4 indd Thông tin Khoa học xã hội, số 5 201928 Bàn về triết học duy lý của Benedictus de Spinoza Lê Hữu Lợi(*) Tóm tắt Benedictus de Spinoza (1632 1677) là nhà khoa học, nhà triết học duy lý người Hà L[.]
Trang 1Bàn về triết học duy lý của Benedictus de Spinoza
Lê Hữu Lợi (*)
Tóm tắt: Benedictus de Spinoza (1632-1677) là nhà khoa học, nhà triết học duy lý người
Hà Lan nổi tiếng thế kỷ XVII, là một trong những người đặt nền móng cho sự ra đời triết học Khai sáng thế kỷ XVIII Các thành tựu khoa học và triết học của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ, rộng rãi và lâu dài đến nền khoa học, nền triết học cận đại và cả ngày nay Khi nhắc đến chủ nghĩa duy lý thời kỳ cận đại phương Tây, người ta thường nghĩ tới Spinoza Bài viết góp phần làm rõ một số nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học duy lý của ông,
từ đó bước đầu đánh giá những giá trị khoa học cũng như những hạn chế nhất định của
lý luận đó đối với triết học phương Tây cận - hiện đại.
Từ khóa: Triết học phương Tây, Chủ nghĩa duy lý, Benedictus de Spinoza
Abstract: Benedictus de Spinoza (1632-1677), a famous Dutch scientist and philosopher
of the seventeenth century, was one of the foremost exponents of the 18th century Enlightenment philosophy His scientifi c and philosophical achievements have a strong, extensive and long-lasting infl uence on modern and contemporary science and philosophy When it comes to Western modernist rationalism, one immediately thinks of Spinoza The article clarifi es some basic contents of his rational philosophical thought, thereby initially evaluates the scientifi c values as well as certain limitations thereof to early modern Western philosophy.
Keywords: Western Philosophy, Rationalism, Benedictus de Spinoza
1 Đặt vấn đề 1(*)
Thế kỷ XVII được gọi là thời kỳ lý
tính, thời kỳ chủ nghĩa duy lý lên ngôi
trước khi có sự ra đời của chủ nghĩa kinh
nghiệm mang tên Francis Bacon, đây cũng
là giai đoạn chứng kiến sự bùng nổ khá
mạnh mẽ của khoa học tự nhiên, đặc biệt là
cơ học, toán học, vật lý học và gắn liền với
sự xuất hiện của một loạt các nhà triết học
(*) ThS., Trường Đại học Bạc Liêu;
Email: leloi1501@gmail.com
- nhà khoa học tự nhiên Bennedictus de Spinoza là đại diện tiêu biểu cho làn sóng mới đó của khoa học - triết học lúc bấy giờ bên cạnh hai nhà duy lý René Descartes và Gottfried Leibniz Thông qua việc kế thừa
có phê phán triết học Descartes, nhà triết học theo “chủ nghĩa tự nhiên thần luận” (chủ nghĩa duy vật hay vô thần) đã đem lại một cách nhìn mới về triết học và khoa học so với tư duy triết học truyền thống thông qua các tác phẩm nổi tiếng của mình,
đặc biệt là Đạo đức học Qua việc đề cao
Trang 2những nguyên lý toán học của Euclid trong
hình học, vận dụng để luận giải về những
phương pháp lý tính trong việc giải quyết
những vấn đề siêu hình học, tư tưởng của
Spinoza đã thể hiện sự sáng tạo vượt trội và
có nhiều giá trị cho sự phát triển khoa học
tự nhiên đương thời, đồng thời, ông cũng
được coi là người đặt nền tảng cho sự ra đời
của triết học khai sáng thế kỷ XVIII cũng
như có sức ảnh hưởng lớn đến các nhà triết
học sau này
2 Cuộc đời và sự nghiệp của Benedictus
de Spinoza
Spinoza sinh năm 1632 trong một gia
đình thương gia ở Amsterdam (Hà Lan) Khi
còn nhỏ, ông là một học sinh xuất sắc trong
trường học của giáo đoàn Do Thái Tuy
nhiên đến năm 17 tuổi, Spinoza buộc phải
thôi học để giúp gia đình trong công việc
buôn bán Mặc dù được thừa hưởng một nền
giáo dục truyền thống Do Thái, nhưng chính
sự phê phán và hiếu kỳ đã dẫn ông đến sự
xung đột với cộng đồng Do Thái, sau đó bị
khai trừ, kể từ đây ông lấy tên Benedictus
Sau khi cha ông qua đời một thời gian, ông
chính thức không theo nghề, không lấy vợ và
cũng không có con mà chỉ tập trung say mê
nghiên cứu triết học và khoa học tự nhiên,
nhất là hình học Euclid, ông vẫn tự xưng là
Euclid trong triết học
Trong cuộc đời và sự nghiệp triết
học của mình, Spinoza đã để lại nhiều tác
phẩm triết học có giá trị lớn lao cho nền
triết học nhân loại như: Những nguyên lý
triết học Descartes (xuất bản năm 1663);
Chuyên luận về thần học - chính trị (công
bố ẩn danh năm 1670); Lược khảo về
Chúa, về con người và hạnh phúc của nó
(1677); Tiểu luận về sự hoàn thiện trí tuệ
vẫn ít được biết tới (1677); Đạo đức học
(Ethics) (1677); Đạo đức học được xem
là tác phẩm nổi tiếng và quan trọng nhất
của Spinoza, theo nghĩa rộng, tác phẩm tập trung bàn về tự nhiên và thực thể, Chúa, con người, về thể xác và linh hồn, cảm tính
và lý tính của con người cũng như về các vấn đề đạo đức Đây là tác phẩm chứa đựng nhiều tư tưởng tiến bộ nhất của ông, đem lại tên tuổi cho nhà triết học người Hà Lan sau khi ông qua đời vào năm 1677
Spinoza được coi là nhà duy lý lớn của triết học Tây Âu cận đại thế kỷ XVII, là người đặt nền tảng cho sự khai sáng thế kỷ XVIII, ông đặc biệt chịu sự ảnh hưởng của triết học Descartes và tự coi mình là người
kế tục và phát triển triết học Descartes, song cũng chính ông là người phê phán triết học nhị nguyên của nhà triết học vĩ đại người Pháp Sau khi qua đời, ông được đất nước Hà Lan suy tôn như một nhân vật lịch
sử quan trọng, với việc in hình ông nổi bật trên đồng tiền chính thức của đất nước cho đến khi có đồng tiền Euro năm 2002, giải thưởng khoa học cao nhất, có uy tín nhất của Hà Lan cũng mang tên Spinoza
3 Những nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học duy lý của Benedictus de Spinoza
3.1 Sự khắc phục thuyết nhị nguyên của Descartes và sự hình thành học thuyết
về “thực thể”
Cogito ergo sum - “Tôi tư tưởng, vậy
tôi hiện hữu” (Dẫn theo: Trần Thái Đỉnh, 2012: 26) được coi là điểm xuất phát trong triết học Descartes Cùng với Bacon,
“Đềcáctơ [Descartes] đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học Tây Âu cận đại” (Nguyễn Hữu Vui, 2007: 297), còn trong triết học Spinoza, điểm xuất phát lại bắt nguồn từ một cụm từ khá ngắn gọn - “thực thể” (substance) (thượng
đế hay giới tự nhiên) là nguyên nhân của
chính mình Bên cạnh một cuộc cách mạng
chống thần học, triết học Kinh viện, cùng với Descartes, Spinoza cũng thực hiện cuộc
Trang 3cách mạng khắc phục thuyết “nhị nguyên”
của Descartes để đi đến “nhất nguyên”
trong thế giới quan của mình, từ đó trở
thành một nhà triết học vô thần đúng nghĩa
Trong Đạo đức học, khi đề cập tới Chúa,
Spinoza trước hết đưa ra và phát triển khái
niệm “causa sui” - nguyên nhân của bản
thân: “Tôi hiểu causa sui là cái mà bản chất
bao hàm trong mình sự thực tồn, nói cách
khác, bản chất của nó không thể hiểu theo
cách nào khác ngoài là bản chất đang tồn
tại” (Dẫn theo: Đỗ Minh Hợp, 2014: 102)
Xuất phát từ quan niệm trên, ông đi đến
hợp nhất các khái niệm “Chúa”, “tự nhiên”
và “thực thể”
Chúa, theo Spinoza, tồn tại bên trong
bản thân thế giới, mang tính nội tại và
tương đồng với thế giới chứ không phải ở
bên ngoài, xa lạ với thế giới Với ý nghĩa
đó, ông coi Chúa là một thực thể: Tôi hiểu
chúa là thực thể tuyệt đối vô hạn, tức là
thực thể cấu thành từ vô số đặc tính, trong
đó mỗi đặc tính đều biểu thị bản chất vĩnh
hằng và vô hạn Sự khác biệt giữa tư tưởng
triết học về Chúa của Spinoza và Descartes
thể hiện trước hết ở các thuật ngữ “thần
luận” (deisme - khẳng định sự tồn tại của
một đấng cứu thế nào đó) và “phiếm thần
