Tài liệu tham khảo kinh tế thương mại: Chất lượng thẩm định tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cao Bằng - Thực trạng và giải pháp
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tín dụng là hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất, là hoạt động sinhlời lớn nhất song cũng mang lại nhiều rủi ro nhất cho ngân hàng thương mại Rủi ronày có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất làm giảm thu nhập, gâythiệt hại về tài chính cũng như uy tín của cả ngân hàng cũng như doanh nghiệp.Chính vì vậy, vấn đề chất lượng thẩm định tín và nâng cao chất lượng thẩm định tíndụng luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các ngân hàng
Trong quá trình đổi mới vừa qua, các DNV&N đã được tạo điều kiện thuậnlợi và có sự phát triển đáng kể cả về lượng và chất, có đóng góp tích cực trên nhiềumặt cho sự phát triển của nền kinh tế Hiện nay việc mở rộng cho vay đối tượngDNV&N cho phép phân tán rủi ro cho các ngân hàng thương mại Để nâng cao hơnnữa chất lượng, hiệu quả và tăng quy mô đầu tư, hạn chế rủi ro tín dụng DNV&N,các Ngân hàng thương mại phải không ngừng nâng cao chất lượng thẩm định tíndụng đối với loại hình doanh nghiệp này
Xuất phát từ thực tiễn quan sát, tìm hiểu nghiên cứu hoạt động tín dụng nóichung và công tác thẩm định tín dụng DNV&N nói riêng, em đã lựa chọn đề tài
“Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng DNV&N tại Ngân hàng Đầu tư và pháttriển Cao Bằng” cho chuyên đề thực tâp của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Chuyên đề chỉ rõ những thành công và những khó khăn trong hoạt động thẩmđịnh tín dụng đối với khách hàng là DNV&N tại BIDV Cao Bằng Từ đó chuyên đềxây dựng và đề xuất các ý kiến mang tính khoa học, thích hợp và có hiệu quả hơnvào công tác này
3 Đối tương và phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài về thẩm định tín dụng DNV&N do đó đối tượng nghiêncứu của đề tài này là toàn bộ những nội dung liên quan đến công tác phân tích, đánhgiá khách hàng là DNV&N trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Phạm vi nghiêncứu của chuyên đề là nghiên cứu về công tác thẩm định tín dụng khách hàng làDNV&N tại BIDV Cao Bằng
Trang 2Chương I CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ( DNV&N)
1 Khái niệm và đặc điểm của DNV&N
Doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân hoạtđộng sản xuất kinh doanh trên thị trường vì mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợinhuận
Hiện nay doanh nghiệp được xem là một trong những “ tế bào ”chủ yếu nhất.Chính sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đã tạo nên sức sống mới cho nềnkinh tế Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các DNV&N hiện nay ngày càng thuhút sự quan tâm của đông đảo dư luận, các cơ quan hoạch định chính sách và cácnhà tài trợ trong và ngoài nước
Việc đưa ra khái niệm chuẩn về DNV&N sẽ có ý nghĩa to lớn trong việcnghiên cứu, hỗ trợ, mở rộng và phát triển DNV&N Tuy nhiên, khái niệm DNV&Nchỉ mang tính tương đối, nó khác nhau giữa các nước, thay đổi theo thời kỳ pháttriển kinh tế xã hội của từng nước, giới hạn chỉ tiêu DNV&N được quy định trongcác ngành nghề khác nhau Chỉ tiêu này được quy định trong từng thời kỳ cụ thể vàluôn có sự thay đổi phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội, đường lối, chínhsách của từng nước trong từng giai đoạn
Nhìn chung, việc phân biệt DNV&N với các loại hình doanh nghiệp khácnhau dựa vào 2 tiêu chí : định tính và định lượng
- Tiêu chí định tính: Tiêu chí này dựa vào những đặc trưng cơ bản của
DNV&N như trình độ chuyên môn hóa, lĩnh vực hoạt động, số đầu mối quảnlý Tiêu thức định tính có ưu thế phản ánh đúng bản chất của các DNV&N nhưngtrên thực tế, nó lại là tiêu thức khó xác định, nên thường chỉ sử dụng làm cơ sở đểtham khảo, kiểm chứng mà ít được dùng để làm cơ sở phân loại
- Tiêu chí định lượng: Đây là tiêu thức chủ yếu mà các nước đang sử dụng để
phân loại DNV&N Tiêu thức này thể hiện trên các yếu tố của doanh nghiệp như sốlượng lao động, số vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, Tiêu chí này phụ thuộc vàonhiều yếu tố như trình độ phát triển kinh tế, tính chất ngành nghề, vùng lãnh thổ,tính chất địa lý, mục đích phân loại,
Trang 3Ở Việt Nam, để tạo điều kiện cho phát triển các DNV&N, Chính Phủ đã banhành các nghị định 90/NĐ-CP ngày 23-11 về trợ giúp phát triển DNV&N, theo
điều3 của nghị định này định nghĩa: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng
ký không quá 10 tỷ đồng, hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của từng ngành, địa phương trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng
cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên ”.
Theo nghị định này thì DNV&N bao gồm :
- Các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, baogồm Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công tyhợp doanh
- Các hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh theo Nghị định số
02/2000/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 03/02/2000
1.2 Đặc điểm của DNV&N
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một loại hình doanh nghiệp, do đó nó mang đầy
đủ những đặc điểm của một doanh nghiệp song nó cũng mang những đặc trưngriêng của một DNV&N Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ có những đặctrưng cơ bản sau:
Thứ nhất DNV&N hoạt động đa dạng, phong phú trong mọi lĩnh vực, mọi
thành phần kinh tế, mọi địa bàn, thu hút nguồn lao động và vốn lớn Theo thống kê
ở Việt Nam số lượng DNV&N chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp,năm 2005 chiếm khoảng 80%, hiện nay thì số lượng này chiếm khoảng trên 90% và
sẽ tiếp tục gia tăng trong các năm tới Các DNV&N chiếm khoảng 31% tổng giá trịsản lượng công nghiệp, chiếm 78% tổng mức bán lẻ, Cả nước có khoảng 50.000DNV&N bao gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tưnhân và 2 triệu Hộ gia đình cá thể
Thứ hai DNV&N có nguồn vốn nhỏ, vì vậy khả năng mở rộng sản xuất kinh
doanh là khó khăn Hầu hết các doanh nghiệp ban đầu hoạt động đều dựa vào nguồnvốn tự có, vốn huy động bên ngoài là rất ít Do vậy hiện nay các doanh nghiệp trênthị trường mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ thì phải huy động vốn trên thị trườngđặc biệt là nguồn vốn từ bên ngoài
Trang 4Thứ ba DNV&N có bộ máy tổ chức quản lý kinh doanh gọn nhẹ, các mối
quan hệ nội bộ là dễ điều chỉnh, số lượng nhân viên ít, vì thế có tính năng động vàtính linh hoạt cao, thích ứng với sự biến động của thị trường Doanh nghiệp có thể
dễ dàng thay đổi loại hình kinh doanh trước sự biến động của thị trường Điều này làmột lợi thế giúp cho DNV&N tiết kiệm thời gian, chi phí, tận dụng được các cơ hộikinh doanh
Thứ tư Sản phẩm DNV&N có lợi thế trong việc nắm bắt nhu cầu thị hiếu của
người tiêu dùng, cung cấp cho thị trường khối lượng lớn sản phẩm với chủng loại đadạng, phong phú và đang dần thay thế hàng nhập khẩu, từng bước chiếm lĩnh thịtrường Tuy nhiên DNV&N có phạm vi hoạt động hẹp, tính ổn định trong thị trườngkhông cao, hầu hết không có định hướng lâu dài trong hoạt động kinh doanh màthường xuyên thay đổi ngành nghề, cơ cấu mặt hàng
Thứ năm Khả năng cạnh tranh trên thị trường của DNV&N là thấp về
phương thức và kinh nghiệm quản lý Thị trường của các DNV&N chủ yếu là phục
vụ các doanh nghiệp lớn như làm nhà cung ứng nguyên vật liệu, đại lý bán hàng,kênh phân phối hoặc là những đoạn thị trường còn bỏ ngỏ, có phạm vi nhỏ, độ sâuhạn chế, những thị trường này chứa đựng nhiều rủi ro và thường xuyên biến độngkhiến cho hoạt động của DNV&N không ổn định
2 Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế thị trường
Thứ nhất, DNV&N có vai trò quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm,giảm thất nghiệp và góp phần ổn định xã hội
Thứ hai, DNV&N cung cấp một khối lượng sản phẩm lớn, đa dạng và phongphú, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Thứ ba, DNV&N góp phần thu hút vốn đầu tư trong dân cư và sử dụng tối ưucác nguồn lực tại địa phương.Thứ tư, DNV&N góp phần quan trọng trong việc tạolập sự phát triển cân đối và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ
Thứ năm, DNV&N góp phần tăng nguồn hàng xuất khẩu và tăng nguồn thucho Ngân sách Nhà nước
Thứ sáu, DNV&N hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp quy mô lớn, là cơ sở đểhình thành doanh nghiệp lớn
3 Các kênh huy động vốn của DNV&N
Trang 5Các DNV&N với xuất phát điểm là nguồn vốn ít, vốn tự có là rất hạn chế, chỉchiếm khoảng 5%-10% nguồn vốn trong kinh doanh, do đó để đáp ứng nhu cầu sảnxuất kinh doanh họ bắt buộc phải huy động vốn từ rất nhiều nguồn khác nhau Đốivới DNV&N, họ có thể huy động từ các nguồn sau :
- Kênh huy động vốn không chính thức
+ Vay thông qua mua hàng trả chậm
+ Vay lẫn nhau giữa các doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi
+ Vay từ người thân
+ Vay từ những người cho vay nặng lãi
Ở Việt Nam, vốn huy động không chính thức chiếm tỷ lệ khá cao Điều kiệnvay vốn ở kênh này là khá đơn giản chủ yếu là tín chấp, thoả thuận miệng mà khôngcần hợp đồng Tuy nhiên kênh phân phối này cũng có nhiều hạn chế như lãi suất chovay cao, thời hạn ngắn, môi trường quản lý chưa chặt chẽ dẫn đến rủi ro
- Kênh huy động vốn chính thức
+ Nguồn vốn hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ
+ Nguồn vốn tài trợ từ các tổ chức quốc tế : ODA, FDI, ADB,
+ Nguồn vốn huy động trên thị trường chứng khoán: Bằng cách pháthành trái phiếu hoặc bán cổ phiếu ra công chúng doanh nghiệp sẽ huy động đượclượng vốn mà mình cần Hiện nay đã có một số DNV&N niêm yết trên thị trườngchứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên để có thể huy động vốntrên thị trường này các doanh nghiệp cần phải có uy tín, hoạt động hiệu quả, có khảnăng phát triển
+ Nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Đây là kênh huy động vốn chính củacác DNV&N Song hiện nay, các ngân hàng còn rất hạn chế cho vay đối tượng này,
vì các DNV&N chưa đáp ứng được các yêu cầu cần thiết để được vay vốn dẫn đếnnguy cơ rủi ro cho các ngân hàng
II Hoạt động tín dụng của ngân hàng th ươ ng mại (NHTM) đối với DNV&N
1 Khái niệm tín dụng của NHTM
Tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hoá ) giữa bên cho vay(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, vàcác chủ thể khác), trong đó bên đi vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụngtrong một thời hạn nhất định trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi
Trang 6vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạnthanh toán.
Từ khái niệm trên, bản chất tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sởhoàn trả và có các đặc trưng sau:
• Tài sản giao dịch trong quan hệ ngân hàng bao gồm hai hình thức là chovay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản) Trong những năm 1960 trở
về trước, hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho vay bằng tiền Xuất phát từtính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho vay được coi là đồng nghĩavới nhau Từ những năm 1970 trở lại đây, dịch vụ cho thuê vận hành và cho thuê tàichính đã được các ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác cung cấp cho kháchhàng Đây là một sản phẩm kinh doanh của ngân hàng, một hình thức tín dụng bằngtài sản thực (nhà ở, văn phòng làm việc, máy móc - thiết bị)
• Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tàisản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn.Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng Trong thực tế, một số nhân viêntín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm vềkhách hàng mà lại chú trọng đến các bảo đảm, chính quan điểm này đã làm ảnhhưởng đến chất lượng tín dụng Cần lưu ý rằng các bậc tiền bối đã bằng từ “credo”hoặc “tín” để đặt tên cho “credit” hoặc “tín dụng” không phải là vấn đề ngẫu nhiên
• Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cáchkhác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc Để thực hiện đượcnguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nóicách khác phải xác định lãi suất thực dương (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ
lệ lạm phát) Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau nêntrong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạm phát, ngoại
lệ này chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn
• Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam kếthoàn trả vô điều kiện Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tíndụng như hợp đồng tín dụng, khế ước… thực chất là lệnh phiếu (promissory note),trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạnthanh toán
2 Vai trò tín dụng của NHTM đối với DNV&N
Trang 7Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các hình thức của tín dụng ngânhàng cũng ngày càng đa dạng, phong phú và hiện đại, vai trò tín dụng của ngân hàngngày càng tăng lên, đặc biệt đối với DNV&N
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ hỗ trợ sự ra đời và phát triểncủa các DNV&N tín dụng ngân hàng không những hỗ trợ vốn cho các DNV&Ntrong quá trình hợt động và phát triển mà ngay từ khi hình thành và đi vào hoạt độngban đầu, nếu không có nguồn hỗ trợ tích cực của tín dụng từ ngân hàng thì nhiềudoanh nghiệp cực kỳ khó khăn, thậm chí không hình thành được
Tín dụng ngân hàng là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho DNV&N phát triển.Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thường dựa vào ba nguồn vốn chủ yếu
là vốn từ ngân sách, vốn ngân hàng và vốn tự có Tuy nhiên, đối với DNV&Nnguồn vốn ngân sách cấp rất ít ỏi, nguồn vốn tự có thì hạn chế Chính vì vậy tíndụng ngân hàng là nguồn vốn quan trọng giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển.Tuy nhiên, trong thực tiễn không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tiếp cận nguồnvốn tín dụng từ ngân hàng Sự mở cửa của thị trường vốn tín dụng ngân hàng còntuỳ thuộc vào môi trường đầu tư và các yếu tố liên quan khác Các ngân hàng có khảnăng huy động mọi nguồn vốn trong nền kinh tế và các tầng lớp dân cư để đáp ứngvốn cho các doanh nghiệp Việc đa dạng hoá các hình thức huy động vốn thích hợp,tạo điều kiện khuyến khích người gửi tiền vào ngân hàng đã làm cho nguồn vốn củangân hàng luôn tăng trưởng trong những năm qua Việc huy động vốn của ngânhàng liên tục tăng lên, song khả năng vay vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh
tế nói chung, đặc biệt các DNV&N còn bị ràng buộc bởi thể chế tín dụng và môitrường pháp lý chưa đồng bộ nên việc doanh nghiệp thiếu vốn là điều tất yếu trongnền kinh tế thị trường
Tín dụng ngân hàng giúp DNV&N nâng cao năng lực cạnh tranh Tín dụngngân hàng với cơ chế hoạt động cơ bản là vay có hoàn trả theo thời hạn quy định cảgốc và lãi, nếu quá hạn doanh nghiệp phải chịu lãi phạt cao, điều này thúc đẩy cácdoanh nghiệp, trong đó có DNV&N nâng cao hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn.Nếu như trước đây, các doanh nghiệp cạnh tranh chủ yếu thông qua giá cả của sảnphẩm thì ngày nay với xu thế toàn cầu hoá, cạnh tranh lại chuyển sang chất lượng vàmẫu mã sản phẩm Muốn cạnh tranh được, đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừngđổi mới công nghệ, đặc biệt đối với DNV&N nước ta thì đổi mới công nghệ không
Trang 8những đòi hỏi để phát triển mà còn cấp thiết cho sự tồn tại Vì vậy tín dụng của ngânhàng là nguồn vốn quan trọng giúp các DNV&N có thể đổi mới thiết bị công nghệ.
Tín dụng ngân hàng điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, khuyến khích phát huylợi thế về tài nguyên và kỹ thuật truyền thống để phát triển DNV&N Tính linh hoạt
và kịp thời vốn có của tín dụng ngân hàng có vai trò điều chỉnh mọi mối quan hệvay vốn giữa DNV&N đối với ngân hàng Mặt khác, kinh doanh trong nền kinh tếthị trường, ngân hàng trở thành người đi vay để cho vay, song điều đó không hề phủnhận vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động của khu vực này Bởivậy, chiến lược kinh doanh nói chung và nói riêng của ngân hàng đều bao trùmtrong đó vai trò điều chỉnh cơ cấu và khuyến khích phát triển DNV&N theo mụctiêu của Đảng và Nhà nước
Tín dụng ngân hàng góp phần tích cực hình thành đồng bộ hệ thống các yếu
tố “đầu vào” và “đầu ra” cho các DNV&N Đa số các DNV&N có vốn lưu động tự
có rất thấp so với nhu cầu cần thiết Nguồn vốn để mua vật tư, hàng hoá dự trữ chosản xuất kinh doanh chủ yếu được bù đắp bằng vốn tín dụng ngân hàng Mặt khác,tín dụng ngân hàng cũng tác động mạnh mẽ vào việc tiêu thụ sản phẩm cho cácdoanh nghiệp thông qua mở rộng tín dụng tiêu dùng, cho vay hoặc bảo lãnh để các
tổ chức kinh tế, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá Tuy nhiênngân hàng chỉ cho vay những đối tượng hàng hoá có chất lượng cao, có sức cạnhtranh tốt, qua đó thúc đẩy việc xác lập cơ cấu kinh tế mới theo hướng tiến lên hiệnđại
3 Các hình thức tín dụng của NHTM
Dựa theo nhu cầu tài trợ vốn của DNV&N, ngân hàng thường phân theo tiêuthức thời hạn cấp tín dụng Khi đó sẽ có hai hình thức tín dụng là : Tín dụng ngắnhạn, tín dụng trung và dài hạn
a Tín dụng ngắn hạn : Là khoản cho vay mà thời hạn không quá 12 tháng
nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầuvốn thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động, Đây là loại tín dụng cómức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, lạmphát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế Vì thế lãi suất thường thấp hơn sovới loại tín dụng khác
Có hai hình thức tín dụng ngắn hạn :
- Tín dụng ứng trước : Là hình thức ngân hàng ứng trước tiền cho doanh
nghiệp để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn Có hai phương thức ứng trước là
Trang 9: cho vay từng lần và cho vay theo hạn mức tín dụng Cho vay từng lần là việc cấp tín dụng dựa trên cơ sở nhu cầu cho vay của từng đối tượng cụ thể Cho vay theo hạn mức tín dụng là sự thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng về việc ngân hàng
sẽ dành cho doanhh nghiệp một mức dư nợ nhất định trong một thời gian xác định
và doanh nghiệp có thể rút bất cứ lúc nào trong thời gian đó Phương thức cho vaytheo hạn mức tín dụng mà các NHTM Việt Nam thường áp dụng là thấu chi Thấuchi là phương pháp ngân hàng chấp nhận cho doanh nghiệp rút tiền vượt quá mộtmức nhất định và trong một thời gian nhất định
- Chiết khấu : Là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó doanh nghiệp sẽ
chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đến hạn để đổi lấy một số tiềnbằng mệnh giá của thương phiếu trừ lãi chiết khấu và phí hoa hồng ( nếu có ) Chiếtkhấu là một nghiệp vụ đơn giản, ít rủi ro, mức sinh lời cao
b Tín dụng trung và dài hạn: Là loại tín dụng mà ngân hàng cung cấp nhằm tài
trợ cho nhu cầu vốn thường xuyên của doanh nghiệp, tài trợ cho tài sản cố định vàmột phần tài sản lưu động không thay đổi của doanh nghiệp Thời hạn của tín dụngtrung và dài hạn là trên 1 năm, từ 1 đến 5 năm là tín dụng trung hạn và trên 5 năm làtín dụng dài hạn Đây là hình thức tài trợ có mức độ rủi ro cao do thời gian hoàn vốnchậm, giá trị khoản vay lớn, vì vậy so với tín dụng ngắn hạn thì lãi suất cho vay baogiờ cũng cao hơn
Tín dụng trung và dài hạn gồm có các hình thức sau :
- Tín dụng trung, dài hạn theo dự án đầu tư: Là việc ngân hàng cho khách
hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
và các dự án đầu tư phục vụ đời sống
- Tín dụng tuần hoàn : Được coi là tín dụng trung dài hạn khi thời hạn của
hợp đồng được kéo dài trên 1 năm trong đó ngân hàng cam kết dành cho doanhnghiệp một hạn mức tín dụng Khách hàng rút tiền ra khi cần và trả được nợ khi cónguồn trong thời gian hợp đồng có hiệu lực
- Cho vay đồng tài trợ : Là quá trình cho vay của một nhóm TCTD ( từ hai
TCTD) cho một dự án do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bêntài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp và của các TCTD Cho vay hợp vốn được thể hiện chủ yếu
qua 2 phương thức : cho vay hợp vốn trực tiếp và cho vay hợp vốn gián tiếp Cho vay hợp vốn trực tiếp là phương thức cho vay trong đó các ngân hàng tham gia đều
Trang 10ký kết một hợp đồng tín dụng riêng đối với doanh nghiệp xin vay, doanh nghiệp vàmỗi ngân hàng chỉ có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với hợp đồng mà hai bên đã kýkết, ngoài ra đối với các hợp đồng khác họ không chịu trách nhiệm liên quan Còn
đối với cho vay hợp vốn gián tiếp là phương thức cho vay mà có nhiều ngân hàng
cùng tài trợ vốn cho doanh nghiệp nhưng chỉ thông qua một hợp đồng tín dụng duynhất giữa một ngân hàng làm đại diện với doanh nghiệp Vì thế có thẻ có hai trườnghợp xảy ra : có thể mỗi ngân hàng là một thành viên trong hợp đồng tín dụng, khi đótrách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi ngân hàng thành viên trong hợp đồng tín dụng caohơn và ngược lại doanh nghiệp vay vốn phải có trách nhiệm hoàn trả vốn vay đốivới các ngân hàng thành viên trong hợp đồng tín dụng Với trường hợp ngân hàngtham gia cho vay không phải là thành viên trong hợp đồng tín dụng thì ngân hàngtham gia không có quan hệ pháp lý hoặc nghĩa vụ trực tiếp với doanh nghiệp đi vay
4 Rủi ro tín dụng trong cho vay DNV&N
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhấtcủa ngân hàng thương mại - hoạt động tín dụng Khi thực hiện một hoạt động tài trợ
cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn làcao nhất Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tíndụng sẽ không xảy ra Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào
có thể dự đoán chính xác vấn đề sẽ xảy ra Khả năng hoàn trả tiền vay của kháchhàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàngkhông có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng Do vậy, trên quan điểmquản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan.Nhiều quan điểm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể
đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xácđịnh trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Quản lý rủi ro tín dụng cầnxác định những nguyên nhân cụ thể, xác thực gây rủi ro tín dụng để có biện pháphạn chế
Những nguyên nhân gây bất khả kháng tác động tới người vay, làm họ mấtkhả năng thanh toán cho ngân hàng Ví dụ: Thiên tai, chiến tranh, hoặc những thayđổi tầm vĩ mô (thay đổi Chính phủ, chính sách kinh tế, hàng rào thuế quan…) vượtquá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay
Trang 11Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới người vay, vớibản lĩnh của mình có khả năng dự báo, thích ứng, hoặc khắc phục những khó khăn.Trong những trường hợp khác, người vay có thể bị tổn thất song vẫn có khả năng trả
nợ cho ngân hàng đúng hạn, đủ gốc và lãi Tuy nhiên, khi tác động của nhữngnguyên nhân bất khả kháng đối với người vay là nặng nề, khả năng trả nợ của họ bịsuy giảm
Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếukém trong quản lý, chủ định lừa đảo các bộ ngân hàng, chây ì… là nguyên nhân gâyrủi ro tín dụng Rất nhiều người vay sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợinhuận cao Để đạt được mục đích của mình, họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn ứng phóvới ngân hàng như cung cấp thông tin sai, mua chuộc, …Nhiều người vay đã khôngtính toán kĩ lưỡng hoặc không có khả năng tính toán kĩ lưỡng những bất trắc có thểxảy ra, không có khả năng thích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh.Trong trường hợp còn lại, người vay kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ chongân hàng đúng thời hạn Họ chây ì với hy vọng có thể quỵt nợ, hoặc sử dụng vốnvay càng lâu càng tốt
Chất lượng cán bộ kém không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh giákhông tốt, cố tình làm sai,…là một trong nhưng nguyên nhân của rủi ro tín dụng.Nhân viên ngân hàng phải tiép cận với nhiều nghành nghề, nhiều vùng, thậm chínhiều quốc gia Để cho vay tốt, họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà kháchhàng kinh doanh, môi trường mà khách hàng sống Họ phải có khả năng dự báo cácvấn đề liên quan đến người vay…Như vậy, họ cần phải được đào tạo và tự đào tạo
kỹ lưỡng, liên tục và toàn diện Khi nhân viên tín dụng cho vay đối với khách hàng
mà họ chưa đủ trình độ để hiểu kỹ lưỡng, rủi ro tín dụng luôn rình rập họ Sốngtrong môi trường “tiền bạc”, nhiều nhân viên ngân hàng đã không tránh khỏi cám dỗcủa đồng tiền Họ tiếp tay cho khách hàng rút ruột ngân hàng Như vậy, chất lượngnhân viên ngân hàng bao gồm trình độ và đạo đức nghề nghiệp không đảm bảo lànguyên nhân của rủi ro tín dụng
Để hạn chế rủi ro tín dụng thì một trong những nội dung quan trọng ngânhàng cần phải làm là nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng trước khi cấp tín dụngcho khách hàng
III Ph ươ ng pháp đ ánh giá chất l ư ợng thẩm định tín dụng đối với DNV&N của NHTM
1 Sự cần thiết của công tác thẩm định tín dụng trong cho vay DNV&N
Trang 12Nghiệp vụ cho vay mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, song con
đường tìm kiếm lợi nhuận của các ngân hàng luôn gặp phải một rào cản đó là rủi ro
Để phòng ngừa và hạn chế rủi ro các ngân hàng đã áp dụng nhiều biện pháp, trong
đó biện pháp cơ bản, có vị trí quan trọng số một là phải phân tích, đánh giá kháchhàng một cách toàn diện Nếu khách hàng được đánh giá là tốt thì sẽ được ngânhàng xem xét cho vay Ngược lại, nếu khách hàng nào không đáp ứng được yêu cầucủa ngân hàng thì ngân hàng có quyền từ chối cho vay
Nội dung của việc thẩm định tín dụng là ngân hàng phân tích, đánh giá mọikhía cạnh của doanh nghiệp : năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự,năng lực tài chính, năng lực kinh doanh, thẩm định phương án dự án kinhdoanh, Kết quả thu được từ quá trình phân tích, đánh giá là cơ sở cho ngân hàngđưa ra các quyết định tín dụng như : giá trị tài trợ, lãi suất tài trơ, thời hạn cho vay.Đây cũng là cơ sở để ngân hàng thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Thông qua hoạt động thẩm định tín dụng ngân hàng đã giảm được sự khôngcân xứng về thông tin giữa ngân hàng và doanh nghiệp, giúp cho ngân hàng giảmthiểu rủi ro khi cấp tín dụng Với các cán bộ làm công tác tín dụng có kinh nghiệmthực tế, tiếp xúc với nhiều dự án trong các lĩnh vực khác nhau, mặt khác họ lại dứng
ở vị trí khách quan là người cung ứng vốn khi thực hiện thẩm định dự án, phương áncủa doanh nghiệp có thể đưa ra những lời khuyên có giá trị cho doannh nghiệp, nângcao tính khả thi của dự án
Như vậy công tác thẩm định khách hàng là DNV&N trong hoạt động tíndụng là hết sức cần thiết và cực kỳ quan trọng, đòi hỏi ngân hàng cần có sự đầu tư
cả về tài chính, con người, công nghệ để nâng cao chất lượng thẩm định tíndụng.Việc nâng cao chất lượng tín dụng sẽ giúp ngân hàng lựa chọn chính xác cácphương án, dự án khả thi để cho vay, đẩy mạnh hoạt động cho vay một cách có hiệuquả, giảm thiểu các rủi ro Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với sự tồn tại và pháttriển của ngân hàng, sự phát triển của DNV&N mà còn góp phần tiết kiệm vốn chotoàn xã hội, thúc đẩy mở rộng phát triển, hiệu quả cho nền kinh tế
2 Nguồn thông tin làm cơ sở cho công tác thẩm định tín dụng
Thông tin để phân tích, đánh giá DNV&N nhìn chung gồm hai loại : thôngtin tài chính và thông tin phi tài chính Các thông tin này có thể thu thập từ nhiềunguồn khác nhau
a Thông tin trong hồ sơ vay của khách hàng :
Trang 13Khi doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn sẽ gửi bộ hồ sơ tới ngân hàng, tuỳ theotừng hệ thống ngân hàng mà các ngân hàng sẽ thực hiện theo văn bản hướng dẫn vềcác tài liệu mà doanh nghiệp cần gửi cho ngân hàng Trong hệ thống BIDV thì bộ hồ
sơ mà doanh nghiệp cần lập và gửi đến ngân hàng bao gồm :
- Hồ sơ pháp lý : chứng minh năng lực pháp lý của doanh nghiệp
- Hồ sơ khoản vay : Chứng minh khả năng tài chính của doanh nghiệptrong việc sử dụng vốn và khả năng hoàn trả vốn của doanh nghiệp
- Hồ sơ về phương án, dự án : chứng minh mục đích vay vốn
- Hồ sơ bảo đảm tiền vay
b Thông tin từ các cuộc phỏng vấn trực tiếp với chủ doanh nghiệp ( hoặc người đại diện )
Các thông tin này một mặt giúp cho ngân hàng xác minh được các thông tintrong hồ sơ, ngân hàng có thể có thời gian tìm hiểu những thông tin có liên quan vềkhoản vay mà nó không được thể hiện trong hồ sơ Mặt khác thông qua việc phỏngvấn, tiếp xúc trực tiếp giúp cho CBTD cảm nhận về tính cách, phẩm chất đạo đứccủa chủ doanh nghiệp
c Thông tin từ bên ngoài ngân hàng bao gồm :
- Thông tin từ những nhà cung cấp, những nhà phân phối cho doanh nghiệp: mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp, các nhà phân phối sẽ được quyết địnhviệc thanh toán đúng hạn và đủ giá trị
- Thông tin thu được từ các tổ chức cung cấp thông tin Đây là nguồn thôngtin có độ tin cậy cao và có giá trị Ngân hàng phải trả phí khi sử dụng thông tin này.Hiện nay ở Việt Nam đã có Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) trực thuộc NHNN,trung tâm này tập hợp được một lượng lớn các thông tin về các doanh nghiệp trong
cả nước : tình hình kinh doanh, tình hình nhân sự, điều hành, lịch sử tín dụng củacác doanh nghiệp, phục vụ cho công tác phân tích tín dụng của các NHTM
- Thông tin từ bên ngoài khác : các thông tin từ các cơ quan hữu quan, cơquan chủ quản của các DNV&N, từ phương tiện thông tin đại chúng ( báo, tạp chí ),
từ các ngân hàng khác, đã giúp cho ngân hàng có cơ sở vững chắc để đưa ra quyếtđịnh tín dụng hợp lý
- Thông tin thu thập được qua điều tra tại cơ sở hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, giúp cho CBTD có cái nhìn thực tế về tình hình hoạt động của doanhnghiệp : cơ sở vật chất, cơ cấu tổ chức, số lượng lao động, sổ sách kế toán,
Trang 14d Thông tin từ nội bộ ngân hàng
Đây là thông tin mà ngân hàng có được trong quá trình hoạt động cung ứngdịch vụ cho doanh nghiệp Nó vô cùng quan trọng và đáng tin cậy để ngân hàngphân tích, đánh giá khách hàng Mối quan hệ tín dụng bên trong quá khứ, việc chấphành về thời hạn trả nợ sẽ là cơ sở để ngân hàng tin tưởng vào khả năng trả nợ củadoanh nghiệp
Từ những thông tin thu thập từ các nguồn khác nhau, áp dụng các phươngpháp phân tích đánh giá CBTD sẽ thu được những thông tin mới có giá trị hơn cácthông tin ban đầu phục vụ cho công tác ra quyết định tín dụng
3 Quy trình thẩm định tín dụng
Để chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với kháchhàng, các ngân hàng thường đặt ra quy trình phân tích tín dụng Đó chính là cácbước (hoặc nội dung công việc) mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có liên quantrong ngân hàng phải thực hiện khi tài trợ cho khách hàng
Bước 1: Phân tích trước khi cấp tín dụng
Đây là bước quan trọng nhất, chất lượng của phân tích tín dụng Nội dungchủ yếu là thu thập và xử lý thông tin liên quan đến khách hàng bao gồm năng lực
sử dụng vốn vay và uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận và nguồn ngân quỹ, quyền sởhữu các tài sản và các điều kiện kinh tế khác có liên quan đến người vay
Phương pháp chủ yếu để thu thập và xử lý thông tin:
Phỏng vấn trực tiếp là rất quan trọng, bao gồm việc gặp gỡ trực tiếp giữangân hàng và người vay vốn: Thăm quan nhà xưởng văn phòng, nói chuyện vớigiám đốc và người lao động, xem xét vật thế chấp…Phỏng vấn trực tiếp giúp cán bộngân hàng loại trừ các báo cáo “ma”, cảm nhận cái đang diễn ra…
Mua hoặc tìm kiếm các thông tin qua các trung gian (qua các thông tin quản
lý, qua các bạn hàng chủ nợ khác của người vay, qua các trung tâm thông tin hoặc tưvấn) Rất nhiều người vay lần đầu tiên đến với ngân hàng, hoặc chuyển từ ngânhàng này sang ngân hàng khác Tìm hiểu khách hàng này trong thời gian ngắn làkhông đơn giản Mua hoặc tìm kiếm các thông tin qua các trung gian giúp phân tíchngười vay qua các mối liên hệ của họ, cho thấy uy tín, tình trạng rủi ro, phát triểnhay suy thoái
Trang 15Thông qua các thông tin có được từ báo cáo của người vay Ngân hàng luônyêu cầu người vay vốn phải gửi cho ngân hàng các báo tài chính như bảng cân đối
kế toán (bảng cân đối tài sản), báo cáo thu nhập, báo cáo bán hàng…ngân hàng cũngyêu cầu hoặc mua các thông tin về giám đốc, đội ngũ nhân sự, công nghệ,…củakhách hàng Các báo cáo này cho thấy các số liệu trong nhiều năm đã qua, vì vậygiúp ngân hàng có cơ sở để dự đoán về tình hình của khách hàng trong tương laigần Ngân hàng sử dụng các báo cáo này để ước tính nhu cầu vốn, trong đó có nhucầu tài trợ, các thiệt hại có thể xảy ra nếu khách hàng không trả, hoặc không trả đầy
đủ, giá trị các tài sản có thể phát mại khi cần thiết…
Nội dung thẩm định bao gồm:
• Thẩm định tư cách và uy tín của doanh nghiệp
• Thẩm định năng lực pháp lý của doanh nghiệp
• Thẩm định điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp
• Thẩm định tài chính của doanh nghiệp
• Thẩm định phương án kinh doanh, dự án đầu tư của doanh nghiệp
Bước 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tin dụng là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa người nhận tài trợ(khách hàng) và ngân hàng, với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp chokhách hàng một khoản tín dụng (hoặc hạn mức tín dụng) trong một khoảng thời gian
và lãi suất nhất định Hợp đồng tín dụng là văn bản mang tính tính pháp luật xácđịnh quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín dụng, đồng thời phải tuân thủcác điều khoản của pháp luật, quy định Do vậy cả ngân hàng lẫn khách hàng đềucần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ký kết hợp đồng tín dụng Sau đây là nội dungchính của hợp đồng tín dụng:
Khách hàng: họ tên, địa chỉ, tư cách pháp nhân(nếu có)
Mục đích sử dụng: khách hàng phải ghi rõ vay để làm gì
Số lượng tín dụng: là số tiền (hoặc hạn mức tín dụng) ngân hàng cam kếtcấp cho khách hàng số lượng tín dụng có thể được chia nhỏ trong các khoảng thờigian khác nhau và dưới các hình thức tiền tệ khác nhau
Lãi suất: Hợp đồng tín dụng phải ghi rõ lãi suất mà khách hàng trả đồngthời xác định tính chất của lãi suất (là lãi suất cố định hay biến đổi trong suốt kỳ hạntín dụng) Nếu lãi suất có thay đổi thì phải xác định rõ các điều kiện thay đổi đó
Trang 16 Phí: để có được các cam kết tín dụng có thể khách hàng phải trả cho ngânhàng một khoản phí (ví dụ phí cam kết) được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên hạn mứccam kết Mức phí và các điều kiện nộp phải được thể hiện trong hợp động tín dụng.
Thời hạn tín dụng: Thời hạn tín dụng thường được xác định cụ thể (ngày,tháng, năm) và ghi trong hợp đồng tín dụng, là thời hạn mà trong đó ngân hàng camkết cấp cho khách hàng một khoản tín dụng Thời hạn tín dụng có thể tính từ lúcđồng vốn đầu tiên của ngân hàng được phát ra đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùngphải thu về Thời hạn tín dụng có thể là thời gian mà khi kết thúc, ngân hàng sẽ xemxét lại quan hệ tín dụng với khách hàng Có khoản cho vay không xác định trướcthời hạn như cho vay luân chuyển Khách hàng thoả thuận với ngân hàng về việcngân hàng được quyền trích tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán để thu nợ khi tàikhoản có tiền Thời gian tín dụng có thể được chia thành thời gian đầu tư, thời gian
ân hạn và thời gian trả nợ; thời gian trả nợ có thển được chi thành nhiều kỳ hạn trả
nợ nhỏ Thời gian chiết khấu thương phiếu là thời hạn còn lại của thương phiếu.Thời hạn bảo lãnh là thời gian có hiệu lực của bảo lãnh, được thỏa thuận ghi tronghợp đồng bảo lãnh Nếu là cho thuê, thời gian được tính từ lúc ngân hàng giao tàisản cho khách hàng đến lúc khách hàng hoàn đủ tiền thuê
Các loại đảm bảo: Hợp đồng tín dụng phải ghi rõ các loại đảm bảo (nếu có)cho các khoản tín dụng (kèm theo các hợp đồng phụ) như hợp đồng bảo lãnh, vật tưhàng hoá trong kho, tài sản cố định, hoặc các chứng khoán có giá…Các nội dungquan trọng liên quan đến các đảm bảo như quyền sở hữu, quyền chuyển nhượnghoặc bán, định giá, bảo hiểm, người bảo quản, quyền sử dụng đối với các đảmbảo…đều phải được xác định và ghi rõ trong hợp đồng tín dụng
Giải ngân: Hợp đồng tín dụng thường xác định các điều kiện và kỳ hạn giảingân Thường các khoản cho vay nhỏ và trong thời gian ngắn, ngân hàng cấp tiềnvay môt lần vào đầu kỳ Đối với các khoản vay lớn và trong thời gian dài, ngân hàngcấp tiền theo nhiều kỳ hạn và với các điều kiện cụ thể của mỗi lần cấp vốn Ví dụ,hợp đông ký cho vay 300 triệu trong thời hạn 9 tháng để thanh toán tiền hàng nhậpkhẩu Điều kiện giả ngân là hàng nhập về đến đâu cho vay đến đó (kèm chứng từ),hoặc trả song khoản vay đợt trước mới cấp tiền đợt sau
Điều kiện thanh toán: bao gồm thanh toán tiền gốc và lãi Ngân hàng vàkhách hàng thoả thuận về cách thức thanh toán gốc và lãi (ngày trả, cách trả)
Các điều kiện khác: bao gồm các thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng
về ưu tiên thanh toán, kiểm soát vật thế chấp và các hoạt động khác của người vay,
Trang 17phong toả tài sản, điều kiện và phương thức phát mại tài sản, nộp báo cáo định kỳ,phạt vi phạm hợp đồng…
Bước 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng.
Sau khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết, ngân hàng phải có trách nhiệmcấp tiền (hoặc thanh toán tiền hàng) cho khách hàng như thoả thuận Kèm theo việccấp tín dụng, ngân hàng kiểm soát khách hàng: sử dụng tiền vay có đúng mục đích,đúng tiến độ hay không, quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì,
có dấu hiệu lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ…Quá trình này cho phép ngân hàng thunhập thêm các thông tin về khách hàng nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt,cho thấy chất lượng tín dụng đang được đảm bảo Ngược lại, khi chất lượng khoảncho vay bị đe dọa, ngân hàng cần có các biện pháp xử lý kịp thời Ngân hàng đượcquyền thu hồi nợ trước hạn, ngừng giải ngân, nếu bên vay vi phạm hợp đồng tíndụng Ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản thế chấp, giảm số tiềnvay…khi thấy cần thiết để đảm bảo an toàn tín dụng Đối với ngân hàng đây là bước
đi nguy hiểm Do vậy cho tài trợ gắn liền với kiểm soát khách hàng giúp ngân hàngngăn chặn các ý đồ sử dụng tiền vay không đúng mục đích của khách hàng Đâycũng chính là quá trình ngân hàng thu nhập thêm các thông tin bổ sung cho cácthông tin ở bước 1 và ra các quyết định cụ thể nhằm ngăn chặn kịp thời các khoảntín dụng xấu
Bước 4: Thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới.
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi Các khoản tíndụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn Một sốtrường hợp, các khoản tín dụng đã không hoàn trả hoặc không hoàn trả đủ, đúnghạn việc thanh toán nợ không đúng hạn cho ngân hàng cho thấy các “trục trặc”trong hoạt động của khách hàng Việc xem xét, tìm nguyên nhân là rất quan trọng đểgiúp ngân hàng kịp thời đưa ra các quyết định mới liên quan đến tính an toàn củakhoản tín dụng
Trường hợp khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng, cố tình nợ nần dây dưa,hoặc làm ăn yếu kém không còn phương cách cứu vãn, ngân hàng áp dụng phương
án thanh lý, tức là sử dụng các biện pháp có thể được để thu hồi khoản nợ, bao gồmphong tỏa và bán các tài sản thế chấp, tước đoạt các khoản tiền gửi…
Trang 18Trường hợp khách hàng có khó khăn về tài chính, song vẫn kiên quyết tìmcách khắc khục để trả nợ, ngân hàng thường áp dụng phương án khai thác, bao gồmgia hạn nợ, giảm lãi hoặc cho vay thêm.
4 Nội dung thẩm định tín dụng
4.1 Thẩm định tư cách và uy tín của doanh nghiệp
Tư cách và uy tín của doanh nghiệp đi vay là vấn đề quan trọng đầu tiên ngânhàng quan tâm Tư cách của doanh nghiệp thể hiện ở thiện chí trả nợ, còn uy tín củadoanh nghiệp thể hiện ở lòng tin của các chủ thể kinh tế có quan hệ kinh doanh vớidoanh nghiệp Ngân hàng thường gặp khó khăn trong trong việc phân tích, đánh giá
tư cách, uy tín của doanh nghiệp có quan hệ lần đầu với ngân hàng Vì vậy, việcthẩm định tư cách, uy tín của khách hàng phải dựa trên những thông tin về doanhnghiệp và kỹ năng, kinh nghiệm của cán bộ thẩm định tín dụng Ngân hàng cần xemxét và làm rõ những vấn đề sau:
• Các thông tin mà doanh nghiệp trình bày có nhất quán với những thông tintrong bộ hồ sơ mà doanh nghiệp cung cấp hay không ?
