021 Forecast: What are the next top Print on Demand trends?

Bauer (1960) Theory of Perceived Risk

Bộ Công Thương Việt Nam (2017) Thị trường thương mại điện tử thế giới bước vào 'thời kỳ trăng mật'

CafeBiz (2019) POD và Dropshipping: Cơ hội tăng thu nhập cho người Việt

Davis, D., & Arbor, A (1989) Technology Acceptance Model

Đỗ Thị Nhâm - Đỗ Thị Huệ - Nguyễn Thị Lan (2020) Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam: Thực trạng

và kiến nghị Tạp chí Công thương

Dukurs, G (2020) Print-On-Demand Predictions For 2021 Forbes Technology Council

Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (2019) Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2019

Merchize (2021) Print On Demand là gì? Các bước để bắt đầu kinh doanh print on demand Được truy lục từ

Merchize

Nguyễn Thị Ngọc Giàu (2016) Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng trực tuyến

Shopbase (2020) Print On Demand 2D Được truy lục từ Shopbase

Teeninblue (2021) Sự lên ngôi của Thương mại điện tử và những ảnh hưởng tới ngành Print on Demand năm

2021

Tran Phu (2020) Top 5 nền tảng bán Print-On-Demand tốt nhất năm 2021

Trang 26

ẢNH HƯỞNG THỜI KỲ COVID-19 ĐỐI VỚI DU LỊCH VIỆT NAM

Hoàng Thùy Dung – K22KDQTC Trần Việt Dũng – K22KDQTC

Học viện Ngân hàng

Phần A: Mở đầu

Tóm tắt

Du lịch Việt Nam có đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nước

và thể hiện vai trò là một ngành kinh tế quan trọng khi mang lại nguồn thu khổng lồ cho nền kinh tế quốc dân Trong giai đoạn 2015-2020, ngành du lịch Việt Nam được đánh giá và kỳ vọng sẽ đạt tăng trưởng hơn nữa so với các năm trước Tuy nhiên, sự xuất hiện của đại dịch Covid với tốc độ lan nhanh trên toàn cầu đã khiến ngành du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bị ảnh hưởng vô cùng to lớn, gây thiệt nặng nề cho các doanh nghiệp kinh doanh, người lao động thất nghiệp

Mục đích nghiên cứu của đề tài: Du lịch Việt Nam trong thời kỳ Covid-19 Bằng phương pháp nghiên cứu chủ yếu: Chủ đạo và Bổ trợ nhóm em hy vọng có thể có những đóng góp về thực trạng du lịch, các doanh nghiệp trong đại dịch, đồng thời đề xuất những giải pháp phục hồi và dự đoán những xu hướng du lịch mới trong tương lai

Từ khóa: Du lịch, Covid-19, Giải pháp,

1 Lý do chọn đề tài:

Theo Tổng cục Du lịch (TCDL), năm 2018 ngành du lịch đã đón hơn 15,6 triệu khách quốc tế cùng hơn 80 triệu lượt khách nội địa với tổng doanh thu đạt 637 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 17,7% Tiếp đó vào năm 2019, Tổng doanh thu năm là 755 tỷ, tăng 118 nghìn tỷ đồng

so với cùng kỳ năm 2018, tốc độ tăng trưởng cao đạt 18,5%

Năm 2020 du lịch Việt Nam được kỳ vọng tăng trưởng vượt mức so với 2019, tuy nhiên

sự xuất hiện đại dịch Covid với tốc độ lan nhanh trên toàn cầu đã khiến ngành du lịch bị ảnh hưởng vô cùng to lớn, gây thiệt nặng nề cho các doanh nghiệp kinh doanh, người lao động thất nghiệp và nền kinh tế bị ảnh hưởng

Trang 27

Nhận thức được sự ảnh hưởng mạnh mẽ của đại dịch Covid đối với du lịch Việt Nam, nhóm em thực hiện bài nghiên cứu khoa học với đề tài “Ảnh hưởng thời kỳ Covid-19 đối với

du lịch Việt Nam”

2 Mục đích nghiên cứu

Sự tác động của Covid-19 tới du lịch Việt Nam từ đó đưa ra các giải pháp và dự đoán

xu hướng trong tương lai của du lịch

3 Đối tượng nghiên cứu

Ngành du lịch, doanh nghiệp kinh doanh, người dân trong thời kỳ Covid-19

Các giải pháp sẽ được thực hiện nhằm phục hồi du lịch sau đại dịch Covid-19

Xu thế du lịch trong tương lai

4 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Du lịch Việt Nam và các đối tượng liên quan trực tiếp

Thời gian: Từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Gồm 3 nhiệm vụ:

• Hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu

• Mô tả thực trạng, phân tích và đánh giá những ảnh hưởng của Covid-19 tới du lịch Việt Nam

• Đề xuất các giải pháp có tính khả thi

6 Nội dung nghiên cứu

Gồm 3 nội dung:

• Nhìn lại dòng thời gian những sự kiện đại dịch tác động tới du lịch Việt Nam

• Ảnh hưởng của Covid-19 tới ngành du lịch và doanh nghiệp

• Giải pháp cho ngành du lịch và các dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai

7 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ đạo:

• Phương pháp nghiên cứu tài liệu

• Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp bổ trợ:

• Phương pháp quan sát

• Phương pháp chuyên gia

Trang 28

Phần B: Nội dung nghiên cứu

Chương 1: Nhìn lại dòng thời gian những sự kiện đại dịch Covid-19 tác động tới du lịch Việt Nam

Hiệp hội Du lịch Việt Nam phát động chương trình kích cầu du lịch nội địa trên toàn quốc với chủ đề “Du lịch Việt Nam - Điểm đến sáng tươi”

Nhờ có sự phối hợp của các đơn vị, doanh nghiệp, các gói kích cầu đạt được những hiệp quả ban đầu và tiếp đón hàng nghìn du khách trong dịp 30/4-1/5

- Ngày 7/9, khi mà các biện pháp chống dịch đã cho thấy hiệu quả rõ rệt, hoạt động của máy bay, tàu lửa, ô tô đi, đến Đà Nẵng được khôi phục

- Tổng cục Du lịch đã ban hành Bộ tiêu chí an toàn du lịch và phát động chương trình kích cầu du lịch với chủ đề “Du lịch Việt Nam an toàn, hấp dẫn”

- Ngày 15/9, Việt Nam đã nối lại các chuyến bay thương mại quốc tế

Trang 29

3 Làn sóng Covid thứ 3 (Tết Tân Sửu 2021)

- Ngày 27/1/2021 các ca nhiễm trong cộng đồng bắt đầu xuất hiện trở lại với diễn biến phức tạp, đặc biệt là tỉnh Quảng Ninh và Hải Dương

- Ngày 29/1 thực hiện theo Chỉ thị số 16 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Quảng Ninh thực hiện giãn cách xã hội tại 1 số địa điểm

- Ngày 16/2 toàn tỉnh Hải Dương thực hiện theo chỉ thị giãn cách xã hội theo chỉ thị số

4 Làn sóng Covid thứ 4 (Cuối 4/2021 đến nay)

- Ngày 27/4 ca nhiễm trong cộng đồng xuất hiện trở lại với các biến chủng mới ngay trước thời điểm nghỉ lễ 30/4-1/5

- Ngày 6/5, điều chỉnh thời gian cách ly tập trung đối với các trường hợp phải cách ly tập trung theo quy định từ ít nhất 14 ngày lên ít nhất 21 ngày liên tục

- Tâm dịch được nhắc đến nhiều hiện nay là các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang

- Khách du lịch hủy tour, hoãn tour hàng loạt vào dịp nghỉ lễ cũng như dịp hè

- Du lịch nội địa vẫn được duy trì nhưng với số lượng ít ỏi, sân bay vắng chỉ có 1 số lượng nhỏ khách di chuyển Các địa điểm du lịch như Phú Quốc, Côn Đảo đã dừng các chuyến bay chở khách, Festival Huế cũng tạm dừng để phòng chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn cho xã hội

- Từ giữa đến cuối tháng 5, Hà Nội tạm dừng hoạt động cơ sở dịch vụ ăn, uống tại chỗ, khu vui chơi… Thành phố Hồ Chí Minh cũng giãn cách xã hội tại một số quận

Cho đến nay, dịch Covid-19 đã tấn công hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam ghi nhận 9.635 ca dương tính và 55 ca tử vong, dịch bệnh vẫn còn đang diễn biến rất phức tạp

Trang 30

Chương 2: Ảnh hưởng của Covid 19 tới ngành du lịch và doanh nghiệp

1 Tác động đến ngành du lịch

Đầu năm 2020, Việt Nam chào đón khách du lịch với sự tự tin, quyết tâm tạo nên những dấu mốc ấn tượng trong năm cuối cùng thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016-2020 Chỉ trong tháng 1, lượng khách quốc tế đến với Việt Nam ở mức kỷ lục: 2 triệu lượt, tăng 32,8% so với cùng kỳ 2019 Ngành du lịch được dự đoán sẽ đón 20 triệu lượt khách quốc tế trong năm

Thế nhưng, bắt đầu từ tháng 2/2020, dịch Covid-19 đã bùng lên ở thế giới cũng như trong nước, ảnh hưởng trực tiếp đến ngành du lịch Ngành du lịch đã gặp phải những khủng hoảng mà chưa từng có tiền lệ Các làn sóng dịch bệnh rơi vào những cao điểm của du lịch như Tết Nguyên Đán, nghỉ lễ 30/4-1/5, nghỉ lễ Quốc Khánh 2/9, tạo tâm lý lo sợ cho khách, khiến

du khách hoãn, hủy tour hàng loạt…

Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Covid-19 là nguyên nhân của những thiệt hại rất nghiêm trọng đối với ngành du lịch thế giới Lượng khách du lịch quốc tế trên toàn cầu trong năm 2020 sụt giảm tới 1,1 tỷ lượt Tổng thu du lịch toàn cầu mất đi 1,1 nghìn tỷ USD; Khoảng 100-120 triệu lao động trong ngành bị mất việc Theo báo cáo cuối năm của Tổng cục Thống kê, năm 2020, tổng thu du lịch đạt 312 nghìn tỷ đồng, giảm 58,7% - mức giảm tương đương 19 tỷ USD Khoảng 40-60% lao động bị mất việc làm hoặc cắt giảm ngày công Khoảng 95% doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã ngừng hoạt động Nhiều khách sạn phải đóng cửa, công suất sử dụng phòng có thời điểm chỉ đạt từ 10-15%

• Lượng khách quốc tế sụt giảm

Du lịch quốc tế, nguồn thu chính của ngành du lịch Việt Nam đã bị sụt giảm mạnh trong năm vừa qua Theo Tổng cục thống kê, số lượt khách quốc tế đến Việt Nam năm 2020 chỉ đạt 3,8 triệu lượt người, giảm 78,7% so với năm trước, trong đó hơn 96% là khách quốc tế đến trong quý I/2020; Từ quý II đến nay chủ yếu là các chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam

Số liệu từ Tổng cục thống kê cho thấy, lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 3/2020 ước đạt 449.923 lượt, giảm 63,8% so với 2/2020 và giảm 68,1% so với cùng kỳ năm

2019 Quý I/2020, khách quốc tế đến Việt Nam ước tính đạt 3.686,8 nghìn lượt người, giảm 18,1% so với cùng kỳ năm trước

Tại châu Á, ba thị trường khách du lịch quốc tế đến du lịch Việt Nam chiếm hơn 51% tổng lượng khách du lịch quốc tế đó là Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản Trong 3 tháng đầu

Trang 31

năm 2020, khách đến từ châu Á đạt 2.674,4 nghìn lượt người (chiếm 72,5% tổng số khách quốc

tế đến Việt Nam, giảm 21,1% so với cùng kỳ năm trước) Đối với khách Châu Âu ước tính 664,3 nghìn lượt người (giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước)

Hình 1 Tác động của đại dịch Covid-19 đến khách quốc tế

Nguồn Cục hàng không Việt Nam; Bộ văn hóa, Thể Thao và Du lịch Việt Nam

Số lượng chuyến bay trong tháng 10/2020 giảm đến 80% so với cùng kỳ năm trước Việc du khách nước ngoài không thể đến Việt Nam đã tác động rất lớn đối với doanh thu của ngành du lịch cũng như nền kinh tế bởi vì nhóm này chi mạnh tay hơn rất nhiều so với du khách trong nước Năm 2019, ngành du lịch chỉ chiếm 17% nhưng lại chi hơn quá nửa: trung bình mỗi du khách nước ngoài chi 673 USD, trong khi du khách trong nước chỉ chi 61 USD

Hình 2 Du khách quốc tế chỉ chiếm phần nhỏ trong số du khách tại Việt Nam nhưng lại

chi phần lớn

Nguồn: Euromonitor, Globaldata, GSO

Trang 32

Sau làn sóng dịch thứ 2, Việt Nam đã dần nối lại các chuyến bay thương mại quốc tế Theo Tổng cục Thống kê, khách quốc tế đến nước ta trong tháng 11/2020 ước tính đạt 17,7 nghìn lượt người, tăng 19,6% so với tháng trước nhưng giảm 99% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 11 tháng năm 2020, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3,8 triệu lượt người, giảm 76,6% so với cùng kỳ năm trước

Trong quý I/2021, lượng khách quốc tế đến với Việt Nam là 48.104 lượt người, giảm 98,7% so với cùng kỳ năm 2020; Trong đó, khách qua đường hàng không là 31.038 lượt (giảm 99,0%), qua đường bộ là 16.937 lượt (giảm 96.9%) và qua đường biển 129 lượt người (giảm 99%) Số liệu trên cho thấy lượng hành khách quốc tế đến với Việt Nam chỉ ở mức thấp Lý do

là làn sóng Covid-19 lần thứ 3 vào tháng 2/2021 hoành hành rất phức tạp ở Việt Nam cũng như

số chuyến bay quốc tế đi và về từ Việt Nam ở mức thấp, chủ yếu hành khách đến Việt Nam vẫn chỉ là các chuyên gia và lao động nước ngoài

• Cầu du lịch sụt giảm, hàng loạt nhóm ngành liên quan chịu tác động

Du lịch là một lĩnh vực kinh tế đa ngành, vì vậy khi du lịch bị chịu tác động thì hàng loạt các nhóm ngành khác sẽ phải chịu sự ảnh hưởng đáng kể như: vận tải, dịch vụ ăn uống, lưu trú… Từ đó tạo ra chuỗi làm cả nền kinh tế thiệt hại Mặc dù dịch Covid-19 đã được khống chế tốt, du lịch nội địa vẫn được duy trì, tuy nhiên vẫn bị ngắt quãng bởi các làn sóng dịch

Số liệu từ Tổng cục thống kê, doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống cả năm 2020 ước tính đạt 510,4 nghìn tỷ đồng (giảm 13% so với năm 2019) Do ảnh hưởng từ dịch Covid-19 nên nhiều cơ sở kinh doanh, nhà hàng hoạt động cầm chừng hoặc không hoạt động

Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành năm 2020 ước tính đạt 17,9 nghìn tỷ đồng (giảm 59,5% cùng kỳ năm 2019) Lý do là bởi nhiều địa điểm tham quan du lịch phải ngừng hoạt động, một lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế đã hủy tour du lịch do lo ngại dịch bệnh

Vận tải hành khách năm 2020 ước tính đạt 3.561,9 triệu lượt hành khách vận chuyển (giảm 29,6% cùng kỳ năm trước), và luân chuyển ước tính 163,0 tỷ lượt khách kilômét (Hk.Km) (giảm 34,1% so với năm 2019) Nguyên nhân do các đợt giãn cách xã hội, nhu cầu vận tải của người dân giảm mạnh

Đà Nẵng là địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất sau đợt dịch Covid-19 lần thứ hai

Là tâm dịch, du lịch Đà Nẵng gần như đóng băng Sau hai đợt dịch Covid-19, có thể nói, cả ngành du lịch Việt đã gần như “kiệt sức”

Trang 33

Trong 3 tháng đầu năm 2021, hoạt động du lịch vẫn duy trì ở mức thấp do lo ngại làn sóng dịch bệnh lần thứ 3, một số thành phố, địa phương trước đây là nơi thu hút khách du lịch thì lượng khách đến đây khá “trầm lắng” Theo Tổng cục thống kê, doanh thu du lịch lữ hành quý I/2021 ước tính đạt 3,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,2% tổng mức và giảm 60,1% so với cùng

kỳ năm trước Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống quý I/2021 ước tính đạt 124 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,6% tổng mức và giảm 3% so với cùng kỳ năm trước Doanh thu dịch vụ khác ước tính đạt 130,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng mức và tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2020 Hoạt động vận tải ước tính đạt 1.102,3 triệu lượt hành khách, giảm 11,8% so với cùng kỳ năm trước,

và luân chuyển hành khách ước tính đạt 42,2 tỷ lượt HK.km, giảm 20,9% so với cùng kỳ năm

2020

Sau khi làn sóng dịch lần thứ 3 qua đi, thì lần thứ 4 lại ập đến vào dịp nghỉ lễ 30/4 và vẫn đang tiếp diễn, hàng ngàn người dân hủy tour du lịch vào dịp lễ và hè Các thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh thực hiện đóng cửa các khu vui chơi, ăn uống tại chỗ, khu du lịch nghỉ dưỡng đóng băng

Có thể kết luận rằng, đại dịch Covid-19 đã “giáng đòn chí mạng” vào ngành du lịch Việt Nam Để giải quyết tạm thời vấn đề này thì cần sự hỗ trợ của chính phủ đối với các đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân để thúc đẩy du lịch nội địa Cho đến thời điểm hiện tại, để xác định khi nào hoạt động du lịch nội địa và thế giới trở lại bình thường thì vẫn là một dấu chấm hỏi rất lớn

và điều đó chỉ xảy ra nếu miễn dịch cộng đồng được thực hiện không chỉ ở Việt Nam mà còn

là các nước trên thế giới

2 Tác động đến doanh nghiệp

2.1 Doanh nghiệp lữ hành

Sau 3 đợt dịch, các doanh nghiệp lữ hành gần như đã “kiệt quệ” để có thể tiếp tục, dịp nghỉ lễ 30/4-1/5 cũng như dịp hè được kỳ vọng là cú huých cho ngành du lịch nội địa Tuy nhiên đợt dịch lần thứ 4 đang dần tước đi cơ hội đó khi mà số lượng khách hủy tour, hoãn tour đang ngày một nhiều, cùng với đó là tình hình dịch bệnh đang diễn ra rất phức tạp ở nhiều tỉnh thành

Theo Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ có khoảng hơn một nửa số doanh nghiệp

lữ hành là còn đang hoạt động cầm chừng tại Tp.HCM sau 5 tháng đầu năm 2021 Cụ thể, toàn thành phố có 1.049 doanh nghiệp lữ hành, trong đó 567 doanh nghiệp đang hoạt động (chiếm

Trang 34

52%), 105 doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động (chiếm 9,6%), 392 doanh nghiệp không hoạt động (chiếm 35,9%), 27 doanh nghiệp thay đổi trụ sở đi nơi khác (chiếm 2,5%)

Còn tại Hà Nội, tính đến hết tháng 2/2021, số lượng doanh nghiệp, đại lý lữ hành đóng cửa, dừng hoạt động trên địa bàn Hà Nội ước khoảng 95% Đã có 267/1.191 doanh nghiệp lữ hành quốc tế thu hồi giấy phép và dừng hoạt động; 11/103 doanh nghiệp lữ hành nội địa rút giấy phép kinh doanh Số lao động nghỉ việc chiếm khoảng 90% tổng số lao động doanh nghiệp đại lý lữ hành, tương đương 12.168 người chấm dứt hợp đồng lao động (Số liệu từ Sở du lịch

3 Doanh nghiệp hàng không

Kể từ khi dịch COVID-19 xảy ra, thiệt hại của ngành hàng không Việt Nam rất nặng

nề Lượng du học sinh, kiều bào nước ngoài kéo về nước trước khi đóng cửa các sân bay cũng không giúp cải thiện tình hình ngành hàng không Sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất có hàng trăm máy bay nằm trên sân đỗ, thậm chí phải tận dụng mọi vị trí có thể để xếp máy bay, cả trong khu vực xưởng sửa chữa hay cả trên đường lăn Tiêu biểu 1 số hãng hàng không như:

Trang 35

Tháng 5/2021, Vietnam Airlines đã đăng thông báo mời tham gia mua đấu giá 11 tàu bay thân hẹp Airbus A321CEO Ngoài ra, Vietnam Airlines còn muốn bán và thuê lại (SLB) một động cơ dự phòng PW1133G-JM kèm QEC mới (Quick Engine Change - bộ thay động cơ nhanh) dự kiến giao tháng 7/2021 Việc thanh lý các tàu bay cũ cũng như bán và thuê lại (SLB) tài sản cố định là một phần trong kế hoạch cải thiện nguồn thu, bổ sung thanh khoản của Vietnam Airlines để đối phó với thiệt hại của COVID-19

• Vietjet

Báo cáo tài chính quý IV/2020 của Vietjet cho thấy Vietjet đã trở thành một trong những hãng hàng không hiếm hoi có lãi trong năm 2020, khoảng thời gian dài nền kinh tế toàn cầu lao đao vì đại dịch Covid-19

Cụ thể, lợi nhuận sau thuế quý IV/2020 của Vietjet lên tới 995 tỷ đồng, tăng 456 tỷ đồng, tương đương 84,6% so với quý IV/2019 Trước đó, Vietjet chứng kiến quý I và quý III thua lỗ nặng, lần lượt 989 tỷ đồng và 971 tỷ đồng Vì vậy, khoản lãi tăng mạnh của quý IV/2020

đã giúp Vietjet "xóa" đi được khoản thua lỗ lên đến 1.960 tỷ đồng Tính chung cả năm, Vietjet vẫn lãi 70 tỷ đồng, giảm 3.737 tỷ đồng, tương đương 98,2% so với cả năm 2019

Nhận thấy, trong bối cảnh ngành hàng không bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch

Covid-19, tình hình lãi lỗ của Vietjet có liên quan rất lớn đến "Hoạt động khác" của doanh nghiệp và hoạt động chuyển quyền sở hữu và thương mại tàu bay

4 Doanh nghiệp địa phương

Theo hội đồng tư vấn du lịch Việt Nam (TAB), cả nước có khoảng 4,9 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch, chưa kể lực lượng lao động ở những mảng công việc có liên quan Tuy nhiên, ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên xu hướng nghỉ việc tăng cao Trong một khảo sát của TAB, 18% doanh nghiệp đã cho toàn bộ nhân viên nghỉ việc; 48% doanh nghiệp cho 50 - 80% nhân viên nghỉ việc và 75% doanh nghiệp có các hình thức hỗ trợ tài chính khác nhau đối với số người lao động bị mất việc

Các thành phố nơi tập trung cho phát triển ngành du lịch là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề trong đợt làn sóng thứ 2 (Tháng 7/2020) Từ khi dịch bùng phát từ cuối tháng 7/2020, TP Đà Nẵng bị phong toả nên mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn bị đóng băng Đặc biệt, thị trường Đà Nẵng là thị trường trọng điểm của ngành du lịch, dịch vụ, khách sạn, nhà hàng, bất động sản…

Trang 36

Dịch Covid-19 gây ra rất nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất và kinh doanh, kéo theo sự sụt giảm nghiêm trọng về doanh thu của doanh nghiệp và thu nhập của người lao động

do giảm giờ làm, cắt giảm lương thậm chí là thất nghiệp

Sở Du lịch Hà Nội cho biết, từ cuối tháng 1/2021 đến nay, do sự bùng phát trở lại của dịch bệnh Covid-19, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố tiếp tục bị ảnh hưởng, các hoạt động du lịch phải tạm dừng trong thời gian giãn cách xã hội, lượng khách giảm, các doanh nghiệp du lịch và nhà hàng, khách sạn gặp vô vàn khó khăn Trước tác động của dịch Covid-

19, Tạ Hiện - con phố nổi tiếng sầm uất về đêm của Hà Nội đã phải tạm ngừng kinh doanh, đóng cửa vì dịch bệnh Việc này gây lên tổn thất vô cùng to lớn cho những chủ cửa hàng và du lịch khi du khách đến Hà Nội sẽ đều chọn ghé thăm phố Tạ Hiện thưởng thức Hà Nội về đêm

Theo số liệu năm 2020, Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh có 3.891 cơ sở kinh doanh, lưu trú hoạt động trong lĩnh vực du lịch Sau gần 1 tháng thực hiện giãn cách xã hội và tạm ngừng các hoạt động đón khách, tổ chức hoạt động lữ hành, điểm tham quan du lịch…, theo thống kê ban đầu đã có gần 150 ngàn lao động trong ngành du lịch trên địa bàn bị ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập và đời sống

Liên tiếp hứng chịu tác động bởi các đợt Covid-19, nhiều doanh nghiệp du lịch đứng ngồi không yên, xoay sở để không đối mặt với phá sản Ngoài ra, họ còn phải tính toán trong việc cắt giảm nhân sự, đảm bảo tài chính cho doanh nghiệp mình nhưng cũng phải tìm cách giữ chân lực lượng nhân sự nòng cốt trong thời buổi khó khăn

Chương 3 Giải pháp cho ngành du lịch và các dự đoán xu hướng du lịch trong tương lai

3 Giải pháp cho ngành du lịch

3.1 Các biện pháp của chính phủ

Trước các tác động của dịch bệnh Chính phủ nhanh chóng đã triển khai các chính sách giúp các doanh nghiệp và người dân vượt qua giai đoạn dịch bệnh

Trang 37

Hình 3 Chính sách của Chính phủ hỗ trợ người dân và doanh nghiệp bị tác động

bởi Covid-19

Nguồn UNDP và UN WOMEN (2020)

Các gói hỗ trợ có lợi ích to lớn với các doanh nghiệp, người dân hoạt động bị trì trệ vì Covid như doanh nghiệp du lịch địa phương Trong đợt dịch Covid nhà hàng, khách sạn tại các điểm du lịch phải đóng cửa Không có doanh thu thu được từ việc hoạt động kinh doanh, dẫn đến không có nguồn tài chính để trả lương cho người lao động, cắt bỏ hợp đồng đối với người lao động nhằm giảm thiểu chi phí Doanh nghiệp sẽ đứng trên bờ vực phá sản và người lao động

bị mất việc ngày càng nhiều

Ngoài ra, Bộ Văn hóa Thể thao và Du Lịch đã có văn bản số BH1156/BVHTTDL - TCDL đề xuất Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương có chính sách hỗ trợ kịp thời và đồng bộ để doanh nghiệp du lịch giảm thiểu khó khăn, thiệt hại, phục hồi; Góp phần đưa ngành du lịch dần trở lại với hoạt động bình thường

3.2 Nhà nước đối với sự phát triển của du lịch

Trang 38

Đầu tiên là chính phủ cần thực hiện kích cầu du lịch trong nước nhằm bù đắp cho lượng thiếu hụt thu nhập từ khách quốc tế Tiếp đó là quảng bá hình ảnh của Việt Nam trên quốc tế với hình ảnh quốc gia ở Đông Nam Á có khả năng kiểm soát dịch bệnh một cách hiệu quả

Để thực hiện được điều này thì cần thực hiện:

Thứ nhất, Chính phủ có thể thực hiện việc ghép tạm thời các doanh nghiệp vừa và nhỏ

thành cụm doanh nghiệp chuyên phục vụ cho từng yếu tố du lịch Ví dụ như việc ghép các cụm

cơ sở lưu trú có tác dụng tăng số lượng phòng nghỉ, các cơ sở lưu trú có thể tối ưu hóa chi phí,

chia sẻ doanh thu, cùng nhau vượt qua mùa dịch

Thứ hai, tiến hành lên kế hoạch chuyển đổi số du lịch bằng cách áp dụng công nghệ

số và phân tích dữ liệu Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước phát triển, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng về dịch vụ du lịch trực tiếp có ý nghĩa rất lớn trong việc duy trì năng lực cạnh tranh Các ban ngành du lịch đóng vai trò kết nối nhà cung cấp với nhà phân phối và đơn vị trung gian để tạo ra các sản phẩm hấp dẫn cho từng phân khúc du khách, sau đó dựa trên những phản hồi của du khách để phân tích, đưa ra những kiến thức quan trọng cho các bên trung gian Điều này giúp các trang cung cấp dịch vụ du lịch trực tuyến đa dạng

hóa sản phẩm dịch vụ của mình bằng những trải nghiệm mới

Thứ ba, phát triển thị trường du lịch mạo hiểm ở Việt Nam Du lịch mạo hiểm vẫn

đang là một trong những xu hướng được du khách tìm kiếm nhiều nhất và Việt Nam hoàn toàn

có vị thế thuận lợi để khai thác xu hướng này bởi vị trí địa lý đắc lợi cùng quang cảnh thiên nhiên đẹp hùng vĩ

3.3 Đa dạng hóa thị trường

Du lịch Việt Nam quá phụ thuộc vào lượng khách hàng Trung Quốc, Hàn Quốc nên khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát và lây lan, lượng khách du lịch quốc tế giảm với số lượng lớn Hậu quả là doanh thu của ngành du lịch giảm mạnh, kéo theo các hậu quả như người lao động thất nghiệp, doanh nghiệp phá sản hoặc chảo đảo trên thị trường

Trang 39

Hình 4 Số lượng khách quốc tế từ các thị trường hàng đầu trong 3 tháng đầu năm 2020

Đơn vị: triệu lượt khách Nguồn: Tổng cục Thống kê

Việc đa dạng hóa thị trường rất quan trọng, nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc du lịch Việt Nam vào khách Trung Quốc, Hàn Quốc đồng thời xúc tiến phát triển các thị trường có lượng khách du lịch tiềm năng như Hoa Kỳ, Châu Âu.; Từ đó có thể hạn chế rủi ro trước những biến

cố mang tính toàn cầu như Covid-19

Ngoài ra, tiến hành xây dựng các hoạt động du lịch mới phù hợp với nhu cầu thị trường, khai thác tối đa các tài nguyên du lịch nhằm phục vụ khách du lịch tốt hơn nữa

3.4 Tập trung mũi nhọn phát triển du lịch nội địa

Ngoài việc phát triển du lịch quốc tế, thì du lịch nội địa cũng là yếu tố không thể bỏ qua của ngành du lịch Covid-19 xảy đến, các đường bay quốc tế bị tạm dừng Đây vừa là khó khăn cho du lịch, nhưng cũng là cơ hội cho việc thúc đẩy, kích cầu du lịch nội địa với những khuyến mãi hấp dẫn, thu hút người du lịch trong nước

Đầu tư các tuyến du lịch nội địa mới, kết hợp du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, du lịch gắn với bảo vệ môi trường Các doanh nghiệp hàng không,vận tải, du lịch lữ hành nên có sự liên kết chặt chẽ, phối hợp với nhau xây dựng các gói kích cầu du lịch, giúp du lịch Việt Nam vượt qua thời kỳ này

3.5 Doanh nghiệp tự cứu mình

Trang 40

Ngoài việc mong chờ những chính sách hỗ trợ từ chính phủ và các ban ngành liên quan, chính bản thân doanh nghiệp cũng nên tự có những chính sách tự cứu qua các hoạt động như:

• Tái cơ cấu xây dựng các bộ phận trong doanh nghiệp, giảm thiểu lực lượng dư thừa, tập trung bồi dưỡng lực lượng nòng cốt giúp tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp trong việc trả lương người lao động, cơ sở vật chất…

• Nâng cấp cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, đổi mới công tác quản lý và kinh doanh theo hướng số hóa

• Thiết lập các mối quan hệ với doanh nghiệp hàng không, cơ sở lưu trú, các công

ty du lịch lữ hành… nhằm tạo chuỗi liên kết vững mạnh có chia sẻ lợi nhuận, cùng vượt khó

• Tuân thủ các chính sách của Chính phủ trong việc phòng chống dịch bệnh, thực hiện đầy đủ các công tác phòng chống dịch bệnh cho cơ sở kinh doanh và người lao động của doanh nghiệp

3.6 Dự đoán các xu hướng du lịch trong tương lai

Sự xuất hiện và bùng nổ của Covid-19 trên toàn cầu đã làm thay đổi rất nhiều mặt của

xã hội Việt Nam như: Thương mại điện tử bùng nổ, Làm việc online tại nhà, Các siêu thị chuyển sang việc số hóa thay vì hình thức truyền thống… Vậy Covid-19 sẽ làm du lịch thay đổi như thế nào trong tương lai?

3.6.1 Du lịch có sự tham gia của công nghệ số

Ngay cả trước khi đại dịch xuất hiện, người tiêu dùng đã sử dụng kênh đặt chỗ trực tuyến ngày càng nhiều để đặt chỗ du lịch Năm 2018, đặt chỗ trực tuyến đã chiếm đến 19% tổng số tour và quy mô thị trường Covid-19 nổ ra đã khiến việc sử dụng thiết bị di động và công cụ số càng trở nên thiết yếu Đồng thời, các công ty lữ hành cần củng cố các “điểm chạm”

và trải nghiệm trực tuyến để tăng cường

Doanh nghiệp cũng có thể tính đến chuyện áp dụng công cụ số vào những điểm mới trên hành trình của khách hàng Có thể nhận thấy những yếu tố thúc đẩy sự trung thành của khách hàng đã thay đổi; Trong bối cảnh hiện nay thì du khách sẽ ưu tiên chọn khách sạn cho phép hủy hơn là khách sạn có thương hiệu chuỗi, giá tốt Trong trường hợp đó, doanh nghiệp

có thể cho phép khách hàng tự lên lịch trình bằng cách sử dụng các công cụ số liên kết với nhau

và hỗ trợ khả năng sửa hoặc hủy kế hoạch

3.6.2 Du lịch chăm sóc sức khỏe

Ngày đăng: 02/03/2023, 10:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.An Thị Thanh Nhàn, các dạng chuỗi cung ứng thực phẩm đơn giản, <http://vlr.vn/thi-truong/cac-dang-chuoi-cung-ung-thuc-pham-don-gian--3601.vlr&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dạng chuỗi cung ứng thực phẩm đơn giản
Tác giả: An Thị Thanh Nhàn
5.Wikipedia, Chuỗi cung ứng <https://vi.wikipedia.org/wiki/Chu%E1%BB%97i_cung_%E1%BB%A9ng&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi cung ứng
Tác giả: Wikipedia
7.Nguyễn Thị Yến (2019), CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH HOA QUẢ: KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM Sách, tạp chí
Tiêu đề: CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH HOA QUẢ: KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Tác giả: Nguyễn Thị Yến
Năm: 2019
9.Thúy Hằng, Phát triển công nghiệp chế biến để tăng cường hội nhập (http://vukehoach.mard.gov.vn/News.aspx?id=2571) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công nghiệp chế biến để tăng cường hội nhập
Tác giả: Thúy Hằng
14. Báo Tia sang, Ứng dụng công nghệ CAS: Phương pháp bảo quản nông sản sau thu hoạch https://ifoodvietnam.com/ung-dung-cong-nghe-cas-phuong-phap-bao-quan-nong-san-sau-thu-hoach/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ CAS: Phương pháp bảo quản nông sản sau thu hoạch
1.Trần Việt An, Lương Văn Đạt (2021), từ “Tình trạng thiếu container rỗng trong ngành vận tải biển: Nguyên nhân và giải pháp cho Việt Nam”, < https://hvnh.edu.vn/tapchi/vi/thang-5-2021/tran-viet-an-luong-van-dat-tinh-trang-thieu-container-rong-trong-nganh-van-tai-bien-nguyen-nhan-va-giai-phap-cho-viet-nam-490.html &gt Link
3.Tạp chí cộng sản, Chuỗi cung ứng nông nghiệp trong đại dịch Covid 19, <(https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/821895/chuoi-cung-ung-nong-nghiep-trong-dai-dich-covid-19.aspx&gt Link
4.Đỗ Hương, Báo điện tử, nông nghiệp trước Covid 19: yêu cầu của Thủ tướng về 3 không gian kinh tế <http://baochinhphu.vn/Phuc-hoi-nen-kinh-te/Nong-nghiep-truoc-COVID19-Yeu-cau-cua-Thu-tuong-ve-3-khong-gian-kinh-te/422282.vgp&gt Link
6.Hà Phương (05/2021), Ứng dụng thương mại điện tử trong tiêu thụ nông sản thời Covid, < https://vov.vn/kinh- te/ung-dung-thuong-mai-dien-tu-trong-tieu-thu-nong-san-thoi-covid-857108.vov &gt Link
8. Trần Mạnh, Vật tư nông nghiệp đồng loạt tăng giá (https://tuoitre.vn/vat-tu-nong-nghiep-dong-loat-tang-gia-20210316080239301.htm) Link
10. Hùng Đạt, Phát triển công nghiệp chế biến nông sản đáp ứng yêu cầu hội nhập <http://consosukien.vn/phat-trien-cong-nghiep-che-bien-nong-san-dap-ung-yeu-cau-hoi-nhap.htm&gt Link
11. Khánh Vũ, Bảo quản sau thu hoạch yếu kém, sẽ còn tái diễn cảnh giải cứu nông sản, < https://laodong.vn/kinh- te/bao-quan-sau-thu-hoach-yeu-kem-se-con-tai-dien-canh-giai-cuu-nong-san-785790.ldo&gt Link
12. Taylor & Francis Online, Agriculture supply chain risks and COVID-19: mitigation strategies and implications for the practitioners https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/13675567.2020.1830049 Link
13. Ngọc Thoại, Tình trạng thiếu hụt container toàn cầu vẫn tiếp tục trong nửa đầu 2021 <https://doanhnhansaigon.vn/thoi-su-quoc-te/tinh-trang-thieu-hut-container-toan-cau-van-tiep-tuc-trong-nua-dau-2021-1102812.html&gt Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w