1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận án tiến sĩ nâng cao chất lượng phản biện xã hội của mặt trận tổ quốc việt nam ở nước ta hiện nay

202 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Phản Biện Xã Hội Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Ở Nước Ta Hiện Nay
Tác giả Vũ Thị Như Hoa
Người hướng dẫn GS.TS. Phùng Hữu Phú
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Luận án tiến sĩ chính trị học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng rãi của mọi đối tượng, tầng lớp dân cư trong xã hội, Mặt trận Tổ quốc MTTQ Việt Nam có trách nhiệm đóng góp xây dựng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



VŨ THỊ NHƯ HOA

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI

CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



VŨ THỊ NHƯ HOA

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI

CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 4

7 Kết cấu của đề tài 5

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Những công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài 6

1.2 Những công trình nghiên cứu trong nước 12

Tiểu kết Chương 1 28

Chương 2: PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐÊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 32

2.1 Lý luận chung về phản biện xã hội 32

2.1.1 Khái niệm “phản biện” và “phản biện xã hội” 32

2.1.2 Cơ chế và điều kiện phản biện xã hội 46

2.2 Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 62

2.2.1 Vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 62

2.2.2 Đối tượng, phương thức PBXH của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 74

2.2.3 Xác định chất lượng PBXH của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 85

Tiểu kết Chương 2 91

Chương 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ CHẤT LƯỢNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 94

3.1 Hoạt động PBXH của MTTQ Việt Nam trong quá trình đổi mới 94

3.1.1 Trước “Đổi mới” 94

Trang 4

3.1.2 Từ Đại hội VI của Đảng đến nay 105

3.2 Đánh giá chung về hoạt động và chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam 130 3.2.1 Những kết quả và hạn chế, bất cập trong hoạt động và chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam 130

3.2.2 Nguyên nhân của kết quả và hạn chế, bất cập 138

Tiểu kết Chương 3 141

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 143

4.1 Phương hướng chung 143

4.1.1 Bối cảnh thời kỳ mới yêu cầu nâng cao chất lượng PBXH 143

4.1.2 Định hướng nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam 153

4.2 Một số giải pháp chủ yếu 164

4.2.1 Nâng cao nhận thức về PBXH của MTTQ Việt Nam 164

4.2.2 Thể chế hoá PBXH thành luật 167

4.2.3 Củng cố, kiện toàn cơ cấu tổ chức và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động đảm bảo thực hiện tốt PBXH 172

4.2.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của MTTQ Việt Nam 175

4.2.5 Đảm bảo các điều kiện vật chất 178

Tiểu kết Chương 4 179

KẾT LUẬN 182

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 185

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 186

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phản biện xã hội (PBXH) là một trong những động lực chính trị, tinh thần, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội PBXH là một hoạt động trong tiến trình hoàn thiện thiết chế dân chủ và tối đa hóa nguồn trí tuệ, sức sáng tạo của các chủ thể đa dạng trong xã hội tham gia vào quá trình ra quyết định

Ở nước ta, mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đều hướng đến phục vụ lợi ích của nhân dân, vì sự phát triển chung của đất nước Vì vậy, những chính sách và pháp luật sẽ sớm đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả khi được nhân dân và các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội phản biện (PB) Về bản chất, PBXH là một phương thức phát huy dân chủ XHCN, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, thể hiện ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước, góp ý kiến đối với cán

bộ, công chức và các cơ quan Nhà nước Nhân dân không chỉ có quyền, mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước PBXH là một nhu cầu cần thiết và là đòi hỏi bắt buộc của quá trình lãnh đạo và điều hành đất nước, khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng… Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng

khẳng định: “Nhà nước ban hành và bổ sung pháp luật để Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và PBXH”[35, tr.43]

PBXH ở nước ta là phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện một đảng cầm quyền, làm cho đường lối, chủ trương của Đảng thể

Trang 6

hiện một cách đúng đắn nhất, đầy đủ nhất nguyện vọng của quần chúng nhân

dân PBXH đã trở thành một chủ trương của Đảng, nhằm “xây dựng và từng

bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”

Với tư cách là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng rãi của mọi đối tượng, tầng lớp dân cư trong xã hội, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam có trách nhiệm đóng góp xây dựng dân chủ XHCN và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện PBXH đối với những vấn đề, nội dung liên quan đến lợi ích, quyền lợi của các tầng lớp nhân dân trong chủ trương, chính sách, pháp luật, các chương trình, đề án lớn… của Đảng và Nhà nước Những năm qua, hoạt động giám sát, PBXH của MTTQ Việt Nam

đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần nâng cao chất lượng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có tác động tích cực đến việc tăng cường trách nhiệm của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân; tăng tính năng động, nhạy bén và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; mở rộng môi trường văn hóa tranh luận trong xã hội… Tuy nhiên, mặc dù đã có chủ trương của Đảng từ Đại hội X (2006), đến nay PBXH của MTTQ Việt Nam vẫn chưa được chính thức thể chế hóa trong luật pháp; chưa hình thành cơ chế cho PBXH của Mặt trận; vẫn còn có nhận thức chưa đúng về PBXH nói chung, về PBXH của Mặt trận nói riêng, dẫn đến e ngại, thậm chí kỳ thị PBXH… Thực tế, đến nay PBXH ở nước ta mới ở những bước đi đầu tiên, chưa hoàn thiện, đầy đủ và gặp không ít khó khăn, lực cản Hệ quả là chất lượng PBXH, nói chung, PBXH của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nói riêng, còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu và mong muốn của xã hội

Hiện nay, đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển chiến lược mới với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Phát huy cao nhất trí tuệ, tâm lý, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc xây dựng Đảng, Nhà nước thông qua Mặt trận Tổ quốc có ý nghĩa rất

Trang 7

quan trọng Do vậy, nâng cao chất lượng PBXH của Mặt trận là đòi hỏi tất yếu và cấp thiết, không chỉ có ý nghĩa nâng cao vị thế của Mặt trận trong hệ thống chính trị (HTCT) và trong xã hội, mà quan trọng hơn là qua hoạt động PBXH để thực hiện và phát huy tích cực quyền làm chủ thực sự của nhân dân

Nhận thức rõ tính cấp thiết của đề tài, tôi chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở nước ta hiện nay” làm đề tài Luận án tiến sỹ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề PBXH và tiêu

chí đánh giá chất lượng PBXH của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Thứ hai, khảo sát, phân tích thực trạng PBXH của Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam từ năm 1986 đến nay

Thứ ba, đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm

nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam giai đoạn hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu

Chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam trong quá trình ban hành và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

b) Phạm vi nghiên cứu

* Về không gian

- Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng và đánh giá chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam ở cấp Trung ương (Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam); cấp địa phương chỉ đề cập ở mức độ nhất định Nghiên cứu chất

Trang 8

lượng PBXH của một số thành viên cơ bản của MTTQ Việt Nam (các đoàn thể chính trị - xã hội, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật…)

b) Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận

Đề tài luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng nguyên lý và phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu chung

Phân tích, so sánh, tổng hợp, logíc - lịch sử; trừu tượng hóa,…; kế thừa thành quả các công trình đã có về phản biện xã hội

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên

ngành chính trị học, xã hội học, luật học

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về PBXH và vai trò của MTTQ Việt Nam trong PBXH

- Bước đầu xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam

Trang 9

- Đánh giá khái quát chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Lần đầu tiên ở Việt Nam, một luận án tiến sỹ đề cập đến vấn đề chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam, đặt ra hướng nghiên cứu mới trong chuyên ngành Chính trị học

- Đề xuất định hướng, quan điểm chỉ đạo và giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam hiện nay

- Làm tài liệu tham khảo chuyên ngành Chính trị học cho những đối tượng quan tâm vấn đề PBXH; phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập ở hệ thống các Học viện thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và các trường đại học ở Việt Nam

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương 8 tiết

Trang 10

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là một trong những hướng nghiên cứu trọng điểm của lý luận về đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta thời kỳ đổi mới Hơn 25 năm qua, công tác nghiên cứu về Mặt trận và các đoàn thể chính trị -

xã hội đã thu được những thành tựu khoa học đáng kể, trong đó có việc nghiên cứu về hoạt động PBXH của MTTQ Việt Nam Từ khi Văn kiện Đại hội X của Đảng nêu rõ, Nhà nước ban hành cơ chế PBXH của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đã có nhiều công trình, bài viết về PBXH nói chung và PBXH của MTTQ Việt Nam nói riêng Đặc biệt, sau khi Tạp chí Mặt trận và Báo Đại đoàn kết - cơ quan ngôn luận của MTTQ Việt Nam

mở diễn đàn trao đổi về vấn đề PBXH, đã có rất nhiều ý kiến của các nhà khoa học, các vị lão thành cách mạng, các cán bộ hoạt động thực tiễn… tham gia thảo luận vấn đề PBXH

Để thực hiện đề tài “Nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở nước ta hiện nay”, tác giả tiếp cận với các công

trình liên quan trực tiếp sau:

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA CÁC HỌC GIẢ NƯỚC NGOÀI

Cuốn sách Interpetation and Social Criticism (Chú giải và Phản biện

xã hội), của tác giả Michael Walzer (Havard University Press) đã làm sáng tỏ hoạt động PBXH, đồng thời đưa ra một khuôn khổ triết lý để hiểu PBXH là một hoạt động xã hội Cuốn sách phản ánh thực tiễn PBXH, giải thích nó và hình thành các chuẩn mực đạo đức của PBXH Cuốn sách còn đề cập tới những tranh luận đương đại cả ở châu Âu và Bắc Mỹ về PB, lý thuyết và vai trò của trí thức trong việc hình thành các phong trào xã hội và tạo nên sự thay

Trang 11

đổi xã hội Trên nền tảng chung này, PBXH được nhìn nhận ở nhiều cấp độ khác nhau, cấp vĩ mô là sự hình thành, phát triển các lý thuyết, hệ tư tưởng xã hội khác với các lý thuyết, hệ tư tưởng đang giữ vai trò chủ đạo trong xã hội

Ở cấp độ vi mô là sự phê bình, phản ánh, chỉ trích một đường lối, chính sách

cụ thể của nhà nước hoặc các hoạt động của nhà nước, đảng chính trị, phong trào xã hội, ở các cách nhìn, tiếp cận khác nhau

Brooke A Ackerly vớ i cuốn sách Political Theory and Feminist social Criticism (Lý thuyết chính trị và phản biện xã hội của phái nữ quyền),

(Cambridge university press), 2000, đã chứng minh sự hạn chế của lý thuyết dân chủ thảo luận hiện đại, thuyết tương đối và bản chất luận trong việc định hướng cho thực tiễn PBXH trên thực tế một thế giới không hoàn hảo Tác giả vạch ra những hàm ý về mặt lý thuyết từ hoạt động của phụ nữ ở thế giới thứ

ba, chuyển tải tới công chúng tiếng nói của phụ nữ bị che khuất bởi sự áp đặt Tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến tiếng nói này với vai trò của PBXH, đồng thời đưa ra một mô hình PBXH có tính khả thi trong thực tế; đề xuất sự PB của phụ nữ cần được tổ chức để đạt được những gì mà các nhà lý thuyết đã chỉ ra trong lý luận được thực hiện ở các nước thế giới thứ ba Lý thuyết dân chủ thảo luận trở thành một lý thuyết phê phán - có thể hành động, mạch lạc, chặt chẽ và có thể tự phản ánh

The idea of civil society (Tư tưởng xã hội công dân), của Adam B

Seligman, Princeton University Press, 1995; John A Hall, Civil Society (Xã

hội công dân), Polity Press, 1995: đã bàn luâ ̣n về sự hình thành , phát triển của xã hội công dân, trong đó nhấn ma ̣nh sự ra đời của các tổ chức chính trị -

xã hội là một tất yếu khách quan khắc phục những thất ba ̣i , hạn chế của cả nhà nước và thị trường Xã hội đã phát triển khi có nhà nước , nhưng nhà nước cũng sai lầm , chuyên chế, đô ̣c tài ha ̣n chế tự do của công dân , sự phát triển của xã hô ̣i Mở rô ̣ng tự do phát triển kinh tế thi ̣ trường , hạn chế vai trò

Trang 12

của nhà nước , nhưng đến lượt nó , thị trường cũng dẫn đến những khủng hoảng, thất ba ̣i cần phải có sự khắc phu ̣c của nhà nước Nhà nước lẫn thị trường cuối cùng vẫn có những khiếm khuyết, thất ba ̣i, cần có mô ̣t sự bổ sung hoàn chỉnh hơn đó là xã hội công dân Trên cơ sở đó , các tác giả lâ ̣p luâ ̣n về vai trò , chức năng của xã hội công dân , một trong nh ững chức năng quan trọng là tham gia thể hiện tiếng nói , chính kiến của mình đối với những vấn

đề chính trị, đối với nhà nước Để thực hiện được chức năng PBXH của mình đối với nhà nước, bản thân xã hội công dân cũng phải tự hoàn thiện mình ở các khía cạnh và mức độ khác nhau Đó là sự độc lập, tự chủ và tự nguyện của các tổ chức chính trị - xã hội trong tổ chức và hoạt động của mình Thông qua môi trường này, các cá nhân tự rèn luyện và học hỏi tinh thần trách nhiệm tập thể, khả năng thực hiện dân chủ trong phạm vi tổ chức, từ đó hình thành các giá trị, chuẩn mực của tổ chức mà các thành viên đều có thể chia

sẻ, theo đuổi Trên cơ sở đó, hình thành những quan điểm chung, thái độ và hành vi nhất định đối với những đường lối, chính sách cụ thể của nhà nước Chính sự tham gia phản ánh nhiều chiều hướng của các tổ chức chính trị - xã hội đã tạo nên hệ thống phản hồi, hình thành cơ sở dữ liệu đầu vào đa dạng cho việc hình thành và điều chỉnh việc thực thi các chính sách của nhà nước

Xã hội công dân vì vậy được nhìn nhận là yếu tố hỗ trợ, bổ sung cho các khiếm khuyết của nhà nước và thị trường

The Governmental Process (Các quá trình của chính phủ), của David B.Truman, New York: Alfred A Knopf, Inc 1951, Dilemmas of Pluralist

democracy (Những nan giải của nền dân chủ đa nguyên), của Robert A.Dahl,

Jale University Press 1982: Các tác giả này được xếp vào những nhà tư tưởng theo chủ nghĩa đa nguyên Các tác phẩm này đã đi sâu phân tích sự hình thành của các nhóm lợi ích, các tổ chức chính trị - xã hội cùng với các quá trình chính trị của nhà nước Trong xã hội, hầu hết mọi người dân đều tham

Trang 13

gia vào nhiều nhóm tổ chức với những lợi ích khác nhau (thậm chí là không tương hợp với nhau), nên mỗi một nhóm lợi ích thường có xu hướng tự phân chia từ bên trong để nắm chắc một phần quyền lực phù hợp với khả năng và mục tiêu của mình Vì vậy, định hướng tổng thể đối với chính sách công là kết quả của hàng loạt những ảnh hưởng từ các nhóm lợi ích đến chính phủ -

mà không có một nhóm nào có ảnh hưởng tuyệt đối Chính vì vậy, chủ nghĩa

đa nguyên đánh giá vai trò to lớn của các nhóm lợi ích trong việc ảnh hưởng đến các quá trình chính sách, và ngay cả bản chất của nhà nước nhìn theo giác độ này cũng chính là một nhóm lợi ích Vì vậy, toàn bộ quá trình chính trị chính là quá trình tương tác, kiềm chế đối trọng giữa các nhóm, tầng lớp khác nhau trong xã hội

Tuy nhiên, chủ nghĩa đa nguyên cũng thừa nhận rằng, các tổ chức và các thể chế có thể có xu hướng “chăm sóc cuộc sống của riêng nó” chính sách công có thể bị khống chế bởi một vài nhóm lợi ích nào đó có tổ chức và nguồn lực tốt nhất; hoặc nó cũng có thể bị các thể chế nhà nước điều khiển; hoặc nó cũng có thể bị giằng co giữa các đối thủ ngay trong khu vực nhà nước Quá trình hoạch định chính sách luôn bị ảnh hưởng và hạn định bởi nhiều yếu tố: sự cạnh tranh chính trị, các chiến lược vận động tranh cử, tri thức hạn chế, năng lực hạn chế

Cuốn sách Interest Group Politics (Chính trị của các nhóm lợi ích)

(second edition ) của Allan J Cigler; Burdett A Loomis,Washington DC,

2003; Interest groups and policy making: an new role for select committee

(các nhóm lợi ích và hoạch định chính sách: một vai trò mới cho ủy ban lựa

chọn), những công trình này nghiên cứu vai trò của các nhóm lợi ích trong

quá trình hoạch định chính sách công , từ việc cung cấp thông tin , dữ liệu phản ánh nhiều chiều, khía cạnh khác nhau của vấn đề chính sách đến sự bình luâ ̣n, chỉ trích, phê phán của các nhóm, phương tiê ̣n truyền thông, công luâ ̣n

Trang 14

Các nhóm cũng thu hút ngày càng lớn sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các học giả vào những vấn đề của mình và của đời sống xã hội Tuy nhiên, ở khía cạnh khác trong mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích và các ủy ban trong quá trình hoạch định chính sách cũng có thể dẫn tới sự thông đồng giữa nhóm lợi ích và các quan chức nhà nước Các nhóm lợi ích có thể cam kết ủng hộ nhất định về phiếu cử tri, sự quyên góp tài chính cho hoạt động đảng phái, vận động tranh cử và đổi lại, các nhà lập pháp ở các ủy ban có thể ra những chính sách, quyết định thiên vị cho lợi ích của các nhóm này

Cuốn sách Interest - Group Politics in France (Chính trị của các

nhóm lợi ích ở Pháp), của Frank L.Wilson Cambridge University Press 1987 đã tổng quan về các nền chính tri ̣ nhóm lợi ích ở các n ước dân chủ phương Tây, cấu trú c của nền chính tri ̣ nhóm lợi ích, vị trí và hoạt động của các nhóm lợi ích trong nền chính tri ̣ Pháp , kinh nghiê ̣m của Pháp trong viê ̣c phát triển

lý thuyết nhóm lợi ích, mối tương quan của nhóm lợi ích với nền dân chủ đại diê ̣n Qua đó thể hiê ̣n vai trò quan tro ̣ng của PBXH từ nhóm lợi í ch, các tổ chức chính tri ̣ - xã hội trong một nền dân chủ đại diện Bên cạnh những lập luận nền tảng, lý thuyết chung về vai trò của các nhóm lợi ích trong nền dân chủ, cuốn sách cũng chỉ ra những đặc điểm của các nhóm lợi ích trong nền chính trị Pháp và các chế định tương ứng của một nền dân chủ theo xu hướng liên minh đảng phái nổi bật

Cuốn sách Mobilizing Interest Groups in America (Huy động các

nhóm lợi ích ở Mỹ), của Jack L Walker, Jr The University of Michigan Press, 1991 đã tiếp câ ̣n khả năng huy đô ̣ng của các nhóm lợi ích chính tri ̣ ở Mỹ: nguồn gốc hình thành và sự phát triển cũng như các con đường tác động đến nền chính trị Mỹ Đặc biệt, các tác giả nhấn mạnh vai trò của nhóm lợi ích như là một cạnh của tam giác sắt quyền lực trong thể chế chính trị đại diê ̣n; trong quan hê ̣ này, các nhóm lợi ích vừa có khả năng PBXH, vừa có thể

Trang 15

vâ ̣n đô ̣ng, thương thuyết và thỏa hiê ̣p với các chủ thể quyền lực khác trong quá trình ra quyết định chính trị Các tác giả cũng đã chỉ ra ba mô hình huy

đô ̣ng chính tri ̣ của các nhóm lợi ích nhằm làm tăng nguồn lực, sức ma ̣nh của mình trong tương tác với nhà nước Cuốn sách do đó cũng cho thấy, hoạt động chính trị vẫn là hoạt động có ưu thế của những người có tiền và địa vị trong nền dân chủ Mỹ Các nhóm lớn, có thế lực trong xã hội bao giờ cũng hình thành được những nhóm lợi ích có tổ chức và nguồn lực mạnh, có tiếng nói mạnh mẽ và khá trực tiếp đến các cơ quan công quyền Trong khi đó, những nhóm nhỏ và yếu thế thường bất lợi hơn trong việc cạnh tranh đưa tiếng nói của mình đến được các cơ quan này

Lobbying for the Public Interest: Interest Group Subsidies to Legislative Overseers (Vận động cho lợi ích công: sự hỗ trợ của các nhóm lợi

ích cho những người giám sát lập pháp), của Richard I Hall and Kris Miler, University of Michigan, 2001, cho thấy sự phản ứng của các quan chứ c được bầu là vấn đề căn bản trong nghiên cứu về các thể chế dân chủ Công trình nghiên cứu tập trung về vấn đề mang tính hành vi, xem xét quyết định của các nhà lập pháp ở phương diện cá nhân để hình thành việc kiểm soát bằng cách can thiệp đến các quan chức ra quyết định Công trình nhấn mạnh đến vai trò của các nhóm lợi ích tham gia hoạt động giám sát Công chúng cũng như các nhóm tư nhân hỗ trợ các nỗ lực giám sát của các đồng minh của mình ở Quốc hội

Polity and group diffirence: A Critique of the Ideal of Universal Citizenship (Sự khác biệt giữa chính thể và nhóm: Sự phê phán tư tưởng công

dân phổ quát), của Iris Marion Young , Chicago Journals, vol 99 no 2, Jan

1989, Trong khi thực hiê ̣n PBXH, các tổ chức xã hội là đa nguyên, vì nó là sự phân mảng của các cá nhân, tạo thuận lợi cho viê ̣c duy trì sự hợp tác, quân sự

và các nhóm có quyền lực khác Tuy nhiên, việc PB đòi hỏi phải có tự do ngôn

Trang 16

luận, (đặc biệt là tự do báo chí) và tự do liên hiệp như các bảo đảm về sự tự hoàn thiện, nâng cao dân trí, nâng cao trách nhiệm xã hội của cá nhân, vốn là các điều kiện thiết yếu của tiến trình hoàn thiện dân chủ

Resource Mobilization and Social Movements: A partial theory (Huy

động nguồn lực và phong trào xã hội: Lý thuyết bộ phận), của John D.McCarthy, American Journal of Sociology, Vol 82, No 6, May 1977 Công trình nghiên cứu này tập trung phân biệt giữa phong trào xã hội và một tổ chức phong trào xã hội, đưa ra vấn đề về sự liên quan của các nhà khoa học chính trị về chủ thể nhóm lợi ích Công trình nghiên cứu đặt ra vấn đề cần được làm sáng tỏ là tổ chức phong trào xã hội có phải là một nhóm lợi ích?

Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên thế giới hầu như không có

mô ̣t công trình nào bàn riêng về vai tr ò PB của các tổ chức chính trị - xã hội,

mà nó được đề cập đến trong các nghiên cứu về các thể chế chính trị , quá trình chính trị , chính sách công , huy đô ̣ng xã hô ̣i… PB chỉ là một nhiệm vụ trong mô ̣t chuỗi các hoa ̣t đô ̣ng kh ác để thực hiện mục tiêu của các tổ chức này trong xã hội, cho nên nó luôn gắn với các mu ̣c tiêu cu ̣ thể , và để đạt mục tiêu này thì cần có PB, do vâ ̣y ít khi PB đứng tách ra riêng rẽ

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.2.1 Những nghiên cứu về PBXH

Ở Việt Nam, vấn đề PBXH chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ Bước đầu, vấn đề PBXH được đề cập ở một số công trình

nghiên cứu, như cuốn sách: “Câu hỏi đặt ra từ cuộc sống: Phản biện xã hội”

của TS Trần Đăng Tuấn, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2002; sau đó, được

trích đăng trên Tạp chí Cộng sản số 17 (tháng 9/2006) với tiêu đề “Phản biện

xã hội: một số vấn đề chung” và “Phương thức thực hiện phản biện xã hội” -

số 23 (tháng 12/2007); “Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền”

Trang 17

của Hồ Bá Thâm và Nguyễn Thị Tường Văn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2010 Đây là 2 cuốn sách bàn về vấn đề PBXH được xuất bản ở Việt Nam Các cuốn sách đã luận giải dưới nhiều góc độ khác nhau về những vấn đề chung của PBXH, như phân tích khái niệm PB, PBXH, chủ thể, nội dung, phương thức thực thi PBXH…Các tác giả đã nhìn nhận vai trò quan trọng của PBXH trong xây dựng chế độ dân chủ hiện đại và dân chủ pháp quyền trong mọi chế độ xã hội; đặc biệt là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân Khẳng định mối quan hệ giữa PBXH với xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền; từ đó, nhấn mạnh vai trò của xã hội dân sự trong xây dựng nhà nước pháp quyền, trong thực hiện PBXH, đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa xã hội và nhà nước, dân chủ pháp quyền với vấn đề phát triển bền vững về kinh tế - xã hội Vì vậy, các tác giả cho rằng, để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, cần nâng cao vai trò PBXH, đặc biệt là trong điều kiện một đảng cầm quyền duy nhất ở Việt Nam; từ đó, các tác giả đưa ra 05 giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò PBXH, phục vụ cho tiến trình dân chủ hóa ở Việt Nam hiện nay

Tuy nhiên, trong cuốn sách của Trần Đăng Tuấn, bên cạnh việc đưa ra những vấn đề về PB, PBXH như là một hiện tượng tự nhiên trong xã hội, một đòi hỏi tự nhiên từ thực tiễn cuộc sống, đặc biệt trong điều kiện phát huy và

mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta; tác giả đã phác họa những hiện tượng PBXH trên các mặt của đời sống xã hội (như “An sinh xã hội”, “Xung đột lợi ích”, …) Do đó, cuốn sách mới chỉ đưa ra và khẳng định cần phải có PBXH trong thực tiễn cuộc sống, mà chưa lý giải một cách sâu sắc mang ý nghĩa lý luận về hoạt động PBXH ở nước ta hiện nay Bên cạnh

đó, cuốn sách “Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền” của Hồ

Bá Thâm và Nguyễn Thị Tường Văn, đã khảo sát nghiên cứu thực trạng PBXH (trên các vấn đề tham nhũng, vấn đề đất đai, vấn đề ô nhiễm môi

Trang 18

trường, vấn đề giáo dục, y tế, vấn đề tai nạn giao thông) của MTTQ Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh - như là một mô hình về PBXH ở Việt Nam; từ

đó, chỉ ra những khó khăn trở ngại khi thực hiện PBXH ở nước ta hiện nay (điều kiện kinh tế - xã hội; thiết chế chính trị; nhân tố tâm lý, nhận thức của người cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng và của công dân nói chung; về cách làm ) Cuốn sách cũng tham khảo vấn đề phản biện xã hội ở một số nước TBCN như Anh, Pháp, Mỹ và các nước ở châu Âu (phần Phụ lục) Khi xác định chủ thể của PBXH, các tác giả cho rằng, PBXH ở Việt Nam hiện nay là các tổ chức đại diện cho trí tuệ và quyền lợi của các tầng lớp xã hội như công nhân, trí thức, thương nhân, nông dân… Trong các tổ chức đó, các tác giả

nhấn mạnh vai trò quan trọng của MTTQ Việt Nam trong việc thực hiện chức

năng PBXH ở nước ta hiện nay Mặc dù vậy, cuốn sách cũng mới chỉ dừng ở

việc xác định chủ thể PBXH ở nước ta hiện nay là MTTQ Việt Nam và nghiên cứu thực trạng hoạt động PBXH ở thành phố Hồ Chí Minh, chứ chưa

đi vào phân tích những vấn đề lý luận chung và thực trạng hoạt động của MTTQ Việt Nam hiện nay, nhất là vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động

PBXH của MTTQ Việt Nam

Nghiên cứu về giám sát và PBXH có thể kể đến bài nghiên cứu “Một

số vấn đề về giám sát xã hội và phản biện xã hội” của TS Hoàng Thị Ngân

tại Hội thảo “Vấn đề phản biện và giám sát xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - thực trạng và giải pháp” của Viện Nghiên cứu xã hội thành phố Hồ

Chí Minh, năm 2007, trình bày khái lược về các vấn đề như khái niệm, nội

dung, mục đích và hậu quả, đặc trưng, vai trò, ý nghĩa của giám sát và PBXH Nghiên cứu này cũng chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong thực tiễn giám sát xã hội và PBXH

Đặc biệt, phải nói đến công trình nghiên cứu công phu “Các hình

thức và giải pháp thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã hội đối với tổ

Trang 19

chức và hoạt động của hệ thống chính trị” (thuộc Chương trình khoa học và

công nghệ KX10.06-10) của PGS.TS Trần Hậu (2009) Công trình đã nghiên cứu luận giải khái niệm giám sát xã hội và PBXH; phân tích bản chất và những đặc trưng cơ bản của hoạt động giám sát xã hội và PBXH, vai trò và tác dụng của nó đối với quyền lực chính trị, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện cụ thể của nước ta; xác định các đối tượng tham gia giám sát xã hội và PBXH (chủ thể, khách thể) và hệ thống các hình thức, giải pháp thực hiện giám sát xã hội và PBXH Công trình đã nghiên cứu thực tiễn hoạt động giám sát và PBXH ở Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến nay; khảo sát

mô hình giám sát và PBXH ở một số quốc gia, như Trung Quốc, Singgapo, Anh, Mỹ, Pháp…Công trình cũng đã đưa ra cơ chế thực hiện, xử lý kết quả của giám sát xã hội và PBXH; xác định các giá trị của các kết luận từ kết quả giám sát xã hội và PBXH, vận dụng chúng để xử lý các tình huống trong thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị; nghiên cứu những điều kiện đảm bảo thực hiện giám sát xã hội và PBXH trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ vai trò của nhân dân đối với việc xây dựng và bảo vệ hệ thống chính trị, công trình đứng trên quan điểm nhân dân, xuất phát từ lợi ích của nhân dân, dùng những công cụ của nhân dân, phương pháp của nhân dân

… để nghiên cứu việc thực thi quyền làm chủ của nhân dân đối với hệ thống chính trị Công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về dân chủ hóa trong hệ thống chính trị; gắn việc nghiên cứu hệ thống chính trị với giám sát và PBXH trong điều kiện thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Xác định và phân tích những yếu tố tác động đến dân chủ và hệ thống chính trị, nhấn mạnh nền kinh tế thị trường, xã hội dân sự là môi trường cần thiết cho việc thực hiện giám sát và PBXH; từ đó, khẳng định: nói đến hệ thống chính trị dân chủ, phải thấy rõ mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với sự tham dự của người dân thông qua hoạt động giám sát và PBXH

Trang 20

Công trình đã đề cập đến nhiều nội dung thuộc nội hàm giám sát và PBXH như: quan niệm về giám sát và phản biện xã hội, loại hình giám sát và PBXH, bản chất, vai trò của giám sát và PBXH; đặc trưng, nội dung, phương thức giám sát và PBXH… Đặc biệt, trong chương 6, công trình đưa ra các giải pháp thực hiện giám sát và PBXH đối với hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay; dành trọn mục (3.2) bàn về nội dung “MTTQ Việt Nam với vai trò giám sát và phản biện xã hội”

Có thể nói, đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về giám sát và PBXH Tuy nhiên, công trình chỉ nghiên cứu vấn đề giám sát và PBXH trong hệ thống chính trị nói chung Do vậy, khi xác định khái niệm PBXH, công trình đã đi từ sự phân tích các quan niệm khác nhau về PBXH; từ đó, rút

ra những dấu hiệu đặc trưng và nhận xét về PBXH, mà chưa có một khái niệm chính thức, khái niệm riêng của công trình về PBXH

Ngoài các công trình nêu trên, còn có những bài viết trên các tạp chí,

báo điện tử, như “Phản biện xã hội” của Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch/Tổng

Giám đốc Invest Consult Group (27/02/2007), http//www.chungta.com;

“Phản biện xã hội và sự phát triển của Việt Nam” của tác giả Nguyễn Chính

Tâm (Báo Vietnamnet - 9/6/2007); “Về phản biện và giám sát xã hội”

(2007) của TS Hoàng Hải, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Tạp chí Cộng sản; “Xây dựng cơ chế pháp lý bảo đảm cho nhân dân tham

gia hoạt động giám sát và phản biện xã hội, (2007) của Trương Thị Hồng

Hà, Tạp chí Cộng sản; “Sức mạnh phản biện xã hội” của Diệp Văn Sơn

(6/10/2007), Báo Người lao động… Các bài viết này đã đặt vấn đề, phân tích hoặc nhận định, bình luận một số mặt, khía cạnh biểu hiện của PBXH ở nước ta hiện nay Các bài viết cũng đã luận giải dưới nhiều khía cạnh khác nhau về khái niệm PB, PBXH; khẳng định vị trí, vai trò của PBXH gắn với

sự phát triển của xã hội, đất nước; PBXH trong điều kiện một đảng cầm

Trang 21

quyền ở nước ta; những điều kiện để thực hiện phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay …

Còn có một loạt các bài viết khác bàn về phản biện và giám sát xã

hội được đăng tải trên các báo, tạp chí: “Phải biết đối thoại, tiếp thu phản

biện” Quý Hiền (8/6/2009), Báo Người lao động điện tử; “Phản biện xã hội”, Tương Lai (4/10/2009), Báo Người lao động điện tử; “Phản biện để hoàn chỉnh tư duy”, Chu Thanh Tâm (11/9/2009), Đại đoàn kết; “Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội trong sự nghiệp đổi mới”, Trần Quang

Hải, Tạp chí Cộng sản (số 17, năm 2009); “Phản biện xã hội” của Nguyễn Hòa Bình (24/7/2010), Báo Hà Nội mới; “Phản biện xã hội là chuyện tự

nhiên”, Phan Đình Diệu (17/6/2011), Báo Pháp luật; “Phản biện để xây dựng và đổi mới”, TS Phạm Minh Trí (19/02/2012), Báo Tuần Việt Nam;

“Phản biện xã hội - vì sao?”, Phạm Quang Tú & Đặng Hoàng Giang

(12/02/2012), Báo Tuần Việt Nam…

Các bài viết này khẳng định quan điểm của Đảng về PBXH là đúng đắn trong giai đoạn hiện nay, đồng thời đề nghị Đảng, Nhà nước tạo môi trường, điều kiện, xây dựng cơ chế, pháp luật nhằm thực hiện và nâng cao chất lượng PBXH nói chung, PBXH của MTTQ Việt Nam nói riêng

1.2.2 Những nghiên cứu về PBXH của MTTQ Việt Nam

Dưới giác độ nghiên cứu của chính trị học, Luận án tiến sỹ Chính trị

học “Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thọ Ánh, Học viện Chính trị - Hành

chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội (2010), lấy điểm xuất phát quyền lực nhà nước là của nhân dân, từ nhân dân và do nhân dân; coi giám sát và PBXH là một trong những phương thức cơ bản để nhân dân kiểm soát quyền lực, là một yêu cầu tất yếu khách quan của quá trình thực thi quyền làm chủ của nhân dân Trên cơ sở đó, Luận án phân tích, luận giải nội hàm khái niệm

Trang 22

giám sát, giám sát xã hội và PB, PBXH … Đặc biệt, Luận án đã tập trung phân tích mối quan hệ giữa giám sát và PBXH, chỉ ra vai trò của PBXH đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng (kể cả đối với công tác tổ chức - cán bộ) và vai trò của giám sát việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định đó Khi giám sát phát hiện ra những sai lệch hoặc những điểm không phù hợp với thực tiễn cuộc sống trong quá trình thực hiện thì nhu cầu PB mới sẽ nảy sinh Như vậy, giám sát và PBXH trở thành yêu cầu tất yếu của việc khách quan hóa và hiện thực hóa những quyết sách chính trị của cơ quan quyền lực

Luận án cũng nghiên cứu hệ thống giám sát và PBXH ở một số thể chế chính trị trên thế giới, thấy được tính phổ biến trong các thể chế dân chủ đều song song tồn tại hai hệ thống giám sát (bên trong và bên ngoài Nhà nước), đều tồn tại nhiều chủ thể giám sát và PBXH; nhưng mỗi loại hình thể chế, thậm chí mỗi quốc gia, lại có những phương thức thực hiện giám sát và PBXH khác nhau Phân tích hệ thống quyền lực và hoạt động giám sát, PBXH ở Việt Nam, của các thể chế chính trị ở Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến nay, Luận án đã luận giải chức năng giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam trong điều kiện một đảng cầm quyền, khẳng định MTTQ Việt Nam

là chủ thể đặc biệt và nhiều tiềm năng nhất trong giám sát và PBXH Khảo sát thực trạng hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam những năm qua ở nước ta với những ưu điểm, hạn chế, tồn tại, Luận án nêu lên một số vấn đề đặt ra, như: phạm vi giám sát và PBXH còn bị giới hạn; hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam còn mang tính hình thức, chiếu lệ; MTTQ Việt Nam chưa thực sự đủ mạnh để thực hiện chức năng giám sát và PBXH Từ đó, Luận án đưa ra những dự báo, những quan điểm và hệ thống các giải pháp nhằm thực hiện chức năng giám sát PBXH của MTTQ Việt Nam ở nước ta hiện nay Mặc dù luận án đề cập đến cả hai vấn đề: Giám sát

Trang 23

và PBXH - chức năng quan trọng của MTTQ Việt Nam hiện nay, với hướng nghiên cứu đó đã làm nên giá trị của luận án Tuy nhiên, luận án mới chỉ phân tích sâu, nhiều về hoạt động giám sát xã hội và khẳng định vai trò quan trọng của Mặt trận trong PBXH hiện nay, chưa bàn đến việc làm thế nào để nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam hiện nay?

Đáng chú ý là Trung ương MTTQ Việt Nam đã thực hiện Đề án

nghiên cứu “Phát huy vai trò phản biện xã hội của MTTQ” (năm 2008); nhất

là trong thời gian chuẩn bị cho Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII, Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam chỉ đạo các ban chuyên môn triển khai

thực hiện 05 chuyên đề nghiên cứu, trong đó có chuyên đề “Phát huy vai trò

của MTTQ Việt Nam trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch, vững mạnh” (do ThS Nguyễn Văn

Pha - Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam, Ban Dân chủ - Pháp luật Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm chủ nhiệm, năm 2009) Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu khá quy mô của Trung ương MTTQ Việt Nam, tập hợp sự đóng góp ý kiến, các tham luận, thảo luận trong hội thảo của các nhà khoa học, cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp, các cán bộ lão thành cách mạng … Đề án nghiên cứu đã làm rõ quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về Mặt trận trong bối cảnh hiện nay; bên cạnh đó, cũng đã đánh giá thực trạng thực hiện vai trò, vị trí, chức năng giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam trong tình hình hiện nay Tuy nhiên, trong nội dung chuyên đề, phần nghiên cứu về PBXH của MTTQ Việt Nam vẫn còn khiêm tốn Hơn nữa, nội dung chuyên đề nhằm mục đích phục vụ cho việc thảo luận tại diễn đàn Đại hội (như MTTQ Việt Nam cần làm gì và làm thế nào để thực hiện nhiệm vụ giám sát và PBXH?) nên tính lý luận của vấn

đề chưa cao

Sau khi vấn đề phản biện xã hội được đề cập trực tiếp trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, tháng 4/2006, Đảng đoàn

Trang 24

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã trình Đề án về giám sát, PBXH của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam và được Bộ Chính trị tán thành về nguyên tắc Trên cơ sở

đó, Ban Bí thư có Chỉ thị về “Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam, các đoàn thể và nhân dân” Để việc ban hành Chỉ thị này sát

với thực tiễn, tháng 7/2007, Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã

tổ chức Hội nghị lấy ý kiến của các tổ chức thành viên, các vị lão thành cách mạng và nhiều trí thức Trong hai ngày 3 và 4/7/2007, Ban Thường trực UBTƯ MTTQ Việt Nam đã tổ chức hai hội nghị: Hội nghị với các vị nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các vị lão thành cách mạng, nhân sĩ, trí thức và Hội nghị với lãnh đạo các tổ chức thành viên để nghe ý kiến góp ý vào Đề án giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam, thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng Nhân dịp này, Ban biên tập báo Đại Đoàn Kết và Website Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức đợt góp ý kiến, nhằm góp

phần vào việc hoàn thiện "Đề án phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam" Vì

đây là vấn đề mới và khó, Ban Biên tập đã nêu một số gợi ý để nhân dân trong nước và đồng bào ta ở xa Tổ quốc có thể góp ý những vấn đề cụ thể sau: 1) Làm rõ khái niệm "phản biện xã hội" Phản biện xã hội khác gì với

"tham gia góp ý kiến" như lâu nay MTTQ vẫn thực hiện?; 2) Mục đích, yêu cầu và phạm vi vấn đề phản biện; 3) Vấn đề xây dựng tổ chức và cán bộ của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp, MTTQ phản biện tới mức nào?; 4) Về cơ chế phản biện: 5) Điều kiện bảo đảm để thực hiện phản biện xã hội bao gồm những yếu tố gì? Về nhận thức, về thể chế, về nguồn nhân lực, về kinh phí ; 6) Tổ chức thực hiện; 7) Về mối quan hệ giữa giám sát và phản biện xã hội Từ gợi ý đó, đã có nhiều bài viết được đăng trên các báo và tạp chí; đặc biệt, trên mục Tham vấn & Phản biện của Báo Đại đoàn

kết đã đăng các bài: “Tiếng nói phản biện của Mặt trận phải được pháp luật

thừa nhận” của Nguyễn Khánh - nguyên Phó Thủ tướng - Ủy viên Đoàn

Trang 25

Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; “Cần xây dựng đội ngũ có

tâm và có tầm” của GS.Lưu Văn Đạt; “Phản biện là có đồng tình, có phản đối, có chấp nhận và có bổ sung” của Nguyễn Mạnh Cầm - Chủ nhiệm Hội

đồng tư vấn đối ngoại và kiều bào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

“Làm rõ mặt trái để làm sáng tỏ mặt phải” của Nguyễn Thị Xuân Mỹ - Chủ

tịch Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam; “Chính dân là người

phản biện” của Đinh Văn Tư - Phó Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam

… Ngoài ra, còn có những bài viết trên các tạp chí, báo điện tử, như “Không

lệ thuộc quyền lợi, Mặt trận mới phản biện được tốt” của nguyên Phó Thủ

tướng Nguyễn Khánh (Báo Vietnamnet - 4/7/2007); “Vai trò phản biện của

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” của Trần Ngọc Nhẫn (2007), Tạp chí Lý luận

chính trị; “Điều kiện đảm bảo cho hoạt động giám sát và phản biện xã hội

của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”; “Lại bàn về giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Đặng Đình Tân

(08/2008), Tạp chí Dân vận; “Để thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện

của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân” của Minh Đức (05/2008), Tạp chí

Xây dựng Đảng; … Các bài viết này đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng

thực hiện chức năng PBXH của MTTQ Việt Nam trong điều kiện một đảng cầm quyền ở nước ta hiện nay Để thực hiện tốt chức năng này, các bài viết chỉ ra một loạt các điều kiện, như phải luật hóa chức năng PBXH của MTTQ Việt Nam, phải tạo điều kiện và có cơ chế để MTTQ Việt Nam thực hiện PBXH trên thực tế; đổi mới phương thức, nội dung hoạt động của MTTQ Việt Nam, xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận ngang tầm …

Trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 19/3/2009, Đảng đoàn Ủy ban

Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã báo cáo Đề án “Về giám sát và

phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân”; ngày 3/4/2009 Ban Chấp hành Trung ương ra Thông báo

Trang 26

kết luận của Bộ Chính trị về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân Từ đó, một loạt các bài viết về phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam được đăng tải trên các

báo, như “Điều kiện đảm bảo cho hoạt động giám sát và phản biện xã hội

của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” của Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Mặt trận

(số70, tháng 8/2009); “Cơ sở pháp lý nào cho sự hoàn thiện chức năng giám

sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”, Nguyễn Đăng

Dung, Tạp chí Mặt trận (số 81, tháng 7/2010); “Giám sát và phản biện xã hội

là cơ chế quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy dân chủ, tham gia xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Trần Ngọc Nhẫn, Tạp

chí Mặt trận (số 88, tháng 2/2011)… Các bài viết này tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng về PBXH là đúng đắn và cũng là một đòi hỏi từ thực tế cuộc sống ở nước ta trong giai đoạn hiện nay; đề nghị Đảng, Nhà nước tạo môi trường, điều kiện, xây dựng cơ chế, pháp luật nhằm nâng chất lượng PBXH nói chung và PBXH của MTTQ Việt Nam nói riêng

Đáng chú ý, năm 2009, Ủy ban MTTQ Thành phố Hà Nội đã thực

hiện đề tài “Xây dựng cơ chế phản biện xã hội của MTTQ Thành phố Hà Nội

nhằm phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô”, Chương trình

01X-11/02-2009-1, do PGS.TS Phạm Xuân Hằng làm chủ nhiệm Trên cơ sở xác định quan niệm về PBXH, đề tài đã triển khai nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản

về PBXH của MTTQ, như nội dung, hình thức, quy trình, nguyên tắc PBXH

… Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động PBXH của MTTQ Thành phố Hà Nội từ sau đổi mới đến nay, chỉ ra những mặt mạnh, những điểm hạn chế và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện chức năng PBXH của MTTQ Thành phố Hà Nội; từ đó, đưa ra những quan điểm, phương hướng xây dựng

cơ chế PBXH của MTTQ Thành phố Hà Nội nhằm phát huy vai trò của MTTQ và các tổ chức thành viên tham gia phản biện các dự thảo quyết sách kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội

Trang 27

Năm 2010, HĐND-UBND-Ủy ban MTTQ Thành phố Hà Nội ra Quy chế phối hợp tổ chức PBXH (ngày 29/4/2010) Quy chế gồm 04 chương, 14 điều, quy định MTTQ Thành phố Hà Nội là chủ thể thực hiện PBXH, có sự phối hợp chặt chẽ của Thường trực HĐND, UBND và các đoàn thể nhân dân Đối tượng PBXH là dự thảo các chủ trương, kế hoạch, đề án, dự án và các văn bản quy phạm pháp luật (các quyết sách) do HĐND, UBND Thành phố ban hành Hình thức phản biện được tiến hành qua hội nghị trao đổi trực tiếp giữa Ban Thường trực UBMTTQ với lãnh đạo HĐND, UBND Thành phố; hội nghị phản biện do UBMTTQ Thành phố tổ chức với thành phần tham gia

là những nhà khoa học, chuyên gia…; tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cử tri phản ánh với chính quyền Thành phố Trên cơ sở đó, nhiều bài viết về PBXH của MTTQ Thành phố Hà Nội được đăng tải trên các tạp chí, báo…

như “Mặt trận thành phố Hà Nội với công tác giám sát và phản biện xã hội” của Bùi Xuân Hộ, Tạp chí Mặt trận (số 73, tháng 11/2009); “Phản biện xã

hội và một số giải pháp phối hợp giữa MTTQ với chính quyền thành phố để thực hiện phản biện xã hội ở Hà Nội, Hoàng Mai Hương, Tạp chí Thông tin

Khoa học Xã hội (số 9, năm 2009); “Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát

và phản biện”, Lê Hương, Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội (5/9/2010);

“Nâng cao hiệu quả phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc các cấp”, Thu

Hà, http//Mattran.org.vn Các bài viết này đã đề cập và phân tích thực trạng PBXH của MTTQ Việt Nam Thành phố Hà Nội những năm gần đây, với những điểm đã làm được và những hạn chế, tồn tại; từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam Thành phố Hà Nội

1.2.3 Những công trình nghiên cứu có đề cập đến vấn đề PBXH của MTTQ Việt Nam

Dưới góc độ nghiên cứu của chính trị học, đặc biệt nhấn mạnh đến quyền lực chính trị của nhân dân lao động để luận giải vấn đề, Luận án tiến

Trang 28

sỹ Chính trị học “Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực

hiện quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Thị Hiền

Oanh - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2005 đã đưa

ra một hệ lý luận về quyền lực, quyền lực chính trị và quyền lực chính trị của nhân dân lao động, hay thực chất là quyền làm chủ của nhân dân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; từ đó khẳng định

ở nước ta hiện nay, nhân dân thực thi quyền lực chính trị qua hai phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp nhằm phát huy quyền làm chủ của mình Luận án cũng phân tích vai trò của hệ thống chính trị trong việc bảo đảm thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động, trong đó MTTQ Việt Nam có vai trò quan trọng nổi bật trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, là một phương thức quan trọng trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Luận án đã phân tích thực trạng hoạt động của MTTQ Việt Nam về tham gia xây dựng chính quyền, củng cố chính quyền nhân dân, nhất

là tham gia các cuộc bầu cử ở các cấp, góp phần quan trọng vào các kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp; tích cực tham gia xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật và triển khai thực hiện Quy chế dân chủ nhằm thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân; thực hiện vai trò tư vấn, phản biện đối với các cơ quan nhà nước, giám sát đối với các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước nhằm xây dựng và bảo vệ Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân … Luận án cũng chỉ ra MTTQ vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa phát huy được tính chủ động, tích cực của quần chúng…, việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân qua hoạt động của MTTQ Việt Nam cần có những giải pháp thiết thực của Đảng và Nhà nước Trong Luận án, tác giả khẳng định vai trò của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện chức năng giám sát, phản biện đối

Trang 29

với các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; thực hiện dân chủ xã hội và xây dựng phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Ở

chương II, Luận án dành tiểu mục 2.1.3 nghiên cứu về MTTQ Việt Nam giám

sát, phản biện các cơ quan nhà nước, cán bộ bộ dân cử và công chức Nhà nước đánh giá những ưu điểm của công tác Mặt trận trong việc tư vấn, phản

biện, giám sát soạn thảo các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Mặc dù Luận án không nghiên cứu trực tiếp về chức năng PBXH của MTTQ Việt Nam, nhưng đã có những nhận định, khảo sát, nhận xét có ý nghĩa về chức năng PBXH của MTTQ Việt Nam; tuy nhiên, vấn đề PBXH của MTTQ Việt Nam mới chỉ được phân tích xen kẽ với mức độ hạn chế trong các nội dung của luận án

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề đổi mới phương thức hoạt động và chức năng của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính

trị Tác giả Thang Văn Phúc đã có bài viết “Đổi mới tổ chức, hoạt động của

MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng

sản, số 13/2005 Năm 2007, tác giả cùng với TS Nguyễn Minh Phương

(đồng chủ biên) đã xuất bản cuốn sách “Đổi mới tổ chức và hoạt động của

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay”, Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2007 Qua bài viết và cuốn sách chuyên khảo này, các tác giả đã phân tích, luận giải tính phổ biến và tính đặc thù của các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở nước ta; vai trò của xã hội dân sự trong việc xây dựng và phát triển dân chủ XHCN ở nước ta; khái quát những bài học kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở một số nước XHCN (Liênxô, Trung Quốc); hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

Trang 30

Từ đó, phân tích, đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam nhằm luận chứng tính tất yếu khách quan và cơ sở lý luận, thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam

và các tổ chức chính trị - xã hội gắn với việc giải quyết một loạt vấn đề sau: i) Xác định rõ tính chất đặc thù của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị nước ta; ii) Phát huy vai trò thực hành dân chủ của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; iii) Tăng cường vai trò giám sát đối với các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước của MTTQ và các

tổ chức chính trị - xã hội; iv) Thể chế hóa chức năng tư vấn, PBXH của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đối với Đảng và Nhà nước; v) Đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng “hành chính hóa”, “nhà nước hóa”

Đặc biệt, các tác giả đã khẳng định, trong điều kiện một đảng cầm quyền, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội không chỉ làm chức năng đoàn kết, động viên tinh thần yêu nước, nhiệt tình lao động của toàn dân, mà còn phải đảm nhiệm vai trò của một tổ chức giám sát, PBXH đối với

sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Mặt trận phải thực hiện chức năng tham chính, nhằm đảm bảo cho sự lãnh đạo và điều hành đất nước tránh được những sai lầm, khuyết điểm do tệ độc quyền, quan liêu, chủ quan, duy ý chí gây nên

Đáng chú ý nhất trong mảng đề tài nghiên cứu về Mặt trận và các

đoàn thể chính trị - xã hội là đề tài KX.10.03 “Mô hình đổi mới, hoàn thiện

tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị

Trang 31

- xã hội trong hệ thống chính trị giai đoạn 2010 - 2015” do TS.Thang Văn

Phúc (Bộ Nội vụ) làm chủ nhiệm, năm 2009 Công trình sau khi phân tích những hạn chế, bất cập về mô hình tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam hiện nay, đã đề xuất mô hình tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam giai đoạn từ 2010 đến 2015 Một trong những đề xuất này là mô hình chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam; theo đó, MTTQ Việt Nam có 5 chức năng sau:

+ Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân

+ Phát huy quyền làm chủ của nhân dân

+ Đại diện quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân

+ Xây dựng và củng cố đồng thuận xã hội

+ Giám sát và phản biện xã hội

Đề xuất chức năng giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam, công trình xác định: Vai trò giám sát và PBXH của Mặt trận không chỉ là hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra của Nhà nước, mà còn mang tính độc lập cao hơn, thậm chí còn phản biện lại cả công tác giám sát, kiểm tra của các cơ quan nhà nước, phù hợp với yêu cầu phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

ở nước ta hiện nay

Trong bài tham luận “Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ chức

xã hội” tại Hội thảo khoa học do Văn phòng Quốc hội và Dự án Hỗ trợ cho

Thể chế Việt Nam của Ủy ban châu Âu, năm 2007, GS Tương Lai đã phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về xã hội dân sự, như khái niệm, phân biệt

xã hội dân sự và xã hội công dân; mối quan hệ biện chứng giữa xã hội dân sự

và nhà nước pháp quyền…, đưa ra dẫn chứng phân tích về mối quan hệ đó

trong nội dung bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Từ đó, tác giả khẳng định vai trò của việc xây dựng một xã hội dân sự tốt là hiện

Trang 32

thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”

Nhân dân tham gia vào quy trình lập pháp và phản biện xã hội trong xã hội

dân sự Với điều kiện một đảng cầm quyền, MTTQ Việt Nam cần được tổ

chức tốt để thực hiện chức năng phản biện xã hội; để mọi tầng lớp nhân dân thực hiện quyền và trách nhiệm của mình về phản biện xã hội qua các tổ chức

xã hội chưa tham gia vào MTTQ Việt Nam, đóng góp vào quy trình lập pháp

của Quốc hội Để MTTQ Việt Nam và các tổ chức xã hội thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội, Giáo sư cho rằng: cần hoàn thiện nhà nước pháp

quyền và phát huy vai trò của xã hội dân sự; khắc phục tính chất “nhà nước

hóa” của Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp;

học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ sở xã hội của Nhà nước, đó cũng là nền tảng vững chắc của việc xây dựng xã hội dân sự phù hợp với đặc điểm truyền thống và tâm lý Việt Nam Do vậy, Giáo sư khẳng định, chất

lượng của phản biện xã hội tùy thuộc vào sự hoạt động của xã hội dân sự và

ngược lại; đó chính là biện chứng của sự phát triển

* *

* Tiểu kết Chương 1

Thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mọi đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân, có sự đồng thuận cao trong xã hội; thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thông qua các cơ quan dân cử, đồng thời, qua Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội; nhân dân làm chủ trực tiếp ở cơ sở bằng hình thức tự quản…đòi hỏi phải phát huy vai trò PBXH của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và trực tiếp của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, cán bộ, công chức, đảng viên

Trang 33

Sau khi văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định chức năng PBXH của MTTQ Việt Nam đến nay, các công trình nghiên cứu về PBXH nói chung và chức năng PBXH của MTTQ Việt Nam nói riêng đã đạt được những thành tựu nhất định Có thể thấy, những kết quả chủ yếu mà khoa học nước ta đã đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu về hoạt động phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam như sau:

Thứ nhất, xác định được vai trò của hoạt động PB nói chung và

PBXH nói riêng đối với việc thực hiện quyền lực của nhân dân Vai trò đó được thể hiện ở sự tham gia của nhân dân vào quá trình hoạch định chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tạo nên sự đồng thuận xã hội, nâng cao tính chủ động và vai trò làm chủ của nhân dân, qua đó tăng tính khả thi, tính hiệu quả của chính sách và pháp luật, góp phần tạo nên không khí dân chủ, tạo nên những điều chỉnh trong hoạt động lãnh đạo, quản lý theo chiều hướng hợp lòng dân hơn

Thứ hai, các công trình đã luận chứng được vai trò quan trọng của

MTTQ Việt Nam trong đời sống của đất nước thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đều khẳng định: MTTQ Việt Nam là thành tố chiến lược của hệ thống chính trị nước ta; là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, với Nhà nước; đại diện cho lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân (đây là điểm cần nhấn mạnh)

Thứ ba, ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, cấp độ công trình khác

nhau (bài báo, bài đăng tạp chí, đề tài cấp cơ sở, cấp bộ, cấp Nhà nước …), các công trình đã bước đầu đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động PBXH (khái niệm, nội hàm hoạt động PBXH chỉ ra vai trò của hoạt động PBXH …) Tất cả các công trình nghiên cứu đều cho rằng, hoạt động PBXH là yêu cầu tất yếu của quá trình thực thi dân chủ ở nước ta và trong các chủ thể PBXH, MTTQ Việt Nam giữ vai trò quan trọng hàng đầu

Thứ tư, một số công trình (luận văn, luận án, đề tài cấp bộ, cấp nhà

nước …) đã đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng PBXH của

Trang 34

MTTQ Việt Nam theo mục tiêu trực tiếp của đề tài (như: nâng cao nhận thức

về vấn đề PBXH của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và nhân dân, nhất

là Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội; đưa chức năng PBXH vào Luật Mặt trận, Điều lệ Mặt trận; xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận…)

Tuy nhiên, các công trình trên phần lớn là nghiên cứu vấn đề PBXH của MTTQ Việt Nam gắn với giám sát xã hội; mức độ nghiên cứu về PBXH của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn sơ lược, chưa có công trình nào trực tiếp đặt ra và nghiên cứu về vấn đề PBXH của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

chuyên biệt một cách có hệ thống và hoàn chỉnh

Những nghiên cứu về PBXH của MTTQ Việt Nam mới là bước đầu, với kết quả còn khiêm tốn, nhưng có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở giúp MTTQ Việt Nam xác định chức năng, nhiệm vụ của mình trong thời kỳ mới Trước yêu cầu của xã hội, PBXH trở thành chủ đề “nóng” trong các diễn đàn thảo luận xây dựng Báo cáo của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam trình Đại hội đại biểu Mặt trận toàn quốc lần thứ VII Những kết quả nghiên cứu này làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo về MTTQ nói chung và hoạt động PBXH của MTTQ Việt Nam nói riêng

Kế thừa các kết quả nghiên cứu về PBXH đã đạt được và trước yêu cầu thực tiễn đặt ra, luận án cần tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

Một là: Hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu đã có về PBXH: Khẳng

định tính tất yếu, xác định rõ khái niệm, bản chất, đặc trưng và cơ chế PBXH trong thể chế chính trị một đảng cầm quyền duy nhất ở nước ta; so sánh với PBXH trong thể chế đa đảng ở mức độ nhất định

Hai là: Xác định vị trí, vai trò của MTTQ Việt Nam trong PBXH và

đưa ra tiêu chí đánh giá chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam ở nước ta hiện nay, trước mắt là những tiêu chí mang tính “định tính”

Trang 35

Ba là: Trên cơ sở khung lý thuyết đã hình thành, nghiên cứu, đánh giá

thực trạng hoạt động PBXH của MTTQ Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới; làm

rõ những mặt làm được, những khiếm khuyết và nêu lên những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chức năng PBXH của MTTQ Việt Nam ở nước ta hiện nay

Bốn là: Vận dụng những quan điểm của Đảng, xác định phương

hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam đáp ứng yêu cầu giai đoạn hiện nay trong công cuộc đổi mới, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Những vấn đề trên chính là nhiệm vụ mà tác giả phải hoàn thành

trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài luận án của mình

Trang 36

Chương 2

PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM -

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI

2.1.1 Khái niệm “phản biện” và “phản biện xã hội”

2.1.1.1 Khái niệm “phản biện”

Ở nước ta trước đây phản biện (PB) mới chỉ được thừa nhận trong nghiên cứu khoa học, được xem như một hoạt động trong lĩnh vực khoa học Nội hàm của “PB” được xác định cả trong từ điển “là đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ để lấy học vị

trước hội đồng chấm thi” [145, tr.738] Đại Từ điển Tiếng Việt còn giải nghĩa

“PB” là “việc xem xét, đánh giá chất lượng một công trình khoa học trước hội đồng chấm thi, nghiệm thu đề tài” [146, tr.764]

Trong những năm gần đây, khi vấn đề “phản biện xã hội” được quan tâm nghiên cứu, nội hàm khái niệm “PB” được mở rộng, khái quát hơn, bao quát phạm vi rộng hơn các lĩnh vực của đời sống xã hội Đã có không ít những định nghĩa “PB” đã được đưa ra Chẳng hạn, nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt quan niệm “PB là một thể hiện của các phản hành động xuất hiện một cách tự nhiên trong một xã hội mà ở đó con người đều tự do bày tỏ các nguyện vọng của mình PB góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hóa, chính trị, làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn và gần với đời sống con người hơn” [10, http://w.w.w.chungta.net] Còn nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh nói

rõ hơn: “PB là theo dõi, quan sát, nhưng có phân tích kỹ, có nhận xét, đánh giá, thậm chí kết luận để kiến nghị và đưa ra giải pháp” [73]

Có không ít tác giả “mổ xẻ” khái niệm “PB” từ thuật ngữ TS Đoàn Minh Huấn giải nghĩa: Theo nghĩa Hán - Việt, chữ “phản” trong “PB” có

Trang 37

nghĩa là nghĩ, xét lại * ; “biện” là phân tích Nếu gắn phản với biện có nghĩa là xét các sự vật rồi phân định xấu, tốt; nó cùng nghĩa với tranh luận, biện bác Theo nghĩa đó, có thể hiểu “PB” là đặt lại, xét lại hoặc tự xét lại một sự việc,

một vấn đề trên cơ sở những lập luận, phân tích khách quan, khoa học có sức thuyết phục nhằm phân định rõ các mặt khác nhau…nhằm phát hiện hoặc đưa

ra các sự việc, vấn đề trở về đúng giá trị [65, tr.231-232] Giải nghĩa Hán - Việt của “PB” rõ hơn, Từ điển Hán - Việt của Trần Văn Chánh giải thích:

phản thuộc bộ Hựu; có các nghĩa như chuyển biến, lật lại, đảo ngược, trái lại,

nghĩ lại, xét lại… và “biện”, thuộc bộ Khẩu, có nghĩa là tranh luận, là giải

thích [20, tr.33] Còn Từ điển Hán - Việt của Thiền Chiển thì cho rằng: phản

biện là tranh luận ngược lại, tranh luận theo cái nhìn ngược lại [129, tr.13]

Liên quan đến thuật ngữ “PB”, theo Đinh Gia Hưng, phản biện trong tiếng Anh chính xác phải là Counter - argument (counter: phản; argument: biện), nhưng ở phương Tây người ta thống nhất dùng từ “Social criticism” (phê phán xã hội) [68, ghung71@yahoo.com]

Vậy thực chất PB là gì?

Con người sống, tồn tại và phát triển, trong môi trường tự nhiên và xã hội, luôn chịu sự tác động của các nhân tố từ môi trường đó Phương thức con người sinh sống, tự khẳng định mình như là con người (Humo sapiens) trong thế giới là hoạt động thực tiễn biến đổi thế giới Con người nhận thức thế giới ngay trong quá trình biến đổi thế giới

Trong cuộc sống, để có hành động đúng, con người phải có nhận thức đúng đắn về thế giới hiện thực khách quan, nhận thức đúng về những điều kiện, bối cảnh tiến hành các hành động, nhận thức đúng bản chất, quy luật vận động và phát triển của sự vật Từ đó, con người dự báo được kết quả, lường được những tình huống tốt hoặc xấu ảnh hưởng đến kết quả hoạt động, xây dựng nên các mô hình, ý tưởng, vạch ra các phương pháp hoạt động thực

* Trong khi, chữ “phản” có 5 nghĩa: 1) trái, đối lập với chữ chính; 2) trả lại, trở về; 3) nghĩ, xét lại; 4) trở, quay; 5) trái lại, phản đối,

trái lại không chịu [63, 231]

Trang 38

tiễn và điều chỉnh chương trình, dự kiến xu hướng phát triển của sự vật Nhưng con người không thể nhận thức tức thời ngay hết được sự vật, hiện tượng đang diễn ra Nhận thức của những con người cụ thể, thậm chí của cộng đồng người, thế hệ người, bao giờ cũng bị giới hạn bởi những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, bởi trình độ phát triển của thực thể xã hội; trong khi các sự vật, hiện tượng của thế giới hiện thực muôn vẻ lại không ngừng vận động và phát triển Thực tiễn luôn vận động, phát triển đẩy nhận thức của con người vào “tình huống có vấn đề”, đòi hỏi con người phải mở rộng sự hiểu biết hiện

có, đánh giá lại vốn tri thức, xem xét lại cách tiếp cận cũ, đưa ra những quan niệm khác, cách tiếp cận khác nhằm phản ánh đúng đắn hơn, phù hợp hơn

hiện thực khách quan đang vận động, phát triển Đó chính là sự phản biện

PB là việc con người đưa ra những lập luận, luận chứng bằng cách

tiếp cận khác, đánh giá, xem xét, chỉ ra cái đúng - cái sai trong quan niệm, tri

thức hiện có về các sự vật, hiện tượng, sự kiện…nhằm nhận thức đúng đắn hơn để có phương án hành động phù hợp hiện thực khách quan

Như vậy, PB là một hiện tượng tất yếu diễn ra trong quá trình nhận thức thế giới hiện thực khách quan của con người, nhằm phản ánh đúng đắn hơn,

chính xác hơn các sự vật, hiện tượng đang diễn ra trong thế giới hiện thực

Việc phân tích nguồn gốc của PB cũng bao hàm trong đó sự giải thích

bản chất của nó Bản chất ấy được thể hiện qua các đặc tính của PB như sau:

Thứ nhất, PB là một hiện tượng trong quá trình nhận thức của con

người Vì vậy, PB thể hiện sự phản ánh sự vật, hiện tượng trong hiện thực, thể hiện sự hiểu biết của con người về các sự vật, hiện tượng đang diễn ra Nó tạo tiền đề cho các hoạt động của con người tác động vào sự vật, hiện tượng

đó phù hợp thực tiễn khách quan để đạt được mục đích đáp ứng tốt nhất lợi ích của con người Cách nói “phản biện bằng hành động” chỉ là sự “hình

tượng hóa” của [hành động] phản kháng Sự khác nhau cơ bản giữa PB và phản kháng là ở chỗ: PB là sự phản ánh nhận thức theo cách khác, đưa ra

Trang 39

cách giải quyết vấn đề theo cách khác; còn phản kháng là hành động chống

lại, là sự chống đối bằng hành động

Thứ hai, PB hướng đến sự phản ánh, nhận thức đúng đắn hơn, chính

xác hơn, nên đặc trưng của PB là sự làm rõ đúng - sai, phản ánh đúng sự vật,

hiện tượng trong hiện thực PB nhằm đưa nhận thức của con người tiến tới

chân lý khách quan Do đó, PB không đồng nhất với phản bác là việc đưa ra

ý kiến nhằm phủ định, bác bỏ nhận thức đã có Nói cách khác, phản bác chỉ

là một khả năng của PB PB có thể bao hàm sự phản bác, nhưng cũng có cả

sự khẳng định, đồng tình với nhận thức đã có

Thứ ba, PB thuộc loại hình nhận thức khoa học, bao hàm cả 2 trình

độ: kinh nghiệm và lý luận Với tư cách nhận thức khoa học, PB khác với các

loại hình hoạt động nhận thức thông thường ở chỗ PB là những lập luận (đưa

ra chứng cứ, những cách tiếp cận khác với sự lý giải, luận giải) nhằm phản ánh sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực đúng đắn hơn: từ những hiểu biết trực tiếp về sự vật, hiện tượng, những biểu hiện, mối quan hệ bề ngoài (tri thức kinh nghiệm) đến những hiểu biết nhờ vào tư duy lý luận phản ánh bản chất, khái quát về đối tượng trong tính khách quan hiện thực của nó (tri thức lý luận) Cần nói thêm, PB là loại hình nhận thức khoa học, song nó có

thể được biểu đạt, thể hiện bằng hình thái hình tượng (văn học, nghệ thuật,

văn nghệ…)

Tóm lại, PB là việc con người đưa ra những lập luận, luận

chứng, theo những cách tiếp cận khác đánh giá, xem xét, làm rõ đúng - sai của quan niệm, tri thức có trước về sự vật, hiện tượng nhằm nhận thức đúng đắn hơn để có phương án hành động hiệu quả, phù hợp hiện thực khách quan

2.1.1.2 Khái niệm “Phản biện xã hội”(PBXH)

a) Bản chất PBXH

Là một hiện tượng tất yếu trong quá trình nhận thức thế giới khách quan (tự nhiên và xã hội) của con người, PB xuất hiện ở mọi lĩnh vực hoạt

Trang 40

động của con người Tất cả các loại PB đều chung mục đích là đưa con người đến nhận thức đúng đắn, chính xác các sự vật, hiện tượng, làm cho hoạt động của con người phù hợp với quy luật của hiện thực khách quan

Trong quá trình nhận thức của con người, PB từ chỗ là hoạt động riêng lẻ của những cá nhân dần trở thành hoạt động của nhiều người, của những nhóm người, của những bộ phận trong cộng đồng xã hội, trở thành hoạt động PB mang tính xã hội trước những vấn đề không chỉ liên quan đến đời sống cá nhân, mà liên quan đến lợi ích chung, đời sống chung của cộng đồng xã hội Khi đó xuất hiện PBXH

Ở nước ta, trong những năm qua, đặc biệt từ khi vấn đề PBXH được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội Đảng, đã có những lý giải khái niệm PBXH khác nhau

Tác giả Kiên Định quan niệm: “PBXH được coi là hành vi có chất lượng khoa học của xã hội đối với hệ thống chính trị Một xã hội được tổ chức

PB tốt sẽ góp phần tạo ra sự đồng thuận cho phát triển, giảm được tối đa sự

phản kháng không cần thiết của dân chúng” [43, http://w.w.w.chungta.net]

Đưa ra một định nghĩa khá cô đọng, Trần Đăng Tuấn cho rằng:

“PBXH là đưa ra các lập luận, phân tích nhằm phát hiện, chứng minh, khẳng định, bổ sung hay bác bỏ một đề án (phương án, dự án) xã hội đã được hình thành và công bố trước đó” [135, tr.160] Còn Hoàng Văn Tuệ định nghĩa chi tiết hơn: “PBXH là sự phản ánh những dư luận xã hội, ý kiến, kiến nghị và kháng nghị của cộng đồng xã hội, của tập thể, tập đoàn người (xây dựng trên mối quan hệ chung về sản xuất, gia đình, chính trị, văn hóa; phong tục, tập quán, lễ giáo…) về một hay nhiều sự việc, vấn đề có liên quan đến lợi ích chung của cộng đồng, tập thể, tập đoàn người ấy trên cơ sở tổng hợp, phân tích, lập luận (luận giải) khách quan, khoa học, có tính thuyết phục nhằm phân định rõ giữa cái tốt và cái xấu, cái đúng và cái sai, cái khẳng định và cái phủ định, cái được và cái chưa được, cái hoàn thiện và cái cần tiếp tục hoàn thiện…nhằm đáp ứng đúng những yêu cầu do cuộc sống đặt ra, thỏa mãn

Ngày đăng: 02/03/2023, 09:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Hồng Anh (2001), Tổ chức và hoạt động của Nghị viện một số nước trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của Nghị viện một số nước trên thế giới
Tác giả: Vũ Hồng Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
2. Nguyễn Thọ Ánh (2010), Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thọ Ánh
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2010
9. Hoàng Chí Bảo (2012), Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lý luận mới về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1986 - 2011), Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lý luận mới về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1986 - 2011)
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
10. Nguyễn Trần Bạt (2007), “Phản biện xã hội”, http://w.w.w.chungta.net, ngày 27 tháng 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản biện xã hội
Tác giả: Nguyễn Trần Bạt
Năm: 2007
16. Nguyễn Trọng Bình (2010), “Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Mặt trận (81), tr.43 - 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra
Tác giả: Nguyễn Trọng Bình
Nhà XB: Tạp chí Mặt trận
Năm: 2010
19. Linh mục Thiện Cẩm (2010), “Phản biện và phản chứng”, Tạp chí Mặt trận (5/75), tr.31 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản biện và phản chứng
Tác giả: Linh mục Thiện Cẩm
Nhà XB: Tạp chí Mặt trận
Năm: 2010
20. Trần Văn Chánh (1999), Từ điển Hán - Việt, Nxb Trẻ, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt
Tác giả: Trần Văn Chánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999
21. Vũ Dương Châu (2012), “Nâng cao chất lượng cán bộ Mặt trận góp phần đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”, Tạp chí Mặt trận (2/100), tr.41 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng cán bộ Mặt trận góp phần đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tác giả: Vũ Dương Châu
Năm: 2012
22. Trường Chinh (1972), Về công tác Mặt trận hiện nay, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác Mặt trận hiện nay
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1972
23. Vũ Hoàng Công (chủ biên) (2009), Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN
Tác giả: Vũ Hoàng Công
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
24. Lê Thị Mộng Diễm (2008), Thực hiện chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Mộng Diễm
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2008
27. Phạm Thế Duyệt (2003), “Thực hiện Đại đoàn kết dân tộc và những vấn đề đặt ra cho hệ thống chính trị hiện nay”, Tạp chí Cộng sản (679), tr.3 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện Đại đoàn kết dân tộc và những vấn đề đặt ra cho hệ thống chính trị hiện nay
Tác giả: Phạm Thế Duyệt
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2003
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1990
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
33. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
18. Nguyễn Mạnh Cầm, “Phản biện là phải có đồng tình, có phản đối, có chấp nhận và có bổ sung”, http// w.w.wmattran.org.vn, trang “Góp ý vào Đề án PBXH của MTTQ Việt Nam” Link
70. Nguyễn Khánh, “Tiếng nói phản biện của Mặt trận phải được pháp luật thừa nhận” , w.w.w.mattran.org.vn trang “Góp ý vào Đề án PBXH của MTTQ Việt Nam” Link
123. Nguyễn Chính Tâm (2007), “Phản biện xã hội và sự phát triển của Việt Nam”, Báo Vietnamnet, ngày 09 tháng 6 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w