• Những thông tin trong quá khứ của doanh nghiệp có tốt hay không? Nhữngthông tin này thể hiện trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trongnhững năm trước và thông tin những lần vay nợ trước Các hoạt động trong quá khứcủa doanh nghiệp cho thấy cách thức kinh doanh, phẩm chất đạo đức cũng như vănhoá kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó phản ánh chính xác tư cách cũng như uy tíncủa doanh nghiệp
• Những lý lẽ mà doanh nghiệp đưa ra để thuyết phục vay vốn ngân hàng cócường điệu quá trong điều kiện hiện tại hay không? Ngân hàng cần phải so sánhnhững vấn đề khách hàng trình bày với điều kiện thực tế Nếu doanh nghiệp cườngđiệu những khả năng hiện có của mình, biến những bất lợi thành tiềm năng, cơ hội
có tính khả thi cao thì chứng tỏ tư cách của doanh nghiệp là không tốt và ngân hàngcần xem xét kỹ
• Đối với những doanh nghiệp lần đầu có quan hệ với ngân hàng thì ngânhàng cần xem xét, tìm hiểu kỹ tại sao doanh nghiệp lại tìm đến ngân hàng mình chứkhông phải ngân hàng khác Đặc biệt là mối quan hệ của doanh nghiệp với nhữngngân hàng trước
Trang 194.2 Thẩm định năng lực pháp lý của doanh nghiệp
Năng lực pháp lý là khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghĩa vụphải thực hiện Đối với doanh nghiệp đi vay thì năng lực pháp lý của doanh nghiệpchính là khả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghĩa vụ trả nợ Một doanhnghiệp có năng lực pháp lý phải thoả mãn những điều kiện sau :
- Được nhà nước hoặc pháp luật thành lập hoặc thừa nhận
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm trướctài sản đó
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ
- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập
Để đánh giá được tư cách pháp nhân của DNV&N, ngân hàng thường đòi hỏidoanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng các tài liệu như : quyết định thành lập doanhnghiệp, giấy phép dăng ký kinh doanh do cấp có thẩm quyền cấp, quyết định bổnhiệm giám đốc hay những tài liệu chứng minh quyền điều hành hợp pháp của lãnhđạo doanh nghiệp Mục đích của việc đánh giá năng lực pháp lý của doanh nghiệp
để đảm bảo rằng ngân hàng sẽ được pháp luật bảo vệ khi các doanh nghiệp vi phạmcác cam kết
4.3 Thẩm định năng lực kinh doanh của doanh nghiệp
Ngân hàng thường đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp dưới 2góc độ : Nguồn lực và năng lực điều hành của doanh nghiệp
- Nguồn lực của doanh nghiệp : Bao gồm nguồn lực vật chất và nguồn nhân lực của doanh nghiệp Nguồn lực vật chất đó là : cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật,
nguồn cung ứng các yếu tố đầu vào, quy mô, hiện trạng TSCĐ, khả năng khai tháccông suất tài sản, các tài sản vô hình của doanh nghiệp, trong đó phải kể đến tính
tiên tiến và hiện đại của tái sản đó Nguồn nhân lực là số lượng lao động và chất
lượng lao động có khả năng đáp ứng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp,nguồn nhân lực cần đáp ứng các yêu cầu tối thiểu như : trình độ, kỹ năng,văn hóa,
- Năng lực kinh doanh của doanh nghiệp : còn thể hiện ở năng lực điều hành
của lãnh đạo doanh nghiệp Khi xem xét phân tích, CBTD cần đánh giá họ về nănglực chuyên môn, năng lực điều hành, năng lực tài chính và uy tín người lãnh đạo, Điều hành được thể hiện trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp như : khả năngnắm bắt cơ hội kinh doanh, cách thức phản ứng với sự thay đổi của thị trường, uy tín
Trang 20trong nội bộ và uy tín với các bạn hàng, kiến thức, kinh nghiệm trong quản lý doanhnghiệp,
4.4 Thẩm định môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Đây là các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bao gồm môi trường vi mô và môi trường vĩmô
- Môi trường vĩ mô : Là tổng thể các nhân tố về kinh tế, văn hoá xã hội,
chính sách điều hành của nhà nước, lạm phát, tỷ giá, ảnh hưởng tới hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi nền kinh tế đang trong thời kỳ tăng trưởngdoanh nghiệp có cơ hội mở rộng sản xuất vì vậy vốn vay từ ngân hàng sẽ phát huyhiệu quả, doanh nghiệp có xác suất vỡ nợ thấp Còn khi nền kinh tế đang trong thời
kỳ suy thoái điều kiện kinh doanh sẽ trở nên khó khăn hơn cho doanh nghiệp, việccho doanh nghiệp vay cần được xem xét kỹ lưỡng mục đích vay Hay khi nhà nước
có chính sách ưu tiên cho phát triển DNV&N thì việc cho vay với các doanh nghiệpcũng sẽ được các ngân hàng khuyến khích
- Môi trường vi mô : là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất
kinh doanh của DNV&N Bao gồm các nhân tố : Người cung cấp, người mua, sự gianhập ngành, sản phẩm thay thế Với DNV&N hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thìnhà cung cấp đóng vai trò quyết định số lượng và chất lượng sản phẩm Các doanhnghiệp bị phụ thuộc vào nhà cung cấp thì có thể xảy đến tình trạng các nhà cung cấpcâu kết với nhau trong hạn chế nguồn cung ứng, hoặc nâng giá bán, hạ chất lượng.CBTD cần tư vấn cho doanh nghiệp đa dạng hoá nguồn hàng cung cấp hoặc tìm cácnguyên vật liệu thay thế
CBTD cũng cần phải xem xét mặt hàng kinh doanh chủ yếu của doanhnghiệp là gi ? Đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng như thế nào? Sản phẩm này cónhiều sản phẩm thay thế khác trên thị trường hay không? Tính khác biệt của sảnphẩm doanh nghiệp? Dự báo xu hướng biến đổi của người mua kết hợp với kếhoạch phát triển của doanh nghiệp trong tương lai để đánh giá tiềm năng phát triểncủa doanh nghiệp
Tóm lại, thông qua phân tích, đánh giá môi trường kinh doanh của doanhnghiệp sẽ giúp cho CBTD có cơ sở đánh giá cơ hội và thách thức của doanh nghiệp
Từ đó đưa ra những lời tư vấn cho doanh nghiệp khi thực hiện
Trang 21Thẩm định năng lực tài chính của khách hàng
Đánh giá tài sản của khách hàng:
Các doanh nghiệp đều có bảng cân đối kế toán (bảng cân đối tài sản), trong
đó phần tài sản phản ánh số kết dư giá trị tài sản tại một thời điểm, hoặc kết dư trungbình trong kỳ Đối với hộ, hoặc người tiêu dùng ngân hàng yêu cầu các thông tin vềtình hình kinh doanh, tài sản cá nhân, lương và các khoản thu nhập khác Các thôngtin về tài sản cho thấy quy mô, chất lượng tài sản, khả năng quản lý của khách hàngrất quan trọng đối với quyết định cho vay Hơn nữa, tài sản (tất cả hoặc một phần )của khách hàng luôn được coi là vật đảm bảo cho khoản vay, tạo khả năng thu hồi
nợ khi khách hàng mất khả năng sinh lời
• Ngân quỹ: Bao gồm tiền gửi ngân hàng, tiền mặt trong két, các khoản phảithu Tiền gửi và tiền mặt là tài sản có thể dùng để chi trả ngay, song thường chiếm
tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản của khách hàng Các khoản phải thu (chủ yếu là tiềnbán hàng hoá và dịch vụ chưa thu được tiền ) luôn có khả năng chuyển thành tiềngửi hoặc tiền mặt Ngân hàng cần xem xét kỹ các khoản này để loại trừ các khoảnbán chịu không thu được, khó thu được hoặc đã bán lại cho người khác Các khoảncho vay ngắn hạn liên quan chặt chẽ tới tình hình ngân quỹ của khách hàng, đặc biệtthời hạn cho vay có thể tính toán dựa trên số ngày của kỳ thu tiền
• Các chứng khoán có giá: Là các tài sản tài chính của doanh nghiệp Các tàisản này tăng nguồn thu và có thể mang bán khi thiếu tiền mặt để chi trả
• Hàng hoá trong kho: Rất nhiều các món vay ngắn hạn với mục tiêu tăng dựtrữ hàng hoá, có nghĩa là một phần hàng hoá trong kho được hình thành từ vốn ngânhàng Do đó, ngân hàng quan tâm tới số lượng, chất lượng, giá cả, mẫu mã, bảohiểm, rủi ro đối với hàng hoá trong kho Ngoài xem xét trên sổ sách, ngân hàng cònyêu cầu người vay mở kho hàng kiểm tra để loại trừ hàng hoá kém, mất phẩm chất,chậm tiêu thụ, phát hiện hàng giả, hàng người khác gửi…
• Tài sản cố định: Gồm nhà cửa, sân bãi, trang thiết bị, phương tiện vậnchuyển, thiết bị văn phòng…thường là đối tượng tài trợ trung và dài hạn
Đánh giá các khoản nợ
Nợ của người vay có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau
Về thời gian: gồm nợ ngắn hạn (vay ngắn hạn) và nợ trung và dài hạn (vaytrung và dài hạn); ngân hàng còn xem xét các khoản nợ đế hạn trong năm (cáckhoản nợ ngắn và trung, dài hạn phải trả trong năm) và các khoản nợ phải trả trong
Trang 22các năm sau Nhìn chung, các khoản vay ngắn hạn thường dùng tài trợ cho tài sảnlưu động, còn các tài khoản trung và dài hạn dùng tài trợ cho tài sản cố định Do đó,tính tương quan giữa chúng là đối tượng phân tích của ngân hàng Nếu khoản chovay của ngân hàng phải trả trong năm thì các khoản nợ đến hạn của ngân quỹ trongnăm của khách hàng là hai yếu tố chính tạo nên quyết định của ngân hàng Ngânhàng cũng quan tâm tới nợ quá hạn và các nguyên nhân.
Ngân hàng quan tâm tới tất cả các chủ nợ của khách hàng: Có thể là cáckhoản nợ cũ, các khoản nợ của ngân hàng khác, nợ người cung cấp, nợ người laođộng Vị trí của ngân hàng trong danh sách chủ nợ luôn được nghiên cứu kỹ lưỡng.Nếu ngân hàng giành vị trí quan trọng nhất, nó dễ dàng thu được nợ hơn là vị tríkhác
Ngân hàng cũng xem xét các khoản nợ ưu đãi, nợ có đảm bảo và nợ khác.Các tài sản đã là đảm bảo cho khoản vay cũ cần phải được tính lại theo giá thịtrường và bị loại trừ; nếu chúng được lấy làm tài sản đảm bảo cho khoản vay mới thìcần tính toán giá trị dôi thừa so với tiền vay cũ
Phân tích luồng tiền
Nhiều khách hàng tạo ra lợi nhuận trong quá khứ, thậm chí có khả năng tạo
ra lợi nhuận trong tương lai Tuy nhiên việc trả nợ ngân hàng lại liên quan chặt chẽtới ngân quỹ của người vay (ví dụ cho vay tiêu dùng, nguồn trả nợ là các khoản thunhập bằng tiền của người vay, kỳ hạn thu nợ có thể lệch pha với các khoản thu củangười vay) Trong khi lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sinh lời,trên thực tế, tỷ lệ dòng tiền /tổng các khoản nợ là chỉ tiêu quan trọng nhất đối vớiviệc dự đoán các vấn đề tín dụng trong tương lai Tuy nhiên, nhiều khoản mục liênquan đến dòng tiền không được chỉ dẫn đầy đủ trong cân đối tài sản công ty: Phầnlớn luồng tiền sau tháng 12 đều không ghi vào bảng cân đối (các tài khoản chỉ ghilại nhữ gì đã xảy ra trong năm vừa qua), phần lớn các trách nhiệm thanh toán khôngđược chỉ ra trong cân đối khi mà vào thời điểm đó nó không tồn tại Bán hàng lànguồn tiền quan trọng để trả nợ song bảng cân đối trình bày rất ít về bán hàng
Để hỗ trợ cho ngân hàng và khách hàng, các luồng tiền trong tương lai- phụthuộc vào kế hoạch chi tiêu trong tương lai- cần được dự kiến Kế hoạch này ghi lạivận động hàng tháng của các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản thanhtoán hàng tháng Người vay có lợi nhuận trong hiện tại có thể có dự án chi trong
Trang 23tương lai cao và với doanh thu bán hàng không đổi, sẽ có thể có luồng tiền âm(không có khả năng chi trả).
Phân tích tài chính doanh nghiệp thông qua các hệ số tài chính
Các chỉ tiêu chính dùng để phân tích tài chính doanh nghiệp có thể được chialàm bốn nhóm sau:
Nhóm các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Chỉ tiêu Khả năng thanh toán ngắn hạn : chỉ tiêu này thường được dùng trong
việc đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp Chỉ tiêu này có thể tính đượcdựa vào số liệu từ Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp qua công thức sau
Khả năng thanh toán ngắn hạn =
Chỉ tiêu này cho thấy doanh nghiệp có đủ tài sản lưu động có thể chuyển đổi
ra tiền trong thời gian ngắn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không Rõràng chỉ tiêu này cần phải lớn hơn 1, nếu không doanh nghiệp dễ gặp khó khăntrong thanh toán nợ đúng hạn
Nhược điểm của chỉ tiêu này là cho thấy tỷ lệ giữa TSLĐ và ĐT ngắn hạn và
Nợ ngắn hạn nhưng không cho thấy độ lớn tuyệt đối chênh lệch giữa hai khoản mụcnày, từ đó không cho thấy khả năng thanh toán thực tế của doanh nghiệp khi so sánhhai doanh nghiệp có cùng tỷ lệ thanh toán ngắn hạn Để khắc phục nhược điểm củachỉ tiêu này, người ta thường phân tích nó kết hợp với một chỉ tiêu phân tích nữa, đó
là chỉ tiêu Vốn lưu động ròng
Chỉ tiêu Vốn lưu động ròng: là phần chênh lệch giữa TSLĐ và ĐT ngắn hạn
và Nợ ngắn hạn hay nói cách khác, đây là phần tài sản lưu động được đầu tư bằngnguồn vốn có tích chất trung và dài hạn
Vốn lưu động ròng = TSLĐ và ĐT ngắn hạn - Nợ ngắn hạn
Như vậy, nếu hai doanh nghiệp cùng loại, hoạt động cùng ngành nghề và cócùng tỷ lệ thanh toán ngắn hạn, doanh nghiệp nào có vốn lưu động ròng tốt hơn thì
sẽ có khả năng thanh toán nợ tốt hơn
Chỉ tiêu Khả năng thanh toán nhanh: trong nhiều trường hợp doanh nghiệp
không thể chuyển ngay toàn bộ tài sản lưu động sang thành tiền Một bộ phận lớnnguyên, nhiên, vật liệu được dự trữ để tạo ra thành phẩm cuối cùng Thành phẩm
Trang 24này lại được đưa vào dự trữ để bán dần Ngoài ra, một bộ phận thành phẩm đượcbán ra dưới dạng bán chịu Có nghĩa là quá trình từ hàng tốn kho chuyển sang tiềnkhông phải lúc nào cũng diễn ra ngay lập tức mà phải trải qua một thời gian Chỉtiêu thanh toán nhanh nhằm đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp trongtrường hợp không kể những tài sản chậm chuyển ra tiền trong tài sản lưu động Cóhai cách để tính chỉ tiêu này:
Khả năng thanh toán nhanh =
Hoặc
Khả năng thanh toán nhanh =
Chỉ tiêu này bằng 1 thì qủa là lý tưởng cho các doanh nghiệp có vòng quayhàng tồn kho chậm Còn doanh nghiệp có vòng quay hàng tồn kho nhanh thì chỉ tiêunày có thể nhỏ hơn 1
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động
Chỉ tiêu Vòng quay hàng tồn kho: (Inventory turnover ratio)
Chỉ tiêu Kỳ thu tiền bình quân: (Average collection period ratio)
Công thức:
Kỳ thu tiền bình quân =
Chỉ tiêu này cho thấy thời hạn tín dụng thương mại bình quân mà doanhnghiệp áp dụng cho khách hàng của mình Ngoài ra, thời gian quay vòng các khoản
Trang 25phải thu còn dùng để đánh giá hiệu quả việc kiểm soát các khoản phải thu của doanhnghiệp và quy mô các khoản phải thu.
Cần chú ý rằng chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân có thể không phản ánh đượcthời hạn tín dụng bình thường trong năm của doanh nghiệp nếu Bảng cân đối kếtoán lập ra ở một thời điểm đặc biệt
Chỉ tiêu Vòng quay tài sản cố định: (Fixed assets turnover ratio)
Trang 26Chỉ tiêu Khả năng trả lãi: (Interest coverage ratio)
Công thức:
Khả năng trả lãi =
Chỉ tiêu này đo lường mức độ an toàn của thu nhập có thể trả lãi cho các chủnợ
Nhóm các chỉ tiêu khả năng sinh lời
Chỉ tiêu mức sinh lời trên doanh thu: (Profit margin on sales ratio)
Công thức:
Mức sinh lời trên doanh thu =
Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lãi trên một đồng doanh thu
Chỉ tiêu thu nhập trên tổng tài sản: (Return on Total assets ratio)
Công thức:
Thu nhập trên tổng tài sản =
Hệ số này phản ánh cứ 1 đồng tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh đem lạicho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận.Chỉ tiêu này cho thấy tính hiệu quả củaviệc sử dụng các tài sản hiện hữu của doanh nghiệp hay nói cách khác là khả năngtạo lợi nhuận của tổng tài sản
Chỉ tiêu thu nhập trên vốn chủ sở hữu:
Công thức:
Thu nhập trên vốn chủ sở hữu =
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và nó được cácnhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp.Tăng thu nhập trên vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt độngquản lý tài chính doanh nghiệp
Chỉ tiêu thu nhập trên vốn thuần: (Return on net worth ratio)
Công thức:
Thu nhập trên vốn thuần =
Trang 27Chỉ tiêu này cho biết tính hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn sở hữu, baogồm cả tính hiệu quả của cơ cấu tài chính.
Tóm lại, năng lực tài chính của doanh nghiệp là một nội dung cực kỳ quantrọng trong công tác thẩm định tín dụng doanh nghiệp, nó phản ánh khả năng tàichính của doanh nghiệp để có thể đối phó với những biến động và cạnh tranh trongnền kinh tế thị trường Ngân hàng đánh giá đúng năng lực tài chính của doanhnghiệp sẽ giúp cho ngân hàng có cơ sở quyết định cho vay đúng đắn, nếu đánh giásai sẽ là mối nguy hiểm và là nguy cơ rủi ro cho ngân hàng
4.6 Thẩm định phương án kinh doanh và dự án vay vốn
Thẩm định phương án kinh doanh
- Mục đích của phương án kinh doanh
- Tổng nhu cầu vốn của phương án
- Hiệu quả kinh tế của phương án
- Đánh giá xem sự cần thiết của việc thực hiện dự án
- Lợi ích mà dự án sẽ đem lại cho chủ đầu tư, cho địa phương, cho nền kinh
tế là gì nếu dự án được thực hiện?
- Mục tiêu cần đạt được của dự án là gì?
- Các mục tiêu của dự án có phù hợp với mục tiêu chung của ngành và củađịa phương hay không?
Thẩm định nội dung thị trường của dự án
Việc thực hiên dự án phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường, thị trường sẽ lànơi đánh giá chất lượng, khả năng tiêu thụ của sản phẩm và hiệu quả của dự án đầu
tư Ngân hàng cần xem xét các vấn đề:
Trang 28- Nhu cầu của thị trường về sản phẩm như thế nào, xu hướng của thị trường
về sản phẩm Ngân hàng cần lưu ý kỹ đối với những sản phẩm lần đầu tiên xuất hiệntrên thị trường
- Phân tích về thị trường tiêu thụ và đối tượng khách hàng
- Đánh giá phương thức tiêu thụ sản phẩm, xem xét phương thức tiêu thụ cókhả thi hay không
- Phân tích khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Thẩm định phương diện kỹ thuật của dự án
- Đánh giá về địa điểm thực hiện dự án
- Đánh giá về quy mô, công suất của dự án đầu tư
- Đánh giá về kỹ thuật, công nghệ của dự án
- Đánh giá về nguồn nguyên vật liệu đầu vào cho dự án
- Phân tích, đánh giá về tổ chức xây dựng dự án đầu tư
Thẩm định phương diện tổ chức nhân sự của dự án
Ngân hàng cần tìm hiểu, xem xét việc sắp xếp, bố trí ban điều hành, nhânviên thực hiện dự án, trình độ chuyên môn của các chuyên gia và nhà tư vấn
Thẩm định về hiệu quả tài chính của dự án
- Phân tích, đánh giá tổng nguồn vốn đầu tư và cơ cấu nguồn vốn đầu tư:xác định vốn đầu tư vào tài sản lưu động, vốn đầu tư vào tài sản cố định, cách thứchuy động vốn từ các nguồn khác nhau
- Phân tích chi phí và lợi ích của dự án: Những chi phí trực tiếp liên quanđến dự án thường bao gồm: chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí thuê máy mócthiết bị…Lợi ích của dự án, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, có thể là mức gia tăngdoanh thu, cải tiến chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, giảm mức thua lỗ…
- Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án như: Giá trị hiệntại ròng (NPV), Tỷ lệ nội hoàn (IRR), Tỷ lệ nội hoàn có điều chỉnh (MIRR), Chỉ sốdoanh lợi (PI), Thời gian hoàn vốn (PP)
Đánh giá rủi ro của dự án
Trang 29Đánh giá khả năng xảy ra một biến cố không chắc chắn trong các giai đoạncủa dự án Ngân hàng có thể đánh giá mức độ rủi ro của dự án bằng các phươngpháp sau:
- Phương pháp hệ số chiết khấu
- Phương pháp hệ số tin cậy
- Phương pháp độ lệch chuẩn
- Phương pháp phân tích độ nhạy
4.7 Thẩm định tài sản đảm bảo
Bảo đảm tín dụng là biện pháp phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp
lý để thu hồi đầy đủ khoản tín dụng đã cấp Ngoài ra đảm bảo tín dụng gắn tráchnhiệm vật chất của doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn vay đem lại hiệu quả caonhất Tài sản dùng làm tài sản đảm bảo cần thoả mãn các điều kiện sau :
- Tính pháp lý: tức là tài sản đó thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
( hoặc quyền sử dụng đất hợp pháp ) , tài sản đó phải được phép giao dịch Có nghĩa
là các tài sản mà nhà nước có quy định cấm kinh doanh, cấm mua bán, chuyểnnhượng, tài sản còn đang tranh chấp, tài sản đang bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ,niêm phong, phong toả, tài sản đang thực hiện nghĩa vụ khác, không đựoc dùnglàm bảo đảm nợ vay ngân hàng Ngoài ra tài sản cần phảo được mua bảo hiểm đốivới những tài sản mà nhà nước quy định bắt buộc phải mua bảo hiểm
- Tính kinh tế : được đo lường bằng khả năng chuyển hoá tài sản bảo đảm
thành tiền một cách sớm nhất và chi phí bỏ ra ít nhất Để thoả mãn được điều này,cán bộ thẩm định cần phải xem xét tính ổn định về giá cảu tài sản đảm bảo, định giágiá trị của tài sản đảm bảo một cách hợp lýphù hợp với giá thị trường
Bảo đảm bằng tài sản là hình thức người vay sử dụng tài sản thuộc sở hữuhợp pháp của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thanh trả nợ Có hai hình thứcbảo đảm bằng tài sản :
- Bảo đảm bằng thế chấp tài sản : là hình thức bảo đảm tín dụng mà tài sản
thế chấp là bất động sản do doanh nghiệp vay vốn hoặc người thứ ba trực tiếp nắmgiữ, cón ngân hàng chỉ giữ giấy tờ sở hữu và văn thư thế chấp Các bất động sảnthường được dùng để thế chấp : nhà cửa, đất đai, công trình xây dựng gắn liền vớiđất,
- Bảo đảm bằng cầm cố tài sản : là hành vi doanh nghiệp giao nộp tài sản là
động sản hoặc các chứng từ chứng nhận quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp cho
Trang 30ngân hàng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ Các động sản thường được dùngcầm cố : vật tư, hàng hoá, phương tiện vận tải, phương tiện đi lại, công cụ lao động,máy móc thiết bị dùng cho sản xuất kinh doanh,
Bảo lãnh : bảo lãnh cũng là hình thức bảo đảm tiền vay trong đó người bảo
lãnh cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay đối với ngân hàng khi người vay khôngthực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định
5 Chất lượng thẩm định tín dụng và các chỉ tiêu đánh giá
Để đánh giá chất lượng thẩm định tín dụng có thể căn cứ vào thời gian hoànthành công tác thẩm định nhằm thoả mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng và mức
độ chính xác của công tác thẩm định hay chất lượng của hoạt động tín dụng
Về thời gian thẩm định
Đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng của công tác thẩm định.Nếu Ngân hàng hoàn thành công tác thẩm định nhanh sẽ tạo điều kiện cho DNV&Ntranh thủ thời cơ, nhận đựoc nguồn vốn tín dụng một cách nhanh chóng để tiến hànhhoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo kế hoạch, mục tiêu đặt ra Tuy nhiên, nếuthực hiện công tác thẩm định qua nhanh, dễ dẫn tới việc đánh giá thiếu chính xác vềdoanh nghiệp do thiếu thông tin, bỏ qua một số bước, nội dung thẩm định từ đó đưa
ra quyết định cho vay thiếu chính xác, dễ mang lại rủi ro cho ngân hàng Nếu ngânhàng không đảm bảo thời gian thẩm định, kéo dài thời gian thẩm định có thể làmmất cơ hội đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời đây cũng là điều kiện đểngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình
Về chất lượng của hoạt động tín dụng
Chất lượng của công tác thẩm định sẽ mang lại chất lượng của khoản tíndụng đó Chất lượng tín dụng thể hiện ở các chỉ tiên như: dư nợ cho vay, doanh sốcho vay, mức độ cho vay và nợ quá hạn
Dư nợ cho vay thể hiện quy mô tín dụng của doanh nghiệp tại một thời điểmnhất định
Doanh số cho vay là tổng số tiền ngân hàng đã thực sự giải ngân cho kháchhàng trong một khoảng thời gian nhất định Doanh số cho vay có thể được xác địnhtheo thời hạn cho vay, theo thành phần kinh tế hay theo mục đích sử dụng vốn
Trang 31Mức độ cho vay là khả năng ngân hàng xét duyệt các khoản vay và đồng ýcho vay trong tổng nhu cầu vay vốn của khách hàng trong một khoảng thời giannhất định.
