Tài liệu tham khảo kinh tế thương mại: Các giải pháp chủ yếu huy động nguồn vốn đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ tại Công ty cổ phần Xi măng Lạng Sơn
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chơng 1: Huy động vốn để đổi mới thiết bị và công nghệ đối với sự phát triển của doanh nghiệp 3
1.1 Vốn để đổi mới thiết bị và cụng nghệ 3
1.1.1 Vốn và cỏc đặc trưng của vốn 3
1.1.2 Vốn đầu tư đổi mới thiết bị và cụng nghệ 5
1.1.3 Vai trũ của vốn để đổi mới thiết bị và cụng nghệ tại doanh nghiệp 5
1.2 Huy động vốn đổi mới thiết bị và cụng nghệ 7
1.2.1 Nguồn vốn đổi mới thiết bị và cụng nghệ 7
1.2.2 Phương thức huy động vốn đổi mới thiết bị và cụng nghệ 8
1.3 Cỏc nhõn tố tỏc động tới huy động vốn đổi mới thiết bị và cụng nghệ 12 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CễNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN ĐỔI MỚI THIẾT BỊ VÀ CễNG NGHỆ TẠI CễNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG LẠNG SƠN 15
2.1 Tổng quan về Cụng ty cổ phần xi măng Lạng Sơn 15
2.1.1 Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của Cụng ty cổ phần xi măng Lạng Sơn 15
2.1.2 Tỡnh hỡnh tổ chức quản lý và sản xuất ở Cụng ty cổ phần xi măng Lạng Sơn 16
2.1.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Cụng ty cổ phần xi măng Lạng Sơn trong giai đoạn 2006-2007 20
Lợi nhuận rũng 22
2.2 Thực trạng cụng tỏc huy động vốn để đổi mới thiết bị và cụng nghệ tại Cụng ty cổ phần xi măng Lạng Sơn 27
Biểu số 5: Tổng hợp vốn đầu t 31
Trang 22.3 Nhận xét về hoạt động huy động vốn đổi mới thiết bị và công nghệ của
Công ty cổ phần xi măng Lạng Sơn 33
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO VỐN CHỦ YẾU ĐỂ ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI THIẾT BỊ CÔNG NGHỆ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN 35
3.1 Huy động vốn tối đa từ nguồn vốn bên trong công ty 36
3.1.1 Nguồn vốn khấu hao tài sản cơ bản hàng năm 36
3.1.2 Nguồn lợi nhuận để tái đầu tư 37
3.2 Huy động từ nguồn vốn bên ngoài công ty 39
3.2.1 Vay cán bộ công nhân viên 39
3.2.2 Vay dài hạn ngân hàng 40
KẾT LUẬN 46
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế đã mở ra những cơ hộimới cũng như rất nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Trongthời gian qua, với hàng loạt các sự kiện như Việt Nam gia nhập khối ASEAN,tham gia khối mậu dịch tự do AFTA , diễn đàn hợp tác châu Á - Thái BìnhDương APEC, gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO … một điều khôngthể tránh khỏi là những hàng hóa nhập khẩu sẽ tràn vào một cách ồ ạt Vậycác doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải làm gì để tồn tại và phát triển trước sựcạnh tranh khốc liệt này
Một thực tế cho thấy, hầu hết hàng hóa của Việt Nam đều được sảnxuất từ những thiết bị công nghệ đã lạc hậu so với thế giới, và để có thể cạnhtranh thì sản phẩm của doanh nghiệp phải có giá rẻ, chất lượng tốt và đa dạng
về mẫu mã Vì thế trong tình hình trước mắt cũng như lâu dài thì việc đầu tưđổi mới máy móc thiết bị công nghệ ở các doanh nghiệp Việt Nam đã trởthành một trong những vấn đề bức xúc và quan trọng hàng đầu
Hiện nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ đãcống hiến rất nhiều thành tựu cho nền kinh tế thế giới, điều đó đã mở ra nhiều
cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện việc đàu tư đổi mới thiết bịcông nghệ của mình Tuy nhiên một vấn đề quan trọng ở đây là tình trạngthiếu vốn đặc biệt là vốn đầu tư dài hạn
Là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc sở xây dựng, Công ty Cổphần xi măng Lạng Sơn hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh vật liệuxây dựng, là một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh rất có hiệuquả Tuy nhiên để có thể tồn tại được trong môi trường cạnh tranh gay gắtnày thì trong thời gian tới Công ty không thể không đầu tư đổi mới thiết bịcông nghệ, do vậy việc tìm ra các giải pháp huy động vốn để đáp ứng nhu cầuđầu tư đổi mới với công ty luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng
Trang 4Trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần xi măng Lạng Sơn, xuấtphát từ định hướng trên và tình hình thực tế của công ty, được sự chỉ bảo tậntình của Thầy giáo Vũ Công Ty và các cô chú trong phòng tài vụ của công ty
em đã chọn đề tài: “ Các giải pháp chủ yếu huy động nguồn vốn đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ tại Công ty Cổ phần xi măng Lạng Sơn “ làm đề tài
chuyên đề thực tập
Mục đích của đề tài là để làm rõ tầm quan trọng của việc đầu tư đổimới thiết bị và công nghệ đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp vàđịnh hướng một số giải pháp huy động vốn chung để đáp ứng nhu cầu huyđộng vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, đồng thời trên cơ sở phântích đánh giá thực trạng trang thiết bị công nghệ của Công ty Cổ phần ximăng Lạng Sơn, nhu cầu vốn của công ty để đầu tư sản xuất, từ đó đưa ranhững giải pháp huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn của công ty trong thờigian tới
Nội dung của chuyên đề bao gồm ba chương :
Chương 1 Huy động vốn để đổi mới thiết bị và công nghệ đối với sự
phát triển của doanh nghiệp
Chương 2 Thực trạng công tác huy động vốn đổi mới thiết bị và công
nghệ tại Công ty Cổ phần xi măng Lạng Sơn
Chương 3 Một số giải pháp huy động vốn chủ yếu để đầu tư đổi mới
thiết bị và công nghệ tại Công ty Cổ phần xi măng Lạng Sơn
Trang 5Chơng 1 Huy động vốn để đổi mới thiết bị và công nghệ đối với
sự phát triển của doanh nghiệp
1.1 Vốn để đổi mới thiết bị và cụng nghệ.
Lịch sử phỏt triển của xó hội loài người cũng chớnh là lịch sử phỏt triểncủa lực lượng sản xuất, của phõn cụng lao động xó hội và của hỡnh thỏi kinh
tế xó hội Trong bất kỳ giai đoạn nào của sự phỏt triển, nền sản xuất xó hội núichung và của từng doanh nghiệp núi riờng đều phải giải quyết cỏc vấn đề cơbản là : sản xuất cỏi gỡ, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai trờn cơ sở bayếu tố cơ bản của quỏ trỡnh lao động là tư liệu lao động, đối tượng lao động
và sức lao động Trong đú tư liệu lao động là một yếu tố vụ cựng quan trọng
mà theo Cỏc Mỏc : “ để đỏnh giỏ trỡnh độ phỏt triển một đất nước, người ta xem xột đất nước đú sản xuất bằng cỏi gỡ chứ khụng xem xột sản xuất sản phẩm loại gỡ “
( Trớch dẫn từ Kinh tế chớnh trị Mỏc-Lờnin quyển I )
Khỏc với đối tượng lao động ( nguyờn, nhiờn vật liệu, sản phẩm dở dang,bỏn thành phẩm ) cỏc tư liệu lao động ( như mỏy múc thiết bị , nhà xưởng ,phương tiện vận tải ) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng
để tỏc động vào đối tượng lao động và biến đổi nú theo mục đớch của mỡnh.Trong quỏ trỡnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vốn đầu tư đúng mộtvai trũ quan trọng, là xương sống của quỏ trỡnh sản xuất
1.1.1 Vốn và cỏc đặc trưng của vốn.
Trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp, vốn cố định là một bộphận rất quan trọng và thường chiếm tỉ trọng lớn, đặc biệt là đối với doanhnghiệp sản xuất Để hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải muasắm vật tư, lắp đặt cỏc tài sản cố định của doanh nghiệp và đều phải thanhtoỏn chi trả bằng tiền Số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xõy dựng và lắpđặt cỏc tài sản cố định hữu hỡnh, vụ hỡnh được gọi là vốn cố định của doanh
Trang 6nghiệp Đó là số vốn đầu tư ứng trước, vì số vốn này nếu được sử dụng cóhiệu quả sẽ không mất đi Doanh nghiệp sẽ thu hồi lại được sau khi tiêu thụcác sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ của doanh nghiệp.
Vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định nênquy mô của vốn cố định sẽ quyết định đến quy mô của tài sản cố định và ảnhhưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng luật sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Quy mô vốn cố định càng lớn chính là cơ sở đểdoanh nghiệp tăng cường đầu tư, đổi mới tài sản cố định nói chung và thiết bịcông nghệ nói riêng Song đặc điểm tuần hoàn vận động của tài sản cố địnhlại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định Có thểkhái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trìnhsản xuất kinh doanh như sau:
Một là: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản
phẩm Điều này do đặc điểm của tài sản cố định bao gồm những tư liệu laođộng chủ yếu tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
Hai là: Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần và cấu
thành nên chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao tài sản
cố định) tương ứng với phần giá trị hao mòn của tài sản cố định trong các chu
kỳ sản xuất
Ba là: Sau nhiều chu kỳ sản xuất, vốn cố định mới hoàn toàn một
vòng luân chuyển Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn được luân chuyển vàogiá trị sản phẩm dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào tài sản cốđịnh lại giảm xuống cho đến khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng, giá trịcủa nó được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì vốn cố địnhmới hoàn thành một vòng luân chuyển
Qua phân tích trên ta có thể kết luận: Vốn cố định của doanh nghiệp là
Trang 7luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thànhmột vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
1.1.2 Vốn đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thườngxuyên nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cũng như cho đầu tưphát triển Vì vậy phải xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết và phươngthức huy động vốn từ bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp Doanhnghiệp cần phải chủ động, linh hoạt cho việc huy động vốn và tổ chức sử
quả hoạt động kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức và sử dụng vốn
Để làm tốt được điều đó, doanh nghiệp cần phải biết đánh giá, lựa chọn, phântích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án đầu tư Huy động vốn kịpthời các nguồn vốn kinh doanh để doanh nghiệp có thể nắm bắt được các cơhội kinh doanh Huy động tối đa số vốn hiện có và sử dụng tốt các quỹ củadoanh nghiệp sẽ góp phần rất lớn vào việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn Việcgiám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động của doanhnghiệp sẽ giúp phát hiện kịp thời những tồn tại hay khó khăn vướng mắctrong kinh doanh, để từ đó có những điều chỉnh kịp thời
1.1.3 Vai trò của vốn để đổi mới thiết bị và công nghệ tại doanh nghiệp.
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng của doanh nghiệpcũng như của nền kinh tế quốc dân, nhưng trên thực tế cho thấy ở nước ta,ngoài trình độ khoa học công nghệ thấp, các máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậuthì sự đầu tư cho nghiên cứu chế tạo và ứng dụng công nghệ cũng chưa đượcquan tâm thích đáng, hoạt động tư vấn, đặc biệt là tư vấn trong lĩnh vực thiết
bị công nghệ vẫn chưa được phát triển Máy móc thiết bị cũ nát, chắp vá, sửdụng năng lực thiết kế chỉ đạt được 50% công suất, thiết bị lạc hậu từ 3-5 thế
hệ, gần 70 % thiết bị công nghệ của các doanh nghiệp nhà nước là những thiết
Trang 8bị từ năm 60-70, nên đã không đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng vànhững đòi hỏi của thị trường.
Đứng trước xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, sự hội nhập nền kinh
tế với khu vực và thế giới hiện nay đang diễn ra rất mạnh mẽ Mỹ xóa bỏ lệnhcấm vận kinh tế đối với Việt Nam, Việt Nam là thành viên chính thức củaASEAN (1995), tham gia khối mậu dịch tự do AFTA (2006), tham gia diễnđàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương (APEC); gia nhập tổ chức thương mạithế giới WTO (2006) sẽ tạo rất nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với cácdoanh nghiệp Việt Nam
Trong bối cảnh như vậy đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phảithật năng động, nhạy bén nắm bắt kịp thời đổi mới thiết bị công nghệ để cóthể tránh được nguy cơ bị giải thể, phá sản do sản phẩm không có sức cạnhtranh với hàng hoá xuất nhập khẩu tràn vào một cách ồ ạt Việc đổi mới trangthiết bị máy móc, công nghệ cũng là một bước tiến quan trọng, là mục tiêuhàng đầu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong hoạt động đổi mới thiết bị và công nghệ, vốn đóng vai trò quantrọng, giúp cho doanh nghiệp chiếm được lợi thế cạnh tranh, tạo ra một nănglực sản xuất mới Với máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ mới, doanhnghiệp sẽ tiết kiệm được nguyên vật liệu, hạ thấp chi phí sản xuất và giá thànhsản phẩm, chi phí nhân công, chi phí sửa chữa tài sản cố định
Xây dựng một chính sách huy động vốn đổi mới thiết bị và công nghệ hợp
lý sẽ góp phần tạo ra khối lượng sản phẩm nhiều hơn với chất lượng cao hơn, cónhiều mẫu mã, kiểu dáng tiện dụng và hợp thị hiếu, dần dần doanh nghiệp sẽthực hiện được phương châm "bán cái thị trường cần" Đó là điều có ý nghĩaquan trọng đối với chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, giá bán hạ, tiêu thụđược đẩy mạnh, từ đó làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên
1.2 Huy động vốn đổi mới thiết bị và công nghệ.
Trang 9trọng, là mục tiêu hàng đầu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước Bên cạnh việc tạo ra lợi thế cạnh tranh, tăng năng suất lao động, việcđổi mới thiết bị và công nghệ còn có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề tổ chứcquản lý doanh nghiệp, bởi nó có thể giảm nhẹ biên chế, giải phóng lao độngthủ công nặng nhọc, đảm bảo an toàn cho người lao động, nhất là đối vớinhững ngành sản xuẩt có tính chất độc hại, hoặc chịu ảnh hưởng trực tiếp củathiên nhiên Điều đó thể hiện xu hướng phát triển đi lên trong lĩnh vực sảnxuất và quản lý con người.
Việc đổi mới thiết bị và công nghệ ngoài những thuận lợi mà nó manglại cho doanh nghiệp thì nó còn đòi hỏi một lượng vốn rất lơn cho quyết địnhđầu tư dài hạn này Nó còn ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp trong thời gian dài và khả năng tiêu thụ của doanhnghiệp trong tương lai Do vậy hiệu quả vốn đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào
sự tính toán đúng đắn, chính xác số vốn cần huy động, khả năng và tiến trìnhtrả nợ vay, đây là vấn đề rất khó khăn đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào
1.2.1 Nguồn vốn đổi mới thiết bị và công nghệ.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpthường xuyên nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cũng như chođầu tư phát triển Việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn và phương thức huyđộng vốn từ bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp sẽ giúp cho doanhnghiệp chủ động, linh hoạt trong việc huy động vốn và tổ chức sử dụng vốntiết kiệm và có hiệu quả
Hiệu quả hoạt động kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức và
sử dụng vốn Để làm tốt được điều đó, doanh nghiệp cần phải biết đánh giá,lựa chọn, phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án đầu tư Huyđộng vốn kịp thời các nguồn vốn kinh doanh để doanh nghiệp có thể nắm bắtđược các cơ hội kinh doanh Huy động tối đa số vốn hiện có và sử dụng tốtcác quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần rất lớn vào việc sử dụng vốn có hiệu
Trang 10quả hơn Việc giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt độngcủa doanh nghiệp sẽ phát hiện kịp thời những tồn tại hay khó khăn vướngmắc trong kinh doanh, để từ đó có những điều chỉnh kịp thời.
Một thực tế trong việc đổi mới thiết bị công nghệ ở các doanh nghiệpViệt Nam hiện nay cho tôi thấy, vấn đề khó khăn vẫn là vốn, thiếu vốn đang
là nỗi bức xức của các doanh nghiệp, đặc biệt là vốn trung và dài hạn Theotinh thần chỉ đạo của nhà nước về vấn đề vốn thì doanh nghiệp có thể huyđộng vốn từ bên ngoài, song vẫn phải đặc biệt coi trọng nguồn vốn từ bêntrong doanh nghiệp
1.2.2 Phương thức huy động vốn đổi mới thiết bị và công nghệ.
Thứ nhất: Huy động vốn từ các nguồn vốn bên trong doanh nghiệp.
Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, nên doanh nghiệp
có toàn quyền chủ động quản lý và sử dụng phục vụ cho những mục đích củamình Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp bao gồm:
* Một là: Quỹ khấu hao cơ bản.
Như ta đã biết, khi tham gia vào quá trình sản xuất, tài sản cố định sẽ bịhao mòn, giá trị hao mòn sẽ dần được chuyển vào giá trị sản phẩm và lao vụ
đã sản xuất dưới hình thức chi phí khấu hao tài sản cố định, số tiền bán sảnphẩm, hàng hoá để bù đắp chi phí khấu hao sẽ được trích lại và tích lũy gọi làquỹ khấu hao tài sản cố định
* Hai là: Lợi nhuận để tái đầu tư.
Đây là một nguồn vốn quan trọng đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư đổi mớithiết bị và công nghệ của doanh nghiệp
Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh
Trang 11nghiệp, bù lỗ năm trước, các khoản phạt do vi phạm hợp đồng, phạt hànhchính, chia lãi cho các chủ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Phần lớn để lại này
sẽ được trích lập các quỹ như:
- Quỹ đầu tư phát triển
- Quỹ dự phòng tài chính
- Quỹ dự phòng trợ cấp việc làm
- Quỹ khen thưởng phúc lợi
Trong đó quỹ đầu tư phát triển luôn chiếm tỉ trọng cao nhát và ngày càng
có xu hướng tăng thêm Đây chính là cơ sở cho các doanh nghiệp huy độngvốn nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ
Đối với doanh nghiệp Nhà nước trước đây, số tiền khấu hao để lại doanhnghiệp là rất nhỏ bé, vì theo quy định của nhà nước thì doanh nghiệp phải nộplại toàn bộ số tiền khấu hao tài sản cố định thuộc vốn ngân sách nhà nước cấp
Từ năm 1994 đến nay với chính sách đổi mới kinh tế, Nhà nước chophép doanh nghiệp để lại toàn bộ số khấu hao tài sản cố định cơ bản hàngnăm để phục vụ cho tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cốđịnh Điều này rất thuận lợi cho doanh nghiệp bởi vì đây là một nguồn vốn rấtlớn, vì vậy sẽ thúc đầy các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư đổi mới thiết bị vàcông nghệ để mở rộng sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thươngtrường
* Ba là: Thanh lý, nhượng bán tài sản cố định.
Đây là nguồn vốn mang tính chất tạm thời Ở nhiều doanh nghiệp, có sốtài sản cố định không cần dùng , hư hỏng, chờ thanh lý không phải là nhỏ, nênnguồn vốn do nhượng bán, thanh lý số tài sản này cũng rất cần thiết cho việcđầu tư đổi mới thiết bị công nghệ của doanh nghiệp, vả lại nó còn giúp doanh
Trang 12nghiệp giải tỏa được tình trạng ứ đọng vốn.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể sử dụng các quỹ như: quỹ dự phòngtài chính, khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, do kiểm kê để bổ sungcho nguồn vốn đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ
Cần khẳng định rằng nguồn vốn bên trong là vô cùng quan trọng, lànguồn vốn đầu tiên khi doanh nghiệp muốn xem xét đến nguồn vốn tài trợcho nhu cầu đầu tư của mình Sử dụng nguồn vốn bên trong thì doanh nghiệpkhông phải chịu sức ép về việc trả tiền lãi tiền vay, thời hạn trả nợ, mặt khácdoanh nghiệp được hoàn toàn tự chủ đối với khoản vốn đó, đồng thời doanhnghiệp đã giảm được chi phí sử dụng vốn
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhu cầu đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệcủa doanh nghiệp thường cần một lượng vốn lớn hơn nhiều so với khả năngtài trợ của doanh nghiệp, nên nhất thiết doanh nghiệp phải huy động thêm vốnbên ngoài
Thứ hai: Huy động vốn từ các nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp.
* Một là: Vay dài hạn ngân hàng.
Để đầu tư dài hạn, doanh nghiệp thường phải vay một lượng vốn lớn vàtrong một khoảng thời gian dài, do vậy ngân hàng thường đưa ra những yêucầu nhất định đối với các doanh nghiệp khi vay, doanh nghiệp phải có tài sảncầm cố thế chấp, phải trả lãi đúng thời hạn và phải hoàn trả cả gốc sau 1 thờigian xác định Tuy nhiên hiện nay các ngân hàng đang có chủ trương cho vaykhông cần tài sản đảm bảo nếu xét thấy dự án của doanh nghiệp có tính chấtkhả thi Doanh nghiệp cần phải hết sức quan tâm đến hình thức huy động này,bởi vì chi phí lãi vay phải trả chính là chi phí sử dụng vốn mà doanh nghiệpcần phải tính toán được Mặt khác doanh nghiệp cần phải có biện pháp quản
lý và sử dụng vốn có hiệu quả thì việc đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ mới
Trang 13có hiệu quả.
* Hai là: Phát hành trái phiếu.
Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệp pháthành, thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp thanh toán số lợi tức
và tiền vay vào những thời hạn đã xác định cho người nắm giữ cổ phiếu Quahình thức này doanh nghiệp có thể thực hiện vay vốn trung và dài hạn qua thịtrường một khối lượng lớn
Ở Việt Nam loại hình công ty cổ phần và doanh nghiệp Nhà nước đượcphép phát hành trái phiếu để huy động vốn Ngoài ra các công ty cổ phầnhoặc các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá , để huy động vốn còn có thểphát hành cổ phiếu làm tăng vốn chủ sở hữu, là cơ sở cho việc đầu tư đổi mớithiết bị và công nghệ
* Ba là: Vay vốn cán bộ công nhân viên.
So với hình thức trước thì vay từ cán bộ công nhân viên có sự hạn chếhơn, tuy nhiên doanh nghiệp có thể vay trong thời gian dài và tạo được sự gắn
bó giữa công nhân với doanh nghiệp
* Bốn là: Vốn liên doanh, liên kết.
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mở thì liêndoanh, liên kết cũng là một trong những định hướng để doanh nghiệp có thểhuy động vốn đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ
Các bên tham gia liên doanh có thể góp vốn bằng vật tư, đất đai, máymóc thiết bị hay bằng tiền, trong đó bên nước ngoài chủ yếu góp bằng thiết bị,công nghệ, đây là một điều rất thuận lợi đối với doanh nghiệp Việt Nam khimuốn đầu tư đổi mới máy móc thiết bị công nghệ Mặc dù còn rất nhiều tồntại khó khăn mà phía Việt Nam thường gặp phải như xác định giá trị vốngóp, việc phân chia lợi nhuận hay việc điều hành liên doanh nhưng xu
Trang 14hướng huy động vốn bằng hình thức liên doanh, liên kết vẫn ngày gia tăng.
* Năm là: Thuê tài chính.
Thuê tài chính là một hợp đồng thoả thuận giữa người thuê và người chothuê, trong đó người thuê được quyền sử dụng tài sản và phải trả một khoảntiền mà hai bên đã thoả thuận Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê đượcquyền sở hữu, mua lại hay tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận tronghợp đồng Đây là hình thức vay trung và dài hạn khá phổ biến ở các nướcphát triển trên thế giới Đây là hình thức huy động vốn quan trọng để đầu tưđổi mới máy móc thiết bị và công nghệ của doanh nghiệp Khi có nhu cầu đầu
tư cho đổi mới máy móc và công nghê., doanh nghiệp cần phải tính toán vàxác định nhu cầu vốn cần huy động và phải có các biện pháp quản lý, sử dụngvốn một cách tỉết kiệm và có hiệu quả Nếu nhu cầu vốn đầu tư mà lớn thìdoanh nghiệp cần phải tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau và tính toán saocho chi phí sử dụng vốn bình quân là thấp nhất
1.3 Các nhân tố tác động tới huy động vốn đổi mới thiết bị và công nghệ.
Huy động vốn là một trong những hoạt động có tính chất chiến lượcquan trọng bậc nhất của mỗi doanh nghiệp Xét về mặt tài chính, đây là mộthoạt động có tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Sai lầm trong việc dự đoán hay không nắm sát kịp thời nhu cầu thịtrường sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng cho doanh nghiệp Mặt khác, thôngthường việc đầu tư của doanh nghiệp đều phải được đặt trong một viễn cảnhdoanh lợi nào đó Vì vậy khi đề ra chính sách huy động vốn đòi hỏi doanhnghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề, phải xem xét tính đến nhiều yếu tố.Sau đây là một số nhân tố tác động có tính chất quyết định đến chính sách huyđộng vốn của doanh nghiệp
* Thứ nhất: Chính sách kinh tế của nhà nước trong việc phát
Trang 15triển nền kinh tế.
Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt độngcho các doanh nghiệp, tạo môi trường hành lang cho các doanh nghiệp pháttriển theo đúng hướng Bằng các chính sách kinh tế, Nhà nước sẽ định hướngđầu tư phát triển kinh doanh, điều đó còn có tác dụng như những đòn bẩy kinh
tế Đối với những doanh nghiệp nhà nước, khi có các dự án huy động vốn đổimới máy móc thiết bị và công nghệ mang tính khả thi, phù hợp với chính sáchcủa Nhà nước và tình hình cụ thể của doanh nghiệp thì cũng phải được các cơquan cấp trên duyệt thì mới thực hiện được
* Thứ hai: Thị trường và cạnh tranh.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm là một yếu tố vô cùng quan trọngtrong quyết định đầu tư của doanh nghiệp Bởi doanh nghiệp đầu tư đổi mớimáy móc thiết bị và công nghệ để sản xuất ra những " cái mà thị trường cần"
Vì vậy việc phân tích thị trường một cách khoa học và nhạy cảm là một vấn
đề tiên quyết trong quyết định của doanh nghiệp Trong việc huy động vốn,khi xem xét thị trường thì cạnh tranh là một yếu tố mà không thể bỏ qua được.Doanh nghiệp cần phải tìm hiểu và căn cứ vào tình hình thực tế của mình vàcủa các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường để dự đoán và lựa chọnphương thức huy động vốn thích hợp để tạo lợi thế cho riêng mình và ngàycàng mở rộng thị phần của doanh nghiệp
* Thứ ba: Lãi tiền vay và thuế trong kinh doanh.
Thông thường, đối với việc đầu tư, ngoài vốn tự có thì doanhnghiệp còn phải đi vay và phải trả lãi tiền vay, điều đó sẽ làm cho chi phí chomỗi đồng vốn đầu tư sẽ tăng lên Vì vậy doanh nghiệp không thể không quantâm tới yếu tố lãi xuất tiền vay Thuế là một khoản thu bắt buộc của Nhà nước,
nó ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và lợi nhuận ròng của doanh nghiệp Do
Trang 16vậy thuế là yếu tố kích thích hay hạn chế việc huy động vốn của doanh nghiệp.
* Thứ tư: Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Đây vừa là cơ hội, và là nguy cơ đe dọa đối với sự đầu tư củadoanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải tính đến thành tựu của khoa học côngnghệ để xác định việc huy động vốn đầu tư trang thiết bị, công nghệ, kịp thờiđổi mới, hiện đại hoá trang thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng caokhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Ngược lại, nếu không tiếp cận kịp thờivới sự tiến bộ của khoa học công nghệ thì sẽ dẫn đến nguy cơ tụt hậu, làm ănthua lỗ do sản phẩm không còn phù hợp với thị trường
* Thứ năm: Mức độ rủi ro trong đầu tư
Các quyết định đầu tư luôn gắn với những rủi ro nhất định, đốivới các quyết định đầu tư dài hạn thì mức độ rủi ro lại càng cao Nếu mộtquyết định đầu tư được đặt trong một tương lai có khả năng đảm bảo vữngchắc thì sẽ kích thích các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư Ngược lại sẽ làmcho các doanh nghiệp e ngại, thiếu tự tin và sẽ hạn chế đầu tư
* Thứ sáu: Khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Để thực hiện các quyết định đầu tư, doanh nghiệp cần phải cónguồn tài chính để đầu tư ở một giới hạn nhất định Bao gồm nguồn vốn tự có
và nguồn vốn có khả năng huy động được Đây là một yếu tố nội tại chi phốiđến việc quyết định đầu tư của một doanh nghiệp
Trên đây là các yếu tố ảnh hưởng có tính quyết định đến việc huyđộng vốn đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ của doanh nghiệp Vì vậydoanh nghiệp cần phải phân tích tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi raquyết định của mình
Trang 17CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN ĐỔI MỚI THIẾT BỊ
VÀ CÔNG NGHỆ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG LẠNG SƠN
2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần xi măng Lạng Sơn.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần xi măng Lạng Sơn.
Nhà máy xi măng Lạng Sơn là một doanh nghiệp nhà nước được thànhlập vào tháng 10 năm 1960, lấy tên là xí nghiệp Vôi Phai Duốc trực thuộc Tykiến trúc kiến trúc tỉnh Lạng Sơn ( Sở xây dựng hiện nay ) Nhiệm vụ là sảnxuất vôi với quy mô nhỏ, cán bộ nhân viên chỉ có vài chục người
Tên giao dịch : Công ty Cổ phần xi măng Lạng Sơn
Trụ sở : Thành phố Lạng Sơn – tỉnh Lạng Sơn
Đến năm 1972, Ty kiến trúc tỉnh Lạng Sơn quyết định sáp nhập xínghiệp với đội cơ giới đá Hồng Phong lấy tên là Xí nghiệp vôi đá Lúc nàyngoài nhiệm vụ sản xuất vôi, xí nghiệp còn sản xuất đá các loại, số lượngcông nhân viên đã tăng lên trên 100 người
Trong những năm 1976, 1977, nhu cầu về xi măng của tỉnh lớn mà chỉtiêu cung cấp xi măng của Trung ương cho tỉnh không đáp ứng được nhu cầuxây dựng của địa phương Đầu năm 1978, UBND tỉnh Lạng Sơn có chủtrương mở rộng mặt bằng xí nghiệp, lập dự án xây dựng một phân xưởng sảnxuất xi măng lò đứng P300 Cuối năm 1978 " Xí nghiệp vôi đá " được đổi tênthành “Xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng”
Trong thời gian này, xí nghiệp bắt đầu san ủi mặt bằng, tập kết máy mócthiết bị để xây dựng phân xưởng sản xuất xi măng Đầu tháng 13 năm 1979,
Trang 18do chiến tranh biên giới xảy ra, dự án xây dựng phân xưởng sản xuất xi mănhkhông thực hiện được và phải đến năm 1983 dự án này mới được đầu tư trởlại.
Đến năm 1985 phân xưởng sản xuất xi măng mới chính thức đi vào hoạtđộng, sản xuất với công suất thiết kế là 10.000 tấn/năm
Năm 1991 “ Xí nghiệp vật liệu xây dựng” được đổi tên thành “ Nhà máy
xi măng Lạng Sơn” sản lượng sản xuất xi măng ngày một tăng cao và trởthành sản phẩm chủ đạo của đơn vị
Tháng 5 năm 2006, do yêu cầu của Nhà nước, cũng như để thích ứng với
sư phát triển của nền kinh tế, đồng thời để phát huy tối đa nội lực của doanhnghiệp, công ty đã tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp và đổi tên thành
" Công ty Cổ phần xi măng Lạng Sơn "
2.1.2 Tình hình tổ chức quản lý và sản xuất ở Công ty cổ phần xi măng Lạng Sơn.
Do đặc điểm sản xuất của công ty mang tính chất sản xuất công nghiệp
ổn định, nên tổ chức quản lý của công ty theo mô hình trực tuyến chức năng:
Trang 19Giám đốc công ty
Phó Giám đốc kinh doanh Phó Giám đốc kỹ thuật
Phòng Kế toán tài vụ
soát
Trang 20* Về bộ máy quản lý:
- Giám đốc: là người phụ trách chung mọi hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty, là người quyết định mọi vấn đề
- Phó giám đốc kinh doanh: trực tiếp chỉ đạo sản công tác kế hoạch vật
tư, tổ chức tiêu thụ, quản lý các phòng ban
- Phó giám đốc kỹ thuật : phụ trách mãng kỹ thuật, tổ chức và chỉ huyquá trình sản xuất, vật tư và chỉ đạo sản xuất các bộ phận, phân xưởng
- Phòng tiêu thụ có nhiệm vụ mở rộng thị trường đảm nhiệm việc tiêuthụ sản phẩm, vận chuyển hàng hoá theo yêu cầu của khách hàng đúng sốlượng và chất lượng
- Phòng tổ chức hành chính: quản lý, điều này bồi dưỡng cán bộ côngnhân viên, tổ chứ phát động thi đua
- Phòng kế hoạch: lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch vật tư,cung ứng vật tưkịp thời đảm bảo sản xuất được liên tục và tạo sự nhịp nhàng giữa các phânxưởng
- Phòng kỹ thuật KCS: thực hiện công tác quản lý kỹ thuật sản xuất,giám sát chất lượng, kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu đầu vào và quản lýchất lượng sản phẩm đầu ra của công ty
- Phòng kế toán tài vụ: quản lý công tác tài chính, đảm bảo tiền vốn mộtcách kịp thời phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác hạch toán, kếtoán một cách chính xác hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như kết quả củacông ty Đây là một công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế, đồng thời làđầu mối tham mưu đắc lực cho lãnh đạo công ty
* Về tổ chức sản xuất:
Do đặc điểm sản xuất mang tính chất công nghiệp, sản phẩm mang hình
Trang 21thái vật chất cụ thể Trong đó, sản phẩm chính là xi măng, sản phẩm phụ gồm:vôi cục, ngói xi măng, gạch lát, bê tông, gạch bê tông, gạch 30x30, đá xâydựng.
Nhiệm vụ và chức năng của phân xưởng như sau:
- Phân xưởng liệu: có nhiệm vụ sản xuất bột phối liệu, bao gồm khoảng
50 người, trong đó có 1 quản đốc và 2 phó quản đốc, 2 thống kê, 3 tổ trưởng
Phân xưởng liệu, phân xưởng lò và phân xưởng thành phẩm là 3 phânxưởng chính trong dây chuyền sản xuất của công ty
- Phân xưởng cơ điện: có nhiệm vụ phục vụ sửa chữa, kiểm tra bảodường thiết bị sản xuất của toàn nhà máy Phân xưởng có khoảng 44 người,trong đó có 1 quản đốc, 1 phó quản đốc và 1 tổ trưởng chủ yếu làm giờ hànhchính
- Phân xưởng khai thác đá: có nhiệm vụ khai thác và sản xuất đá hộc, đádăm, phân xưởng có khoảng 38 người trong đó có 1 quản đốc, 1 phó quảnđốc, 1 thống kêm, 1 tổ trưởng làm vào giờ hành chính
- Phân xưởng sản xuất bê tông đúc sẵn: có nhiệm vụ sản xuất gạch bêtông, cột điện, phân xưởng gồm khoảng 100 người, trong đó có 1 quản đốc, 1phó quản đốc, 1 thống kê, làm 2 ca
Trang 22* Về đặc điểm và quy trình sản xuất xi măng:
Xi măng là sản phẩm chính và là sản phẩm có quy trình sản xuất phứctạp, theo kiểu chế biến liên tục Quá trình sản xuất trải qua nhiều giai đoạncông nghệ theo một quy trình nhất định Quy trình này được điều khiển quamột hệ thống máy vi tính hiện đại Do vậy phân xưởng liệu, phân xưởng lòmphân xưởng thành phẩm hoạt động khép kín theo dây chuyền sản xuất
Nguyên liệu chính: đá vôi, đất sét
Nguyên liệu: Than
Phụ gia: quặng sắt, quặng birit, thạch cao, xỉ, đá đen
Trang 23phục vụ cho việc chuyên chở và cung cấp nguyên vật liệu, hàng hoá kịp thờiphục vụ cho sản xuất cũng như tiêu thụ.
Là một doanh nghiệp chiếm hầu hết thị trường tiêu thụ xi măng của tỉnh,bởi ở Lạng Sơn chỉ có duy nhất hai cơ sở sản xuất xi măng đó là công ty ximăng và xây dựng Lạng Sơn này và Nhà máy xi măng 78 Tuy nhiên nhà máy
xi măng 78 lại chủ yếu phục vụ cho quân đội và chỉ có một phần nhỏ để phục
vụ thêm cho nhân dân, nên công ty cổ phần xi măng Lạng Sơn rất có thểmạnh trong cạnh tranh và nhận được rất nhiều sự ưu đãi của tỉnh như: trợcước vận tải đi các huyện ( 50% và 100 % chi phí), các công trình xây dựngtrong tỉnh phải sử dụng xi măng của nhà máy Ngoài ra, tỉnh ủy, UBND tỉnhcòn hỗ trợ hoàn toàn phần trượt giá do sử dụng nguồn vốn vay để xây dựngdây chuyền sản xuất và miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm liêntiếp (1997 -2000) và giảm 50 % thuế TNDN trong 6 năm tiếp theo
Ngoài những thuận lợi trên, công ty còn vấp phải không ít khó khăn Dâychuyền sản xuất 8,5 vạn tấn /năm được đầu tư năm 1997 chủ yếu bằng nguồnvốn vay là 50 tỷ đồng với lãi xuất 1,1 %./tháng Trong khi sản phẩm sản xuất
ra tuy đạt tiêu chuẩn nhưng mạng lưới tiêu thụ lại chưa lớn Bên cạnh đó hầuhết tài sản cố định của công ty đều được sử dụng từ những năm 1985, 1987 giờ đã trở nên cũ kỹ và lạc hậu với hệ số hao mòn trung bình là 74,72%, hiệntài sản cố định chỉ còn 25,28% giá trị ban đầu Trong cơ chế thị trường có sựcạnh tranh gay gắc và khốc liệt thì tình trạng máy móc thiết bị, nhà cửa, vậtkiến trúc , bị hao mòn quá lớn hoặc đã hết khấu hao sẽ là gánh nặng cho công
Trang 24trong các đơn vị sản xuất cũng rất cần có những lao động có trình độ tay nghề
để trực tiếp điều hành máy móc thiết bị hiện đại
Tuy nhiên với nỗ lực không ngừng của ban lãnh đạo cũng như toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty cùng với sự quan tâm sâu sắc của các
cấp lãnh đạo, nhà máy đã khắc phục những khó khăn, phát huy kết quả những
thuận lợi và kết quả thật xứng đáng Trong nhiều năm sản xuất kinh doanh
luôn luôn có lãi, mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, sản lượng và
lợi nhuận ngày càng tăng , đời sống công nhân viên ngày càng được nâng cao
cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Sau đây là kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh mà công ty đã đạt được trong hai năm qua
Biểu đồ 1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần
6 Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế/vốn kinh doanh
Trang 25Doanh thu thuần năm 2007 đạt 66.096.242.748 đồng, đạt 114,55 % so vớinăm 2006 Điều này cho thấy sự nỗ lực của công ty trong việc tổ chức sảnxuất, tăng sản lượng sản xuất và sản lượng tiêu thụ.
Chỉ tiêu lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận phản ánh chất lượng hiệu quả sảnxuất kinh doanh của công ty, chỉ tiêu lợi nhuận ròng phản ánh số kết quả màcông ty được hưởng So với chỉ tiêu doanh thu thuần, chỉ tiêu lợi nhuận ròng
có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn Năm 2007 lợi nhuận ròng mà công ty đã đạtđược là 4.532.3.158 đồng, tức là 120,84% so với năm 2006 Để có kết quảnày công ty đã phấn đấu nâng cao chất lượng sản xuất, tiết kiệm chi phí và hạgiá thành sản phẩm
Cùng với sự tăng lên của các chỉ tiêu này, chỉ tiêu sản xuất lợi nhuận trêndoanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu năm 2007 đều tăng so vớinăm 2006 Nếu năm 2006, cứ 1 đồng vốn kinh doanh thì đạt được 0,65 đồnglợi nhuận ròng thì năm 2007, 1 đồng doanh thu tạo được 0,684 đồng lợi nhuậnròng Nếu năm 2006, cứ 1 đồng vốn kinh doanh tạo được 0,1025 đồng lợinhuận ròng thì năm 2007, 1 đồng kinh doanh tạo ra được 0,1396 đồng lợinhuận ròng Tỷ suất lợi nhuận tăng có nghĩa doanh nghiệp đã đạt tốc độ lợinhuận lớn hơn tốc độ tăng doanh thu và vốn kinh doanh Nếu năm 2006, 1đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được 0,223 đồng lợi nhuận ròng thì năm 2007, 1đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được 0,2598 đồng lợi nhuận ròng
Các kết quả này cho thấy sự nỗ lực rất lớn của công ty trong việc tổ chứcsản xuất kinh doanh và sử dụng vốn có hiệu quả
Là một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty luôn thựchiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước thông qua các khảon thuế thunhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên, thuế giá trị gia tăng, tiền thuê đất công
ty đã luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nộp ngân sách nhànước Năm 2007, công ty đã đóng góp vào ngân sách nhà nước là
Trang 265.124.000.000 đồng, đã tăng 27,88% so với năm 2006.
Thu nhập bình quân của người lao độnh trong năm 2007 là 2.100.000đồng/tháng, tăng 14,63% so với năm 2006 Đây là một chỉ tiêu đánh giá chấtlượng sản xuất kinh doanh của công ty là 2.100.000 đồng/tháng là mức thunhập khá cao so với mức thu nhập bình quân của toàn xã hội Mức thu nhập
và ổn định như vậy là một điều kiện khuyến khích người lao động hăng say,tận tình với công việc, thúc đẩy mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty ngày càng phát triển, đây còn là cơ sở để thu hút các lao động có trình độtay nghề cao trên thị trường
Như vậy, năm 2007 công ty đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức cảnăm chỉ tiêu (sản lượng, doanh thu thuần, lợi nhuận ròng, nộp ngân sách Nhànước, thu nhập bình quân của người lao động)
Để thấy rõ tình hình tài chính của công ty, ta đi sâu vào một số chỉ tiêutài chính cụ thể của năm 2007