luận” (pantheisme) Phiếm thần luận của
Spinoza là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng
Hy Lạp cổ đại pan (tất cả) và theos (thần,
thượng đế), có nghĩa là dùng để chỉ niềm
tin rằng “Thượng đế là tất cả, tất cả là
Thượng đế” (Dẫn theo: Nguyễn Tấn Hùng,
2012: 331) Theo nghĩa rộng, thế giới hoặc
là đồng nhất với Thượng đế, hay theo một
cách nào đó, là một sự biểu hiện bản chất
của Thượng đế
Mặc dù có một thực thể duy nhất đồng
nhất với Thượng đế, nhưng nó hiện ra
thông qua vô số các thuộc tính (attribute),
trong đó tư duy và quảng tính là hai thuộc
tính cơ bản Cách xác định như vậy có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức, thể hiện sự nhất nguyên luận trung lập so với thuyết nhị nguyên của Descartes coi vật chất và tinh thần là hai thực thể độc lập Theo Spinoza:
“Thuộc tính theo tôi hiểu là cái được trí tuệ nhận thức về một thực thể, là cái tạo nên bản chất của thực thể Tư duy và quảng tính là hai thuộc tính cơ bản của thực thể” (Dẫn theo: Nguyễn Tấn Hùng, 2012: 332-333) Những sự vật cá thể là những dạng thức (mode), là những dạng tồn tại khác nhau của thực thể Ông định nghĩa “Dạng thức theo tôi hiểu là những biến thể của một thực thể, là cái nằm trong một cái khác nhờ đó mà thực thể được nhận thức” (Dẫn theo: Nguyễn Tấn Hùng, 2012: 333) Như vậy, nếu như ở Descartes, tính chất cơ bản của các vật thể là quảng tính, Descartes gọi chúng là thực thể, thì Spinoza biến hai thực thể của Descartes thành hai thuộc tính của một thực thể theo quan niệm riêng Các thuộc tính được hiểu như những tính chất
cố hữu, mà thông qua đó thực thể được biểu hiện ra Bản thân thực thể bao hàm tổng thể các thuộc tính của nó Các thuộc tính cũng tồn tại vĩnh viễn như chính bản thân thực thể, mặc dù nó thuộc về “thế giới sản sinh ra”
Thực thể là bất động, dạng thức luôn luôn vận động và bị chi phối bởi luật nhân quả Spinoza đi đến thuyết quyết định luận rằng: “Trong tự nhiên không có gì là ngẫu nhiên, trái lại tất cả đều do tính tất yếu của
tự nhiên thần thánh quyết nó phải tồn tại
và sản sinh ra một kết quả theo một cách nhất định” (Dẫn theo: Nguyễn Tấn Hùng, 2012: 333)
Tóm lại, học thuyết “thực thể” của Spinoza tuy còn những hạn chế nhất định, mang tính chất siêu hình nhưng nó lại thấm
Trang 4đượm tinh thần duy vật, vô thần và chứa
đựng những yếu tố biện chứng Điều đặc
biệt ở đây, chúng tôi muốn khẳng định lại
những điều đề cập ở trên, đó là thông qua
“thực thể”, Spinoza đã tự xây dựng một nền
triết học cho riêng mình, khắc phục được
thuyết nhị nguyên của Descartes xét theo
nghĩa bản thể luận của nó
3.2 Nhận thức luận - phương pháp
luận duy lý của Spinoza
Xuất phát từ học thuyết về thực thể -
giới tự nhiên - Thượng đế duy nhất, Spinoza
khai triển vấn đề nhận thức luận của mình
Ông coi linh hồn và thể xác con người chỉ
là hai thuộc tính của một sự vật, là thể hiện
hai thuộc tính của một thực thể trong một
dạng thức của nó Tư duy và thể xác là một
hiện tượng được nhìn nhận từ hai góc độ
khác nhau Quan niệm này dẫn tới kết luận
rằng, các cảm giác, biểu tượng do các giác
quan của cơ thể đưa lại cũng có cùng một
nội dung với các ý tưởng, quan niệm của
tư duy Như vậy, học thuyết về một thực
thể duy nhất đã mở ra một không gian
rộng rãi cho hoạt động của các giác quan
Nhưng Spinoza đã không đưa ra một nhận
định tích cực về giá trị của nhận thức cảm
tính, ông đi đến chỗ tuyệt đối hóa cái chung
nhất, cái bất biến, cái duy nhất và như vậy,
ông có khuynh hướng tách rời thực thể khỏi
những dạng thức, sự vật cụ thể Thậm chí,
ông còn cho rằng thực thể đứng trên cả
những thuộc tính, dạng thức của nó, vì thực
thể là cái sinh ra còn các thuộc tính là cái
thuộc về thế giới được sinh ra Cảm giác
gắn với các sự vật đơn nhất nên không với
tới được thực thể Chỉ có những suy nghĩ,
quan niệm trừu tượng của tư duy, đặc biệt
là những tri thức trực giác của nó mới nắm
được thực thể Do vậy, nhận thức về các
giác quan có thể mang lại sự hiểu biết về
“thế giới được sinh ra” của thực thể, nghĩa
là còn có một giá trị khách quan nhất định Với những luận giải nêu trên, Spinoza chỉ
ra ba cấp độ nhận thức như sau:
Ở mức độ trí tưởng tượng (nhận thức
cảm tính), các ý niệm xuất phát từ cảm giác, như khi chúng ta nhìn thấy một người khác
Ở đây, các ý niệm rất đặc thù và cụ thể Các ý niệm ở bình diện này là chuyên biệt, chúng mơ hồ và không đầy đủ Hay nói cách khác, tôi biết tôi nhìn thấy một người, nhưng tôi vẫn chưa biết được bản chất của người ấy là gì, ý niệm do kinh nghiệm này
là hữu ích cho cuộc sống hằng ngày của con người nhưng nó không cho con người tri thức đích thực, không cho biết bản chất của sự vật
Mức độ nhận thức giác tính vượt lên
trên trí tưởng tượng để đến lý trí Đây là tri thức khoa học Ở mức độ này, tinh thần con người có thể vượt qua khỏi phạm vi các sự vật cụ thể trước mắt để có được các
ý niệm trừu tượng, như trong toán học và vật lý học Tri thức thì đầy đủ và đúng Ông cho rằng chân lý tự mình chứng minh mình
“vì người có một ý niệm đúng thì đồng thời biết rằng mình có một ý niệm đúng, và không thể nghi ngờ về chân lý của sự vật” (Dẫn theo: Stumpf, 2004: 205)
Mức cao nhất của nhận thức là trực
giác Cũng như Descartes, Spinoza coi
trực giác là trực giác lý tính, tức khả năng trí tuệ cao nhất của con người, là khả năng khám phá ra chân lý, đồng thời là tiêu chuẩn của chân lý Nhờ trực giác, chúng
ta có thể hiểu thấu toàn thể hệ thống của thiên nhiên Ở mức độ này, con người có thể hiểu biết các sự vật cụ thể mà họ đã gặp ở mức độ thứ nhất nhưng với một cách thức mới Nếu ở mức độ thứ nhất chúng ta thấy tất cả các vật thể một cách rời rạc, thì
ở mức độ này chúng ta thấy chúng trong mối liên hệ của nó với cái khác, thấy nó
Trang 5trong tính toàn thể Khi đạt tới mức độ này,
con người ngày càng hiểu Thượng đế hơn
và trở nên hoàn thiện, hạnh phúc hơn, vì
qua sự diện kiến này chúng ta hiểu thấu
được toàn hệ thống của thiên nhiên Bên
cạnh đó, con người thấy vị trí của mình
trong thiên nhiên, mang đến cho họ một sự
hấp dẫn tri thức về trật tự và sự viên mãn
của thiên nhiên, của Thượng đế
Như vậy, Spinoza đã coi quá trình nhận
thức là con đường giúp con người ngày
càng khám phá và tuân theo các quy luật
của tự nhiên và đồng thời ngày càng đi tới
tự do, đi dần từ cảm tính tới giác tính và
cuối cùng tới trực giác Ông cho rằng, con
người cần phải có niềm tin, nhưng đó là tin
vào các quy luật tự nhiên, vào sự thực chứ
không phải những điều hư ảo của tôn giáo
Tiếp theo, trong quá trình nhận thức,
Spinoza bàn về chân lý và mối quan hệ
giữa chân lý xác thực với sai lầm, “giống
như ánh sáng làm lộ ra bản thân nó và bóng
tối bao quanh, chân lý là thước đo về chính
mình và về sự sai lầm”, vì “ai có ý niệm
chân chính thì người đó cũng biết là có nó
và không thể hoài nghi về tính chân lý của
sự vật” nên “chân lý là tiêu chí cho chính
mình và cho cả sự sai lầm” (Dẫn theo: Viện
Triết học, 1998: 271) Điều này, theo ông,
chỉ có nhận thức trực giác và bỏ đi cái xấu
xa của cảm giác mới đạt được đến cái chân
lý hoàn hảo nhất, song, chân lý ấy có sự sai
lầm Sai lầm là chân lý tương đối Đây là
luận điểm vừa biện chứng, vừa siêu hình ở
chỗ tách biệt quá trình nhận thức với hoạt
động thực tiễn của con người
Về phương pháp luận, giống như
Descartes, Spinoza cho rằng chúng ta có
thể đạt tri thức chính xác về thực tại bằng
cách theo phương pháp hình học Nhưng
cái mà Spinoza thêm vào phương pháp của
Descartes là một sự sắp xếp có hệ thống
cao các nguyên lý và tiên đề Trong khi phương pháp của Descartes khá đơn giản, Spinoza hầu như triển khai một siêu hình học (Metaphysics) để giải thích toàn thể thực tại theo kiểu hình học, giải thích các tương quan và chuyển động của sự vật Trong hình học, các kết luận được chứng minh và Spinoza nghĩ rằng lý thuyết của chúng ta về thực tại cũng có thể được chứng minh như vậy Spinoza không chấp nhận rằng các định nghĩa của ông là tùy tiện, vì ông tin rằng các khả năng của lý trí chúng ta có thể hình thành các ý niệm phản ánh bản chất thực của sự vật: “Mọi định nghĩa hay ý niệm rõ ràng và phân biệt đều đúng” (Dẫn theo: Stumpf, 2004: 202) Do đó, một hệ thống đầy đủ các ý niệm đúng sẽ cho chúng ta hình ảnh thực
về thực tại
Cũng chịu ảnh hưởng của Descartes, Spinoza cho rằng, để hình dung được đầy
đủ hình ảnh của tự nhiên, trí tuệ của chúng
ta cần xây dựng tất cả các ý niệm, ý niệm đầu tiên phải là nguồn gốc của ý niệm khác,
đó chính là phương pháp suy diễn toán học Như vậy, phương pháp suy diễn của toán học là công cụ vạn năng trong việc nhận thức thế giới Quan điểm này thể hiện sự tuyệt đối hóa sự phát triển của toán học
và phương pháp toán học trong tình hình đương thời Nó cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa triết học và khoa học tự nhiên
Có thể nói, những phân tích trên cho
thấy, việc đề cao lý tính hay trí tuệ của con người là đáng được trân trọng trong tư tưởng của Spinoza, mặc dù vẫn còn những hạn chế nhất định song việc xây dựng một
hệ thống triết lý dựa trên phương pháp diễn dịch cũng thể hiện những điểm mới và sáng tạo trong cách trình bày của ông, một cơ sở cho sự phát triển của triết học trong khoa học tự nhiên về sau
Trang 63.3 Về nhân bản học và đạo đức học
Spinoza
Cũng xuất phát từ học thuyết về thực
thể, Spinoza xây dựng quan niệm về con
người Vấn đề con người được xem là mục
đích cuối cùng của triết học Con người
chính là một dạng thức của thực thể, là sản
phẩm của tự nhiên và mọi hoạt động của
nó phải tuân theo các quy luật tự nhiên Là
một dạng thức của thực thể nên con người
có quảng tính và tư duy, ở con người điều
đó được thể hiện dưới dạng linh hồn và thể
xác Đây là hai thể thống nhất, không thể
tách rời nhau: “Cơ thể không thể bắt linh
hồn phải suy nghĩ, cũng như tư duy không
thể buộc thể xác vận động hay đứng yên,
hoặc làm một việc gì khác” (Dẫn theo:
Nguyễn Hữu Vui, 2007: 320) Thể xác con
người mà không có khả năng suy nghĩ thì
không còn là nó nữa, mà chỉ là một vật vô
dụng Trái lại, linh hồn chỉ là chức năng
hoạt động của thể xác con người Theo ông,
bản tính của con người là nhận thức, nhận
thức là khát vọng lớn nhất của con người
muốn thể hiện tình yêu trí tuệ của mình
tới Thượng đế Spinoza tiếp tục phát triển
quan niệm của Descartes khi coi cơ thể con
người là khí quan của tinh thần Nhưng con
người không phải “cái máy - hệ thống” như
Descartes đã nói, con người là một dạng
thức của thực thể nằm trong quá trình phát
triển và diệt vong của giới tự nhiên Song,
theo ông, đó là sự nhận thức bản thân của
Thượng đế, “trong Thượng đế cần phải tồn
tại một ý niệm bản chất của một cơ thể con
người nào đó dưới hình thức vĩnh hằng”
(Dẫn theo: Nguyễn Hữu Vui, 2007: 321),
bởi vì tư duy con người thể hiện sự phát
triển cao của tư duy với tư cách là một
thuộc tính của thực thể Con người là sự thể
hiện thuộc tính của giới tự nhiên tự nhận
thức, ý thức chính bản thân mình
Theo Spinoza, học thuyết về con người cần giúp đỡ người ta tìm thấy một “bản tính người” đặc trưng cho mọi người Tuy nhiên, cần xây dựng xã hội sao cho có nhiều người thực hiện được mục tiêu ấy dễ dàng, chính học thuyết về con người cho phép Spinoza tập trung xung quanh vấn đề hạnh phúc của con người, đổi mới đạo đức và cải biến xã hội dựa trên các nguyên tắc nhân văn Khi bàn về nguồn gốc hình thành con người, Spinoza cho rằng mỗi người “đều là một bộ phận của toàn bộ tự nhiên, bản chất con người buộc phải phục tùng các quy luật của nó và phải thích nghi với nó bằng vô
số phương thức”, trong khi đó “năng lực con người là rất hạn chế và sức mạnh của các nguyên nhân bên ngoài là vượt trội, nó
vô hạn; do vậy chúng ta không có năng lực tuyệt đối để bắt các sự vật bên ngoài phục
vụ chúng ta” (Dẫn theo: Viện Triết học, 1998: 285) Quan điểm này vẫn chưa đạt đến độ rằng chính con người mới là chủ thể chinh phục tự nhiên, với nguyên do rằng, con người mặc dù tồn tại trong thế giới tự nhiên, là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên, chịu sự chi phối của các quy luật tất yếu của giới tự nhiên, song, bằng và thông qua lao động, con người đã chinh phục tự nhiên theo cách của mình Mặc khác, thời điểm lịch sử ấy chưa cho phép ông đạt đến điều đó Quan điểm này chỉ đến thời kỳ triết học Marx-Lenin ra đời mới trở nên hoàn hảo
Điểm tương đồng và hợp lý nhất của Spinoza đối với triết học Marx-Lenin, thể hiện ở quan điểm bàn về mối quan hệ giữa tất yếu và tự do Trong “biện chứng của tự nhiên”, Engels cho rằng: “Tự do không phải
là sự độc lập tưởng tượng đối với các quy luật của tự nhiên, mà là sự nhận thức được các quy luật đó…, tự do là ở sự chi phối được chính bản thân và tự nhiên bên ngoài,
Trang 7một sự chi phối dựa trên sự nhận thức được
những tất yếu của tự nhiên; do đó, tự do là
sản phẩm tất yếu của sự phát triển lịch sử”
(Dẫn theo: C Mác - Ph Ănnghen, 1994:
163-164) Tự do phải là một sản phẩm bậc
nhất của sự phát triển của lịch sử, của sự
thống trị đối với tự nhiên lẫn đời sống sinh
hoạt trong xã hội Theo Spinoza, không có
tự do ý chí, bởi vì mọi thứ xảy ra theo cách
của nó, vấn đề là cần phải nhận thức thế
giới một cách năng động để thực sự được
tự do Vì thế, Spinoza là người đầu tiên xác
định mối quan hệ biện chứng giữa tự do và
tất yếu, khi ông chỉ ra tự do chính là sự hiểu
biết cái tất yếu Tự do chân chính không
phủ nhận quy luật khách quan, mà phấn
đấu nhận thức quy luật để vươn lên làm chủ
quy luật Theo đó, con người chỉ có thể trở
thành tự do khi được chỉ đạo bởi lý trí trong
hoạt động của mình
Trong quan niệm về đạo đức, Spinoza
cho rằng, đạo đức bao gồm việc cải thiện
nhận thức của chúng ta bằng cách đi từ cấp
độ các ý niệm lẫn lộn và thiếu sót để lên tới
bình diện thứ ba là trực giác, ở đó chúng
ta có những ý niệm rõ ràng và phân biệt
về sự sắp xếp hoàn hảo và vĩnh cửu mọi
sự vật Chỉ tri thức mới dẫn con người tới
hạnh phúc vì nhờ tri thức con người mới
có thể được giải phóng khỏi các trói buộc
của các đam mê Chính lý trí đóng vai trò
điều tiết nhận thức để hình thành nên một
trật tự nhằm hướng dẫn hành vi của con
người, “trí tưởng tượng giúp đỡ người ta
hình dung được những hậu quả và khuyến
cáo người ta trong các hành động hiện tại”
(Dẫn theo: Durant, 2007: 161), đây là một ý
niệm căn bản về đạo đức, thiện hay ác cũng
ở nơi đây
Như vậy, toàn bộ nội dung triết học duy
lý của Spinoza đều bắt nguồn từ “thực thể”
Việc đề cao tư duy trí tuệ của con người so
với cảm tính đã đem lại nhiều giá trị cho triết học của ông
4 Đánh giá những giá trị và hạn chế trong triết học duy lý của Benedictus de Spinoza
4.1 Về mặt giá trị Một là, cùng với Descartes và Leibniz, Spinoza đã kiên quyết chống lại triết học Kinh viện, giáo điều, đồng thời thực hiện một cuộc cách mạng mang tính chất bước ngoặc trong lịch sử triết học phương Tây thời kỳ cận đại Dominique Folscheid - nhà
triết học người Pháp đánh giá về Spinoza:
“người ta nhìn thấy xuyên qua nhà hiền triết này gương mặt của ‘nhà triết học’ xua đuổi ‘các định kiến’ và ‘các ảo tưởng’, một người chuyên làm mất đi ‘sự thần bí’” (Dẫn theo: Folscheid, 1999: 77)
Hai là, triết học duy lý Spinoza mang nhiều tư tưởng biện chứng sâu sắc, góp phần thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa
duy vật hiện đại Yếu tố biện chứng trong
tư tưởng của Spinoza cho thấy sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các đặc tính và các dạng thức của thực thể, trong mối tương quan giữa thực thể với các dạng thức biểu hiện của nó, do đó, Engels nhận xét rằng: Luận điểm nổi tiếng của Spinoza - thực thể causa sui “thể hiện một cách rõ rệt sự tác
dụng lẫn nhau” (Dẫn theo: C Mác - Ph
Ănnghen Toàn tập, 1997: 721)
Ba là, triết học duy lý Spinoza đóng góp rất lớn trong việc đề cao tầm quan trọng của
lý tính hay trí tuệ con người trong nhận thức
Điểm nổi bật của Spinoza mang đến trong lý luận nhận thức tập trung ở tư tưởng cho rằng chỉ có tri thức mới dẫn con người tới hạnh phúc, vì chỉ nhờ tri thức con người mới có thể được giải phóng khỏi các trói buộc của đam mê Thông qua tư duy, trí tuệ giúp con người định hướng được mọi hành động, suy nghĩ của bản thân, tránh sa vào những cạm bẫy của xã hội đầy rẫy rủi ro như hiện nay
Trang 8Bốn là, Spinoza đã có những cống hiến
to lớn về khoa học và phương pháp luận,
tạo nền tảng cho sự phát triển của triết
học, khoa học sau này Triết học Spinoza
đã có công lớn trong việc đặt nền móng
vững chắc cho khoa học lý thuyết ra đời
và phát triển Ông đã có những đóng góp
to lớn cho sự phát triển khoa học, triết học
trong xã hội Tây Âu cận đại nói riêng và
cho khoa học hiện đại nói chung, đặc biệt là
trong lĩnh vực toán học, với việc vận dụng
phương pháp hình học để lý giải cho các
vấn đề triết học của mình, qua đó, hướng
tới một khoa học toàn bộ, triệt để lý tính,
tuyệt đối chắc chắn, tin tưởng tuyệt đối loài
người và từng cá nhân con người đủ lý trí
để xây dựng khoa học, tiêu biểu cho tinh
thần khoa học
Năm là, trong triết học của Spinoza,
thể hiện tinh thần của chủ nghĩa nhân đạo
mang sắc thái mới (chủ nghĩa dân chủ)
mang lại hạnh phúc, tự do cho con người
Theo ông, khi con người nhận thức và khám
phá ra các quy luật của giới tự nhiên, con
người có thể hành động một cách tự nhiên
để giải quyết một cách hiệu quả mọi tệ nạn
xã hội, mọi khó khăn trong cuộc sống của
chính mình Bằng chính sự học thức hay tri
thức của mình, con người có thể phá bỏ đi
những rào cản, sự đam mê để đi đến hạnh
phúc, tự do, dân chủ
4.2 Về mặt hạn chế
Một là, mặc dù ra sức chống lại triết
học Kinh viện, song tư tưởng của Spinoza
vẫn còn chịu ảnh hưởng của tôn giáo, đồng
thời mang tính chất duy tâm tư biện sâu
sắc Ông đã thừa nhận Thượng đế tồn tại
như một thực thể, lý tính tối cao nhất chính
là Thượng đế Việc đề cao quá mức lý tính,
theo đó biện giải cho lý luận triết học của
mình cho thấy tính chất duy tâm tự biện
của ông, thể hiện tính chất hạn chế của giai
cấp tư sản non trẻ Hà Lan mà triết học của Spinoza đại diện cho lợi ích của nó
Hai là, Spinoza chỉ thấy và tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức - mặt lý tính, do đó cơ sở phương pháp luận này cũng mang tính siêu hình, phiến
diện (phương pháp siêu hình tư biện) Việc
đề cao quá mức vai trò của lý tính đã đưa quan niệm của ông rơi vào tư duy siêu hình, đến mức trở nên siêu việt Sự luận giải các vấn đề khác thông qua phương pháp diễn dịch hình học cũng dựa trên tư duy trực giác ấy, ở ông vẫn còn xem nhẹ nhận thức cảm tính - loại nhận thức cơ bản đầu tiên của quá trình nhận thức đi đến chân lý
Ba là, bên cạnh việc đề cao vị trí con người, vấn đề tự do trong xã hội, Spinoza vẫn chưa nhận thức đầy đủ về bản chất con người, về bản chất đúng nghĩa của sự tự do trong mối quan hệ với cái tất yếu Spinoza
và cả Descartes hay Leibniz chỉ dừng lại ở việc xem xét con người ở bản chất tự nhiên hoặc phân tích con người dưới giác độ tôn giáo, Thượng đế vẫn tồn tại trong tư duy con người, không thấy bản chất xã hội của con người Tự do là sự nhận thức vươn tới cái tất yếu là vô cùng hợp lý, nhưng ông chưa thấy được rằng sự tự do ấy không
lệ thuộc tuyệt đối vào các quy luật của tự nhiên, theo ông đó là tuân theo ý “Chúa”
Như vậy, sau Descartes, Spinoza là
đại biểu điển hình thứ hai của chủ nghĩa duy lý trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII Triết học của ông mang lại nhiều giá trị to lớn về mặt triết học lẫn khoa học Mặc dù còn những hạn chế nhất định về mặt lịch
sử, về tính chất siêu hình của nó, nhưng tư tưởng triết học của Spinoza ảnh hưởng đến rất nhiều triết gia trong triết học cổ điển Đức như Fichte, Schelling, Hegel và các nhà triết học hiện đại như Schopenhauer, Nietzsche, Bergson…
Trang 95 Kết luận
Xuất phát từ sự kế thừa lý luận triết học
của các bậc tiền bối, triết học Spinoza đã để
lại những giá trị lớn lao cả về mặt lý luận
lẫn thực tiễn Triết học của ông thể hiện
một tinh thần duy vật, vô thần, chứa đựng
nhiều yếu tố biện chứng khá sâu sắc được
thể hiện trong bản thể luận, nhận thức luận
và cả triết học về con người Tuy nhiên,
triết học Spinoza vẫn còn chứa đựng nhiều
điều còn hạn chế về mặt lịch sử mà các nhà
triết học sau ông đã chỉ ra
Ngày nay, Việt Nam cũng cần hướng
tới một nền giáo dục mang tính duy lý,
nhận thức rõ tầm quan trọng của lý luận và
vai trò của nó trong đời sống, cần biết phát
huy tính năng động, sáng tạo của người
học, đào tạo ra những con người có trình độ
lý luận ngày càng cao, góp phần vào việc
nhận thức đúng đắn và hoàn thiện hơn chủ
nghĩa Marx-Lenin cũng như vận dụng vào
việc nâng cao nhận thức lý luận của Đảng
Tài liệu tham khảo
1 C Mác-Ph Ănnghen Toàn tập (1994),
tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2 C Mác-Ph Ănnghen Toàn tập (1997),
tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
3 Durant, Will (2007), Câu chuyện triết
học, Bản dịch của Trí Hải và Bữu Đích,
Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội
4 Trần Thái Đỉnh (2012), Triết học
Descartes, Nxb Văn học, Hà Nội.
5 Folscheid, Dominique (1999), Các triết
thuyết lớn, Huyền Giang dịch, Nxb Thế
giới, Hà Nội
6 Đỗ Minh Hợp (2014), Lịch sử Triết học
phương Tây, Tập 2 - Triết học phương Tây Cận hiện đại, Nxb Chính trị quốc
gia, Sự thật, Hà Nội
7 Nguyễn Tấn Hùng (2012), Lịch sử triết
học phương Tây từ triết học Hy Lạp
cổ đại đến triết học cổ điển Đức, Nxb
Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội
8 Stumpf, Samuel Enoch (2004), Lịch sử
triết học và các luận đề, Đỗ Văn Thuấn
và Lưu Văn Hy dịch, Nxb Lao động,
Hà Nội
9 Viện Triết học (thuộc Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Liên Xô) (1998), Lịch
sử phép biện chứng tập 2 - phép biện chứng thế kỷ XIV-XVIII, dịch và hiệu
đính Đỗ Minh Hợp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
10 Nguyễn Hữu Vui (2007), Lịch sử triết
học (tái bản có sửa chữa), Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội