TCCSĐ xã, phường, thị trấn lãnh đạo một cách toàn diện các tổ chức chính trị như: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức khác Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Người thầy đáng kính: PGS-TS Trần Trọng Thơ, người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo và đóng góp những ý kiến quí báu trong suốt thời gian tôi tiến hành nghiên cứu, hoàn thành luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, các thầy cô giáo và đặc biệt các thầy cô trong bộ môn Lịch sử Đảng, khoa Lịch sử- Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Tạp chí Lịch sử Đảng, những người đã nhiệt tình giảng dạy, chỉ bảo, góp ý, gợi mở cho tôi những ý tưởng khoa học, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận án
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Thành ủy Hà Nội, phòng Lưu trữ Thành ủy Hà Nội, Đảng ủy các quận, huyện,
xã, phường, thư viên Quốc gia, thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn … đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin, những tư liệu quý báu cho tôi hoàn thành luận án
Xin trân trọng cảm ơn!
Ngô Thị Thanh Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép
của ai Nội dung luận án dựa trên kiến thức lý luận về xây dựng tổ chức cơ sở đảng
và qua nghiên cứu, khảo sát thực tiễn quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của địa phương Công trình nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Trọng Thơ
Các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận án là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 4
4.Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu 5
5.Đóng góp mới về khoa học của luận án 6
6 Kết cấu của luận án 6
Chương 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨULIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 8
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về Lịch sử Đảng, Lịch sử xây dựng Đảng và xây dựng tổ chức cơ sở đảng 8
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về công tác xây dựng đảng của Đảng bộ thành phố Hà Nội 21
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được giải quyết và những nội dung luận án tập trung nghiên cứu 26
1.2.1 Những vấn đề liên quan đến luận án đã được giải quyết 26
1.2.2 Những nội dung luận án tập trung nghiên cứu 27
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỰC HIỆN NHIỆM VỤXÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤNTỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010 30
2.1 Những yếu tố tác động, chi phối đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn của Đảng bộ thành phố Hà Nội 30
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 30
2.1.2 Đặc điểm và thực trạng công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn ở Hà Nội trước năm 2008 34
Trang 62.1.3 Tình hình thế giới, trong nước và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt
Nam về công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng 42
2.2 Xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2010 46
2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội về xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn 46
2.2.2 Chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn 53
Tiểu kết chương 2 79
Chương 3.ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤNTỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015 81
3.1 Yêu cầu mới của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn 81
3.1.1 Tình hình và yêu cầu mới 81
3.1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng tổ chức cơ sở đảng 85
3.2 Đảng bộ thành phố Hà Nội thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn 90
3.2.1 Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội 90
3.2.2 Chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở Đảng xã, phường, thị trấn 97
Tiểu kết chương 3 125
Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 127
4.1 Nhận xét 127
4.1.1 Ưu điểm 127
4.1.2 Hạn chế 143
4.2 Những kinh nghiệm chủ yếu 146
Trang 74.2.1 Nhận thức đúng và sâu sắc về vị trí vai trò và tầm quan trọng của công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn trong sạch, vững mạnh gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp bộ này 147 4.2.2 Chú trọng và thường xuyên nâng cao chất lượng công tác đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở đảng và đảng viên ở xã, phường, thị trấn 149 4.2.3 Coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên, nâng cao chất lượng đảng viên gắn với phát triển đảng viên ở xã, phường, thị trấn 151 4.2.4 Đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động của tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn nhất là của cấp ủy đảng phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị mỗi thời kỳ 154 4.2.5 Dựa vào dân, phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn gắn xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở 156
Tiểu kết chương 4 158 KẾT LUẬN 160 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌCCỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 163 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 164 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Phân loại chất lƣợng tổ chức cơ sở đảngcủa Đảng bộ thành phố Hà Nội (2008-2010) 58 Biểu đồ 2.2: Phân loại chất lƣợng đảng viêncủa Đảng bộ thành phố Hà Nội (2008-2010) 62 Biểu đồ 2.3: Phát triển đảng viên của Đảng bộ thành phố Hà Nội(2008-2010) 63 Biểu đồ 2.4: Biểu đồ thi hành kỷ luật đảng viêncủa Đảng bộ thành phố Hà Nội (2008-2010) 74 Biểu đồ 2.5: Biểu đồ thi hành kỷ luậttổ chức đảngcủa Đảng bộ thành phố Hà Nội (2008-2010) 74 Biểu đồ 3.1: Phân loại chất lƣợng tổ chức cơ sở đảngcủa Đảng bộ thành phố Hà Nội (2011-2015) 108 Biểu đồ 3.2: Phát triển đảng viêncủa Đảng bộ thành phố Hà Nội (2011-2015) 110 Biểu đồ 3.3: Phân loại chất lƣợng đảng viêncủa Đảng bộ thành phố Hà Nội (2011-2015) 111 Biểu đồ 3.4: Biểu đồ thi hành kỷ luật đảng viêncủa Đảng bộ thành phố Hà Nội (2011-2015) 124 Biểu đồ 4.1: So sánh chất lƣợng các TCCSĐ qua 2 nhiệm kỳ(2005-2010) và (2010-2015) của Hà Nội với một số tỉnh lân cận 134 Biểu đồ 4.2: So sánh số lƣợng đảng viên kết nạp qua 2 nhiệm kỳ(2005-2010) và (2010-2015) của Hà Nội với một số tỉnh lân cận 135
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay có bốn cấp từ Trung ương đến cơ sở, được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở và đảng bộ cơ sở), là cấp cuối cùng trong hệ thống tổ chức bốn cấp của Đảng được lập ra ở các xã, phường, thị trấn, cơ quan, hợp tác xã, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công an và các đơn vị khác
Tổ chức cơ sở đảng là một trong những khâu quan trọng trong hệ thống tổ chức Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo cơ sở Tổ chức cơ sở Đảng vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thành hành động cách mạng của đảng viên và quần chúng nhân dân, vừa là nơi kiểm nghiệm, tập hợp những kinh nghiệm, sáng kiến, trí tuệ của đảng viên và quần chúng nhân dân từ phong trào ở cơ sở để góp phần xây dựng đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời cũng là nơi tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng, lựa chọn, bồi dưỡng, rèn luyện, sàng lọc và kết nạp đảng viên, đào tạo đội ngũ cán bộ nhằm bổ sung nguồn lực mới, tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bảo đảm sự kế thừa, phát triển liên tục của Đảng
Từ ngày thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, coi đó là một trong những nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do chi bộ mạnh, chi
bộ tốt là do các đảng viên tốt” [91,tr.113]
Trong công cuộc đổi mới, ĐCSVN đã ban hành nhiều chủ trương thể hiện rõ
sự đổi mới trong lãnh đạo xây dựng, chỉnh đốn Đảng Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là khâu then chốt, là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của sự nghiệp đổi mới Một bài học lớn trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới là tăng cường xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, trong đó, xây dựng tổ chức Đảng các cấp cơ sở là một nhiệm vụ có vai
Trang 11trò rất quan trọng Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 6 (khóa X) chỉ rõ:
“Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là cầu nối giữa Đảng với dân, có
vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng” [60, tr.94-95]
Tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn là tổ chức gần dân nhất, là nền tảng xây dựng chế độ dân chủ của toàn bộ hệ thống chính trị TCCSĐ xã, phường, thị trấn lãnh đạo một cách toàn diện các tổ chức chính trị như: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức khác (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh…) trên các phương diện về việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới; đồng thời, động viên nhân dân thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước.Đây là một đặc điểm khác biệt so với các TCCSĐ thuộc doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, đơn vị trong quân đội, công an…
Quy định số: 94/QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở phường, thị trấn; Quy định số: 95/QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi
bộ cơ sở xã do Ban Bí thư ban hành năm 2004 xác định rõ:
“Đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn là hạt nhân chính trị” [8; 9] Thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước, là đầu não chính trị - hành chính quốc gia, là trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch, giao lưu quốc tế Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ thành phố Hà Nội nhận thức sâu sắc tầm quan trọng sống còn của công tác xây dựng Đảng, xây dựng TCCSĐ Tất cả các loại hình TCCSĐ đều xuất hiện và hoạt động trong Đảng bộ thành phố Hà Nội Quá trình phát triển kinh tế thị trường CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế diễn ra rất nhanh chóng và phức tạp trên địa bàn thành phố Hà Nội, đặt
ra yêu cầu mới ngày càng cao đối với năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ của Đảng bộ thành phố Hà Nội Việc xây dựng, củng cố, kiện toàn phát triển các loại hình TCCSĐ đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của Đảng bộ thành phố Hà Nội.Từ năm 2008, Đảng bộ thành phố Hà Nội bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ, có nhiều biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội Đây là khoảng thời
Trang 12thành phố Hà Nội sau khi hợp nhất từ hai Đảng bộ là: Đảng bộ thành phố Hà Nội và Đảng bộ tỉnh Hà Tây Thực tiễn trong công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ thành phố Hà Nội giai đoạn này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: chất lượng hoạt động của các TCCSĐ trong toàn Đảng bộ thành phố có nhiều chuyển biến tích cực nhất là TCCSĐ xã, phường, thị trấn (năm 2015 toàn Đảng bộ thành phố không
có TCCSĐ xã, phường, thị trấn xếp loại yếu kém); phần lớn đội ngũ cán bộ, đảng viên và cấp ủy cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới; có đạo đức, lối sống lành mạnh, gương mẫu trong công tác, sinh hoạt, Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ thành phố về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng Thủ đô đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng hoat động của TCCSĐ nói chung và nhất là TCCSĐ xã, phường, thị trấn Đã có một số vấn đề phát sinh từ cơ sở do nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; trong đó có nguyên nhân từ sự yếu kém của TCCSĐ, vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu
Nghiên cứu về công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2015 và đánh giá đầy đủ, khách quan, khoa học những thành công, hạn chế trong quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ theo chủ trương của Đảng là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược để xây dựng và phát triển Đảng bộ thành phố Hà Nội Mặt khác, đánh giá tổng kết thành tựu, khuyết điểm, thuận lợi và khó khăn, trong lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội về xây dựng TCCSĐ cũng là tham gia giải quyết những vấn đề thực tiễn trong công tác xây dựng đảng của những tỉnh, thành phố khác có đặc điểm, vị trí, điều kiện tương tự; từ đó góp phần tổng kết kinh nghiệm, cung cấp cơ sở về thực tiễn để phát triển lý luận xây dựng Đảng, xây dựng TCCSĐ ở các địa phương trong cả nước hiện nay
Vì thế, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Đảng bộ thành phố Hà Nội thực hiện nhiệm
vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn từ năm 2008 đến năm 2015” làm
đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 132 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Hà Nội thực hiện nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn ở địa phương giai đoạn từ năm 2008đến năm 2015,đúckết một số kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn xây dựng Đảng hiện nay
Nhiệm vụnghiên cứu
- Phân tích đặc điểm, tình hình của Đảng bộ thành phố Hà Nội; những yếu tố tác động đến công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn và yêu cầu đặt ra đối với công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn tại địa phương giai đoạn từ năm
2008 đến năm 2015
- Tái hiện và luận giả quá trình Đảng bộ thành phố Hà Nội vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng thực hiện nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn từnăm 2008đến năm 2015
- Nhận xét những ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng TCCSĐxã, phường, thị trấncủaĐảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2015
- Rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình thực hiện nhiệm xây dựng TCCSĐ
xã, phường, thị trấn của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2015
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu những chủ trương, chỉ đạo, hoạt động, kết quả đạt được của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng TCCSĐxã, phường, thị trấn từ năm 2008 đến năm 2015
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng xã, phường, thị trấn có nhiều nội dung phong phú bao gồm các phương diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức Trong phạm viluận án, tác giả tập trung nghiên cứu nội dung Đảng bộ thành phố Hà Nội xây dựng TCCSĐvề chính trị, tư tưởng, tổ chức
Trang 14trên các công tác cụ thể: công tác chính trị, tư tưởng; công tác tổ chức cán bộ; công tác kiểm tra giám sát
Phạm vivề không gian: Luận án nghiên cứu trong phạm vi thành phố Hà Nội gồm có 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện được xác lập và phân định theo Nghị quyết số 15-NQ/QH ngày 29-5-2008 về mở rộng địa giới hành chính Hà Nội
Trước khi mở rộng địa giới hành chính, TCCSĐ xã, phường, thị trấn của thành phố Hà Nội trực thuộc nhiều Đảng bộ (Đảng bộ thành phố Hà Nội, Đảng bộ tỉnh Hà Tây, Đảng bộ huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc, Đảng bộ 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình) Trong luận án, NCS tập trung nghiên cứu và làm rõ công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của 2 Đảng bộ lớn là Đảng bộ thành phố Hà Nội (cũ) và Đảng bộ tỉnh Hà Tây
Về phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu trong khung thời gian từ năm 2008 đến năm 2015 Luận án chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2008 là năm Hà Nội được mở rộng, Đảng bộ thành phố Hà Nội (mới) bắt đầu đi vào hoạt động; đến năm
2015 là mốc thời gian kết thúc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứXV
Trong nghiên cứu, để thuận lợi cho việc phân tích, so sánh, đánh giá, luận án
đề cập đến tất cả nội dung về xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn diễn ra trước và sau khung thời gian được xác lập
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu
Cơ sở lý luận
Luận án được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của ĐCSVN về xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ
Mác-Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản trong khoa học lịch sửlà phương pháp lịch sửvà phương pháp logic
Bên cạnh đó để làm rõ hơn quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ
sở Đảng xã, phường, thị trấn, luận án còn sử dụng một số phương pháp khác: thống
kê, so sánh, phân tích, khảo sát thực tiễn…
Trang 15Nguồn tư liệu
- Luận án chủ yếu sử dụng tài liệu, bao gồm:
+ Các văn kiện của Đảng, Nhà nước về xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ + Các văn kiện của Đảng bộ các cấp, các ban, ngành, đoàn thể thành phố Hà Nội; báo cáo hằng năm của Thành uỷ, Ban Tổ chức Thành uỷ; báo cáo của các Quận uỷ, Huyện uỷ, Đảng bộ xã, phường, thị trấn về xây dựng Đảng và công tác xây dựng TCCSĐ
+ Ngoài ra, luận án còn tham khảo các kết quả nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng, xây dựng TCCSĐ có liên quan đã được xã hội hóa Khi sử dụng những kết quả này, tác giả ghi chú rõ ràng nguồn gốc xuấtxứ
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án lần đầu tiên hệ thống hóa chủ trương, giải pháp, hoạt động và kết quả của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn từ năm 2008 đến năm 2015
