LOVE Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Chuyên Đề Nhi Khoa 125 SUY GAN TỐI CẤP DO Ứ ĐỌNG SẮT Ở TRẺ SƠ SINH TẠI KHOA HỒI SỨC SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP Ng[.]
Trang 1SUY GAN TỐI CẤP DO Ứ ĐỌNG SẮT Ở TRẺ SƠ SINH TẠI KHOA HỒI SỨC SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1:
BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP
Nguyễn Phan Minh Nhật 1 , Phạm Thị Thanh Tâm 2 , Huỳnh Ngọc Linh 3 , Nguyễn Thu Tịnh 1,2
TÓM TẮT
Ứ đọng sắc tố sắt sơ sinh (NH: neonatal hemochromatosis), do bệnh gan tự miễn thai kỳ (GALD:
Gestational alloimmune liver disease), khá hiếm gặp, liên quan đến ứ đọng sắc tố sắt trong và ngoài gan Trong
GALD, cơ thể của bà mẹ mang thai phản ứng với kháng nguyên gan của thai nhi dẫn đến sự hình thành các tự
kháng thể IgG đặc hiệu gây tổn thương tế bào gan thai nhi, ứ đọng sắc tố sắt trong gan gây suy gan dẫn đến tử
vong do chẩn đoán muộn Mặc dù tiên lượng nặng song các trẻ NH có thể được cứu sống nếu được chẩn đoán và
điều trị sớm Báo cáo một trường hợp bệnh nhân 8 ngày tuổi suy gan tối cấp mà không tìm được nguyên nhân rõ
ràng Kết quả tử thiết gan của bệnh nhân có ứ đọng sắt trong tế bào gan, gợi ý nhiều bệnh lý NH, tuy nhiên bệnh
nhân của chúng tôi chưa được sinh thiết mô ngoài gan như tụy, phổi tìm ứ đọng sắc tố sắt để xác định chẩn đoán
GALD-NH Đối với các trường hợp suy gan tối cấp ở trẻ sơ sinh mà không tìm được nguyên nhân rõ ràng, nên
cân nhắc tới GALD-NH để có hướng chẩn đoán, xét nghiệm và điều trị thích hợp cũng như tư vấn cho các thai
kỳ sau của người mẹ
Từ khóa: suy gan sơ sinh, bệnh gan miễn dịch thai kỳ, ứ đọng sắt sơ sinh
ABSTRACT
FULMINANT HEPATIC FAILURE CAUSED BY NEONATAL HEMOCHROMATOSIS AT NEONATAL
INTENSIVE CARE UNIT OF CHILDREN’S HOSPITAL 1: A CASE REPORT
Nguyen Phan Minh Nhat, Pham Thi Thanh Tam, Huynh Ngoc Linh, Nguyen Thu Tinh
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 2 - 2021: 125 - 131
Neonatal Hemochromatosis (NH) associated with Gestational alloimmune liver disease (GALD) is a rare
disease accompanied by siderosis of intra- and extra-hepatic tissue In GALD, the reaction of the mother to the
fetal hepatic antigen results in forming specific fetal liver IgG antibodies, these antibodies bind to the antigen of
the fetal liver and then lead to hepatic failure, intrahepatic siderosis, and death as a result of late diagnosis Despite
NH has a poor prognosis; early diagnosis and appropriate treatment may be curative We present a case of 8 day -
old neonate who was diagnosed with neonatal liver failure but the causes had not been defined His liver autopsy
suggested NH, but without extrahepatic tissues such as pancreas and lung so that the diagnosis of GALD-NH
has not been confirmed GALD-NH should be considered in a newborn with the cryptogenic cause of hepatic
failure for appropriate diagnosis, evaluation, and treatment, as well as counseling for subsequent pregnancies of
the mother
Keywords: neonatal hemochromatosis, gestational alloimmune liver disease, neonatal liver failure
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ứ đọng sắc tố sắt sơ sinh (NH: neonatal
hemochromatosis) là bệnh gan tự miễn thai kỳ
(GALD: Gestational alloimmune liver disease) hiếm gặp, liên quan đến ứ đọng sắc tố sắt trong
và ngoài gan, biểu hiện lâm sàng với suy gan cấp
ở trẻ sơ sinh, nguy cơ tử vong cao Ca lâm sàng
1 Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh 2 Khoa Hồi sức Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1
3 Khoa Giải phẫu bệnh Bệnh viện Nhi Đồng 1
Trang 2NH lần đầu tiên được báo cáo bởi Blisard KS(1)
vào năm 1986, chẩn đoán NH được đặt giả thiết
sau khi bệnh nhân tử vong vì suy gan diễn tiến
nhanh với rất ít thông tin lâm sàng gợi ý nguyên
nhân Trong những năm qua, NH thường được
báo cáo với các ca lâm sàng đơn lẻ và hiện chưa
có một đồng thuận thống nhất về chẩn đoán,
điều trị cũng như tầm soát(2,3) Trong GALD-NH,
cơ thể của bà mẹ mang thai phản ứng với kháng
nguyên gan của thai nhi dẫn đến sự hình thành
các tự kháng thể IgG đặc hiệu đối với gan
Kháng thể này khi vào tuần hoàn thai nhi liên
kết với kháng nguyên gan và kích hoạt bổ thể
gây tổn thương tế bào gan, ứ đọng sắc tố sắt
trong gan gây suy gan dẫn đến tử vong do
thường được chẩn đoán muộn Vì sao tuần hoàn
mẹ tiếp xúc với kháng nguyên gan thai nhi vẫn
chưa được biết rõ Mặc dù tiên lượng nặng song
các trẻ NH có thể được cứu sống nếu được chẩn
đoán và điều trị sớm(4)
BÁO CÁO CA LÂM SÀNG
Chúng tôi tiếp nhận một trường hợp chuyển
từ bệnh viện tuyến tỉnh: bệnh nhân 8 ngày tuổi nhập viện trong tình trạng lừ đừ, sốt cao, bú kém, ọc sữa
Tiền căn con 2/2, sanh thường đủ tháng, cân nặng lúc sanh 2700 gam, PARA mẹ 2012
Bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi- nhiễm trùng huyết nặng; cần đặt nội khí quản hỗ trợ hô hấp, truyền hồng cầu lắng và huyết tương tươi đông lạnh do thiếu máu và rối loạn đông máu nặng, sử dụng kháng sinh meropenem và vancomycin; bệnh nhân không có tình trạng rối loạn huyết động cần hỗ trợ dịch truyền hay vận mạch, tuy nhiên tình trạng rối loạn đông máu không cải thiện nên được chuyển viện lên bệnh viện Nhi Đồng 1 sau 4 ngày điều trị tại bệnh viện tuyến tỉnh
Bảng 1: Diễn tiến lâm sàng, xét nghiệm và điều trị của ca lâm sàng tại bệnh viện Nhi đồng 1
4-5
Suy hô hấp cần
thông khí cơ học
Phù toàn thân Chảy máu chỗ chích,
vàng da, gan 3cm
dưới hạ sườn phải,
lách không to
Số lượng bạch cầu 7,5k/µL Bạch cầu neutrophil:
3,32k/µL (44%) Hemoglobin 12,5g/dL
Tiểu cầu 13k/uL CRP 3,38mg/L Creatinin 44,57umol/L AST 3795(U/L) ALT 647 U/L ALP 217U/L (48-406) GGT 238 U/L (12-132) NH3 168 umol/L Bilirubin toàn phần 8,7mg/L, trực tiếp 2,5mg/L
PT 56s INR 6 aPTT 106s Fibrinogen 0,7g/L Albumin 1,7 g/dL Đường huyết thấp kéo dài TORCH (-) Giang mai (-) HbsAg (-) AntiHCV (-)
Parvovirus B19 (-) Siêu âm bụng: Gan không to Dịch ổ bụng lượng
vừa thuần nhất
Siêu âm tim: không có bất thường cấu trúc, chức
năng tim
Chẩn đoán: Viêm phổi - Nhiễm trùng huyết nặng - Suy gan tối cấp - Đông máu
nội mạch lan tỏa Điều trị: Thở máy xâm lấn
Meropenem,Vancomycin; Truyền máu và các chế phẩm máu, Vitamin K; Albumin
6-39 Tình trạng lâm sàng
không cải thiện
Tiểu cầu 36 -43k/uL Rối loạn đông máu AST 131 (U/L) ALT 17 U/L Albumin 1.88-2.1 g/dL Ferritin 13.078 ug/L Triglyceride 3,21 NH3 105 umol/L Kháng thể Lupus anticoagulant (mẹ) 51,5" (31-44) Kháng thể Anticardiolipin (mẹ) IgG, IgM (-) Định lượng enzyme của Hội chứng Gaucher (-) Kết quả phân tích quần thể tế bào lympho và định lượng immunoglobulin miễn dịch (IgM, IgG, IgA):
bình thường
Cấy và PCR bệnh phẩm máu, dịch cơ thể: Không
Chẩn đoán: Làm xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân thực bào máu, bệnh lý rối loạn chuyển hóa bẩm sinh, suy giảm miễn dịch bẩm sinh Điều trị: Tiếp tục kháng sinh như trên Truyền máu và chế phẩm máu nhiều lần, Immunoglobulin tĩnh mạch
Trang 3Ngày tuổi Triệu chứng lâm
tìm thấy tác nhân gây bệnh
40
Tử vong trong bệnh
cảnh suy hô hấp, suy
gan, rối loạn đông
máu
Tử thiết gan cho thấy không nhiễm Cytomegalovirus; xơ gan F2 Metavir; ứ đọng sắc tố sắt trong tế bào gan qua nhuộm Perl’s Prussian-blue, theo dõi NH (xem hình 1)
aPTT activated partial thromboplastin time Thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần
TORCH
T: Toxoplasma gondii, R: Rubella, C: Cytomegalovirus (CMV), H: Herpes simplex virus
(HSV), O: “Other”
T: Toxoplasma gondii, R: Rubella, C: Cytomegalovirus (CMV), H: Herpes simplex virus
(HSV), O: “Other”: siêu vi khác
Hình 1: Hình ảnh giải phẫu bệnh mô gan (A) Mô gan xơ hóa trên đại thể, (B) Sắc tố sắt trong tế bào gan qua
nhuộm Perl’s Prussian-blue
BÀN LUẬN
Suy gan ở trẻ sơ sinh khá hiếm gặp nhưng có
nguy cơ tử vong cao Các nguyên nhân thường
gặp nhất là: thiếu máu nuôi, NH, nhiễm HSV,
rối loạn chuyển hóa(5,6). NH thường hiếm gặp
nhưng là nguyên nhân gây suy gan sớm và nặng
ngay sau sinh, tuy nhiên NH khó chẩn đoán, dễ
bỏ sót Nguyên nhân của NH trước đây được
đặt giả thuyết do khiếm khuyết gene di truyền
vì có nhiều anh chị em trong gia đình mắc bệnh,
vì lẽ đó, vào ban đầu NH được xếp vào nhóm
bệnh ứ sắt di truyền Tuy nhiên, bên cạnh việc
không xác định được vị trí gen bị ảnh hưởng, nhiều ca lâm sàng được báo cáo cho thấy trên người mẹ đã có những thai kỳ bình thường trước đó vẫn xảy ra trường hợp trẻ sinh ra bị
NH, tỷ lệ tái phát sau đó trong các lần mang thai tiếp theo lên đến 90%
Với nhiều tiến bộ về giải phẫu bệnh, những nghiên cứu gần đây cho thấy GALD là nguyên nhân của gần như tất cả các trường hợp NH, người ta phân loại NH là một kiểu hình của GALD, gọi là GALD-NH đặc trưng với ứ đọng sắt ở gan và các mô ngoài gan Các kiểu hình
Trang 4khác của GALD cũng có thể gây suy gan cấp
tính ở thai nhi mà không kèm với ứ sắt ở các mô
ngoài gan(7) Cần biết rằng NH chỉ là kiểu hình
lâm sàng, có thể gặp trong hội chứng Gracile,
Trisomy 21, hội chứng suy giảm DNA ty thể
(mitochrondrial DNA depletion syndrome) và
nhiễm trùng chu sinh Cơ chế được lý giải do
gan của thai nhi là nơi lưu trữ sắt chính, trong
các bệnh gan hoại tử cấp tính nặng, một lượng
lớn sắt không liên kết với transferrin
(non‐transferrin bound iron- NTBI) được giải
phóng vào vòng tuần hoàn, đi vào các mô ngoài
gan gây ứ sắt Trên lâm sàng, cần phân biệt
GALD-NH với các nguyên nhân khác gây ra NH
bởi vì sự khác biệt về tiên lượng điều trị
Cơ chế chính tổn thương tế bào gan trong
GALD-NH là qua trung gian bổ thể Nhuộm
miễn dịch cho thấy có sự lắng đọng phức hợp
C5b-9 ở gần như tất cả các tế bào gan trong hầu
hết trường hợp GALD-NH Phát hiện phức hợp
C5b-9 trong tế bào là bằng chứng không thể phủ
nhận rằng đích cuối của dòng thác bổ thể đã
được kích hoạt trên tế bào đó Sự hiện diện
C5b-9 ở >75% nhu mô gan cũng có thể gặp trong 30%
các trường hợp bệnh xơ nang, Gaucher, thiếu
máu tán huyết miễn dịch, do đó, chẩn đoán
GALD-NH cần phối hợp nhiều xét nghiệm khác
để loại trừ những nguyên nhân nói trên(8) Kháng
thể đồng miễn dịch được xác định chắc chắn là
nguyên nhân gây bệnh gan thai nhi dẫn đến
NH Để kích hoạt dòng thác bổ thể tại tế bào gan
cần có sự gắn kết của IgG mẹ với kháng nguyên
tế bào gan của thai nhi IgG mẹ có thể qua được
nhau thai vào khoảng tuần lễ 18 của thai kỳ Các
đồng kháng nguyên cụ thể trong gan của thai
nhi cho đến nay chưa được xác định, và làm thế
nào tiếp xúc với tuần hoàn của mẹ vẫn chưa
được biết rõ Một số nghiên cứu cho rằng kháng
nguyên đó là protein màng tế bào nhưng ít biểu
hiện và được lưu trữ trong các bào quan tế bào
gan ở gan trưởng thành, tuy nhiên protein này
lại biểu hiện rộng rãi trong tế bào gan thai nhi (ví
dụ: AFP) Có thể do gan của thai nhi biểu hiện nhiều protein hơn gan trưởng thành, do đó dễ tiếp xúc và gắn với IgG nguồn gốc từ mẹ trong tuần hoàn, dẫn đến tổn thương do miễn dịch, dẫn đến GALD-NH(9) Có thể vì thế mà
GALD-NH có thể xuất hiện cùng với những bệnh lý do IgG mẹ như giảm tiểu cầu miễn dịch, bất đồng ABO, phù thai(10)
Ứ sắt trong gan thường là hậu quả của tổn thương gan Cơ chế của quá tải sắt trong NH do gan bị tổn thương ức chế hầu hết biểu hiện của hepcidin (HAMP) dẫn đến rối loạn điều hòa vận chuyển sắt qua nhau thai Thông thường, quá trình vận chuyển chất sắt từ mẹ sang thai thông qua sự tương tác của hepcidin (ức chế tái hấp thu và tái sử dụng sắt ở các tế bào võng nội mô)
và ferroportin (chất vận chuyển qua màng được biểu hiện nhiều trong các tế bào nhau thai)
Thiếu hụt nghiêm trọng hepcidin dẫn đến suy giảm quá trình kiểm soát - phản hồi lượng sắt qua nhau thai, và do đó tăng vận chuyển sắt vào gan của thai nhi Ngoài ra, transferrin bị giảm sản xuất, có thể do giảm biểu hiện gene transferrin tại gan, làm giảm khả năng gắn kết với sắt và tăng lượng sắt tự do trong tuần hoàn
Các mô ngoài gan bị ứ sắt không có dấu hiệu của tổn thương, nhưng có ferroportin tương đối thấp (vai trò vận chuyển sắt khỏi tế bào, thường thấy
ở biểu mô niêm mạc ruột, đại thực bào, và nhau thai)(11)
Về lâm sàng, bệnh nhân NH thường có biểu hiện suy gan: hạ đường huyết, rối loạn đông máu nặng, hạ kali máu, phù có hoặc không có kèm cổ trướng, và thiểu niệu(12) Vàng da có thể xuất hiện trong vài ngày đầu sau khi sinh Hầu hết các bệnh nhân được chẩn đoán sơ bộ là nhiễm trùng huyết nặng và có đáp ứng kém với điều trị nhiễm trùng
Như vậy, qua phần tổng quan về nguyên nhân suy gan, cơ chế bệnh sinh và biểu hiện lâm sàng của NH, nhìn lại ca lâm sàng của chúng tôi,
có thể thấy rằng nguyên nhân suy gan do nhiễm
Trang 5trùng không thích hợp vì xét nghiệm huyết đồ
và CRP bình thường, không tìm thấy tác nhân vi
trùng gây bệnh, tầm soát các nguyên nhân khác
như TORCH, giang mai bẩm sinh, viêm gan siêu
vi B, C, bệnh Gaucher đều âm tính Ngoài ra,
ferritin của bệnh nhân tăng, 13.078 ug/L nhưng
không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán Hội chứng thực
bào máu Các chẩn đoán phân biệt được đặt ra
để tìm nguyên nhân nền như bệnh lý chuyển
hóa và suy giảm miễn dịch tiên phát, kết quả xét
nghiệm cũng trong giới hạn bình thường Trên
bệnh nhân của chúng tôi, khả năng cao là
NH-GALD vì đây là nguyên nhân thường gặp nhất,
loại trừ NH do hội chứng Down ít nghĩ do
không phù hợp kiểu hình lâm sàng, loại trừ hội
chứng Gracile vì không thỏa tiêu chuẩn do bệnh
nhân không có chậm tăng trưởng trong tử cung,
không nhiễm toan acid lactic
Về xét nghiệm huyết học, thiếu máu và giảm
tiểu cầu khá thường gặp, có thể do tăng áp tĩnh
mạch cửa hoặc do các bệnh lý liên quan với tổn
thương do IgG mẹ(12,13) Bệnh nhân của chúng tôi
cũng có tình trạng giảm tiểu cầu rất nặng và
không đáp ứng với truyền tiểu cầu Men gan
thường không cân xứng với mức độ tổn thương
gan; mức ALT và AST thường bình thường hoặc
thấp, hiếm khi vượt quá 100 IU/L, có thể do gan
đã bị xơ hóa, số lượng tế bào gan còn lại không
nhiều nên men gan không tăng cao Ở trẻ sơ
sinh, nếu men gan tăng thì tiên lượng có thể
phục hồi Trong ca lâm sàng của chúng tôi, mức
độ xơ hóa gan là F2, vì thế ALT vẫn tăng Các xét
nghiệm về trữ lượng sắt cho thấy tăng độ bão
hòa của transferrin, giảm transferrin và tăng
ferritin máu (95% bệnh nhân có giá trị ferritin
>800 ng/mL)(14,15) Ngoài ra, xét nghiệm AFP
trong huyết thanh thường cao đặc trưng, khoảng
100.000–600.000 ng/ml (giá trị trẻ sơ sinh bình
thường <80.000 ng/ml)(16) Nồng độ AFP trong
NH có thể là do gan tổn thương không điều
chỉnh được quá trình tổng hợp AFP
Về giải phẫu bệnh, xơ gan hầu như có trong
tất cả các trường hợp Xơ hóa thường thấy nhiều trong thùy gan và xung quanh tĩnh mạch trung tâm, các tế bào gan còn lại thường biểu hiện ứ sắt Nhuộm Perls' Prussian-blue để phát hiện ứ sắt nên thực hiên trên bất kỳ em bé nào bị suy gan hoặc nghi ngờ bệnh gan và trong các ca tử vong sơ sinh chưa giải thích được, nếu không chẩn đoán sẽ bị bỏ lỡ với hậu quả nghiêm trọng cho những lần mang thai tiếp theo của người
mẹ Ứ sắt ngoài gan có thể phát hiện qua sinh thiết tuyến nước bọt và MRI tìm ứ sắt ở tụy, tim, tuyến thượng thận Lựa chọn phương pháp chẩn đoán tùy thuộc vào phương pháp nào dễ dàng, khả dụng hơn, không cần phải làm cả hai cùng một lúc Nếu nghi ngờ, kỹ thuật hóa mô miễn dịch dùng C5b-9 có thể hỗ trợ chẩn đoán
GALD-NH Trường hợp của chúng tôi chưa tử thiết được mô ngoài gan và không nhuộm được
C5b-9 do thời điểm đó chúng tôi chưa nghĩ đến GALD-NH bởi đây là một bệnh hiếm và gia đình bệnh nhân chưa hề có tiền căn gì đặc biệt
Sử dụng immunoglobulin tĩnh mạch và thay huyết tương là điều trị tiêu chuẩn hiện tại cho trẻ
sơ sinh mắc GALD nói chung và GALD-NH nói riêng(18) Ngoài ra, các thuốc chống oxy hóa và thải sắt cũng có thể dùng nếu chưa kịp thực hiện các điều trị tiêu chuẩn(12) Khi điều trị với IVIG, tỷ
lệ sống là 75% trong khi ở nhóm điều trị chống oxy hóa, và/hoặc ghép gan tỷ lệ sống vào khoảng 20-32%(12,19) Sau khi điều trị, rối loạn đông máu có thể mất 4-6 tuần để hồi phục(20) Phục hồi hoàn toàn và không còn dấu hiệu bệnh
lý gan sau 1 đến 2 năm
Quan trọng nhất, GALD nói chung và GALD-NH nói riêng có thể được ngăn ngừa bằng cách điều trị trong thời gian mang thai
Thai phụ sẽ dùng immunoglobulin 1 g/kg lúc 14 tuần, 16 tuần và hàng tuần từ tuần thứ 18 cho đến khi kết thúc thai kỳ Tỷ lệ thành công vô cùng khả quan với gần 99% các bé được phòng ngừa trong thai kỳ không mắc GALD-NH(19) Chưa có bằng chứng IVIG hiệu quả đối với các
Trang 6trường hợp NH không phải gây ra do GALD
Hình 2: Lưu đồ tiếp cận chẩn đoán NH (17)
KẾT LUẬN
Qua kết quả và bàn luận, chúng tôi rút ra
một số kết luận như sau
1 Phải nghi ngờ NH trong tất cả các trường
hợp suy gan tối cấp ở trẻ sơ sinh sau khi đã loại
trừ các nguyên nhân thường gặp như giảm tưới
máu, nhiễm HSV, rối loạn chuyển hóa
2 Nếu bé tử vong trong bệnh cảnh suy gan
mà chưa rõ nguyên nhân thì tử thiết gan và các
mô ngoài gan như tụy, phổi để tìm NH, nhuộm
hóa mô miễn dịch tìm sự lắng đọng C5b-9 để
chẩn đoán xác định GALD-NH
3 Cần theo dõi các ca bệnh nghi ngờ
GALD-NH để có kế hoạch phòng ngừa, tránh bỏ sót
gây ảnh hưởng đến thai kỳ sau của bà mẹ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Blisard KS, Bartow SA (1986) Neonatal hemochromatosis
Human Pathology, 17(4):376 - 383
2 Heissat S, Collardeau-Frachon S, Baruteau J, et al (2014)
Neonatal Hemochromatosis: Diagnostic Work-Up Based on a
Series of 56 Cases of Fetal Death and Neonatal Liver Failure The
Journal of Pediatrics, 166(1):66-73
3 Khattar A, Yoon E, Farooq T, Saeed F, Debelenko L (2015)
Neonatal Hemochromatosis: A Case Report American Journal of Clinical Pathology, 144:2
4 Babor F, Hadzik B, Stannigel H, et al (2013) Successful management of neonatal hemochromatosis by exchange
transfusion and immunoglobulin: a case report J Perinatol,
33(1):83-85
5 Zozaya NC, Fernandez CB, Munoz BG, et al (2017) Presenting Features and Prognosis of Ischemic and Nonischemic Neonatal
Liver Failure J Pediatr Gastroenterol Nutr, 64(5):754-759
6 Shanmugam NP, Bansal S, Greenough A, et al (2011) Neonatal
liver failure: aetiologies and management state of the art Eur J Pediatr, 170(5):573-581
7 Whitington PF (2014) Neonatal hemochromatosis and Gestational Alloimmune Liver Disease In: Karen F Murray;
Simon Horslen Diseases of the liver in children, 1 st edition,
pp.215-26 Springer
8 Dubruc E, Nadaud B, Ruchelli E, et al (2017) Relevance of C5b9 immunostaining in the diagnosis of neonatal hemochromatosis
Pediatr Res, 81(5):712-721
9 Whitington PF, Malladi P (2005) Neonatal hemochromatosis: is
it an alloimmune disease? J Pediatr Gastroenterol Nutr,
40(5):544-549
10 Lopriore E, Mearin ML, Oepkes D, et al (2013) Neonatal hemochromatosis: management, outcome, and prevention
Prenat Diagn, 33(13):1221-1225
11 Alison C, Theodore B, Kalpashri K, et al (2016) Neonatal Hemochromatosis: Evaluation of the Neonate with Hepatic
Failure NEOREVIEWS, 17(3):e154-e162