Tổ chức cơ sở Đảng ở xã, phường, thị trấn là trung tâm đoàn kết, quy tụ, tập hợp mọi lực lượng ở xã, phường, thị trấn thành một khối thống nhất ý chí và hành động, tạo ra sức mạnh tổng h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÃ HỘI XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết
quả, số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2019
Tác giả luận án
Dương Huy Đức
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài luận án 6
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
5 Nguồn tài liệu 10
6 Đóng góp về mặt khoa học của Luận án 10
7 Kết cấu của luận án 11
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN 12
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 12
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về tổ chức cơ sở đảng, tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn nói chung 12
1.1.2 Các công trình đề cập đến thực tiễn xây dựng tổ chức cơ sở đảng của các đảng bộ ở một số vùng, miền và địa phương trong cả nư c 18
1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai 25
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT 28
1.2.1 Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 28
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết 30
Tiểu kết chương 1 31
Trang 5Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN (2005-2010) 32 2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI (2005-2010) 32
2.1.1 Những yếu tố tác động đến xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai 32 2.1.2 Chủ trương của đảng bộ tỉnh Đồng Nai về xây dựng tổ chức cơ sở đảng
cơ sở đảng 71
Tiểu kết chương 2 79 Chương 3 ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN (2010-2015) 80 3.1 TÌNH HÌNH MỚI VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI VỀ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ
Trang 63.2.2 Chỉ đạo công tác tổ chức, công tác cán bộ 102
3.2.3 Chỉ đạo nâng cao chất lượng đảng viên và công tác phát triển đảng 111
3.2.4 Chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật 115
Tiểu kết chương 3 122
Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 124
4.1 NHẬN XÉT 124
4.1.1 Ưu điểm và nguyên nhân 124
4.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 135
4.2 MỘT SỐ KINH NGHIỆM 140
4.2.1 Quán triệt đúng đắn, vận dụng sáng tạo, cụ thể hóa chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn phù hợp v i thực tiễn của tỉnh Đồng Nai 141
4.2.2 Chỉ đạo thường xuyên, toàn diện và đồng bộ công tác tư tưởng, công tác tổ chức cán bộ và đảng viên, công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng viên của tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn 145
4.2.3 Thường xuyên chỉ đạo giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, nâng cao chất lượng lãnh đạo của các cấp uỷ tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn 152
4.2.4 ự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy cấp trên cơ sở có ngh a quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn 156
4.2.5 Đổi m i nội dung, hình thức công tác dân vận của tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chính trị của Đảng ở cơ sở 160
Tiểu kết chương 4 165
KẾT LUẬN 167
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 170
TÀI LIỆU THAM KHẢO 171
PHỤ LỤC 189
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn từ năm 2006 đến năm 2010 68 Bảng 2.2: Thống kê số người học lớp “bồi dưỡng nhận thức về Đảng” và số người được kết nạp ở xã, phường, thị trấn từ năm 2006 đến năm 2010 71 Bảng 3.1: Thống kê chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn tỉnh đồng nai từ năm 2011 đến năm 2015 106 Bảng 3.2: Thống kê số người học lớp “bồi dưỡng nhận thức về Đảng” và được kết nạp vào đảng ở xã, phường, thị trấn từ năm 2011 đến năm 2015 113 Bảng 4.1: Tổng hợp chất lượng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn 131 tỉnh Đồng Nai 10 năm (2006-2015) 131 Bảng 4.2: So sánh kết quả phát triển Đảng ở xã, phường, thị trấn tỉnh Đồng Nai qua hai nhiệm kỳ (2006-2010) và (2010-2015) 134
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH : Ban Chấp hành CNXH : Chủ nghĩa xã hội CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa XHCN : xã hội chủ nghĩa
TCCS Đ : Tổ chức cơ sở đảng TSVM : Trong sạch, vững mạnh TVTU : Thường vụ Tỉnh ủy UBKT : Ủy ban kiểm tra
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận án
Tổ chức cơ sở (TCCS) đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở Đây là nơi trực tiếp lãnh đạo thực hiện đường lối chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời cũng là nơi tham gia tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm, góp phần phát triển
và hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Sức mạnh của Đảng được tăng lên chính từ sự gắn bó, liên hệ mật thiết với nhân dân Tổ chức cơ sở Đảng ở xã, phường, thị trấn là trung tâm đoàn kết, quy tụ, tập hợp mọi lực lượng ở xã, phường, thị trấn thành một khối thống nhất ý chí và hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng ở xã, phường, thị trấn và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, then chốt của Đảng Đảng đã phát huy được vai trò hạt nhân lãnh đạo, nền tảng chính trị ở cơ sở của TCCSĐ xã, phường, thị trấn để tổ chức này đủ sức lãnh
Trang 10đạo cán bộ, đảng viên, nhân dân ở cơ sở thực hiện chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên; thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn của địa phương, cơ quan, đơn vị
Trước yêu cầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và tích cực hội nhập quốc tế, một trong những nhiệm vụ trọng yếu là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, trong đó có nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các TCCSĐ xã, phường, thị trấn và nâng cao chất lượng đảng viên không chỉ là yêu cầu cấp bách mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng
Đồng Nai là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong quá trình đổi mới có tốc độ phát triển kinh tế-xã hội nhanh, dân số cơ học cũng tăng nhanh Trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, tỉnh Đồng Nai
có nhiều vận hội, nhưng không ít những thách thức khó khăn đối với công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng TCCSĐ nói riêng Quán triệt quan điểm xây dựng TCCSĐ và chất lượng đảng viên theo Nghị quyết Đại hội X của Đảng (4-2001), Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đã tập trung tăng cường công tác xây dựng TCCSĐ, nhất là các TCCSĐ xã, phường, thị trấn Hầu hết các TCCSĐ
xã, phường, thị trấn ở tỉnh đã bám sát vào chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng, đổi mới phương thức, nội dung, hình thức sinh hoạt cấp ủy, chi bộ lãnh đạo phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội, quốc phòng-an ninh, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở đạt nhiều kết quả quan trọng
Tuy nhiên, trong Đảng bộ tỉnh Đồng Nai vẫn còn có những TCCSĐ xã, phường, thị trấn hạn chế về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, còn những lúng túng trong phương thức lãnh đạo, chưa thực sự làm tròn vai trò hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở Vì vậy, xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn trong sạch, vững mạnh toàn diện trên địa bàn tỉnh là nhiệm vụ cấp thiết trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
Trang 11Đề tài đi sâu tổng kết thực tiễn quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai từ năm 2005 đến năm 2015 sẽ góp phần làm sáng tỏ sự vận dụng quan điểm, chủ trương của Trung ương Đảng của một đảng bộ tỉnh phía Nam về công tác xây dựng TCCSĐ Qua đó, đúc kết những kinh nghiệm có giá trị thực tiễn và lý luận, góp phần xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai có hiệu quả hơn
Với những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh
Đồng Nai lãnh đạo xây dựng chức tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn
từ năm 2005 đến năm 2015” làm đề tài Luận án Tiến sĩ lịch sử, chuyên
xã, phường, thị trấn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan các công trình nghiên cứu về tổ chức cơ sở đảng, tổ chức cơ
sở đảng xã, phường, thị trấn nói chung và ở các địa phương nói riêng
Làm rõ những yếu tố tác động đến xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai từ năm 2005 đến năm 2015
Làm rõ chủ trương và chỉ đạo xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai qua hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh từ năm
2005 đến năm 2015
Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế, rút
ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trong quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung khoa học: Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ, đảng bộ cơ sở) gồm
năm loại hình cơ bản: Tổ chức cơ sở đảng (TCCS) xã, phường, thị trấn, TCCS
ở cơ quan hành chính nhà nước, TCCSĐ ở đơn vị sự nghiệp, TCCS trong các doanh nghiệp nhà nước và TCCS trong lực lượng vũ trang ở địa phương
Gi i hạn nghiên cứu chủ yếu:
Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai toàn diện các lĩnh vực chủ yếu: Hoạch định, đề ra chủ trương lãnh đạo xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn;
sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ trên 4 lĩnh vực chính: chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị tư tưởng; chỉ đạo công tác tổ chức cán bộ, đảng viên; chỉ đạo công tác phát triển đảng; chỉ đạo công tác kiểm tra giám sát xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn
Về không gian: Địa bàn tỉnh Đồng Nai
Về thời gian: Từ năm 2005 (Năm diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
Đồng Nai lần thứ VIII), đến năm 2015 (Năm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội đại
biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ IX) Thời gian nghiên cứu: 10 năm
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng, xây dựng TCCSĐ nói chung và TCCSĐ xã, phường, thị trấn nói riêng
Trang 134.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, Luận án sử dụng chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Phương pháp lịch
sử được ưu tiên sử dụng nhiều hơn ở các chương 1,2,3 Phương pháp logic được sử dụng nhiều hơn ở chương 4
Ngoài ra trong toàn Luận án đều cố gắng kết hợp với hai phương pháp
đó và còn kết hợp sử dụng phương pháp một số phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn như tổng kết, so sánh, khảo sát thực tiễn, thống kê, phỏng vấn nhân chứng lịch sử… để giải quyết nhiệm vụ đặt ra của đề tài Luận án
5 Nguồn tài liệu
Tài liệu tham khảo thực hiện đề tài được tác giả chia thành hai nhóm chính, có liên quan về nội dung và phương pháp nghiên cứu đề tài:
Các tài liệu Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam và của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai gồm: Hồ Chí Minh về xây
dựng Đảng, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và các Nghị quyết của BCH Trung ương về xây dựng TCCSĐ nói chung và TCCSĐ
xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến 2015 Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng
bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VII (nhiệm kỳ 2001-2005); lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2005-2010); lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010-2015); các báo cáo của Ban Tuyên giáo, Ban Tổ chức và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Nai; báo cáo của BCH huyện ủy một số huyện của tỉnh Đồng Nai…
Các công trình khoa học của tập thể và các nhà khoa học, các nhà lãnh
đạo, quản lý về TCCSĐ, TCCSĐ xã, phường, thị trấn nói chung; ở các địa phương và ở tỉnh Đồng Nai nói riêng
6 Đóng góp về mặt khoa học của Luận án
Góp phần hệ thống hóa những chủ trương lớn và sự chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh Đồng Nai về xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015
Trang 14Phân tích thực trạng xây dựng chức cơ sở Đảng xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2015, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nêu ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo xây dựng chức cơ sở Đảng xã, phường, thị trấn trong thời gian trên
Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể góp thêm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Nai nói chung, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai nói riêng
trong công cuộc đổi mới
7 Kết cấu của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án và phụ lục, luận án gồm 4 chương 8 tiết
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, xây dựng TCCSĐ đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu Đặc biệt, từ khi đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng TCCSĐ nói riêng đã được nghiên cứu, tổng kết trên nhiều phương diện Có thể chia các công trình nghiên cứu đó thành các nhóm như sau:
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về tổ chức cơ sở đảng, tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn nói chung
Cuốn sách Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
trong thời kỳ m i (2005) do Nguyễn Phú Trọng chủ biên [169] Nội dung chủ
yếu của cuốn sách đề cập một cách khái quát, có hệ thống những vấn đề cơ bản về đảng cầm quyền, về tình hình đổi mới, chỉnh đốn Đảng Cuốn sách, đã giành một phần quan trọng luận giải về chất lượng các TCCSĐ Từ sự phân tích công phu, nghiêm túc cơ sở lý luận và thực tiễn những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng nói chung, các TCCSĐ nói riêng, cuốn sách đã đề xuất phương hướng và giải pháp cấp bách để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới
Cuốn sách của các tác giả Đặng Xuân Kỳ, Mạch Quang Thắng, Nguyễn
Văn Hoà (đồng chủ biên), Một số vấn đề về xây dựng Đảng hiện nay (2008)
[81] Nội dung cuốn sách giới thiệu vai trò của công tác xây dựng Đảng trong
hệ thống chính trị; tổ chức hoạt động của TCCSĐ; nội dung và năng lực lãnh
Trang 16đạo, trách nhiệm của lãnh đạo; vấn đề lãnh đạo các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh và liên doanh với nước ngoài; các quy định mới của BCH Trung ương
về chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ; hướng dẫn thực hiện các quy định của Trung ương
Cuốn sách Một số vấn đề về xây dựng tổ chức cơ sở đảng hiện nay, của
tác giả Nguyễn Đức Hà (2010) [60] Nội dung cuốn sách gồm các bài viết về những vấn đề cơ bản như: nâng cao chất lượng TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong các loại hình TCCSĐ; đánh giá đúng chất lượng TCCSĐ và đảng viên hàng năm; một số vấn đề thực hiện thí điểm chủ trương Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị trấn vững mạnh; một số vấn đề
về thực hiện thí điểm chủ trương Đại hội Đảng bộ cơ sở trực tiếp bầu Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư; nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng trong Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước; xây dựng và phát triển TCCSĐ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; kết quả Đại hội Đảng cấp cơ sở-tiền đề quan trọng cho sự thành công của Đại hội đảng cấp trên Những vấn
đề nội dung cuốn sách đề cập đến vừa mang tính nghiên cứu lý luận, vừa là sự tổng kết thực tiễn về công tác xây dựng củng cố TCCSĐ trong những năm gần đây, cuốn sách cung cấp nhiều thông tin tư liệu có giá trị thực tiễn về xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ
Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chi bộ Đảng gắn v i
xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh của Trần Minh Trưởng
(2013) [171] Nội dung cuốn sách đã đề cập đến cơ sở hình thành, vị trí vai trò, nhiệm vụ và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chi bộ Đảng Qua đó nêu nên năm yêu cầu cần thiết và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đối công tác xây dựng TCCSĐ trong tình hình mới: Triệt để thực hành dân chủ, đó là biện pháp hàng đầu để xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh; nâng cao chất
Trang 17lượng sinh hoạt đảng gắn với đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi bộ Đảng; quán triệt Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 (Khóa XI) về phê bình và tựu phê bình trong công tác xây dựng chi bộ; tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới công tác kiểm tra giám sát trong điều kiện hiện nay…
Kỷ yếu Hội thảo Khoa học cấp Bộ (2011) do Tạp chí Cộng sản tổ chức
với chủ đề “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng” [116] đã tổng hợp ý kiến tham luận của các nhà khoa học
trên các vấn đề: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ-thực tế và những vấn đề đặt ra Một số tham luận tiêu biểu liên quan nhiều đến thực
trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ của các tác giả Nguyễn
Ngọc Lâm; Đặng Đình Phú, Đỗ Tuấn Ngh a, Đức Lượng, Nguyễn Phi Long, Cao Văn Thống Về nguyên nhân và kinh nghiệm qua thực tế hoạt động của
TCCSĐ ở một số loại hình TCCSĐ gồm có ý kiến của các tác giả: Nguyễn
Ngọc Lâm; Đức Lượng; Phạm Chiến Khu; Đỗ Tuấn Ngh a; Cao Văn Thống
Về phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của TCCSĐ có các ý kiến của các tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm, Đức
Lượng, Nguyễn Tuấn Ngh a; giải pháp về công tác đảng viên của TCCSĐ có
ý kiến của tác giả Nguyễn Phi Long; giải pháp về công tác tư tưởng TCCSĐ
có ý kiến của tác giả Phạm Chiến Khu; giải pháp về công tác kiểm tra có ý kiến của tác giả Cao Văn Thống; giải pháp về công tác cán bộ có ý kiến của tác giả Đức Lượng; giải pháp đối v i cơ quan đào tạo có ý kiến của tác giả
Đặng Đình Phú; đề nghị đối với cơ quan báo, trong đó có Tạp chí Cộng sản
có ý kiến tác giả Nguyễn Ngọc Lâm và Nguyễn Phi Long Bộ Biên tập đã
khẳng định: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ là nhiệm vụ cơ bản, then chốt của Đảng, quyết định vai trò lãnh đạo của Đảng, vị trí và uy tín của Đảng trong nhân dân Nhiệm vụ này cần được
Trang 18tiến hành thường xuyên, có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và của toàn thể nhân dân
Bài viết “Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và dư i ánh sáng
Nghị quyết Đại hội X” của Dương Trung Ý (2006), Tạp chí Lịch sử Đảng, số
8 [185] Tổng kết số lượng TCCSĐ, tác giả cho rằng tính đến tháng 12-2005,
cả nước có 47.000 TCCSĐ, xấp xỉ gần 200.000 chi bộ trực thuộc, hơn 3,1 triệu đảng viên Các TCCSĐ có vị trí, vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta Từ sự phân tích khách quan, khoa học, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) và Nghị quyết Đại hội VIII, IX, tác giả đi đến khẳng định các TCCSĐ đã có nhiều chuyển biến tích cực, thể hiện trên một số lĩnh vực chủ yếu
Bài viết Về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
cấp xã, Dương Trung Ý (2008) Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6 [186] Tác giả
cho rằng, sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có trở thành thực tiễn sinh động hay không, đem lại diện mạo và bước phát triển mới cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân hay không, phần rất lớn là do vai trò, trách nhiệm và khả năng lãnh đạo của các đảng bộ xã Tác giả chỉ rõ, để có cơ sở đề
ra các giải pháp sát thực, đồng bộ, trước hết các cấp ủy, tổ chức đảng cần hiểu đúng khái niệm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ xã: Năng lực lãnh đạo của đảng bộ xã là khả năng đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị đúng đắn, sát hợp của đảng bộ trong từng thời kỳ, đồng thời là khả năng tổ chức thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đó trên địa bàn xã
Bài viết Bốn kinh nghiệm thực hiện đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, của Phúc Sơn, Tạp chí Xây dựng Đảng (Số 9-2006) [114]
Tác giả cho rằng, đánh giá đúng chất lượng TCCSĐ và đảng viên luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng Đánh giá đúng
là căn cứ để đề ra chủ trương, giải pháp nhằm củng cố, nâng cao năng lực
Trang 19lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và giáo dục, rèn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên Từ việc thực hiện Hướng dẫn số 18 về đánh giá chất lượng TCCSĐ và Hướng dẫn số 20 về đánh giá chất lượng đảng viên của cấp
ủy và tổ chức đảng các cấp, tác giả tổng hợp và rút ra bốn bài học kinh
nghiệm: Một là, phải quán triệt đầy đủ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung, phương pháp đánh giá đến từng TCCSĐ và đảng viên; Hai là, phải cụ thể hóa
nội dung đánh
giá thành các tiêu chí, biểu điểm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng
loại hình TCCSĐ và chức trách, nhiệm vụ của đảng viên; Ba là, xây dựng và
thực hiện nghiêm quy trình đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên; Bốn là, cấp ủy cấp trên phải thường xuyên kiểm tra, kịp thời biểu dương nơi làm tốt, uốn nắn những thiếu sót, bảo đảm thực hiện nền nếp, chất lượng công tác đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên
Bài viết “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ
sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên” của Nguyễn Đức Hà
(2008), Tạp chí Cộng sản, số 13 [59] Trong bài viết, tác giả đi sâu phân tích
một số nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với từng loại hình TCCSĐ, từ đó xây dựng mô hình tổ chức phù hợp với những TCCSĐ có tính đặc thù, vừa tạo sự thống nhất chung, vừa phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng địa phương, đơn vị
Bài viết Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng của Trương Thị Thông, Tạp chí L luận chính trị, (số 3-2008) [123] Theo tác giả, để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của TCCSĐ cần thực hiện các giải pháp cơ bản: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh
Trang 20về mọi mặt; Tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc mới nảy sinh; Nâng cao chất lượng, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, chất lượng sinh hoạt của các loại hình TCCSĐ; Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên, dựa vào dân để xây dựng Đảng
Bài viết Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng và chất lượng đảng viên Nguyễn Ngọc Thịnh (2010) [122] Trên cơ sở
những nghiên cứu thực tế, nhóm tác giả đề tài đã nêu những ưu điểm, hạn chế
về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên, nguyên nhân thực trạng, trong đó có nguyên nhân cơ bản là nhận thức
về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới;
Bài viết của Vũ Văn Phúc “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng” (2011), Tạp chí Cộng sản [106]
Trong bài viết, tác giả đã khái quát quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về TCCSĐ từ ngày đầu thành lập Đặc biệt, việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ được kiểm chứng trên thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới Đồng thời, tác giả
đã khái quát thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số loại hình TCCSĐ ở nông thôn; doanh nghiệp; đơn vị sự nghiệp (cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ sở giáo dục đào tạo, y tế); từ cơ sở lý luận, thực tiễn của quá trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra 6 giải pháp tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ Tác giả đi đến kết luận: Đảng muốn thực
sự mạnh, phải chăm lo công tác xây dựng, nâng cao chất lượng của TCCSĐ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, phải thực thi đồng bộ mới nâng cao được chất lượng của TCCSĐ ở cơ sở và đảm bảo cho các TCCSĐ thực sự là nền tảng, hạt nhân chính trị của Đảng
Trang 211.1.2 Các công trình đề cập đến thực tiễn xây dựng tổ chức cơ sở đảng của các đảng bộ ở một số vùng, miền và địa phương trong cả nước
Cuốn sách: “Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ tổ dân phố của các
quận ở thành phố Hà Nội trong điều kiện hiện nay” của Đỗ Ngọc Ninh và
Đinh Ngọc Giang đồng chủ biên [104] Công trình đã đề cập đến thực trạng sinh hoạt chi bộ tổ dân phố của các quận ở thành phố Hà Nội trong những năm 2010 -2012, làm rõ chất lượng sinh hoạt chi bộ Trên cơ sở phân tích thực trạng, các tác giả đã xác định rõ các tiêu chí đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ và đưa ra điều kiện nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đồng thời bước đầu gợi mở những giải pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ tổ dân phố trên địa bàn các quận thành phố Hà Nội
Cuốn sách: “Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930-2011)” của
Nguyễn Trọng Phúc [105] Nội dung cuốn sách trình bày có hệ thống lịch sử công tác xây dựng Đảng từ khi Đảng được thành lập đến năm 2011, góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng Đảng phục vụ thiết thực nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay Cuốn sách được kết cấu gồm sáu chương, trình bày rõ quá trình xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ từ khi ra đời đến năm 2011 Tác giả đã tham khảo nhiều vấn
đề có liên quan đến luận án ở Chương 6: Xây dựng Đảng trong quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới (1986-2011)
Đề tài khoa học Đổi mới phương thức lãnh đạo của các đảng bộ xã ở
khu vực Đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn hiện nay, (2001) do Nguyễn Văn
Biều làm chủ nhiệm [25] Đề tài đề cập đến phương thức, cách thức lãnh đạo của các đảng bộ xã đối với chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân Trên cơ sở sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, đề tài đã góp phần làm
rõ thực trạng phương thức lãnh đạo của các đảng bộ xã vùng đồng bằng sông Hồng, từ đó đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng bộ xã khu vực này
Trang 22Đề tài khoa học cấp Bộ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
(2005): Thực trạng và những yêu cầu xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn
một số tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc nư c ta hiện nay do Nguyễn Thị Minh
Bích làm chủ nhiệm [23] Đề tài đánh giá thực trạng và yêu cầu đặt ra đối với xây dựng TCCSĐ ở nông thôn miền núi vùng cao phía Bắc, từ đó đưa ra một
số kiến nghị, đề xuất và giải pháp xây dựng dựng TCCSĐ ở nông thôn một số tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc trong những năm tiếp theo
Đề tài khoa học Một số vấn đề đổi m i tổ chức và hoạt động của tổ
chức đảng ở nông thôn và đường phố do Lưu Minh Trị chủ nhiệm (2006)
[168] Kỷ yếu khoa học của nhóm tác giả khẳng định: Đổi mới TCCSĐ là khâu cực kỳ quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, đặc biệt sau Nghị quyết Hội nghị BCH Trung
ương lần thứ 3 (khoá VII) Công trình gồm hai phần: Phần I, Đổi m i tổ chức
và hoạt động của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn Phần II, Đổi m i tổ chức hoạt động của tổ chức cơ sở đảng ở đường phố Từ kết quả nghiên cứu, nhóm
tác giả đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ đổi mới TCCSĐ cấp phường và mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp phường trong điều kiện kinh tế thị trường
Đề tài khoa học cấp Bộ Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của các loại hình tổ chức cơ sở đảng xã ở các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam-thực trạng và giải pháp do Nguyễn Việt Phương là chủ nhiệm (2011)
Học viện Chính trị-Hành chính khu vực I, Hà Nội [107] Đề tài đã chỉ rõ thực trạng tình hình xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã ở nông thôn một số tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc, chỉ ra những yêu cầu cần thiết và phương thức và một
số giải pháp về giáo dục chính trị tư tưởng, về công tác tổ chức, công tác kiểm tra và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên… nhằm tiếp tục tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở đảng xa ở nông thôn một số tỉnh miền núi, vùng cao phía
Trang 23Bắc nước ta trong tình hình mới
Luận án Tiến sĩ “Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn
(cấp xã) vùng đồng bằng sông Hồng” của Đỗ Ngọc Ninh (1995) [103], Luận
án đã làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng; làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với TCCSĐ trong ở vùng này; phân tích nguyên nhân, đưa ra những giải pháp thiết yếu góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ nông thôn (cấp xã) vùng đồng bằng sông Hồng
Luận án Tiến sĩ “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng nông thôn vùng cao phía Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nư c” của Nguyễn Đức Ái (2002) [2] Nội dung luận án đã
làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận và quan điểm của Đảng CSVN trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ nông thôn vùng cao phía Bắc Luận án phân tích, đánh giá đúng thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ được coi là yếu tố cơ bản quyết định thành công của sự nghiệp CNH, HĐH Luận án đưa ra những giải pháp chủ yếu, đồng bộ, tương đối toàn diện và có tính thực tiễn cao nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ ở vùng cao phía Bắc
Luận án Tiến sĩ “Công tác vận động giáo dân của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) ở đồng bằng Bắc Bộ nư c ta hiện nay” của Hoàng Mạnh Đoàn
(2005) [53] Luận án làm rõ chất lượng, nội dung, phương thức vận động giáo
dân, những yếu tố tác động đến công tác vận động giáo dân, thực trạng công tác vận động giáo dân, một số kinh nghiệm và phương hướng, giải pháp vận động giáo dân của TCCSĐ cấp xã ở đồng bằng Bắc Bộ Tác giả cho rằng, việc nâng cao hơn nữa công tác vận động giáo dân của TCCSĐ cấp xã ở đồng bằng Bắc Bộ không chỉ là yêu cầu cấp bách mà còn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài
Luận án Tiến sĩ “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
Trang 24chức cơ sở đảng đồn biên phòng tuyến biên gi i đất liền Việt Nam trong thời
kỳ m i” của Hoàng Văn Đồng (2009) [54] Luận án đã phân tích vị trí, vai
trò, chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ đồn biên phòng biên giới phía Bắc nước ta; đánh giá rõ thực trạng chất lượng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm, đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng các TCCSĐ đồn biên phòng biên giới phía Bắc nước ta trong thời kỳ mới
Luận án Tiến sĩ “Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các
doanh nghiệp nhà nư c đã cổ phần hóa ở các tỉnh Trung Trung bộ giai đoạn hiện nay” (2009) của Trương Thị Mỹ Trang [167] Luận án đã phân tích, làm
rõ nội dung xây dựng, củng cố TCCSĐ trong các doanh nghiệp nhà nước đã
cổ phần hóa ở các tỉnh Trung Trung bộ, thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm Đồng thời, dự báo những yếu tố tác động, phương hướng xây dựng, củng cố TCCSĐ và đề ra những giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng, củng
cố TCCSĐ trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa ở các tỉnh Trung Trung bộ đến năm 2020
Luận án Tiến sĩ “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng ở doanh nghiệp Nhà nư c hiện nay” (2006) của Nguyễn
Minh Tuấn [174] Luận án đã nghiên cứu, phân tích, làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ trong doanh nghiệp Nhà nước nói chung và khu vực kinh tế trọng điểm của các tỉnh phía Bắc Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh nói riêng; làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với TCCSĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước; phân tích nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm, đưa ra những giải pháp thiết yếu góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước nói chung và ở Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh nói riêng; góp phần nâng cao nhận thức và ý thức xây dựng Đảng của các TCCSĐ trong doanh nghiệp Nhà nước thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Trang 25Luận án Tiến sĩ “Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở tỉnh
V nh Long hiện nay” (2011) của Nguyễn Văn Bé Tư [172] Luận án của đã
phân tích, làm rõ vị trí, vai trò của TCCSĐ nông thôn, từ đó khẳng định việc nâng cao chất lượng TCCSĐ nông thôn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Theo tác giả, chất lượng của TCCSĐ cấp xã là: chất lượng lãnh đạo xây dựng HTCT ở cơ sở vững mạnh, chống quan liêu, cửa quyền, ức hiếp nhân dân, tham nhũng, buôn lậu, xa hoa lãng phí; lãnh đạo hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng-an ninh đã được đảng bộ đề ra và thực hiện có hiệu quả; thực hiện công tác xây dựng Đảng bộ theo quy định của Điều lệ Đảng Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng của các đảng bộ cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long, xác định nguyên nhân của mặt mạnh, mặt yếu, tác giả đề xuất một giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng các đảng bộ cấp xã ở Vĩnh Long
Luận án Tiến sĩ “Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ
thành phố Hà Nội từ năm 1996 đến năm 2005” (2012) của Trần Thị Thu
Hằng [65] Luận án đi sâu phân tích thực trạng, đặc điểm TCCSĐ của thành phố Hà Nội trước năm 1996; trình bày những chủ trương chính sách của Đảng, những giải pháp của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong công tác xây dựng TCCSĐ, quá trình thực hiện công tác xây dựng TCCSĐ của thành phố
Hà Nội từ năm 1996 đến năm 2005; đúc rút một số kinh nghiệm góp phần đổi mới công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ thành phố Hà Nội nói riêng và một số địa bàn khác
Luận án Tiến sĩ “Nâng cao chất lượng đảng bộ xã, thị trấn ở huyện
Kim ơn, tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay” (2013) của Phạm Thị La
[94] Tác giả đã bước đầu làm rõ vị trí, vai trò của đảng bộ cơ sở, từ đó khẳng định việc nâng cao chất lượng các đảng bộ cơ sở là một nhiệm vụ đặc biệt
Trang 26quan trọng, góp phần bảo đảm thành công của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay Chất lượng của TCCSĐ chính là năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở đối với việc tiến hành các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh đã được nêu ra ở cơ
sở, chống tham nhũng, buôn lậu, xa hoa, lãnh phí và thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng Đảng Trên cơ sở quan điểm đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng các Đảng bộ xã, thị trấn ở Kim Sơn trong những năm tiếp theo
Luận án Tiến sĩ “Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010” (2014) của Vũ Thị Duyên [32]
Tác giả đã hệ thống hóa chủ trương của Trung ương Đảng về TCCSĐ từ năm
1996 đến năm 2010; quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng TCCSĐ của Đảng
bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010 trên các nội dung chủ yếu: về
tư tưởng chính trị; về tổ chức; về phát triển đảng viên; về công tác cán bộ; về công tác kiểm tra Khảo sát kết quả xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010, từ đó nhận xét thành công, hạn chế khuyết điểm và đúc kết những kinh nghiệm có giá trị tổng kết thực tiễn
Luận án Tiến sĩ "Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ
sở đảng từ năm 1997 đến năm 2010" (2016) của Nguyễn Thị Thanh Bình
[24] Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 1997 đến năm 2010; quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong thời gian trên với các nội dung chủ yếu về tư tưởng chính trị; về tổ chức chính trị, tư tưởng và tổ chức Đánh giá về ưu điểm, hạn chế và bước đầu rút ra những kinh nghiệm chủ yếu về sự lãnh đạo
xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010
Trang 27Luận án tiến sĩ Lịch sử “Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã,
phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 1998 đến năm 2005”
(2006) của tác giả Trần Văn Rạng [110] Luận án làm rõ những yếu tố tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn của Đảng
bộ tỉnh Thái Bình từ năm 1998 đến năm 2005 Từ đó, luận án hệ thống, khái quát quá trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình nhằm củng cố TCCSĐ xã, phường, thị trấn, nhằm giải quyết Tình trạng mất
ổn định ở địa phương từ năm 1998 đến năm 2000 Từ thực tiễn công tác TCCSĐ xã, phường, thị trấn từ năm 2000 đến năm 2005, luận án làm rõ sự phát triển nhận thức và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong xây dựng TCCSĐ xã phường thị trấn, đáp ứng với điều kiện lịch sử mới Qua khảo sát thực tế với những dữ liệu cụ thể, luận án đã đưa ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế và đúc kết những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đối với công tác xây dựng TCCSĐ xã phường thị trấn có giá trị tổng kết, nêu ra kinh nghiệm quý
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng nói về xây dựng TCCSĐ ở các địa phương, ở các lĩnh vực; có thế nêu ra một số bài
viết như: Hà Duy Dĩnh (2008): “Chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở các đơn vị
sản xuất kinh doanh thuộc Tập đoàn dầu Dầu khí Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [30]; Nguyễn Minh (2009), “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng” [97]; Cao Văn Định (2011) “Chất lượng công tác tư tưởng của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) vùng đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay [52]; Trần Văn Bộ
(2012) “Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở tổ chức cơ sở đảng
trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay của [26]; Nguyễn Văn Dũng
(2013) “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCC Đ nông
thôn tỉnh Long An hiện nay [31]; Lê Tiến Lập (2014) “ ự lãnh đạo của
Trang 28TCC Đ trong việc thực thi quyền lực của nhân dân ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long của [96] … v.v Các công trình đó, dưới các góc độ khác
nhau đã đánh giá thực trạng TCCSĐ ở các đơn vị, địa phương; nêu ra một số kinh nghiệm, những vấn đề đang đặt ra; xác định rõ những giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng TCCSĐ ở cơ sở
Các công trình trên đã khảo sát về xây dựng TCCSĐ ở các địa phương khác nhau, đề ra các phương hướng giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ trên mọi phương diện
1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng
Nai 1930-1975, tập 1-Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 1995 [4]; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Nai 1975-2000, tập 2-Nxb.Tổng hợp Đồng Nai, 2005 [5] Các
cuốn lịch sử trên đã khái quát lịch sử hình thành, phát triển, quá trình tổ chức lãnh đạo giành chính quyền ở Đồng Nai (1930-1945); lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954); lãnh đạo kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975); đặc biệt thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội, xây dựng Đảng, an ninh-quốc phòng, đối ngoại trong thời kỳ đổi mới ở Đồng Nai Trong đó, có đề cập vấn đề xây dựng Đảng nói chung của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (1930-2000), nhưng không đi sâu nghiên cứu về công tác xây dựng TCCSĐ
Báo cáo tổng kết “Đổi m i phương thức lãnh đạo của cấp uỷ cơ sở
đảng xã, phường, thị trấn ở tỉnh Đồng Nai” (2005)-Ban Tổ chức Tỉnh ủy
Đồng Nai [128] Báo cáo đã đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng bộ xã,
phường, thị trấn thực hiện nhiệm vụ chính trị đã có nhiều tiến bộ, kết quả quan trọng, tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, yếu kém cần phải đổi mới
Trang 29Báo cáo đã đề ra các giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp uỷ cơ
sở đảng xã, phường, thị trấn ở tỉnh trong thời kỳ mới
Đề tài khoa học cấp tỉnh “Về xây dựng cơ sở Đảng trong vùng đồng
bào theo đạo Thiên chúa qua thực tiễn tỉnh Đồng Nai” (Ngô Đức Tính, Lê
Hồng Phương (chủ biên), Nxb.CTQG, HN 2001) [125] Công trình nghiên cứu đã khảo sát, đánh giá về vai trò quan trọng và thực trạng các tổ chức cơ
sở đảng trong vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa ở Đồng Nai Từ
đó, đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo cho các tổ chức
cơ sở đảng trong vùng đồng bào theo đạo trong thời gian tới để giúp cho các cấp ủy, tổ chức đảng nghiên cứu, quán triệt và vận dụng vào thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương
Đề tài khoa học cấp tỉnh “Nâng cao chất lượng hoạt động của Ủy ban
Kiểm tra các cấp của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”(2015)-Ủy ban Kiểm tra Tỉnh
ủy Đồng Nai [130] Đề tài đã khẳng định những thành tựu hạn chế trong hoạt động của Ủy ban Kiểm tra các cấp của tỉnh Công trình đã đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, giám sát của Ủy ban Kiểm tra các cấp tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
Luận án tiến sĩ của Vi Văn Vũ, “Vấn đề quy hoạch, đào tạo và sử dụng
đội ngũ cán bộ, công chức quản l kinh tế của tỉnh Đồng Nai” (2005)-Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh [184] Luận án đã nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong quy hoạch, đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý kinh tế Các giải pháp đưa ra trong luận án nhằm nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ, công chức quản lý kinh tế như: xác định rõ mục tiêu quy hoạch, quan tâm công tác tạo nguồn công chức quản lý kinh tế, đổi mới nội dụng, phương pháp đào tạo, xác định
Trang 30mục tiêu đào tạo, gắn kết giữa đánh giá với sử dụng, đổi mới việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ cán bộ, công chức quản lý kinh tế
Bàn về các hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trên một số lĩnh vực
cụ thể có Luận án tiến sĩ “Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo công tác tư tưởng
từ năm 1996 đến năm 2006” của Nguyễn Văn Tú (2012)-Học viện Chính trị
Bộ Quốc phòng [173] Luận án khảo sát công tác tư tưởng của Đảng bộ trên bốn nội dung: công tác lý luận, tổng kết thực tiễn, tuyên truyền giáo dục, cổ động Từ đó đặt ra phương hướng và các nhóm giải pháp chỉ đạo đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác
tư tưởng
Tác giả Vũ Thị Nghĩa (2005) có bài viết “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt của hệ thống chính trị các xã ở tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay”
đăng trên Tạp chí xây dựng Đảng số 6 [99] Tác giả đã đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt của tỉnh Đồng Nai qua 20 năm đổi mới Từ kết quả đánh giá tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các xã tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn tiếp theo
Bài viết “Bốn giải pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ở Đồng
Nai” (2011) của Thái Bảo [22] Tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động
lãnh đạo đào tạo bồi dưỡng cán bộ của Tỉnh ủy Đồng Nai giai đoạn 2010; chỉ rõ những ưu điểm nổi bật, những khuyết điểm chủ yếu; chỉ ra các giải pháp nâng chất lượng công tác đào tạo cán bộ nói chung, bồi dưỡng Bí thư cấp ủy nói riêng của tỉnh Đồng Nai
2005-Bài viết “Đảng bộ tỉnh Đồng Nai coi trọng phát triển đảng viên”
(2011) của tác giả Trung Kiên [80] Theo tác giả bài viết, để công tác tạo
nguồn đảng viên có hiệu quả các cấp ủy Đảng cần chỉ đạo chặt chẽ công tác phát triển đảng viên Tăng cường công tác bồi dưỡng, giáo dục lòng tin vào Đảng của quần chúng ưu tú Các đoàn thể chính trị-xã hội xây dựng kế hoạch
Trang 31phát động phong trào thi đua yêu nước, qua đó lựa chọn quần chúng ưu tú để giới thiệu tổ chức đảng xem xét kết nạp
Các công trình trên đề cập đến năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, kỹ năng thực thi công vụ trong tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo Các tác giả đã đề ra các giải pháp: hoàn thiện tiêu chuẩn công chức xã, tạo nguồn cán bộ, công chức, đào tạo, bồi dưỡng năng lực thực thi công vụ, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tăng cường cơ sở vật chất, tăng cường giáo dục đạo đức công vụ, huấn luyện các kỹ năng nghề nghiệp liên quan đến công tác xây dựng TCCSĐ ở tỉnh Đồng Nai, là những dữ liệu quan trọng cho Luận
án kế thừa để giải quyết nhiệm vụ đặt ra của đề tài
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT
1.2.1 Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Về nội dung, các công trình trên đã làm rõ:
Những vấn đề về cơ sở lý luận như: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và công tác xây dựng TCCSĐ; hệ thống, khái quát quan điểm, đường lối của Đảng được thể hiện qua các văn kiện, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác xây dựng TCCSĐ và TCCSĐ; làm rõ vị trí, vai trò TCCSĐ là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở; TCCSĐ là thành viên của hệ thống chính trị ở cơ sở, là trung tâm đoàn kết, quy tụ, tập hợp được mọi lực lượng ở cơ sở thành một khối thống nhất ý chí
và hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của cơ sở
Quá trình hiện thực hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác xây dựng TCCSĐ vào về công tác xây dựng TCCSĐ loại hình cụ thể của các ngành, địa phương, đơn vị… Trong đó, đã đưa ra những giải pháp quan
Trang 32trọng trong công tác xây dựng TCCSĐ ở địa phương trong những năm qua
Dưới các góc độ khác nhau, các công trình trên đã làm rõ nội dung, phương thức lãnh đạo của TCCSĐ Đó là việc lãnh đạo hệ thống chính trị ở
cơ sở thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh theo Nghị quyết đại hội đảng bộ, chi bộ xã, phường, thị trấn và của cấp trên; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tuyên truyền, vận động nhân dân làm tròn nghĩa vụ công dân đối với đất nước Lãnh đạo bằng công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của cán bộ, đảng viên Qua việc quán triệt thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng về công tác xây dựng TCCSĐ, các công trình đã đúc kết được một số bài học kinh nghiệm bổ ích, quý báu của các Đảng bộ địa phương… trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ nói chung và xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn nói riêng
Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần bổ sung nguồn tư liệu quý
về thực tiễn xây dựng TCCSĐ cho việc triển khai nghiên cứu đề tài
Tiếp thu về phương pháp nghiên cứu: Các công trình nói trên được các
tác giả đã sử dụng các phương pháp chuyên ngành phổ biến như: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Đồng thời, các tác giả cũng đã sử dụng một số phương pháp khác như: điều tra xã hội học, tổng hợp, phân tích, thống
kê, so sánh, phương pháp chuyên gia để nghiên cứu, luận giải các vấn đề nêu trên và phản ánh những nội dung cơ bản ở những mức độ, khía cạnh khác nhau Đây là những phương pháp nghiên cứu mà tác giả vận dụng để tiếp tục giải quyết những vấn đề đặt ra của đề tài luận án
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu
một cách toàn diện và đầy đủ về: “Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã,
phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai từ năm 2005 đến năm 2015”
Trang 331.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn là một vấn đề lớn, với nhiều nội dung Xuất phát từ những vấn đề chưa được nghiên cứu giải quyết một cách thấu đáo dưới góc độ Lịch sử Đảng, trong khuôn khổ đề tài luận án, chúng tôi tập trung nghiên cứu giải quyết một số vấn đề sau:
Làm rõ những yếu tố tác động đến đến công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai từ năm 2005 đến năm 2015, những vấn đề đặt ra đối với công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai
Hệ thống hóa quá trình hoạch định chủ trương xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn về chính trị của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2005-2015), từ đó làm rõ sự phát triển nhận thức của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trong quá trình vận dụng chủ trương đường lối xây dựng xây dựng TCCSĐ của Đảng vào thực tiễn tỉnh Đồng Nai
Phân tích quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2005 -2015) trên các nội dung chủ yếu: về công tác tư tưởng; về công tác tổ chức, công tác cán bộ, đảng viên; công tác kiểm tra, về nâng cao chất lượng đảng viên và công tác phát triển đảng của TCCSĐ xã, phường, thị trấn
Khảo sát, đánh giá khách quan kết quả, hạn chế và nguyên nhân của quá trình Đảng bộ xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn
Đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2005 - 2015
Trang 34Tiểu kết chương 1
Chương 1 tổng quan các công trình khoa học có liên quan đã được công
bố trong những năm 2005-2015 ở Việt Nam và tỉnh Đồng Nai về xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của một số loại hình TCCSĐ,
về công tác kiểm tra, công tác cán bộ, công tác phát triển Đảng
Các công trình đã nêu dưới góc độ khác nhau quá trình hiện thực hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác xây dựng TCCSĐ nói chung vào điều kiện cụ thể của các ngành, địa phương, đơn vị…, đưa ra những giải pháp tiếp tục xây dựng TCCSĐ trong tình hình mới Các công trình nghiên cứu đã đúc kết được một số bài học kinh nghiệm quý báu về xây dựng TCCSĐ của các Đảng bộ địa phương Đó là nguồn tư liệu quý về thực tiễn cho việc triển khai nghiên cứu đề tài Luận án
Các công trình khoa học đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như phương pháp lịch sử, logic, điều tra xã hội học, tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, phương pháp chuyên gia…để nghiên cứu, luận giải các vấn
đề nêu trên và phản ánh chúng ở những mức độ, khía cạnh khác nhau Luận
án đã kế thừa các phương pháp đó để triển khai nghiên cứu đề tài
Cho đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ, hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn (2005-2015) Tác giả đã kế thừa những vấn đề mang tính lý luận về xây dựng TCCSĐ của các công trình khoa học đó để làm rõ chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn
Trang 352.1.1 Những yếu tố tác động đến xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai
2.1.1.1 Xuất phát từ vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng
Kế thừa và phát triển học thuyết về xây dựng Đảng cách mạng của C.Mác và F.Ăngghen vào bối cảnh lịch sử mới, V.I.Lênin đã xây dựng lý luận xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, trong đó coi xây dựng
TCCSĐ là nhiệm vụ quan trọng Trong bài viết “Về việc cải tổ Đảng”, Lênin
đã chính thức sử dụng thuật ngữ “tổ chức cơ sở đảng”, chỉ rõ các chi bộ cơ sở
là các TCCSĐ Người cho rằng “Hình thức tổ chức m i, hay nói đúng hơn
hình thức m i của tổ chức cơ sở của đảng công nhân phải giải quyết tuyệt đối rộng rãi hơn so v i những tiểu tổ cũ” [177, tr.107]
V.I Lênin nhấn mạnh phải thành lập tất cả các địa bàn, các lĩnh vực kinh
tế - xã hội, ở tất cả các tổ chức, các hội, các hiệp hội những “chi bộ đảng”, phải liên hệ, hỗ trợ lẫn nhau Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, phải làm công tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi lĩnh của đời sống
xã hội, với tất cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao động, những chi bộ
ấy phải thông qua công tác muôn hình muôn vẻ đó mà rèn luyện bản thân mình, rèn luyện đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệ thống [178, tr.232]
Trang 36Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về đảng cộng sản Người vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam và không ngừng phát triển, làm phong phú thêm
kho tàng lý luận Mác-Lênin về xây dựng Đảng Theo Người, “để lãnh đạo
cách mạng Đảng phải mạnh Đảng mạnh là do chi bộ tốt Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [83, tr.153] Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì
mọi việc sẽ tốt Vai trò nền móng của TCCSĐ được thể hiện trong mối quan hệ
chặt chẽ giữa Đảng với quần chúng Theo Hồ Chí Minh, “Mỗi chi bộ của Đảng
phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết v i quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng v đại của quần chúng” [84, tr.154] Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của TCCSĐ
được thể hiện ở chất lượng TCCSĐ TCCSĐ mạnh thì mọi công việc ở cơ sở sẽ thực hiện tốt; TCCSĐ mạnh thì tổ chức đảng cấp trên và toàn Đảng mới mạnh Chất lượng TCCSĐ ảnh hưởng đến chất lượng của toàn Đảng
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng” và “Chi bộ là nền
tảng của Đảng, của cách mạng ở xã ” [84, tr.288] “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh” và “Các chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh” [84, tr.29]
Trong mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, vai trò của tổ chức cơ sở
đảng là những “sợi dây chuyền”, trực tiếp nối liền Đảng với dân Hồ Chí Minh đã viết: “Tác dụng của chi bộ là cực kỳ quan trọng, vì nó là sợi dây
chuyền để liên hệ Đảng v i quần chúng” [85, tr.289]
Theo Hồ Chí Minh, Đảng được xây dựng và phát triển từ các chi bộ, đảng bộ cơ sở, thường xuyên tiếp xúc, tìm hiểu, nắm bắt tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của nhân dân; giáo dục lựa chọn, bồi dưỡng những quần chúng
ưu tú để bổ sung vào đội ngũ của Đảng Đảng là một thành viên của hệ thống chính trị, nhưng là thành viên giữ vị trí, vai trò hạt nhân chính trị ở cơ
sở Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mỗi chi bộ ta phải là một hạt nhân vững chắc,
Trang 37lãnh đạo đồng bào thi đua yêu nư c, cần kiệm xây dựng nư c nhà” [85,
tr.680] “Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở
cơ sở” [83, tr.28]
Khi nói về vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở của các TCCSĐ, Hồ Chí
Minh cũng đã chỉ rõ: “Mỗi cấp bộ phải là một cơ quan lãnh đạo vững chắc ở
địa phương, theo đúng đường lối, chính sách của Trung ương” [87, tr.23]
Mỗi cấp bộ phải là một cơ quan lãnh đạo vững chắc, nếu không TCCS sẽ không quán triệt được đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng, không ra được Nghị quyết đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, sẽ vi phạm Điều lệ Đảng, không làm tốt công tác xây dựng Đảng, quản lý đảng viên kém, coi thường kỷ luật; chất lượng sinh hoạt đảng và chất lượng đảng viên yếu kém
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác cán bộ, đảng viên, công tác phát triển Đảng ở cơ sở Những người đứng trong hàng ngũ của Đảng phải là những người cách mạng nhất, ưu tú nhất trong quần chúng Bởi vậy, Đảng cần phải lựa chọn được những cá nhân tiêu biểu để Đảng xây dựng được nền
tảng thật sự vững chắc Người yêu cầu: “Chọn lọc đảng viên m i cũng là một
nhiệm vụ quan trọng Chi bộ thường xuyên giáo dục quần chúng, bồi dưỡng những phần tử hăng hái nâng cao trình độ giác ngộ đến tiêu chuẩn đảng viên Khi gi i thiệu họ vào Đảng, thì phải hết sức cẩn thận” [88, tr.23] Đồng thời,
khi Đảng có đội ngũ cán bộ, đảng viên tốt thì Đảng sẽ nhanh chóng tập hợp được trí tuệ của toàn Đảng, Đảng nhanh chóng giải quyết được những khó khăn của nhiệm vụ cách mạng đúng đắn, kịp thời, hợp lòng dân và phù hợp với thực tiễn
Những quan điểm cơ bản về TCCSĐ theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những nền tảng định hướng để Đảng CSVN xây dựng TCCSĐ đáp ứng yêu cầu thực tiễn đất nước
Trang 382.1.1.2 Đặc điểm nổi bật kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Đồng Nai
Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ Việt Nam, có diện tích 5.903,4 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau: Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước, Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh
Cho đến năm 2005, Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, gồm 9 huyện, 01 thị xã và 01 thị xã, 01 thành phố loại II Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc-Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, có điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng, như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên
Năm 2005, Đồng Nai là tỉnh có dân số đông thứ nhì ở miền Nam (khoảng hơn 2 triệu 150 nghìn người, đứng thứ 4 so với cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Hải Phòng) Đến năm 2008 dân số tăng thêm,
cụ thể là 2 triệu 290 nghìn người Mật độ dân số của tỉnh năm 2008 là 388 người/km2
Trong đó, phân theo khu vực thành thị-nông thôn là: Thành thị là 31,5%; Nông thôn là 68,5% Tỷ lệ sinh của tỉnh trong năm 2007 là 1,594%
Tỷ lệ dân số mất trong năm 2007 là 0,432% Tỷ lệ dân số tăng tự nhiên trong năm 2007 là 1,162% [129, tr.2]
Đồng Nai là tỉnh có công nghiệp phát triển, thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn thứ hai toàn miền Nam, sau thành phố Hồ Chí Minh Xung quanh thành phố Biên Hoà có nhiều khu công nghiệp lớn, nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty Đồng Nai là tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ-vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước; là một trong ba góc nhọn của
Trang 39tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh-Bình Dương-Đồng Nai Đồng Nai có nhiều cụm công nghiệp nghề truyền thống và 36 khu công nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đi vào hoạt động như Long Thành,
An Phước, Nhơn Trạch, Biên Hòa II, Amata, Sông Mây, Long Khánh
Cho đến năm 2000, quy mô kinh tế của tỉnh đã tăng gấp 3 lần so với năm 1990 Đồng Nai có được hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi tiếp tục phát triển ở giai đoạn sau năm 2000 Tỉnh đã tạo ra
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, trong đó công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn, đó là điều kiện cần thiết để thực hiện việc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Sự tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp từ 20% năm 1990 lên 52% năm
2000 thể hiện năng lực sản xuất công nghiệp của tỉnh đã được mở rộng lên nhiều lần cả về quy mô và ngành, nghề Bên cạnh đó là đội ngũ công nhân, lãnh đạo quản lý được trưởng thành cả về số lượng và chất lượng [126, tr.3] Đây là một lợi thế lớn, cùng với việc tiếp tục thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tỉnh có thể dựa vào những năng lực sản xuất hiện có để thực hiện những mục tiêu chiến lược trong giai đoạn sau năm 2000
Là một tỉnh công nghiệp phát triển nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nên đa số đảng viên và nhân dân ở cơ sở có tư duy kinh tế nhanh nhạy, thích ứng với cơ chế thị trường và kinh tế thị trường Những tác động tích cực, thuận chiều đối với việc xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của tỉnh Đồng Nai là lớn, nhưng những thách thức trái chiều của nền kinh tế thị trường đối với tỉnh Đồng Nai cũng không thể xem thường
Về lịch sử, văn hóa, qua nhiều biến cố theo thời gian đã tạo ra cho Đồng Nai một nét độc đáo về bản sắc văn hoá dân tộc Ngoài mộ cổ Hang Gòn là di tích văn hóa tiêu biểu cho nền văn hóa cách đây hơn 2.500 năm, điểm nổi bật ở Đồng Nai là có nhiều chùa, đình và đền thờ, trong đó có
Trang 40những đình chùa nổi tiếng như Văn miếu Trấn Biên xây dựng vào thế kỷ 17, chùa Long Thiền xây dựng vào năm 1664…v.v
Rừng Sác là một vùng rừng ngập mặn rộng hàng ngàn ki lô mét vuông, thuộc địa phận các huyện Nhơn Trạch, Long Thành (Đồng Nai) và Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh Nơi đây từng là căn cứ địa cách mạng trong cuộc chống Pháp và chống Mỹ với nhiều chiến công nổi tiếng
Trên mảnh đất lịch sử đó, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai sớm hình thành và
có truyền thống đấu tranh anh dũng Trên vùng đất Biên Hòa-Đồng Nai, nơi
có Phú Riềng đỏ-Chi bộ Cộng sản ra đời sớm nhất ở miền Đông Nam bộ đã lãnh đạo quân dân Biên Hòa-Đồng Nai lập nhiều chiến công oanh liệt, đóng góp xứng đáng vào chiến công chung của quân và dân cả nước
Đồng Nai còn nhiều di tích cách mạng ghi dấu truyền thống đấu tranh anh hùng của quân dân trong tỉnh và cả nước Đó là di tích căn cứ Khu ủy miền Đông-Chiến khu Đ thuộc địa phận xã Trị An, huyện Vĩnh Cửu Chiến khu Đ là căn cứ kháng chiến nổi tiếng cả nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của dân tộc Việt Nam Nơi đây từng ra đời kỹ thuật đánh đặc công và lực lượng đặc công đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam; là căn cứ Khu ủy Miền Đông; là nơi thành lập Trung ương Cục miền Nam (1961) Chiến khu Đ trở thành mật khu căn cứ, nơi trú dấu lực lượng, kho tàng dự trữ vũ khí, lương thực và phát triển mọi hoạt động của cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng đất nước
Khu di tích Căn cứ Tỉnh ủy Biên Hòa được xem là một trong những biểu tượng của truyền thống đấu tranh bất khuất của Ðảng bộ và quân dân Biên Hòa-Ðồng Nai không chỉ trong kháng chiến, mà trong cả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Đặc điểm nổi bật về mặt xã hội là: đa số cán bộ, đảng viên thuộc TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai hoạt động trong điều kiện tỉnh đông dân, với nhiều thành phần dân tộc, nhiều tôn giáo, trong đó