- Những kết quả nghiên cứu của luận án (những đánh giá, nhận định, kinh nghiệm được rút ra) góp phần tổng kết quá trình hiện thực hóa đường lối đổi mới của Đảng về vấn đề xây dựng TCCSĐ ởcơ sở trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, là tài liệu tham khảo đối với công tác xây dựng Đảng ở Hà Nội hiện nay; kết quả nghiên cứu của luận án là nguồn tư liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và những người quan tâm về lịch sử ĐCSVN thời kỳ đổi mới
6 Kết cấu của luận án
Luận án có Mở đầu, Kết luận và 4 chương nội dung Ngoài ra có: Danh mục công trình khoa học của tác giả có liên quan đến đề tài luận án; Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Đảng bộ thành phố Hà Nội thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức
cơ sở đảng xã, phường, thị trấn từ năm 2008 đến năm 2010
Chương 3: Đảng bộ thành phố Hà Nội đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ xây dựng
tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn từ năm 2011 đến năm 2015
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Xây dựng TCCSĐ là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, do đó, trên bình diện toàn Đảng nói chung và tại Đảng bộ thành phố Hà Nội nói riêng, công tác xây dựng TCCSĐ đã được phản ánh ở những khía cạnh khác nhau trong nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học, có thể chia thành các nhóm công trình nghiên cứu sau:
1.1.1.Những công trình nghiên cứu về Lịch sử Đảng, Lịch sử xây dựng Đảng và xây dựng tổ chức cơ sở đảng
* Một số công trình, sách về lịch sử Đảng, lịch sử xây dựng Đảng đã phản ánh những vấn đề chung về công tác xây dựng Đảng tiêu biểunhư:
Cuốn “Đổi mới chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, nghiên cứu về vị trí, vai trò
tầm quan trọng của chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng nói chung, thực trạng, hạn chế xây dựng Đảng trong quân đội nhân dân Việt Nam, từ đó rút ra kinh nghiệm lãnh đạo và giải pháp xây dựng chỉnh đốn Đảng của ĐCSVN đối với lực lượng vũ trang
Công trình “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, tập III (1975-2006), nhiệm
vụ khoa học do Ban Chấp hành Trung ương giaoViện Lịch sử Đảng thực hiện, nghiệm thu năm 2008, đã đề cập công tác xây dựng Đảng trong những năm cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và tiến hành đổi mới Côngtrình này tiếp cận công tác xây dựng Đảng trên các phương diện hoạch định đường lối cách mạng, thống nhất tư tưởng, xây dựng hệ thống tổ chức trên phạm vi toàn Đảng, đưa ra những nhận định về thành tựu và hạn chế của công tác xây dựng Đảng trước yêu cầu, nhiệm vụ mới Công trình chứa đựng nhiều thông tin về quan điểm, chủ trương, sự chỉ đạo thực hiện công tác xây dựng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Trang 18Tác phẩm “Lịch sử xây dựng Đảng (1930-2011)”, của tác giả Nguyễn Trọng
Phúc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, đã phản ánh các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng Đảng trên cả 3 mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm
rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn xây dựng Đảng từ khi được thành lập đến năm 2011
Cuốn sách “Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng, chống suy thoái
tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên”, do Vũ Văn Phúc và Ngô Văn
Thạo đồng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, gồm 4 chương: Chương I: Cơ sở lý luận của việc phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, kinh nghiệm của một số nước; Chương II: Thực trạng suy thoái và phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; Chương III: Mục tiêu, quan điểm, giải pháp, phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên hiện nay; Chương IV: Điều kiện thực hiện có hiệu quả nhiệm vụphòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viênhiện nay.Các tác giả khẳng định rằng: công tác phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên là vấn đề cấp bách, đòi hỏi phải giải quyết hiệu quả Cuốn sách là một tài liệu tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu thực tiễn công tác xây dựng Đảng
Tác phẩm “Đảng Cộng sản Việt Nam - một số vấn đề về xây dựng và chỉnh đốn Đảng”, của tác giả Nguyễn Trọng Phúc,Nxb lý luận chính trị - Hành chính, Hà
Nội, 2013,đã tập hợp 21 chuyên đề nghiên cứu về một số vấn đề cơ bản, bức thiết
về xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền Chuyên khảo này có nhóm vấn đề về tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò, nhiệm vụ xây dựng, rèn luyện của một Đảng chân chính cách mạng; nhóm vấn đề
về một số vấn đề cơ bản, cốt yếu của xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sự nghiệp đổi mới và những bài học chủ yếu Trong các nhóm vấn đề, tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận về Đảng Cộng sản, những quan điểm, nguyên tắc về xây dựng Đảng cách mạng, những vấn đề thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đến năm 2013
Trang 19Đề cập đến công tác xây dựngTCCSĐ, trong đó có TCCSĐ xã, phường, thị trấn, có thể kể đến những công trình sau:
“Để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng”
của nhóm tác giả Hồ Thanh Khôi, Pham Thị Thiểu biên soạn, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1995,nội dung cuốn sách giới thiệu vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong
hệ thống chính trị, quy chế hoạt động của tổ chức cơ sở đảng; nội dung và năng lực lãnh đạo, trách nhiệm của lãnh đạo; vấn đề lãnh đạo các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh và liên doanh với nước ngoài; các quy định mới của Ban chấp hành Trung ương về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng; hướng dẫn thực hiện các quy định của Trung ương…
Tác phẩm “Xây dựng Đảng về tổ chức” của tác giả Ngô Đức Tính, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, trình bày các nguyên lý, quan điểm, nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng về xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng trên nhiều nội dung,trong đó có một dung lượng phản ánh về TCCSĐ và đảng viên,cuốn sách cũng giới thiệu một số bài học kinh nghiệm bước đầu về công tác xây dựng Đảng đã được tổng kết ở một số địa phương
“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới”,
do Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004,đề cập một cách khái quát, có hệ thống những vấn đề cơ bản
về Đảng cầm quyền, tình hình đổi mới, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ đổi mới,trong
đó tác giả đã dành một phần quan trọng luận giải về chất lượng TCCSĐ, đề xuất phương hướng và một số giải pháp cấp bách để ngày càng hoàn thiện và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, của TCCSĐ trong thời kỳ mới
“Một số vấn đề về xây dựng tổ chức cơ sở đảng hiện nay”, của tác giả
Nguyễn Đức Hà, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010,đề cập về những vấn đề cơ bản như: nâng cao chất lượng TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong các loại hình TCCSĐ; đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên hằng năm; một số vấn đề thực hiện thí điểm chủ trương Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở xã,
Trang 20“Về công tác chi bộ ở xã, phường, thị trấn”do Vụ cơ sở Đảng - Ban Tổ chức
Trung ương biên soạn, Nxb Chính trịQuốc gia, Hà Nội, 2010, nêu rõ nhiệm vụ, chức năng của chi bộ trực thuộc các Đảng bộ xã, phường, thị trấn Trong đó, các chi
bộ thôn, tổ dân phố là hạt nhân chính trị ở địa bàn dân cư và là cầu nối giữa Đảng với nhân dân; có chức năng lãnh đạo thực hiện đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo thực hiện những nhiệm vụ do Đảng
nghiệm lớn như sau: một là, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hai là, Thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; ba là, phát huy nội lực, tinh thần chủ động, sáng
tạo ở cơ sở tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của
đảng bộ xã; bốn là, kết hợp hoạt động xây dựng TCCSĐ với việc lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội; năm là, coi trọng công tác cán bộ, đảng viên, cần phát huy tốt vai trò tiên phong, của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị; sáu là, xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc; bảy là, đổi mới dụng dung sinh hoạt chi bộ; tám là, lãnh đạo, chỉ đạo từng nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm theo kế hoạch,
coi trọng công tác kiểm tra, giám sát
* Một số đề tài khoa học, hội thảo khoa học nghiên cứu, bàn luận về công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng như:
Đề tài khoa học cấp bộ:“Thực trạng và những yêu cầu xây dựng tổ chức cơ
sở đảng ở nông thôn một số tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc nước ta hiện nay”,
doNguyễn Thị Minh Bích làm chủ nhiệm, thực hiện năm 1998, Nxb Hà Nội, đã đánh giá thực trạng về xây dựng TCCSĐ ở nông thôn miền núi vùng cao phía Bắc Việt Nam, làm sáng tỏ những yêu cầu đặt ra, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất và giải pháp xây dựng dựng TCCSĐ ở địa bàn này
Trang 21Đề tài khoa học cấp Bộ do Nguyễn Ngọc Thịnh chủ nhiệm, Ban Tổ chức
Trung ương là cơ quan chủ trì: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên”,thực hiện năm 2007,đã nghiên cứu làm
rõmột số lý luận về cơ sở đảng và đảng viên, nêu những ưu điểm, hạn chế về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên, nguyên nhân thực trạng, trong đó có nguyên nhân cơ bản là nhận thức về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới
* Trên tạp chí khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau, cũng có nhiều bài viết về công tác xây dựng TCCSĐ ở phương diện lý luận, trên phạm vi toàn Đảng, hay trong từng địa phương cụ thể
Có thể kể đến bài: “Về nâng cao chất lượng của các tổ chức cơ sở đảng” của
Đức Lượng, Tạp chí Cộng sản, số 8/1997 Trên cơ sở phân tích vị trí, vai trò của TCCSĐ, tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng các TCCSĐ, nhất là ở những vùng có địa bàn trọng yếu Tác giả đã nêu một số biện pháp nâng cao chất lượng TCCSĐ và đảng viên: tiếp tục bổ sung, cụ thể hóa chất lượng sinh hoạt đảng; tăng cường giáo dục, kiểm tra và quản lý đội ngũ đảng viên; phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật
“Tổ chức cơ sở đảng với việc giữ vững ổn định chính trị ở nông thôn” của
Nguyễn Văn Cư, Tạp chí Lịch sử Đảng số 10 - 2000,bài viết đã khẳng định rõ tổ chức cơ sở đảng có vai trò quyết định đối với sự ổn định chính trị ở nông thôn
“Đổi mới và chỉnh đốn Đảng” của Lê Đức Bình, Tạp chí Xây dựng Đảng số
3 - 2004, nêu rõ đổi mới gồm nhiều cấp độ khác nhau và song song với đổi mới là Đảng tự chỉnh đốn Đổi mới và chỉnh đốn có mối quan hệ khăng khít, tương tự mối quan hệ giữa xây và chống Mối quan hệ khăng khít giữa đổi mới và chỉnh đốn được thể hiện trên nhiều lĩnh vực: chính trị tư tưởng, đạo đức cách mạng, nâng cao chất lượng đảng viên, đổi mới tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Sự nghiệp cách mạng không ngừng phát triển vì vậy Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn mới có thể xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, tăng cường
Trang 22“Đảng bộ xã lãnh đạo việc xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn hiện nay” của Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Lịch sử Đảng số 02 - 2005, tác giả đã khẳng
định công tác lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở của Đảng bộ, chi bộ nông thôn được đặt ra như một công tác có tầm quan trọng đặc biệt và lâu dài
Bài viết “Nâng cao chất lượng TCCSĐ và đảng viên dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội X” của Dương Trung Ý, Tạp chí Lịch sử Đảngsố 08 - 2006,tác giả đã thống
kê số lượng TCCSĐ trong cả nước tính đến tháng 12 - 2005 và nhấn mạnh TCCSĐ
có vị trí vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của Đảng và chế độ XHCN ởViệt Nam, vì vậy, Đảng luôn coi trọng việc xây dựng củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ Tác giả đề xuất 5 giải pháp nâng cao
chất lượng TCCSĐ: Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng Thứ hai, nâng cao chất lượng cấp ủy Thứ ba, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ Thứ tư, nâng cao chất lượng đảng viên và công tác đảng viên Thứ năm, tiếp
tục đổi mới nội dung, phương pháp đánh giá chất lượng TCCSĐ
“Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng” của Ngô Kim Ngân, Tạp chí Xây dựng Đảng số 6 - 2006, tác giả đánh giá
thực trạng của công tác xây dựng Đảng đạt được nhiều thành tích cao như năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ có nhiều chuyển biến tích cực, công tác phát triển đảng được nâng lên, các cơ sở đảng yếu kém đã thu hẹp, chính quyền cấp
xã, phường được củng cố… Tuy nhiên, khi bước vào nền kinh tế thị trường, những mặt tiêu cực tác động không nhỏ đến các TCCSĐ, việc thực hiện nhiệm vụ chính trị
ở cơ sở đạt hiệu quả còn thấp… Tác giả nêu lên một số giải pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ: Xác định đúng nhiệm vụ chính trị, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng; Đổi mới phương thức, phong cách làm việc của tổ chức đảng; Cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi
bộ, chi ủy, đảng ủy, thực hiện nghiêm túc công tác tự phê bình, phê bình mở rộng dân chủ trong sinh hoạt đảng; Coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kỷ luật đảng; Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy cấp trên đối với cơ sở
Trang 23“Về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ ở xã”của Dương Trung
Ý, Tạp chí Xây dựng Đảng số 6 - 2006, cho rằng cùng với phường, thị trấn, TCCSĐ cấp xã được coi là nền tảng cơ sở của hệ thống tổ chức hành chính bốn cấp của Nhà nước Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ xã là một trong những vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay Tác giả đã chỉ ra những tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ cấp xã: lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; lãnh đạo xây dựng chính quyền mặt trận và các đoàn thể nhân dân vững mạnh; lãnh đạo thực hiện tốt công tác xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh
“Mười cái nhất ở cơ sở” của Trần Hậu Thành, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 09 -
2007 Tác giả đã chỉ ra 10 nét tiêu biểu của hệ thống TCCSĐ cấp xã: một là, cấp có địa vị pháp lý thấp nhất trong hệ thống chính trị; hai là, vùng nhạy cảm nhất của đời sống xã hội, là nền tảng của chế độ chính trị và đời sống xã hội; ba là, có tổ chức bộ máy đơn giản nhất; bốn là, có bộ máy cán bộ biến động nhất, có trình độ được đào tạo thấp nhất;năm là, cấp gần dân nhất; sáu là, tổ chức và hoạt động mang tính tự quản cao nhất; bảy là, nơi có nhiều cư dân sinh sống nhất; tám là, cấp nhiều việc nhất; chín là, nơi có cán bộ, đảng viên hưu trí nhiều nhất; mười là, nơi màcác yếu tố
truyền thống, dòng họ, văn hóa làng xã có thể tác động mạnh nhất
Bài “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên” của Nguyễn Đức Hà, Tạp chí Cộng sản số
13 - 2008, phân tích một số nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với từng loại hình tổ chức cơ sở đảng, từ đó xây dựng mô hình tổ chức phù hợp với những tổ chức cơ sở đảng có tính đặc thù, vừa tạo sự thống nhất chung, vừa phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng địa phương, đơn vị
“Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng” của Vũ Văn Phúc, Tạp chí Cộng sản, số 55 tháng 7-2011, khái quát quan
điểm C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I Lênin và của ĐCSVN về TCCSĐ từ ngày đầu thành lập, phân tích thực trạng năng lực, lãnh đạo và sức chiến đấu cùa một số loại hình TCCSĐ ở nông thôn; doanh nghiệp; đơn vị sự nghiệp (cơ quan nghiên cứu
Trang 24khoa học, các cơ sở giáo dục đào tạo, y tế) Đề dẫn đã đưa ra 6 giải pháp tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐvà kết luận: Đảng muốn thực
sự mạnh, phải chăm lo công tác xây dựng, nâng cao chất lượng của TCCSĐ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên,phải thực thi đồng bộmới nâng cao được chất lượng của TCCSĐ ở cơ sở và bảo đảm cho các TCCSĐ thực sự là nền tảng, hạt nhân chính trị của Đảng
Bài “Tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ ở nông thôn” của
Nguyễn Văn Giang, Tạp chí Cộng sản số 59/11 -2011, theo tác giả, sinh hoạt chi bộ
ở nông thôn có hiệu quả sẽ nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ, phát huy trí tuệ, tính sáng tạo của đảng viên, đồng thời giúp đảng viên trưởng thành hơn trong nhận thức, gương mẫu trong hành động, góp phần xây dựng nông thôn mới Tác giả đã đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ
nông thôn và phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở: thứ nhất là, nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về sinh hoạt chi bộ; thứ hai là, đổi mới nội dung sinh hoạt theo hướng cụ thể, thiết thực, phù hợp; thứ ba là, tích cực đổi mới hình thức tổ chức sinh hoạt chi bộ; thứ tư là, bảo đảm những quyết định có hiệu quả; thứ năm là, thực hiện đúng lịch sinh hoạt định kỳ, quy trình sinh hoạt chi bộ; thứ sáu là, tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của cấp ủy cấp trên
“Nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức cơ sở đảng cấp xã” của Phạm Mạnh
Khởi, Tạp chí Xây dựng Đảng số 05- 2013, thôngqua những số liệu phân tích cụ thể
để khẳng định muốn nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trước hết phải chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng ở cấp
xã Tác giả cũng rút ra 4 kinh nghiệm đó là: coi trọng công tác chính trị tư tưởng; đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách công tác của cấp ủy; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cơ sở; tăng cường kiểm tra, giúp đỡ các chi bộ và đảng viên còn hạn chế…
Bên cạnh đó, còn một số bài viết đề cập đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở
đảng nói chung như:“Nét mới trong đánh gia chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên”của Hoàng Văn Uyên, Tạp chí Xây dựng Đảng số 1+2 – 2004; “Kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng theo tinh thần nghị quyết đại hội X”của Nguyễn Văn Giang, Tạp chí Lịch sử Đảng số 7- 2006; “Nâng cao năng lực
Trang 25lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong điều hiện nay” của Hiền
Bài “Nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của TCCSĐ gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở”, của Trần Đình Hoan, Tạp chí Xây dựng
Đảng số 6 - 2004, nêu lên sự bất ổn về chính trị xã hội ở Thái Bình, Gia Lai ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, đến việc xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở và làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng Nguyên nhân sâu xa liên quan đến công tác xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở
cơ sở Từ thực tiễn của Thái Bình, Gia Lai tác giả đã rút ra nhận định là các tổ chức
cơ sở đảng xã, phường, thị trấn phải nắm chắc và thực hiện đúng chức năng, nhiệm
vụ của mình Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chung của TCCSĐ, vừa phải suy nghĩ, tìm cho được những nét riêng ở từng xã, phường, thị trấn cụ thể Từ đó, chủ động, sáng tạo đề ra nhưng giải pháp phù hợp để sử lý mọi vấn đề trong phạm vi địa phương mình
Tác giả Lê Văn Tuyến với bài “Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng ở Hải Dương”, Tạp chí Xây dựng Đảng số 6 - 2004, đã phân tích vai trò của Ban Tổ chức
Tỉnh ủy Hải Dương trong việc tham mưu cho Tỉnh ủy tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm giải quyết những tổ chức Đảng yếu kém nhằm nâng cao chất lượng đồng đều của các tổ chức Đảng
Tác giả Phạm Quang Vịnh với bài “Để nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của TCCSĐ ở Tây Nguyên”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 6 - 2006, đã chỉ rõ kết
quả đạt được của công tác nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ
đó là bộ mặt nông thôn thay đổi, tình hình dân sinh, dân trí, dân chủ từng bước nâng
Trang 26lên… Tuy nhiên Tây Nguyên vẫn đứng trước nhiều khó khăn như mặt bằng dân trí thấp, kinh tế chậm phát triển, phong tục tập quán nhiều nơi còn lạc hậu, bảo thủ, hoạt động của bọn phản động còn có nơi diễn biến phức tạp… Vì vậy, để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các TCCSĐ xã, phường, thị trấn ở các tỉnh Tây Nguyên tác giả đã đưa ra 9 giải pháp thực hiện và khẳng định, yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ là điều kiện cần thiết để TCCSĐ làm tròn chức năng hạt nhân chính trị ở cơ sở
Bài “Đảng bộ phường Vĩnh Ninh nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, phát huy vai trò hạt nhân chính trị” của tác giả Thành Lâm, Tạp chí Lịch sử
Đảng(số 2 - 2006), làm rõ Đảng bộ phường Vĩnh Ninh trực thuộc Thành ủy Huế lãnh đạo nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, với các biện pháp gắn chặt việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, phát huy vai trò hạt nhân chính trị trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị trật tự
an toàn xã hội, xây dựng nếp sống văn hóa ở địa phương Tác giả đã nhấn mạnh vai trò chỉ đạo của Đảng ủy đối với HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể bằng nghị quyết, chủ trương về nhiệm vụ công tác hằng năm, 6 tháng, hằng tháng, thườngxuyên có kiểm tra đôn đốc, kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện
“Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Bắc Giang”của tác giả Thân Minh Quế, Tạp chí Xây dựng Đảng số 9 -
2007, trên cơ sở đánh giá thực tế đội ngũ cán bộ chủ chốt tại địa phương, tác giả đã
hệ thống hóa những giải pháp về nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ
Ngoài ra, còn một số bài viết: Bài“Điện Biên tăng cường xây dựng củng cố
tổ chức cơ sở đảng trong điều kiện mới” của Lê Mai Trinh, Tạp chí Xây dựng Đảng
số 5 - 2004; Bài“Đồng Nai nâng cao vai trò tổ chức cơ sở đảng trong vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa” của Phan Thanh Kiều, Tạp chí Cộng sản Số 10 - 2004; Bài“Đảng bộ thành phố Nam Định xây dựng tổ chức cơ đảng và đội ngũ đảng viên”của Nguyễn Khắc Hưng, Tạp chí Cộng sản số 19 - 2006; Bài“Để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc”của Lê Ngọc Thắng, Tạp chí Xây dựng Đảng số 1 - 2007; Bài“Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các đảng bộ xã ở tỉnh Phú Yên”của Nguyễn Thành Sơn, Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử, ngày 4-9-2008;Bài“Đổi mới phương thức lãnh đạo của
Trang 27đảng bộ xã ở huyện Châu Thành,An Giang”của Nguyễn Thị Hai,Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử, ngày 9-10-2008;Bài“Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ
sở đảng ở Phú Thọ”của Ngô Đức Vượng, Tạp chí Xây dựng Đảng số 4 - 2008;Bài“Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng vùng đồng bàn dân tộc Khơ-me ở Sóc Trăng”của Lê Thành Quân, Tạp Chí Cộng sản số 8 - 2009; Bài “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Vĩnh Phúc”của tác giả Phạm Văn Vọng, Tạp chí Cộng sản số 6 - 2012
* Một số luận án, luận vănthuộc nhiều chuyên ngành nghiên cứu công tác xây dựng TCCSĐ ở các địa phương cụ thể, có thể kể đến như:
Luận án tiến sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nông thôn vùng cao phía Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Nguyễn Đức Ái,bảo vệ
năm 2001,phân tích một số vấn đề cơ bản về lý luận và quan điểm của ĐCSVN trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ, làm rõ vai trò của TCCSĐ nông thôn vùng cao phía Bắc, khẳng định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ là nhân tố cơ bản quyết định thành công của sự nghiệp CNH, HĐH ở nông thôn vùng cao phía Bắc
Luận án tiến sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng“Nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở doanh nghiệp Nhà nước hiện nay” của
tác giả Nguyễn Minh Tuấn,bảo vệ năm 2006, đi sâu nghiên cứu là TCCSĐ trong doanh nghiệp Nhà nước ở khu kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, phân tích, làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ trong doanh nghiệp Nhà nước nói chung và khu vực kinh tế trọng điểm của các tỉnh phía Bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh nói riêng, làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra, phân tích nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm, đưa ra những giải pháp thiết yếu góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước
Luận án tiến sĩ Lịch sử “Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010” của tác giả Vũ Thị Duyên, bảo vệ năm
Trang 28Hưng Yên từ năm 1997 đế năm 2010 trên các mặt: tư tưởng chính trị, tổ chức, phát triển đảng viên, công tác cán bộ, công tác kiểm tra Trên cơ sở của thành công, hạn chế, tác giả đã đúc rút những kinh nghiệm trong công tác xây dựng TCCSĐ
Luận án tiến sĩ Lịch sử “Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 1998 đến năm 2005” của tác giả Trần
Văn Rạng, bảo vệ năm 2018 Tác giả đã làm rõ quá trình lãnh đạo, củng cố TCCSĐ
xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong bối cảnh toàn tỉnh tập trung
nỗ lực vào giải quyết tình trạng mất ổn định ở địa phương từ năm 1998 đến năm 2000; làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng TCCSĐ xã phường thị trấn trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm
2005 Từ đó, tác giả đưa ra những nhận xét và rút ra những bài học kinh nghiệm từ quá trình xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 1998 đến năm 2005
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng: “Công tác xây dựng TCCSĐ ở nông thôn tỉnh Hưng Yên trong những năm 1997-2005” của tác giả Nguyễn Thị
Thu Hương,bảo vệ năm 2009, luận văn khái quát những chủ trương lớn của công tác xây dựng TCCSĐ, quá trình chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ ở nông thôn Hưng Yên và rút ra một số kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng
bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2005
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng:“Đảng bộ Hải Dương lãnh đạo công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn từ năm 1997 đến 2005 (qua Khảo sát ởthành phố Hải Dương và một số huyện)” của tác giả Bùi Hữu Hanh, bảo vệ
năm 2009,phản ánh quan điểm của ĐCSVN và quá trình Đảng bộ Hải Dương vận dụng quan điểm đường lối của Trung ương vào thực tiễn lãnh đạo đổi mới công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn ở Hải Dương từ năm 1997 đến năm 2005, rút
ra một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ởxã, phường, thị trấn của Đảng
Trang 29thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng từ 1997-2006; phân tích những kinh nghiệm và nêu ra những vấn đề cần giải quyết
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng: “Đảng bộ huyện Lương Tài (Bắc Ninh) thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ năm 1999 đến 2010” của tác giả Trần Thị Hiệp bảo vệ năm 2013, từ năm 1999 đến 2010 trong
công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ huyện Lương Tài đã đạt nhiều thành tựu
cơ bản: Đảng bộ huyện đã nhận thức ngày càng đầy đủ và đúng đắn về vai trò, vị trí của công tác xây dựng TCCSĐ, đưa ra những cách thức tổ chức thực hiện là giải pháp phù hợp; chủ trương, giải pháp thực hiện sát với thực tiễn xây dựng TCCSĐ
về chính trị, tư tưởng, tổ chức, phát triển đảng viên; thực hiện chỉ đạo một cách toàn diện, đồng bộ, vì vậy, hiệu quả hoạt động của các TCCSĐ được nâng lên sau
10 năm huyện tái lập và nỗ lực trong tập trung vào nhiệm vụ xây dựng các tổ chức đảng cơ sở Tác giả luận văn đã nhấn mạnh: Quá trình xây dựng TCCSĐ ở cơ sở phải đặc biệt chú ý đến đặc điểm của các TCCSĐ nông thôn và phát triển Đảng ở vùng công giáo
Ngoài ra, còn có một số luận án đề cập đến công tác xây dựng TCCSĐ
như: Luận án tiến sĩ quân sự của Trần Văn Bộ:“Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở tổ chức cơ sở đảng trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” bảo vệ năm 2000;Luận án tiến sĩ Lịch sử của Cao Văn Định:“Chất lượng công tác tư tưởng của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) vùng đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay”, bảo vệ năm 2000;Luận án tiến sĩ chính trị học của Hoàng Văn Đông:“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng đồn biên phòng tuyến biên giới đất liền Việt Nam trong thời kỳ mới”, bảo vệ năm 2005; Luận án tiến sĩ chính trị học của Lê Tiến Lập:“Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong việc thực thi quyền lực của nhân dân ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long”, bảo vệ năm 2007; Luận án tiến sĩ chính trị học của Hà Duy Vĩnh:“Chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc Tập đoàn dầu Dầu khí Việt nam trong giai đoạn hiện nay”, bảo vệ năm 2009…
Trang 301.1.2 Các công trình nghiên cứu về công tác xây dựng đảng của Đảng
bộ thành phố Hà Nội
Do vị trí quan trọng của Hà Nội, công tác xây dựng Đảng bộ nói chung và công tác xây dựng TCCSĐ ở Thủ đô nói riêng đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu
* Mộ t số công trìnhđ ã xuấ t bả n đ ề cậ p đ ế n công tác xây
dự ng TCCSĐ ở Hà Nộ i
Tác phẩm:“Một số vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng ở nông thôn và đường phố”, do Lưu Minh Trí chủ biên, Nxb Hà Nội, Hà Nội, 1995, gồm hai phần: Phần I,Đổi mới tổ chức và hoạt động của TCCSĐ ở nông thônnội
dung viết về vị trí, đặc điểm của nông thôn Hà Nội, thực trạng công tác xây dựng TCCSĐ, chất lượng TCCSĐ và công tác đảng viên của nông thôn Hà Nội, phương thức lãnh đạo của TCCSĐ cũng như sự lãnh đạo, mối quan hệ của huyện ủy với đảng bộ xã ở thành phố Hà Nội, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của quá trình củng cố,
đổi mới TCCSĐ ởnông thôn Hà Nội Phần II,Đổi mới tổ chức hoạt động của TCCSĐ ở đường phố đề cập đến nội dung: đặc điểm cấp phường và thực trạng
TCCSĐ ởđường phố Hà Nội, phương hướng, nhiệm vụ đổi mới TCCSĐ cấp phường và mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp phường trong điều kiện kinh tế thị trường
Cuốn sách:“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các Đảng bộ phường ở Thủ đô Hà Nội hiện nay”, của tác giả Đỗ Ngọc Ninh, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2004, tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò, đặc điểm của đảng bộ phường về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các Đảng bộ phường, quan niệm và tiêu chuẩn đánh giá năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các Đảng bộ phường ở Thủ đô Hà Nội.Tác giả đánh giá thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ phường, chỉ rõ nguyên nhân, kinh nghiệm, những vấn đề đặt ra cần giải quyết để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các Đảng bộ phường ở Thủ đô Hà Nội; đề xuất phương hướng và giải pháp chủ
Trang 31yếu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của các Đảng bộ phường ở Hà Nội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ mới
Cuốn sách:“Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ tổ dân phố của các quận ở thành phố Hà Nội trong điều kiện hiện nay”của Đỗ Ngọc Ninh và Đinh Ngọc Giang
đồng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, 2013, đề cập đến tiêu chí đánh giá chất lượng sinh hoạt chi bộ; điều kiện nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ Trên cơ sở phân tích thực tiễn, tác giả đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chi
bộ tổ dân phố trên địa bàn các quận của thành phố Hà Nội
Chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm 01X - 13, “Hai mươi năm đổi mới Thủ đô Hà Nội định hướng và phát triển đến năm2010”,do Thành ủy Hà Nội
chủ trì, Nxb Hà Nội, 2005, đã đề cập đến sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong 20 năm đổi mới (1986-2006), phân tích những thành tựu trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xây dựng Đảng, quốc phòng an ninh và đối ngoại,đồng thời, chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục
* Trên tạp chí khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau, cũng có nhiều bài viết về công tác xây dựng Đảng tại Hà Nội
Có thể kể đến bài: “Đổi mới phương thức lãnh đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong các trường Đại học, Cao đẳng ở Hà Nội” của Nguyễn Đức Minh,
Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4 - 1997, tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng của các đảng bộ các trường đại học, cao đẳng và quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo công tác tư tưởng chính trị của các đảng bộ Tuy nhiên, những chuyển biến đó mới dừng ở cấp trường, hệ thống chính trị cấp dưới (chi bộ, khoa, bộ môn, chi đoàn…) vẫn còn bộc lộ nhiều điểm yếu, đặc biệt là một bộ phận không nhỏ đảng viên và quần chúng trong lớp trẻ có thái độ bàng quan với chính trị, có xu hướng sống thực dụng, nặng về chăm lo lợi ích cá nhân Điều đó, ảnh hưởng lớn đến công tác tư tưởng và hoạt động của tổ chức đảng Xuất phát từ thực tiễn đó, Đảng bộ thành phố Hà Nội đã chỉ đạo đảng
bộ, chi bộ các trường định hướng công tác giáo dục chính trị vào các nội dung về đường lối, quan điểm công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước của Đảng; trang bị cho
Trang 32nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giáo dục nhân cách lối sống của người tri thức mới trong cơ chế thị trường; tăng cường giáo dục, nâng cao cảnh giác, đấu tranh có hiệu quả chống âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch…
“Nâng cao chất lượng lãnh đạo của TCCSĐ đối với đoàn thanh niên trong các trường Đại học - Cao đẳng ở Hà Nội” của Ngô Bích Ngọc, Tạp chí Xây dựng
Đảng, số 3 - 2004, thực tiễn hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên trong các trường đại học, cao đẳng cho thấy, nơi nào tổ chức đảng mạnh, đoàn kết nhất trí cao thì nơi đó công tác đoàn đạt hiệu quả Nét riêng của TCCSĐ các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội là một số trường có số lượng đảng viên sinh viên đủ để lập chi bộ
Số đông trong số họ là cán bộ đoàn, cán bộ lớp, cán bộ hội nên có ảnh hưởng lớn đến đối với thanh niên sinh viên Vì vậy, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của loại hình chi bộ này là rất cần thiết Tác giả cũng đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lãnh đạo của các TCCSĐ
“Hà Nội nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ ở khu dân cư” của Phạm Thu
Huyền, Tạp chí Xây dựng Đảng số 4 - 2004, tác giả chỉ ra nhiệm vụ của tổ chức chi
bộ dân cư thuộc đảng bộ phường, thị trấn và muốn thực hiện tốt chức năng, nhiệm
vụ đó, công tác xây dựng đảng phải được đẩy mạnh, trong đó cần quan tâm đến các chi bộ, tế bào của TCCSĐ Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ là nội dung có ý nghĩa hết sức quan trọng trong toàn bộ các mặt của công tác xây dựng đảng Nhiệm
vụ của các cấp ủy đảng là đưa sinh hoạt vào nề nếp theo đúng quy định của Điều lệ Đảng, đảm bảo tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu Nhiều đảng viên mạnh, nhiều chi bộ thống nhất tư tưởng thì chắc chắn Đảng sẽ là một khối vững chắc mạnh mẽ
Bài “Đánh giá chất lượng TCCSĐ xã, phường, thị trấn ở Đảng bộ Hà Nội”
của Tường Thị Hồng Vân, Tạp chí Xây dựng Đảng số 9 - 2009, tác giả đã khẳng định: đánh giá đúng chất lượng TCCSĐ và đảng viên là khâu quan trọng trong công tác xây dựng đảng Đánh giá đúng là căn cứ giúp các cấp ủy đề ra chủ trương, giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ và giáo dục, rèn luyện, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên Mặc dù vậy, công tác đánh giá phân loại chất lượng TCCSĐ và đảng viên
Trang 33nhiều nơi ở Hà Nội chưa phản ánh đúng thực chất Vì vậy, để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, tác giả đã đưa ra 5 giải pháp thực hiện để có thể đánh giá sát, đúng chất lượng hơn; kịp thời giải quyết chi bộ, đảng bộ cơ sở yếu kém, giúp đỡ đảng viên còn mặt hạn chế, đảng viên vi phạm sửa chữa khuyết điểm
* Công tác xây dựng Đảng, xây dựng TCCSĐ các loại hình ở Hà Nội cũng là
đề tài nghiên cứu của một số luận án, luận văn thạc sĩ
Luận án tiến sĩ ngành xây dựng Đảng:“Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội hiện nay” của tác giả Ngô Bích Ngọc,bảo vệ năm 2004, nghiên cứu
những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với TCCSĐ trong lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn Hà Nội,phản ánh thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm lãnh đạo của TCCSĐ đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn Hà Nội,đề ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lãnh đạo của TCCSĐ đối Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các trường đại học
và cao đẳng trên địa bàn Hà Nội
Luận án tiến sĩ lịch sử:“Công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 1996 đến năm 2005”của tác giả Trần Thị Thu Hằng, bảo
vệ năm 2012, phân tích đặc điểm, thực trạng của TCCSĐ ở Hà Nội, nhận xét ưu, khuyết điểm và rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác xây dựng TCCSĐ của Hà Nội trong giai đoạn này
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng:“Chất lượng tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp thuộc Đảng bộ Khối Du lịch Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thế Toàn, bảo vệ năm 2006, khảo sát chất lượng
TCCSĐ trong các doanh nghiệp thuộc Đảng bộ Khối Du lịch Hà Nội, hệ thống một
số quan điểm lý luận, những nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và của Đảng về xây dựng Đảng nói chung và TCCSĐ nói riêng, xác định TCCSĐ vừa là nền tảng, vừa là hạt nhân chính trị của Đảng ở cơ sở, vừa có vai trò, vừa có vị trí và chức năng cụ thể trong các doanh nghiệp thuộc Khối Du lịch Hà
Trang 34nhân chủ yếu ảnh hưởng tới chất lượng TCCSĐ trong các doanh nghiệp thuộc Khối
Du lịch Hà Nội, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo sản xuất kinh doanh, bảo đảm cho doanh nghiệp ổn định và phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, giải quyết mối quan hệ giữa bí thư, cấp ủy và giám đốc, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của đảng bộ cơ sở
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng:“Xây dựng đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Quận ủy Tây Hồ, Thành phố Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Quang Huy, bảo vệ năm 2006,nghiên cứu chủ
trương xây dựng đội ngũ cán bộ, thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, nêu lên một số kinh nghiệm lãnh đạo và đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Quận ủy Tây Hồ quản lý Tác giả khẳng định,nếu xây dựng Đảng là then chốt, thì công tác cán bộ là then chốt của vấn
đề then chốt
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng:“Các Đảng bộ phường ở Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay”của tác giả Hồ Thị Tú, bảo vệ năm 2006, nghiên cứu
những yếu tố tác động tới sự lãnh đạo của các Đảng bộ phường ở Quận Thanh Xuân trong việc lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực trạng sau 8 năm lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ởcơ sở của Đảng bộ phường ở Quận Thanh Xuân,phân tích những kinh nghiệm lãnh đạo,phương hướng, giải pháp trong thời gian tiếp theo
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng:“Chất lượng công tác tư tưởng của Đảng bộ quận Ba Đình thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của
tác giả Nguyễn Ngọc Thuần, bảo vệ năm 2009, đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn; quan niệm về công tác tư tưởng; chất lượng công tác tư tưởng của Đảng
và của Đảng bộ quận Ba Đình; những yếu tố tác động chủ yếu đến công tác tư tưởng của Đảng bộ quận Ba Đình Luận văn rút ra những kinh nghiệm trong lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng bộ quận Ba Đình và dự báo tình hình công tác tư tưởng cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân quận, xác định mục tiêu, phương hướng, quan điểm chỉ đạo, kiến nghị một số giải pháp thực hiện trong giai đoạn tiếp
Trang 35theo.Tác giả khẳng định trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước hiện nay có diễn biến phức tạp, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng là một yêu cầu khách quan và tất yếu…
1.2.Khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được giải quyết và những nội dung luận án tập trung nghiên cứu
1.2.1 Những vấn đề liên quan đến luận án đã được giải quyết
* Về nội dung
Qua khảo sát, các công trình nghiên cứu có liên quan, có thể thấy, nghiên cứu về công tác xây dựng TCCSĐ đã đạt được những kết quả quan trọng, thể hiện ở những nội dung sau đây:
Các công trình đã phân tích được quan điểm, đường lối của Đảng được thế hiện qua các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng trong vấn đề chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ nói chung và TCCSĐ xã, phường, thị trấn nói riêng, khẳng định
rõ về vị trí, vai trò của TCCSĐ cấp xã, phường, thị trấn trong hệ thống chính trị cơ
sở, trong lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh
Các công trình nghiên cứu đã khảo cứu về công tác xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn ở nhiều vùng, miền, địa phương trên cả nước một cách khá toàn diện những vấn đề chung có liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ góc độ chủ trương, phương hướng đến quá trình chỉ đạo thực hiện, các công trình nghiên cứu cũng đã đánh giá được thành công, hạn chế và rút ra các kinh nghiệm để xây dựng TCCSĐTSVM cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ
Kết quả các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho tác giả những thông tin
có giá trị tham khảo cũng như cung cấp cách nhìn nhận tổng quát về công tác xây dựng TCCSĐ trên phạm vi cả nước cũng như ở mỗi địa phương Nhiều công trình được thực hiện dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng, làm rõ các chủ trương, sự chỉ đạo và rút ra nhận xét về công tác xây dựng TCCSĐ cấp tỉnh, thành phố
Nghiên cứu về công tác xây dựng TCCSĐ thành phố Hà Nội đã được đề cập đến chủ yếu ở góc độ về TCCSĐ nói chung hoặc nghiên cứu ở một số khía cạnh
Trang 36nghiên cứu đã cung cấp thông tin, dữ liệu về công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng
bộ thành phố Hà Nội trên nhiều lĩnh vực, là cơ sở để nghiên cứu chuyên sâu về công tác xây dựng TCCSĐ cấp cơ sở xã, phường, thị trấn
Tuy nhiên, đến nay, chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu một cách
có hệ thống về công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ thành phố
Hà Nội giai đoạn 2008 đến 2015;những nhận xét, đánh giá hoặc rút kinh nghiệm lãnh đạo công tác xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2008 đến 2015 do đó thiếu tính toàn diện, tổng thể
Như vậy, nội dung “Đảng bộ thành phố Hà Nội thực hiện nhiệm vụ xây dựng
tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn từ năm 2008 đến năm 2015” vẫn là một
khoảng trống trong các nghiên cứu của khoa học Lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Tác giả chọn nội dung này làm đề tài luận án là một hướng nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã được
công bố
Về tư liệu: các công trình đã tiến hành khai thác, thẩm định khối lượng lớn tư
liệu về nhiều mặt nhất là những tư liệu về chủ trương, biện pháp thực hiện trong công tác xây dựng TCCSĐ ở Hà Nội Đây là cơ sở khoa học để làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng trong công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác xây dựng TCCSĐ nói riêng
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu: các tác giả đã dựa trên
phương pháp luận mác - xít, phương pháp nghiên cứu chuyên ngành lịch sử và một
số phương pháp khoa học liên ngành để làm rõ đối tượng nghiên cứu Vì vậy, các công trình nghiên cứu trên giúp cho nghiên cứu sinh có định hướng tốt hơn, gợi mở cho nghiên cứu sinh về hướng tiếp cận, về sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu, đặc biệt là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
1.2.2.Những nội dung luận án tập trung nghiên cứu
Công tác xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ là một vấn đề rộng, phong phú với nhiều nội dung, trong khuôn khổ đề tài luận án, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu giải quyết một số vấn đề sau:
Thứ nhất, phân tích làm rõ những điều kiện, nhân tố tác động đến công
Trang 37tácxây dựng TCCSĐcủa Đảng bộ thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2008 đến năm2015 Nội dung này chưa được công trình nào đề cập Mặt khác, phân tích và làm rõ những đặc thù, những thuận lợi, khó khăn trongcông tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2015
Thứ hai, làm rõ hoạt động xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng
bộ thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2015 Đây là nội dung chủ yếu của luận
án Tác giả tập trung nghiên cứu, tái hiện quá trình Đảng bộ Hà Nội đề ra chủ trương, tiến hành thực hiện và kết quả của công tác xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn từ năm 2008 đếnnăm 2015
Thứ ba, đánh giá vềưu điểm, hạn chế trong nhận thức và trong thực tiễn thực
hiện công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ thành phố Hà Nội
từ năm 2008 đến năm 2015.Đưa ra nhận xét về công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến năm
2015
Thứ tư, đúc rút những kinh nghiệm lãnh đạo công tác xây dựng tổ chức cơ sở
đảng xã, phường, thị trấn của Đảng bộ Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2015 Những kinh nghiệm nàyđược chắt lọc từ thực tiễn nghiên cứu nhằm góp phần thực hiện tốtnhiệm vụ xây dựng TCCSĐở thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 38Tiểu kết chương 1
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy vấn đề về xây dựng Đảng nói chung và xây dựng TCCSĐ nói riêng được rất nhiều nhà khoa học quan tâm Trong mỗi giai đoạn phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như các Đảng bộ địa phương đã đề ra những chủ trương về xây dựng TCCSĐ đáp ứng yêu cầu thực tế
Các công trình nghiên cứu có liên quan đã chỉ rõ vị trí, vai trò của công tác xây dựng TCCSĐ trong nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh
Những công trình nghiên cứu đã công bố đề cập ở nhiều mức độ khác nhau
về công tác xây dựng Đảng, xây dựng TCCSĐ hoặc xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấntrên bình diện lý luận và thực tiễn ở nhiều địa phương trên cả nước, ở một số địa bàn thuộc thành phố Hà Nội,nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2015 Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề luận án nghiên cứu là một nguồn tài liệu quý giá, gợi mở phương pháp, hướng tiếp cận để tác giả kế thừa, vận dụng nhằm đi sâu nghiên cứu đề tài Nội dung kế thừa và phát triển những kết quả nghiên cứu sẽ được tác giả chú thích khi trích dẫn hoặc đưa vào tài liệu tham khảo nhằm đảm bảo tính trung thực trong khoa học, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng những đóng góp của các nhà nghiên cứu đi trước giúp tác giả luận án có thể hoàn thành công trình nghiên cứu của mình
Trang 39Chương 2 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ
XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010
2.1.Những yếu tố tác động, chi phối đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn của Đảng bộ thành phố Hà Nội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
* Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên - xã hội
Hà Nội là địa danh tiêu biểu cho lịch sử ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam Theo pháp lệnh Thủ đô Hà Nội số 29/2000/PL-UBTVQH10, ngày 28 tháng
12 năm 2000: “Hà Nội là thủ đô, trái tim của cả nước, trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế; là nơi đặt trụ sở của các cơ quan trung ương của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước” [14]
Cùng với tiến trình lịch sử của dân tộc, Hà Nội có nhiều biến đổi Ngày
29-5-2008, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị quyết số 15-NQ/QH về mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội Theo đó, Hà Nội được mở rộng trên cơ sở hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của tỉnh Hà Tây (gồm hai thành phố: Hà Đông và Sơn Tây; mười hai huyện: Ba Vì, Chương
Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa); huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc; 4 xã: Tiến Xuân, Đông Xuân, Yên Bình, Yên Trung của huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình) cùng với diện tích, dân số của các quận Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình, Hai
Bà Trưng, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Long Biên, Thanh Xuân, các huyện Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn, Gia Lâm, Thanh Trì thuộc Thủ đô Hà Nội trước khi hợp nhất Sau khi thực hiện Nghị quyết 15-NQ/QH ngày 29-5-2008 của Quốc Hội, địa giới hành chính của Hà Nội có vị trí từ 20053’ đến 21023’ vĩ độ Bắc và 105044’ đến 106002’ kinh độ Đông, diện tích 3.324,92 km2, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên
Trang 40và tỉnh Vĩnh Phúc; phía Nam giáp tỉnh Hà Nam và tỉnh Hòa Bình; phía Đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình và Phú Thọ Bao gồm 12 quận, 17 huyện, 1 thị xã, 177 phường, 386 xã và 21 thị trấn [14]
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Nhờ phù sa bồi đắp, 3/4 diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác Diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức [14]
Dân số toàn thành phố năm 2015 là 7.390.900 người, trong đó dân số nội thành là 3.629.500 người chiếm 49,1% tổng số dân; dân số khu vực nông thôn là 3.761.400 người Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km² Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa mật độ dưới 1.000 người/km² Cư dân Hà Nội chủ yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1% Các dân tộc khác như Dao, Mường, Tày chiếm 0,9% Hà Nội có lực lượng lao động dồi dào, số lượng người ở độ tuổi lao động chiếm 4,3 triệu người, chủ yếu là lao động trẻ, trong
đó có khoảng 1,5 triệu công nhân có trình độ chuyên môn, tay nghề cao, năng động, sáng tạo Nhân dân Hà Nội có truyền thống cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, trong giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân gian và truyền thống anh dũng, kiên cường chống giặc ngoại xâm [29]
Hà Nội là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam với hệ thống trường học từ mầm non đến cao đẳng, đại học và sau đại học Trên địa bàn Hà Nội có hàng trăm trường đại học, cao đẳng, trung cấp dạy nghề… đào tạo hầu hết các ngành nghề quan trọng, hàng đầu của Việt Nam, là nơi cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng
và trình độ cao cho nhu cầu lao động của Thủ đô cũng như cả nước
Hà Nội là nơi tập trung các bệnh viện lớn hàng đầu cả nước với trình độ khoa học kĩ thuật hiện đại như: bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, bệnh viện Bạch Mai,… Quốc phòng, an ninh Thủ đô, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm Hệ thống hạ tầng kỹthuật đô thị được duy trì và tập trung đầu tư theo hướng hiện đại và đồng bộ
Về giao thông, Hà Nội là đầu mối giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không lớn nhất của cả nước với sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay