1. Trang chủ
  2. » Tất cả

So sánh kết quả sau đặt stent ống động mạch có và không phủ thuốc trên bệnh nhân tim bẩm sinh tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch tại bệnh viện nhi đồng 2

7 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh kết quả sau đặt stent ống động mạch có và không phủ thuốc trên bệnh nhân tim bẩm sinh tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch tại Bệnh viện Nhi Đồng 2
Tác giả Hoàng Quốc Tưởng, Vũ Minh Phúc, Nguyễn Minh Trần Việt
Trường học Bệnh Viện Nhi Đồng 2
Chuyên ngành Y học trẻ em, Tim mạch
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 798,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Chuyên Đề Nhi Khoa 95 SO SÁNH KẾT QUẢ SAU ĐẶT STENT ỐNG ĐỘNG MẠCH CÓ VÀ KHÔNG PHỦ THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN TIM BẨM SINH TUẦN HOÀN PHỔI PHỤ THUỘ[.]

Trang 1

SO SÁNH KẾT QUẢ SAU ĐẶT STENT ỐNG ĐỘNG MẠCH CÓ

VÀ KHÔNG PHỦ THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN TIM BẨM SINH

TUẦN HOÀN PHỔI PHỤ THUỘC ỐNG ĐỘNG MẠCH

TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Hoàng Quốc Tưởng 1 , Vũ Minh Phúc 1 , Nguyễn Minh Trí Việt 2

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam so sánh kết quả đặt stent ống động mạch có và không

phủ thuốc trên bệnh nhân tim bẩm sinh tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch (TBS THPPTÔĐM) ở trẻ em

Mục tiêu: So sánh kích thước mạch máu phổi, tỉ lệ tử vong, tắc và tái hẹp stent ống động mạch (ÔĐM) sau

can thiệp ≥3 tháng giữa hai nhóm stent có và không phủ thuốc trên bệnh TBS THPPTÔĐM

Đối tượng và phương pháp nghiện cứu: nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trong thời gian từ tháng 01 - 2017

đến 04 - 2020 có 102 ca thoả tiêu chí trong nghiên cứu của chúng tôi

Kết quả: sau ≥3 tháng, chỉ số NAKATA và Mc Goon trung bình ở 2 nhóm đặt stent không có sự khác biệt

Tỉ lệ tử vong ở nhóm đặt stent có và không phủ thuốc lần lượt là 5,8% và 4,8% Tỉ lệ tắc stent ở nhóm đặt stent

có và không phủ thuốc lần lượt là 0% và 1,5% Tỉ lệ tái hẹp sau ≥3 tháng ở ở nhóm đặt stent có và không phủ

thuốc lần lượt là 67,6% và 70,5% Nhóm stent không phủ thuốc xu hướng tái hẹp sớm ở thời điểm 3 - 6 tháng

chiếm 51,5% so với nhóm được đặt stent có phủ thuốc là 23,5% ở cùng thời điểm

Kết luận: Nhóm đặt stent không phủ thuốc có xu hướng tái hẹp sớm ở thời điểm 3 - 6 tháng nhiều hơn

nhóm được đặt stent có phủ thuốc

Từ khóa: stent ống động mạch, stent phủ thuốc, tim bẩm sinh tuần hoàn phổi phụ thuộc ống

ABSTRACT

COMPARISION BETWEEN DRUG - ELUTING STENTS AND BARE METAL STENTS

FOR STENTING THE DUCTUS ARTERIOSUS IN INFANTS WITH DUCTAL DEPENDENT

PULMONARY CIRCULATION

Hoang Quoc Tuong, Nguyen Minh Tri Viet, Vu Minh Phuc

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 2 - 2021: 95 - 103

Background: There have been no clinical studies evaluating the use of drug-eluting stents (DES) versus

bare metal stents (BMS) for infants who underwent ductus arteriosus stent placement for ductal-dependent

pulmonary blood flow in VietNam We aimed to compare the use of first-generation DES to BMS in infants who

underwent ductus arteriosus stenting for duct dependent pulmonary circulation

Objective: the goal is to compare the outcome of infants who underwent ductus arteriosus stenting for

ductal-dependent pulmonary blood flow from January 2017 to April 2020 at Department of Cardiology in

children Hospital # 2

Method: A retrospective study was performed on 102 patients (68 BMS and 34 DES) who met

inclusion criteria

Results: At the time of ≥3 months after stent implantation, according to the NAKATA index, the figures for

the DES and BMS group were 350.2 ± 201.4 mm 2 /m 2 and 289.8 ± 128.8 mm 2 /m 2 As for the Mc Goon Index, the

1 Bộ môn Nhi ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh 2 Bệnh viện Nhi Đồng 2

Tác giả liên lạc: BS Hoàng Quốc Tưởng ĐT: 0986991466 Email: tuongped@ump.edu.vn

Trang 2

value were 1.9 ± 0.4 and 1.8 ± 0.3, respectively Mortality rates in the DES and BMS group was 5.8% and 4.8%

The rates of stent blockage in the DES and BMS group was 0% and 1.5% In the group receiving DES, 67.6% of

the patients had stent stenosis in comparision to 70.5 % in the BMS group Between 3 and 6 months after stent

implantation The rate of stent stenosis was 51.5% in BMS as opposed to 23.5% in DES group; p = 0.007

Conclusion: There were no statistically significant differences between those receiving DES and those

receiving BMS in the composite outcome of death, stent blockage or stenosis after ≥ 3 months stenting However,

stent stenosis occurs earlier in in the BMS group than DES group during the period from 3 to 6 months after

ductus arteriosus stenting

Keywords: stent implantation, drug-eluting stents, duct dependent pulmonary circulation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tim bẩm sinh (TBS) là những dị tật cơ tim,

các buồng tim, van tim, vách tim hay mạch máu

lớn xuất hiện từ trong bào thai và tồn tại sau khi

sinh Theo tổ chức y tế thế giới tỉ lệ mắc là

0,5-0,8%, không khác biệt về giới, màu da và chủng

tộc Trong đó các TBS nặng cần phải can thiệp

bằng phẫu thuật hoặc thông tim chiếm 25%

trong tổng số bệnh nhân có tim bẩm sinh(1)

Trước đây, các bệnh tim phức tạp nhập viện

trong giai đoạn sơ sinh gần như không thể chữa

khỏi hoặc để lại di chứng rất nặng nề Tuy nhiên,

với những tiến bộ trong việc chẩn đoán tiền sản,

các phương pháp điều trị cũng như chăm sóc

hậu phẫu, ngày nay nhiều bệnh TBS nặng đã

được điều trị hiệu quả trong giai đoạn sơ sinh

Tim bẩm sinh nặng trong giai đoạn sơ sinh

bao gồm nhóm TBS phụ thuộc ống động mạch

(ÔĐM) và nhóm TBS không phụ thuộc ống

động mạch Nhóm phụ thuộc ống được lại

được chia thành hai nhóm: nhóm có tuần hoàn

hệ thống phụ thuộc ống động mạch và nhóm

có tuần hoàn phổi phụ thuộc ÔĐM Nhóm

không lệ thuộc ÔĐM bao gồm thân chung

động mạch, bất thường hồi lưu tĩnh mạch phổi

về tim toàn phần có tắc nghẽn, bất thường

Ebstein và tứ chứng Fallot kèm không có lá

van động mạch phổi

Đối với nhóm phụ thuộc ÔĐM việc chẩn

đoán tiền sản đóng vai trò cực kỳ quan trọng

trong việc can thiệp ngay sau sinh, giúp làm

giảm tỉ lệ tử vong sơ sinh(2,3) Đối với nhóm này

việc giữ cho máu lưu thông trong ÔĐM được

xem là điều trị cứu mạng, chuẩn bị cho phẫu

thuật triệt để sau này(4) Điều trị được nhiều trung tâm trên thế giới áp dụng hiện nay đối với bệnh tim bẩm sinh có tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch là duy trì ÔĐM bằng thuốc Prostaglandine E1, sau đó là phẫu thuật tạo luồng thông chủ phổi Prostaglandine E1 là một loại thuốc hiệu quả để duy trì ÔĐM Tuy nhiên, thuốc khá đắt tiền, hiệu quả trong thời gian ngắn, nếu sử dụng lâu dài sẽ giảm hiệu quả và rất nhiều tác dụng phụ Vào những năm đầu của thập niên 90, đã có một số nghiên cứu trên người

và súc vật khảo sát việc duy trì ÔĐM bằng cách đặt stent(5,6) Kết quả đạt được gây ra nhiều tranh cãi vì tính khả thi của thủ thuật, biến chứng nghiêm trọng bao gồm tử vong do co thắt ÔĐM, tăng sinh nội mạch gây tắc stent cũng như hiệu quả thực sự lên sự phát triển của mạch máu phổi Tuy nhiên với sự cải tiến liên tục theo thời gian của các dụng cụ như catheter, guidewire, stent động mạch vành… ngày càng có nhiều nghiên cứu cho kết quả khích lệ về hiệu quả và tính khả thi của phương pháp đặt stent để duy trì ống động mạch(7,8,9,10) Nghiên cứu gần đây nhất của Santoro G cho thấy phương pháp điều trị này có thể xem như biện pháp thay thế cho phẫu thuật tạo luồng thông chủ-phổi(11) Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương và Vũ Minh Phúc, tỉ lệ TBS của trẻ

sơ sinh nhập viện Nhi đồng 1 là 11,2% trong đó

có 16,4% bệnh nhi là TBS tím phức tạp và hầu hết cần được can thiệp phẫu thuật tạm thời hoặc triệt để ngay giai đoạn sơ sinh Nghiên cứu mới đây của tác giả Nguyễn Minh Trí Việt vào năm

2017 cho thấy tỉ lệ đặt thành công stent ÔĐM với loại stent kim loại trần cho tỉ lệ thành công 98%

Trang 3

trên bệnh nhân tim bẩm sinh tuần hoàn phổi

phụ thuộc ống động mạch (TBS THPPTÔĐM)(7)

Tuy nhiên đa số trường hợp cần can thiệp lại sau

≥3 tháng vì tỉ lệ tái hẹp cao chiếm 64% Trên thế

giới những nghiên cứu đánh giá về kết quả sau

đặt stent kim loại trần cũng cho kết quả tương

tự(12,13,14) Tuy nhiên những nghiên cứu về stent

có phủ thuốc, hay so sánh hiệu quả giữa stent có

và không phủ thuốc ở bệnh nhi có TBS phụ

thuộc ÔĐM ở trẻ em còn rất hạn chế Ngược lại,

có rất nhiều nghiên cứu trên người lớn về việc

đặt stent phủ thuốc ở mạch vành cho thấy hiệu

quả phòng ngừa tái hẹp so với stent

thường(15,16,17,18) Vì lý do đó, chúng tôi quyết định

tiến hành nghiên cứu “So sánh kết quả sau đặt

stent ống động mạch có và không phủ thuốc

trên bệnh nhân tim bẩm sinh tuần hoàn phổi

phụ thuộc ống động mạch tại bệnh viện Nhi

Đồng 2” nhằm khảo sát hiệu quả thực sự của

phương pháp can thiệp này ở trẻ em và trên dân

số Việt Nam

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

BN tim bẩm sinh tuần hoàn phổi phụ thuộc

ống động mạch được thông tim can thiệp đặt

stent ống động mạch từ tháng 01/2017 - 04/2020

Tiêu chí chọn bệnh

Tất cả bệnh nhi tim bẩm sinh tuần hoàn

phổi phụ thuộc ống động mạch, được thông

tim can thiệp đặt stent ống động mạch thành

công bao gồm cả những ca được đặt lại stent

sớm tại bệnh viện Nhi đồng 2 trong thời gian

từ tháng 01/2017 đến tháng 04/2020, thuộc một

trong sáu bệnh sau: (1) Hẹp khít van động mạch

phổi (ĐMP); (2) Thể nặng của tứ chứng Fallot;

(3) Không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất (TLT); (4) Không lỗ van động mạch phổi kèm theo vách liên thất nguyên vẹn; (5) Tim một thất kèm hẹp nặng ĐMP; (6) Tim một thất kèm không lỗ van ĐMP

Tiêu chuẩn loại trừ

Hoán vị đại động mạch thường được phẫu thuật triệt để sớm trước 3 tháng, bệnh Ebstein thể nặng chưa thể phẫu thuật tại trung tâm chúng tôi, nên thường được chuyển qua Viện Tim để theo dõi và phẫu thuật (Cả 2 bệnh lý Hoán vị đại động mạch và Ebstein thể nặng được phẫu thuật triệt để trong 1 tháng đầu nên việc đánh giá hiệu quả đặt stent sau 3 tháng sẽ không có data, riêng bệnh Ebstein việc phẫu thuật triệt để chưa được thực hiện ở bệnh viện (BV) Nhi Đồng 2, tất cả đều chuyển qua Viện Tim để phẫu thuật nên không đưa 2 bệnh lý này vào nghiên cứu) Vì thế 2 bệnh lý này dù thuộc TBS THPPTÔĐM nhưng không nằm trong nghiên cứu của chúng tôi

Phương pháp nghiên cứu

Thiết lế nghiên cứu

Nghiên cứu đoàn hệ, tiến cứu

Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

Theo nghiên cứu của Nguyễn Minh Trí Việt năm 2017 tỉ lệ cần can thiệp lại sau 3-6 tháng do tái hẹp sau đặt stent không phủ thuốc trên trẻ TBS THPPTÔĐM tức nhóm 1 là 64%(11) Chúng tôi đặt giả thuyết tỉ lệ cần can thiệp do tái hẹp sau đặt stent có phủ thuốc ≥3 tháng trên trẻ có TBS THPPTÔĐM là 35% Với alpha 0,05 và độ mạnh: 80%, chúng tôi tính cỡ mẫu như sau:

Trang 4

Kết quả: Cỡ mẫu là 102 trong đó có 68 ca

nhóm 1 và 34 ca nhóm 2

Nhóm 1: TBS THPPTÔĐM được đặt stent

ÔĐM loại không phủ thuốc

Nhóm 2: TBS THPPTÔĐM được đặt stent

ÔĐM loại có phủ thuốc

Chọn bắt cặp tương ứng bệnh ở 2 nhóm với

tỉ lệ nhóm 1: nhóm 2=2:1 Những bệnh nhân

được đặt stent phủ thuốc ở nhóm 2, được chọn

ngẫu nhiên không xác suất Những bệnh nhân

được đặt stent không phủ thuốc ở nhóm 1 sẽ

được chọn bắt cặp với bệnh nhân ở nhóm 2 dựa

trên tật tim bẩm sinh

Phương pháp thực hiện

Đặt stent ống động mạch thành công về mặt

thủ thuật khi stent phủ được toàn bộ ống động

mạch, ổn định đúng vị trí sau đó, không bị biến

dạng hay gãy stent Đặt stent ống động mạch thành công về mặt lâm sàng khi độ bão hoà oxy

>80% ngay sau can thiệp, bệnh nhân có thể xuất viện sau đó

Các ca TBS THPPTÔĐM được đặt stent ÔĐM thành công có tái khám ≥3 tháng sẽ được bắt cặp tương đồng về tật TBS với tỉ lệ đặt stent không và có phủ thuốc là 2:1 Sau đó mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trước khi đặt stent;

mô tả đặc điểm thông tim can thiệp và ngay sau can thiệp

Theo dõi bắt đầu tại thời điểm ≥3 tháng sau đặt stent so sánh 2 nhóm stent không và có phủ thuốc cho đến khi bệnh nhi được can thiệp lại/phẫu thuật triệt để/hoặc đến tháng 04/2020 (kết thúc thời điểm nghiên cứu) So sánh về tỉ lệ tắc stent, hẹp stent, can thiệp lại và tử vong

Hình 1: Sơ đồ thực hiện nghiên cứu Biến số nghiên cứu

Tắc stent ÔĐM trên thông tim: khi không ghi

nhận hình ảnh dòng máu qua ÔĐM trên chụp

mạch máu

Hẹp stent ÔĐM: khi lâm sàng SpO2 <75% có

liên quan đến việc lưu lượng qua stent ống động

mạch hạn chế trên chụp mạch máu thấy có hiện tượng nội mạc hoá >50% đường kính stent ÔĐM, bắt buộc phải nong stent ÔĐM lại để cải thiện SpO2 ≥5%

Chỉ định can thiệp lại:

Nong lại stent ÔĐM khi có tắc stent hoặc hẹp

Trang 5

stent ÔĐM tức là khi lưu lượng qua stent hạn

chế SpO2 <75% và/hoặc có nội mạc hoá trong

stent ÔĐM khi chụp mạch máu

Chỉ định đặt thêm stent ÔĐM sau khi nong

stent ÔĐM không hiệu quả, SpO2 <80% sau khi

nong stent hoặc stent cũ bị biến dạng

Chỉ định nong nhánh ĐMP khi đường kính

nhỏ hơn ½ đường kính nhánh ĐMP đối bên,

hoặc chỉ số Nakata không đủ để phẫu thuật sửa

chữa hoàn toàn

Xử lý số liệu

Toàn bộ bệnh án mẫu được lưu trữ, xử lý

bằng STATA 14 Các biến định tính được thể

hiện dưới dạng tỉ lệ phần trăm Các biến định

lượng được thể hiện dưới dạng trung bình kèm

độ lệch chuẩn (đối với phân phối chuẩn) và

trung vị (đối với phân phối không chuẩn)

Thống kê: tính tần số, tỉ lệ % cho các biến định tính Tính trung bình, kèm độ lệch chuẩn cho các biến định lượng So sánh các tỉ lệ bằng phép kiểm Chi bình phương So sánh các trung bình bằng phép kiểm Student Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p <0,05 Đối với các biến có phân phối không chuẩn, Mann – Whitney U test (Wilcoxon rank - sum test) được sử dụng để so sánh trung vị của hai nhóm stent có và không phủ thuốc Wilcoxon signed - rank test dành cho biến bắt cặp được sử dụng để so sánh trung vị của các giá trị trước và sau can thiệp

Y đức

Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Bệnh viện Nhi Đồng 2, số 1222/NĐ2-CĐT, ngày

28/10/2019

KẾT QUẢ

Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và oxy hoá máu của mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và oxy hoá máu của mẫu nghiên cứu

Giới tính

Nam

Nữ

63 (61,8%)

39 (38,2%)

26 (76,5%)

8 (23,5%)

37 (54,4%)

Địa chỉ

TPHCM

Tỉnh

6 (5,9%)

96 (94,1%)

2 (5,9%)

32 (94,1%)

4 (5,9%)

64 (94,1%)

 2

1,000

0,771

Lý do nhập viện

Tím

Lý do khác

96 (94,1%)

6 (5,9%)

34 (100%)

0 (0%)

62 (91,2%)

6 (8,8%)

 2

0,074

Whitney U test 0,115 Zscore cân nặng

Mann- WhitneyU test 0,095 Bệnh đi kèm

Không

Viêm phổi

Nhiễm trùng SS

Bệnh lý khác

58 (56,9%)

12 (11,8%)

31 (30,4%)

1 (1%)

19 (55,9%)

0 (0%)

15 (44,1%)

0 (0%)

39 (57,4%)

12 (17,6%)

16 (23,5%)

1 (1,5%)

 2

0,022

0,188

0,471

0,372

0,754 Oxy hoá máu

SpO2 (%)

PaO2 (mmHg)

pH máu

74,6 ± 9,8 31,2 ± 7,6 7,3 ± 0,1

74,4 ± 7,2 31,8 ± 7,5 7,3 ± 0,1

74,7 ± 10,9 30,8 ± 7,7 7,3 ± 0,1

t-test t-test t-test

0,909 0,448 0,107

Trang 6

So sánh tỉ lệ tử vong, tắc và tái hẹp sau đặt stent

ống động mạch ≥3 tháng giữa hai nhóm stent

có và không phủ thuốc

Nhóm đặt stent phủ thuốc tái can thiệp lại

trễ hơn nhóm stent không phủ thuốc Tỉ lệ tử

vong và tắc stent như nhau (Bảng 2)

Nhóm đặt stent phủ thuốc và không phủ thuốc có tỉ lệ tử vong và tắc stent như nhau

(Bảng 3)

Tỉ lệ tái hẹp ở 2 nhóm sau ≥ 3 tháng là như nhau Tuy nhiên ở nhóm stent không phủ thuốc

có khuynh hướng tái hẹp sớm hơn so với nhóm

stent có phủ thuốc (Bảng 4)

Bảng 2: Đặc điểm tái can thiệp mạch máu sau đặt stent ≥3 tháng

N = 80/102

Stent phủ thuốc 28/34

Stent không phủ

0,496

0,761

0,2277

0,459 Nong nhánh ĐMP

ĐMP trái

ĐMP phải

Cả 2 nhánh

11 (14,7%)

12 (16%)

14 (1,3%)

4 (16%)

6 (24%)

1 (4%)

7 (14%)

6 (12%)

0,227

Bảng 3: Đặc điểm tử vong, tắc stent sau đặt stent ≥3 tháng

N = 80/102

Stent phủ thuốc 28/34

Stent không phủ

0,746

Bảng 4: So sánh tỉ lệ tái hẹp sau đặt stent ≥3 tháng giữa 2 nhóm stent phủ & không phủ thuốc

(N2=34)

Stent không phủ

Tái hẹp

≥ 3 đến < 6 tháng

≥ 6 tháng

71

41

30

23 (67,6%)

8 (23,5%)

15 (44,1%)

48 (70,5%)

33 (51,5%)

0,007

BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số

NAKATA trung bình 310,9 ± 159,4 mm2/m2

Nhóm đặt stent có và không phủ thuốc lần lượt

là 350,2 ± 201,4 mm2/m2và 289,8 ± 128,8 mm2/m2

Chỉ số Mc Goon trung bình 1,9 ± 0,4 Nhóm đặt

stent có và không phủ thuốc lần lượt là 1,9 ± 0,4

và 1,8 ± 0,3 Và không có sự khác biệt giữa hai

nhóm đặt stent ÔĐM có và không phủ thuốc

trước đó Chỉ số NAKATA >250 mm2/m2 cho

thấy đủ điều kiện để phẫu thuật cho giai đoạn

tiếp theo Nghiên cứu của Naser BA(20) khi thực

hiện đánh giá sự phát triển của hai nhánh ĐMP

cho cả hai nhóm được đặt stent Ô ĐM và nhóm

được phẫu thuật shunt chủ phổi đều cho thấy

chỉ số NAKATA <200 mm2/m2 Trước đó Itanti

và cộng sự(17) đã nghiên cứu chỉ số NAKATA thấp hơn vẫn có thể được chấp nhận ở bệnh nhân phẫu thuật theo hướng Fontan và nhận thấy rằng chỉ những bệnh nhân có chỉ số NAKATA dưới 110 mm2/m2 mới khó dung nạp với tuần hoàn Fontan Adachi báo cáo rằng bệnh nhân có chỉ số dưới 250 mm2/m2 vẫn dung nạp được sau phẫu thuật Fontan Trong nghiên cứu Matter M cũng cho thấy có sự tăng về chỉ số McGoon sau can thiệp là 1,6 đến 2,8 (trung vị là 1,87) Điều này hoàn toàn cũng tương đồng trong nghiên cứu của chúng tôi

Có 5 trường hợp tử vong sau thời gian can thiệp ≥3 tháng chiếm 4,9% 2 trường hợp thuộc

Trang 7

nhóm được đặt stent có phủ thuốc và 3 trường

hợp ở nhóm đặt stent không phủ thuốc Không

trường hợp nào tử vong ngay hoặc trong thời

gian nằm viện sau khi đặt stent Kết qủa này

tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn

Minh Trí Việt(7) khi có 2/55 trường hợp tử vong

sau thời gian can thiệp chiếm tỉ lệ 3,6% thực hiện

tại cùng trung tâm trên dân số nghiên cứu giống

nhau Ở nhóm được đặt stent có phủ thuốc, 1

trường hợp tim 1 thất - teo phổi, tử vong sau khi

phẫu thuật Glenn, 1 trường hợp là không lỗ van

ĐMP vách liên thất nguyên vẹn, tím nặng và tử

vong tại nhà Ở nhóm được đặt stent không phủ

thuốc, 1 trường hợp là tứ chứng Fallot và 1

trường hợp tim một thất teo phổi đều nhập viện

sau đó và tử vong vì viêm phổi nặng, nhiễm

trùng huyết, 1 trường hợp là không lỗ van ĐMP-

thông liên thất tử vong tại nhà Không có sự

khác biệt về tỉ lệ tử vong giữa hai nhóm đặt stent

trong nghiên cứu của chúng tôi Hầu hết các

nghiên cứu đều cho thấy tỉ lệ tử vong thấp, đa số

không liên quan đến can thiệp Điều này càng

ủng hộ cho việc đặt stent ÔĐM là một phương

pháp tạm thời thay thế an toàn và hiệu quả trên

nhóm TBS THPPTÔĐM

Chỉ có 1 ca tắc stent vì không thấy lưu lượng

qua stent Ca này nằm trong nhóm stent không

phủ thuốc, chiếm 1,5% Không có sự khác biệt

giữa hai nhóm Điều này không tương đồng với

việc giảm SpO2 sau can thiệp Do đó cần phải

thêm hình ảnh trên chụp mạch máu để giúp xác

định chính xác tình trạng tái hẹp do nội mạc hoá,

cần can thiệp nong hoặc đặt lại stent ÔĐM

Tương tự như trong nghiên cứu Nguyễn Minh

Trí Việt(7) cho thấy 2/3 trường hợp có lưu lượng

qua stent bình thường, tuy nhiên đến 64%

trường hợp có hiện tượng nội mạc hoá hoàn

toàn cần phải can thiệp lại Do đó chênh áp qua

stent ÔĐM ít có giá trị trong việc chẩn đoán tái

hẹp stent ÔĐM trên thực tế lâm sàng

Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi cho

thấy rằng tỉ lệ tái hẹp cần phải nong stent ÔĐM

ở thời điểm ≥3-6 tháng ở nhóm được đặt stent có

và không phủ thuốc lần lượt là 34,8% và 68,8%

Còn ở thời điểm ≥6 tháng, tỉ lệ tái hẹp cần phải nong stent ÔĐM ở nhóm được đặt stent có và không phủ thuốc lần lượt là 65,2% và 31,3%

Như vậy nhóm được đặt stent không phủ thuốc

có tỉ lệ tái hẹp và cần nong stent ÔĐM có khuynh hướng sớm hơn so với nhóm stent có phủ thuốc có ý nghĩa thống kê (p=0,007) Năm

2013, Matter M(14) nghiên cứu trên 33 trẻ sơ sinh

có TBS với tuần hoàn phổi phụ thuộc ÔĐM đặt stent không phủ thuốc Trong quá trình theo dõi, ông ghi nhận việc tái hẹp stent và cần can thiệp lại thường nhất là ở giai đoạn 3-6 tháng Kết quả này cũng hoàn toàn tương đồng với những kết quả trước đó, trong đó sự tăng sinh nội mô trong lòng stent dẫn đến tình trạng tái hẹp đáng kể quanh mốc thời gian 6 tháng là phổ biến nhất, đòi hỏi cần tái thông hoặc phẫu thuật shunt chủ phổi chiếm 17-25%(21)

Hình 2: Thời gian thông tim lại giữa hai nhóm stent có

và không phủ thuốc trong nghiên cứu của chúng tôi

Nghiên cứu trên ống động mạch cho thấy trình nội mạc hoá diễn ra là kết quả của quá trình viêm mạn tính, lắng đọng fibrin và gây ra

sự tăng sinh tế báo cơ trơn mạch máu ở cả lớp nội mạc mạch máu và cả khu vực xung quanh các thanh chống của stent Ở lớp nội mạc các tế bào cơ trơn mạch máu đã biệt hoá đầy đủ(22) Quá trình nội mạc hoá trong stent làm cho tỉ lệ giữa lòng ống và đường kính của stent nhỏ đi

Ngày đăng: 02/03/2023, 07:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w