Nợ quá hạn phản ánh số tiền vay dã đến hạn mà doanh nghiệp chưa hoàn trảcho ngân hàng Nó là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của nghiệp vụ tín dụng Và việcthu hồi nợ nói lên khả năng thẩm định của CBTD qua việc phân tích, đánh giá, kiểmtra khách hàng của họ được thực hiện tốt hay không Nếu khách hàng trả nợ đúngvới các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng tín dụng tức là CBTD đã cho vay đúngđối tượng, người sử dụng vốn vay đúng mục đích có hiệu quả
Nếu dư nợ cho vay của ngân hàng tăng, tỷ lệ nợ quá hạn thấp,mức độ chovay cao và tỷ lệ giữa doanh số cho vay và dư nợ cao thì chứng tỏ chất lượng thẩmdịnh tín dụng là tốt Ngược lại, nếu ngân hàng có dư nợ cho vay giảm, nợ quá hạn ởmức cao, mức độ cho vay la thấp và tỷ lệ doanh số cho vay trên dư nợ thấp thìchứng tỏ công tác thẩm định tín dụng còn nhiều hạn chế, còn yếu kém.Cần chú ý dư
nợ cho vay tăng có những ưu nhược điểm khác nhau Về ưu điểm, dư nợ cho vaytăng là do doanh số cho vay tăng, đồng nghĩa với nó là khách hàng tìm đến ngânhàng ngày càng nhiều, họ vay nhiều hơn, tạo được lợi nhuận cho ngân hàng Còn vềnhược điểm, như ta được biết dư nọ cho vay bao gồm cả nợ quá hạn, nếu dư nợ chovay tăng do nợ quá hạn tăng cao thì đây là một rủi ro cho ngân hàng, ảnh hưởng đếnkhả năng chi trả tiền gửi, lãi vay và chi phí hoạt động
Tỷ lệ nợ quá hạn : phản ánh chất lượng tín dụng, tỷ lệ này càng cao thì chấtlượng tín dụng càng kém và ngược lại
Công thức :
Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = x 100
Hiện nay theo mức độ cho phép của NHNN thì tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư
nợ là dưới 5%, trong đó tỷ lệ nợ khó đòi trong tổng nợ quá hạn thấp thì được coi làtín dụng có chất lượng tốt
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Trang 326 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tín dụng là DNV&N trong hoạt động tín dụng tại NHTM
6.1 Nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan như : Chính sách công khai tài chính, chính sách vềkiểm toán, thiên tai, lũ lụt, chién lược phát triển kinh tế hay những quy định về thờigian hoàn thành công tác thẩm định tín dụng, chế độ của nhà nước về hoạt động chovay của ngân hàng Các yếu tố môi trường vĩ mô bao gồm môi trường kinh tế,chính trị, pháp luật, đều ảnh hưởng tới công tác thẩm định của ngân hàng.Môitrường kinh tế, chính trị ổn định và lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho côngtác thẩm định, việc dự báo và kết quả thẩm định có độ chính xác cao hơn Các chế
độ quản lý của nhà nước rõ ràng, đầy đủ là căn cứ pháp lý cho công tác thẩm định,
là thước đo để so sánh đối chiếu, đánh giá Với những nhân tố khách quan đã được
dự báo trước thì cả ngân hàng và doanh nghiệp đều cần phải có thiện chí phối hợp
để hoàn thành công tác thẩm định tín dụng Với những nhân tố không lường trướcđược thì ngân hàng phải tập trung phân tích, đánh giá những chỉ tiêu cơ bản và dựtrù các tình huống xấu nhất có thể xảy ra từ đó đưa ra các biện pháp khác phục
6.2 Nhân tố ảnh hưởng từ phía DNV&N
Có nhiều nguyên nhân từ phía doanh nghiệp ảnh hưởng tới công tác phântích, đánh giá của ngân hàng Nó xuất phát từ khách quan và ý muốn chủ quan củadoanh nghiệp, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong phân tích nếu như doanh nghiệpkhông có thiện chí hợp tác
- Hồ sơ xin vay vốn: Đây là thông tin ban đầu mà doanh nghiệp cung cấp chokhách hàng Nếu trong bộ hồ sơ doanh nghiệp nêu không đầy đủ, chính xác vàkhông trình bày khoa học các thông tin mà ngân hàng yêu cầu thì việc thẩm địnhdoanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều cản trở
- Chính sách bảo mật thông tin của DNV&N : thông thường các doanhnghiệp rất ngại công bố thông tin chính xác về tình hình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Vì như vậy các đối thủ cạnh tranh của họ có thể biết được và có biệnpháp đối phó, mặt khác nếu đó là những thông tin xấu thì có thể làm giảm uy tín củadoanh nghiệp và ngân hàng có thể không cho vay Do vậy các ngân hàng cũng rất
Trang 33Như vậy, công tác thẩm định đối với doanh nghiệp ccủa ngân hàng phụ thuộcrất nhiều vào ý muốn cchủ quan của doanh nghiệp Nếu như doanh nghiệp có ý địnhlừa đảo, che dấu thông tin, thì công tác thẩm định tín dụng của ngân hàng sẽ khôngcòn chính xác.
6.3 Nhân tố ảnh hưởng từ phía ngân hàng
Từ phía ngân hàng cũng có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới quá trình thẩm địnhtín dụng Cụ thể là :
- Ý thức và trình độ của cán bộ tín dụng: ảnh hưởng trực tiếp tới công tácthẩm định Cán bộ tín dụng có ý thức tốt, có trình độ chuyên môn vững vàng thìhiệu quả đem lại sẽ toàn diện hơn Nếu cán bộ tín dụng không có ý thức và đạo đứcnghề nghiệp tốt, trình độ không vững rất có thể đánh giá doanh nghiệp không chínhxác, đầy đủ Đặc biệt nếu cán bộ tín dụng không có đạo đức nghề nghiệp thì còn làmmất niềm toin của khách hàng và hình ảnh của ngân hàng
- Văn bản hướng dẫn về công tác thẩm đinh tín dụng doanh nghiệp do ngânhàng ban hành : Những văn bản này được chỉnh sửa và ban hành dựa trên những vănbản từ NHNN ban hành để phù hợp với hoạt động từng ngân hàng, do đó những chỉtiêu không quan trọng, không phù hợp sẽ được giảm bớt Chính vì thế dẫn tới việcđánh giá khách hàng không được toàn diện và điều này giảm chất lượng
- Công nghệ và trang thiết bị của ngân hàng : còn yếu kém, các phần mềmthẩm định dự án nhiều ngân hàng vẫn chưa có hoặc mức độ áp dụng còn hạn chếnên việc thu thập và xử lý thông tin về doanh nghiệp còn nhiều khó khăn dẫn đếnnhững đánh giá không chính xác về doanh nghiệp
- Cơ chế giám sát hoạt động tín dụng: Ngân hàng thực hịên kiểm tra giám sáttốt sẽ hạn chế và khắc phục kịp thời trong quá trình thực hiện thẩm định nhờ đó chấtlượng của công tác thẩm định cũng được nâng cao
- Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong ngân hàng: cũng đem lại chấtlượng tốt hơn cho công tác thẩm định tín dụng doanh nghiệp, nó vừa có tác dụngkiểm tra chéo lẫn nhau, vừa bổ sung những thông tin cần thiết cho quá trình thẩmđịnh của ngân hàng
Tóm lại, có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tín dụngDNV&N , có những nhân tố khách quan mà ngân hàng không lường trước được, cónhững nhân tố xuất phát từ phía doanh nghiệp, và có những nhân tố từ bản thân các
Trang 34NHTM Vì vậy khi thẩm định doanh nghiệp, ngân hàng cần tìm các biện pháp khắcphục hạn chế nhằm nâng cao chất lượng thẩm định.
Trang 35Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương trongkhuyến khích đầu tư rất nhiều DNV&N đã được thành lập và đi vào hoạt động đòihỏi nhu cầu tài trợ vốn lớn Đứng trước thực trạng này, căn cứ vào đề nghị củaBIDV Việt Nam, NHNN đã cấp giấy phép thành lập BIDV chi nhánh Cao Bằng số69/QĐ/NH5 ngày27/03/1993 và đến 16/06/1993 trọng tài kinh tế Cao Bằng đã cấpgiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, BIDB chi nhánh Cao Bằng đã đi vào hoạtđộng cho đến nay
Phương châm hoạt động của BIDV “ Hiệu quả sản xuất – kinh doanh củakhách hàng là mục tiêu hoạt động của BIDV ” Trong 15 năm hoạt động chi nhánh
đã không ngừng mở rộng số lượng và chất lượng các dịch vụ cung ứng Đặc biệt làcác dịch vụ trọn gói đối với khách hàng là DNV&N, BIDV đã cung ứng các sảnphẩm : thanh toán, bảo lãnh, cho vay, dưới nhiều hình thức góp phần giải quyếtnhu cầu về vốn của doanh nghiệp
Từ một đơn vị thiếu thốn về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất Hiện nay BIDVCao Bằng đã đào tạo được cho mình một đội ngũ cán bộ chuuyên nghiệp, 80% đạttrình độ đại học; Cơ sở vật chất khang trang, đảm bảo mỗi cán bộ tín dụng có một
bộ vi tính, kết nối mạng nội bộ tạo thuận lợi trong việc thực hiện công việc và thoảmãn tối đa mọi nhu cầu tài chính của doanh nghiệp
2 Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV Cao Bằng
Trang 36Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Cao Bằng trong các năm gần đây rất
ổn định, tốc độ tăng trưởng luôn đạt 2 con số, năm 2006 tốc độ tăng trưởng côngnghiệp đạt 17%, nông nghiệp đạt 7%, tổng kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốcđạt 32 triệu USD đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngân hàng Với sựquan tâm, chỉ đạo của ban Giám Đốc, sự đoàn kết của tập thể cán bộ BIDV CaoBằng cùng với sự quan tâm ủng hộ từ các cấp, ngành, chính quyền địa phương tìnhhình hoạt động kinh doanh của ngân hàng đã đạt được những thành tựu trên mọi lĩnhvực
2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh chung
Trong 3 năm trở lai đây thì tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hànggặp nhiều thuận lợi và đã đạt được những kết quả sau :
- Huy động vốn bình quân của ngân hàng tăng nhanh, nếu như trong năm
2005 đạt 295.76 tỷ VNĐ, thì sang năm 2006 con số này đã là 317.815 tỷ VNĐ tăng7.43% so với năm 2005, sang đến năm 2007 là 376 tỷ VNĐ tăng so với năm 2006 là19%, tăng 27.1% so với năm 2005 Với nguồn huy động ngày càng gia tăng làm cơ
sở gia tăng hoạt động tín dụng trong các năm qua đặc biệt là đối với các DNV&N.Điều này chứng tỏ uy tín của ngân hàng ngày càng tăng lên đối với khách hàngkhông chỉ bởi sự phong phú về về các loại hình sản phẩm dịch vụ huy động vốn như: Tiết kiệm trả trước, tiết kiệm trả sau, tiết kiệm tích luỹ, mà còn ở chất lượng dịch
vụ, phong cách phục vụ khách hàng của đội ngũ nhân viên
- Tổng tài sản của ngân hàng tăng nhanh, nếu như trong năm 2005 tổng tài
sản của ngân hàng là 387 tỷ VNĐ, thì đến năm 2006 là 440 tỷ VNĐ tăng 13.7% sovới năm 2005 và đến năm 2007 đã là 489.36 tỷ VNĐ tăng 11.2% so với năm 2006,tăng 26.45% so với năm 2005, hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao
- Tài sản sinh lời của ngân hàng trong 3 năm gần đây luôn chiếm tỷ trọng cao
trong tổng tài sản, đặc biệt là vào năm 2006 thì tỷ lệ này là 91% thể hiện những cốgắng của ngân hàng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản Năm 2005 tài sảnsinh lời của ngân hàng đạt 315 tỷ VNĐ, đến năm 2006 là 401 tỷ VNĐ Năm 2007tài sản sinh lời là 300 tỷ VNĐ, chiếm 61.3% trên tổng tài sản Do năm 2007 theo cơchế quản lý vốn nên toàn bộ phần tài sản có khác như tiền gửi có lỳ hạn đều chuyển
về trung ương quản lý nên tài sản sinh lời của chi nhánh giảm so với năm 2006 là25.2%
Trang 37- Lợi nhuận trước thuế đã chứng minh khả năng hoạt động hiệu quả của ngân
hàng
Theo kế hoạch năm 2006 lợi nhuận trước thuế đạt 6 tỷ VNĐ thì khi thực hiện
là 7.48 tỷ VNĐ tăng 25% so với kế hoạch Năm 2006 thì lợi nhuận là 8.41 tỷ VNĐ,đến năm 2007 lợi nhuận đã là 10.48 tỷ VNĐ tăng 8.1% so với năm 2006, tăng40.1% so với năm 2005
Với tốc độ gia tăng lợi nhuận đã làm cho hệ số tài chính của ngân hàng luônđạt mức tiêu chuẩn Để có được lợi nhuận như vậy là tổng thể các hạot động củangân hàng trong đó đặc biệt là hoạt động cho vay đối với DNV&N
Bảng 1 Một số chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng
( Nguồn : báo cáo hoạt động kinh doanh 2005,2006,2007 của BIDV Cao Bằng)
- Về phát triển nguồn nhân lực : Đến năm 2007 chi nhánh đã có 61 cán bộ
nhân viên, đội ngũ cán bộ nhân viên của chi nhánh được đào tạo cơ bản về nghiệp
vụ, ngoại ngữ và vi tính với 80% tốt nghiệp đại học, thuộc nhiều chuyên ngành lànhững người rất năng động và nhiệt huyết, đóng góp một phần quan trọng trong sựnghiệp phát triển của chi nhánh
- Về phát triển mạng lưới hoạt động : Đến năm 2007 chi nhánh có một trụ sở
chính và 2 điểm giao dịch, được sự giúp đỡ của NHNN và BIDV Việt Nam chinhánh BIDV Cao Bằng đang từng bước cố gắng khăng định vị thế và mở rộng phạm
vi hoạt động trên địa bàn tỉnh
2.2 Tình hình hoạt động tín dụng
Hiện nay nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ nên nhu cầu tín dụng tạiBIDV Cao Bằng không ngừng tăng trưởng Trong năm 2007, hoạt động tín dụngcủa BIDV Cao Bằng vẫn giữ vững theo phương châm “mở rộng có chọn lọc”, mởrộng cho vay đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực : khai thác
Trang 38khoáng sản, thuỷ điện, xuất nhập khẩu Để làm được điều này ngân hàng đã thựchiện nhiều biện pháp như: mở rộng phạm vi cho vay, chủ động gặp gỡ khách hàng,
ưu tiên về lãi suất, Chính vì vậy tốc độ phát triển tín dụng ở ngân hàng luôn đạtmức cao
Bảng 2 : Dư nợ đối với nền kinh tế
(Nguồn báo cáo hoạt động kinh doanh 2006,2007 của BIDV Cao Bằng)
Dư nợ cho vay đối với nền kinh tế trong 3 năm qua liên tục tăng trưởng, năm
2005 tổng dư nợ cho vay trên toàn địa bàn là 890 tỷ đồng, thì đến năm 2006 con sốnày đã là 1073 tỷ đồng tăng 22% so với năm 2005 và đến năm 2007 là 1212.38 tỷđồng, tăng 13% so với năm 2006, tăng 36% so với năm 2005 Nhưng số lượng nợquá hạn vẫn ở mức cao, năm 2005 là 9.54 tỷ đồng chiếm 1.07% tổng dư nợ Đếnnăm 2007 tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ đã giảm chiếm 0.84% tổng dư nợ nhưngvẫn ở mức cao với 9.8 tỷ đồng, ngân hàng cần điều chỉnh ở mức hợp lý trong thờigian tới
II Thực trạng chất l ư ợng thẩm định tín dụng đối với DNV&N tại BIDV Cao Bằng
1 Quá trình thu thập thông tin phục vụ hoạt động thẩm định tín dụng đối với khách hàng là DNV&N tại BIDV Cao Bằng.
DCV&N có nhu cầu vay vốn BIDV Cao Bằng sẽ gửi cho ngân hàng bộ hồ sơvay vốn bao gồm : Hồ sơ pháp lý, hồ sơ khoản vay, hồ sơ về phương án, dự án sảnxuất, hồ sơ bảo đảm tiền vay Cán bộ tín dụng sẽ kiểm tra tính đầy đủ, chính xác vàphù hợp theo quy định của ngân hàng tùy thuộc vào từng loại hình DNV&N mà có
Trang 39hệ lần đầu với ngân hàng thì thông tin trong bộ hồ sơ là các thông tin để làm cơ sởđánh giá doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp dã có quan hệ tín dụng với BIDV CaoBằng, cán bộ tín dụng có thể thu thập thông tin lưu trữ tại phòng quản lý nguồn vốn,phòng kế toán về số dư tài khoản, lãi suất món vay trước, tình hình tài chính trướcđây Với những doanh nghiệp này thì chỉ bổ sung thêm hồ sơ về khoản vay, hồ sơ
dự án, phương án…để ngân hàng xác định nhu cầu cần tài trợ vốn, còn hồ sơ pháp
lý và những giấy tờ mang tính chất chung khác thì không nhất thiết phải nộp lại chongân hàng Những thông tin về doanh nghiệp lưu trữ tại ngân hàng là những thôngtin có tính chất bổ sung trong quá trình thẩm định doanh nghiệp của CBTD
Ngoài ra, CBTD còn trực tiếp đến doanh nghiệp để thu thập thêm thông tinphục vụ cho công tác thẩm định Tại doanh nghiệp, CBTD có sơ sở thực tế để đánhgiá cơ sở vật chất của doanh nghiệp, nhà xưởng, kho bãi, máy móc, thiết bị, điềukiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, điều kiện làm việc của công nhân và tổchức quản lý của doanh nghiệp, kiểm tra thực tế hàng tồn kho, công tác sổ sách…Trong quá trình thẩm định thực tế tại doanh nghiệp, CBTD phỏng vấn công nhânviên của doanh nghiệp về điều kiện làm việc của họ, cách thức quản lý của chủdoanh nghiệp, mức thu nhập , tình hình sản xuất…để kiểm định, bổ sung nhữngthông tin doanh nghiệp đã cung cấp CBTD cũng có thể yêu cầu chủ doanhnghiểptình bày về những số liệu xem xét có phù hợp với thực tế hay không? Từ đó
bổ sung thêm thông tin về tinhg hình sản xuất kinh doanh thực tế tại doanh nghiệp
Có thể thấy tình hình thu thập thông tin của BIDV Cao Bằng là tương đối đầy
đủ và khách quan CBTD được trực tiếp tìm hiểu và nắm bắt thông tin về doanhnghiệp ngay từ đầu, đây là cơ sở tốt cho việc phân tích và đánh giá doanh nghiệp.Các quy định của ngân hàng về bộ hồ sơ do doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn cungcấp là đơn giản đầy đủ các thông tin cơ bản và phù hợp với quy chế hiện hành củaNHNN
Tuy nhiên trong công tác thu thập thông tin của ngân hàng vẫn có một sốđiều bất cập như : để tạo thuận lợi và nhanh chóng cho doanh nghiệp đã từng có mốiquan hệ với ngân hàng, CBTD không yêu cầu doanh nghiệp nộp lại hồ sơ pháp lýhoặc những giấy tờ khác đã được ngân hàng lưu trữ Điều này trái với quy định củaNHNN và đôi khi gây cho ngân hàng những rắc rối trong trường hợp doanh nghiệp
bị thu hồi hoặc tạm thu hồi giấy phép kinh doanh mà ngân hàng không biết và vẫnquyết định cho vay, điều này có nghĩa là ngân hàng đã cho vay doanh nghiệp không
có đủ năng lực pháp lý ; Hoặc việc tiến hành thẩm định tịa doanh nghiệp cần có một
Trang 40lãnh đạo phòng tín dụng, có thể nhiều khi lãnh đạo phòng bận có thể có những mónvay chưa thẩm định ngay mà phải bố trí thời gian phù hợp ảnh hưởng tới hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp ; Bên cạnh đó CBTD không có điều kiện tiếp xúcthường xuyên với những tổ chức chuyên cung cấp thông tin, trung tâm thông tin tíndụng vì thế việc thu thập thông tin của ngân hàng thường không đầy đủ và thiếukhách quan
Mặt khác, một số CBTD phụ trách dư nợ của nhiều doanh nghiệp nên việckiểm tra có thể không định kỳ va thường xuyên do đó không nắm bắt hết được mọitình hình thực hiện phương án, dự án kinh doanh của doanh nghiệp Thực tế chothấy nhiều doanh nghiệp sau khi đã nhận tiền vay về mục đích, tiến độ và nhữngvướng mắc đã xảy ra gây ảnh hưởng tới công tác thu hồi vốn của ngân hàng
2 Quy trình thẩm định tín dụng đối với DNV&N của BIDV Cao Bằng
Tại BIDV Cao Bằng, thẩm định tín dụng khách hàng là DNV&N trong hoạtđộng tín dụng do Phòng tín dụng thực hiện Mỗi cán bộ tín dụng của phòng đề phảiđảm nhiệm tất cả các khâu của quy trình tín dụng kể từ lúc khách hàng đến vay vốncho đến khi thanh lý hợp đồng tín dụng Do đó họ đều có nhiệm vụ thẩm định vàphân tích, đánh giá doanh nghiệp vay vốn
Khi doanh nghiệp đến vay vốn, CBTD sẽ làm việc với khách hàng theo quytrình sau :