Bản chất pháp lí của hợp đồng theo quy định của pháp luật Singapore Giống như pháp luật của các nước thuộc dòng họ Common law, pháp luật về hợp đồng của Singapore quy định hợp đồng là
Trang 1TrÇn Quúnh Anh*
ũng như các ngành luật khác, luật hợp
đồng của Singapore chịu ảnh hưởng
nhiều của pháp luật Anh về hợp đồng Không
như những nước láng giềng khác là Malaysia
và Brunei, sau khi giành được độc lập vào
năm 1965, Nghị viện Singapore không ban
hành luật hợp đồng của nước Singapore độc
lập Vì vậy, pháp luật về hợp đồng của
Singapore chủ yếu dựa trên luật án lệ với những
nguyên tắc được hình thành từ các phán
quyết của thẩm phán liên quan đến hợp đồng
Bên cạnh luật án lệ, Singapore còn ban hành
một số văn bản luật chuyên ngành như Luật
về quyền của bên thứ 3 trong hợp đồng (Luật
số 53B), Luật bảo vệ người tiêu dùng (Luật
số 52A), Luật về hợp đồng đối với người chưa
thành niên, Luật bán hàng năm 1996… nhưng
về cơ bản, pháp luật hợp đồng của Singapore
là sự kế thừa các quy định về hợp đồng trong
hệ thống pháp luật của Anh
1 Bản chất pháp lí của hợp đồng theo
quy định của pháp luật Singapore
Giống như pháp luật của các nước thuộc
dòng họ Common law, pháp luật về hợp
đồng của Singapore quy định hợp đồng là sự
thoả thuận giữa hai hay nhiều bên, trong đó
có một hoặc nhiều sự hứa hẹn (promises) mà
việc thực hiện chúng là nghĩa vụ pháp lí bắt
buộc, nếu vi phạm sẽ phải chịu chế tài.(1)
Hợp đồng phải có các yếu tố cấu thành sau:
1) Đề nghị giao kết hợp đồng (offer); 2) Chấp
nhận đề nghị giao kết hợp đồng (acceptance)
do ý chí của các bên đã gặp nhau; 3) Lời hứa thực hiện; 4) Nghĩa vụ đối ứng (consideration),
là lời hứa đáp lại hoặc việc thanh toán dưới hình thức nhất định
Như vậy, cách hiểu về hợp đồng ở các nước thuộc dòng họ Common law nói chung
và Singapore nói riêng khác với các nước thuộc dòng họ Civil law ở chỗ trong hợp đồng phải có lời hứa thực hiện công việc nhất định để đổi lấy nghĩa vụ đối ứng Tuy nhiên trong khoa học pháp lí của Singapore, hợp đồng có thể hiểu là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều bên làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ ràng buộc các bên theo pháp luật.(2) Có thể thấy rằng cách hiểu này cũng giống như khái niệm hợp đồng được quy định tại Điều 388 BLDS năm 2005 của Việt Nam, theo đó hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Điều này chứng tỏ quan niệm về hợp đồng trong khoa học pháp lí ở Singapore có xu hướng xích lại gần với quan niệm về hợp đồng ở các nước Civil law
2 Giao kết hợp đồng
a Ch ủ thể giao kết hợp đồng
Theo pháp luật Singapore, chủ thể giao kết hợp đồng gồm cá nhân và tổ chức Cá nhân được coi là có đủ năng lực giao kết hợp
C
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2đồng khi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
được thực hiện mọi giao dịch trên cơ sở quy
định của pháp luật và phải tự chịu trách nhiệm
về hành vi của mình Các công ti được thành
lập hợp pháp được coi là đương nhiên có đầy
đủ năng lực pháp luật để thực hiện mọi hoạt
động kinh doanh, mọi hành vi pháp lí và
tham gia mọi giao dịch hợp đồng theo quy
định tại Điều lệ của công ti.(3)
Pháp luật hợp đồng của Singapore có
quy định cụ thể về những trường hợp giao
kết hợp đồng của các đối tượng không đủ
năng lực hành vi như người chưa thành niên
hay người bị tâm thần
- Ng ười chưa thành viên: Theo quy định
của common law và luật thành văn ở Singapore,
người chưa thành niên là người dưới 21
tuổi.(4) Đối với những hợp đồng do người
chưa thành niên giao kết sẽ chịu sự điều
chỉnh của những quy định đặc thù trong Luật
về hợp đồng đối với người chưa thành
niên.(5) Theo nguyên tắc chung, hợp đồng
không có hiệu lực đối với người chưa thành
niên Nhưng trong trường hợp người chưa
thành niên mua bán những nhu yếu phẩm
phục vụ cho nhu cầu hàng ngày phù hợp với
tiền cấp dưỡng đối với người chưa thành
niên thì người chưa thành niên phải trả tiền
(Điều 393 Luật bán hàng năm 1996) Bên
cạnh đó, những hợp đồng dịch vụ vì lợi ích
của người chưa thành niên cũng có hiệu lực
pháp lí Tuy pháp luật Singapore quy định
người thành niên là người đủ 21 tuổi nhưng
trong một số quan hệ pháp luật nhất định,
người chưa thành niên nhưng đã đủ 18 tuổi
cũng được coi là đủ năng lực pháp luật và
chịu trách nhiệm về hành vi của mình Ví dụ,
theo quy định tại Phần 6 Luật dân sự Singapore sửa đổi năm 2008 thì hợp đồng mua, bán, chuyển nhượng đất hoặc cho thuê đất, hợp đồng cầm cố, thế chấp… được coi là có hiệu lực nếu được người chưa thành niên xác lập khi đủ 18 tuổi Người chưa thành niên không
bị hạn chế năng lực pháp lí khi đủ 18 tuổi được tự mình tham gia các quan hệ tố tụng
mà không cần có người đại diện Người chưa thành niên bị ràng buộc nghĩa vụ trong một số loại hợp đồng như hợp đồng liên quan đến cổ phiếu trong công ti, hợp đồng hợp tác, việc
sử dụng, phân chia tài sản hôn nhân…, trừ trường hợp người chưa thành niên từ chối hợp đồng trước khi đủ tuổi trưởng thành hoặc
trong khoảng thời gian hợp lí sau đó
Phần 3 của Luật về hợp đồng của người chưa thành niên trao quyền cho toà án được yêu cầu người chưa thành niên bồi thường nếu thấy điều đó là hợp lí
- Người bị tâm thần và người say rượu: Theo quy định của pháp luật Singapore, hợp đồng được thiết lập bởi người bị tâm thần có hiệu lực trừ khi có thể chứng minh rằng người đó không thể hiểu được việc mình đang làm và bên kia của hợp đồng biết hoặc phải biết về việc không đủ tư cách pháp lí của người đó Như vậy, hợp đồng giao kết với người bị tâm thần không phải trong mọi trường hợp đều bị coi là vô hiệu Trong trường hợp người bị tâm thần giao kết hợp đồng với chủ thể khác, nếu có thể chứng minh người bị tâm thần không thể hiểu được việc làm của mình hoặc người giao kết hợp đồng với người bị tâm thần biết hoặc phải biết việc người bị tâm thần không đủ tư cách
Trang 3pháp lí để giao kết hợp đồng thì hợp đồng đó
bị coi là vô hiệu (các bên có thể yêu cầu toà
án tuyên bố hợp đồng vô hiệu) Tuy nhiên,
nếu người giao kết hợp đồng chứng minh
được người bị tâm thần ý thức được việc làm
của mình khi giao kết hợp đồng hoặc chứng
minh được mình không thể biết việc người
đó bị tâm thần thì hợp đồng đó vẫn có hiệu
lực ràng buộc người bị tâm thần
Trong trường hợp những người say rượu,
quy định được áp dụng tương tự Tuy nhiên,
theo quy định của Luật bán hàng năm 1996,
những người không có khả năng nhận thức
(bị tâm thần) hoặc những người bị say rượu
bị buộc phải thanh toán khoản tiền hợp lí cho
việc mua nhu yếu phẩm và sử dụng những
dịch vụ thiết yếu cho bản thân
b Th ủ tục giao kết hợp đồng
Pháp luật của Singapore coi việc chấp
nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong rất nhiều
trường hợp là căn cứ để xác định hợp đồng đã
được xác lập hay chưa Mặc dù không phải
trong tất cả các trường hợp giao kết hợp đồng
nhưng phần lớn các hợp đồng được coi là đã
giao kết khi bên được đề nghị chấp nhận đề
nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị và
gửi cho bên đưa ra đề nghị Như vậy pháp
luật về hợp đồng của Singapore theo thuyết
tống phát (mail box theory) Thủ tục giao kết
hợp đồng bao gồm các bước sau đây:(6)
- Đề nghị giao kết hợp đồng (chào hàng):
Đề nghị giao kết hợp đồng (chào hàng) là lời
hứa hay sự thể hiện thiện ý khác do bên đề
nghị đưa ra, có hiệu lực ràng buộc nếu bên
được đề nghị trả lời chấp thuận những nội
dung của đề nghị Pháp luật Singapore yêu
cầu lời đề nghị giao kết hợp đồng phải được
đưa ra với mục đích ràng buộc các bên Nếu một người chỉ đưa ra lời đề nghị hoặc yêu cầu thông tin mà không hướng tới sự ràng buộc thì người đó được coi là đưa ra lời mời thương lượng Đây là điểm tiến bộ của pháp luật Singapore so với pháp luật hợp đồng của Việt Nam Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa
có quy định liên quan đến lời mời thương lượng hay còn gọi là đề nghị giao dịch Đây
là quy định cần thiết bởi lẽ lời mời thương lượng và đề nghị giao kết hợp đồng dẫn tới hậu quả pháp lí khác nhau nhưng trên thực tế rất dễ bị nhầm lẫn với nhau Việc chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng dẫn đến hình thành hợp đồng nhưng việc chấp nhận lời mời thương lượng chỉ dẫn đến sự ra đời của
đề nghị giao kết hợp đồng mà thôi
Để tránh trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chối bỏ trách nhiệm thực hiện hợp đồng sau khi bên được đề nghị chấp nhận vô điều kiện đề nghị, pháp luật Singapore cũng quy định một người có thể được coi là đã đưa ra lời đề nghị nếu lời tuyên bố hoặc hành vi của họ khiến cho một người có hiểu biết tin rằng họ đang đưa ra lời đề nghị hướng tới sự ràng buộc nếu lời đề nghị được chấp thuận, dù trên thực tế họ không hề có ý định đó khi đưa ra lời đề nghị
Thông thường, người đưa ra đề nghị chịu ràng buộc với lời đề nghị của mình Pháp luật Singapore quy định rõ về việc chấm dứt hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau:
+ Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực khi bên đề nghị huỷ bỏ đề nghị bất cứ khi nào trước khi lời đề nghị đó được chấp thuận
Trang 4Việc huỷ bỏ phải được bên đề nghị thông báo
cho bên được đề nghị hoặc bên được đề nghị
được biết từ nguồn tin tin cậy khác
+ Việc không chấp thuận lời đề nghị,
đưa ra đề nghị mới để huỷ bỏ đề nghị cũ
hoặc thay đổi điều kiện của đề nghị sẽ chấm
dứt hiệu lực của lời đề nghị
+ Cái chết của người đề nghị nếu người được
đề nghị biết cũng khiến cho lời đề nghị không
còn hiệu lực Với những hợp đồng có nội dung
chủ yếu phải do cá nhân thực hiện, cái chết của
một trong các bên sẽ làm chấm dứt hiệu lực
của đề nghị giao kết hợp đồng kể cả trong
trường hợp người được đề nghị không biết
- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng do bên
được đề nghị đưa ra nhằm hướng tới sự ràng
buộc pháp lí và kết quả của việc chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng chính là hình
thành hợp đồng có hiệu lực Đề nghị giao kết
hợp đồng coi là được chấp nhận nếu nó được
bên kia đồng ý vô điều kiện và không hạn chế
những điều kiện của bên đề nghị Cũng giống
như pháp luật Việt Nam, đồng ý đối với đề
nghị giao kết hợp đồng phải là sự chấp thuận
tuyệt đối và vô điều kiện Bên cạnh đó, pháp
luật Singapore cũng yêu cầu sự đồng ý phải
được biểu hiện ra bên ngoài bằng các hình
thức khác nhau như lời nói, văn bản hoặc
hành vi; sự im lặng không được suy đoán là
đồng ý, trừ trường hợp đặc biệt
Theo nguyên tắc chung của pháp luật
Singapore, chấp nhận đề nghị phải được
chuyển đến người đề nghị Tuy nhiên, có
trường hợp ngoại lệ đối với lời chấp nhận đề
nghị được gửi qua bưu điện Trong trường
hợp này, được coi là có sự chấp nhận đề nghị
từ thời điểm thư chấp nhận được gửi đi, dù trên thực tế chưa xác định được thời điểm người đề nghị nhận được thư chấp nhận Việc chấp nhận hoàn toàn và vô điều kiện của bên được đề nghị được coi là căn cứ xác định sự ra đời của hợp đồng trong hầu hết các trường hợp Nhưng để hợp đồng thực
sự có hiệu lực, cần có các điều kiện sau: 1) Hợp đồng phải có đủ các điều khoản thoả thuận, hoặc chí ít có những điều khoản cơ bản của thoả thuận để theo đó, thẩm phán có thể đưa ra phỏng đoán về sự tồn tại của thoả thuận dựa trên việc xem xét hành vi của các bên, cách thức giao dịch trước đây của các bên, thói quen thương mại hoặc các tiêu chuẩn hợp
lí Sự thoả thuận chưa hoàn chỉnh không thể đưa đến sự ra đời của hợp đồng có hiệu lực 2) Hợp đồng phải có nghĩa vụ đối ứng (consideration) hoặc được ghi nhận trong văn bản có đóng dấu của các bên
Nghĩa vụ đối ứng được quy định trong luật do bên được cam kết đưa ra cho bên cam kết theo yêu cầu của bên được cam kết để thể hiện rằng bên được cam kết sẽ cố gắng thực hiện cam kết Quy định về nghĩa vụ đối ứng
là quy định đặc trưng trong pháp luật Anh -
Mỹ Nghĩa vụ đối ứng là yếu tố cơ bản cấu thành hợp đồng, có thể là lời hứa thực hiện hoặc không thực hiện hành vi cụ thể nào đó hoặc là hành vi cụ thể (ví dụ thanh toán tiền) Theo quy định của pháp luật Anh - Mỹ, các thoả thuận nếu không có nghĩa vụ đối ứng thì không được coi là hợp đồng và không có hiệu lực bắt buộc đối với các bên Tuy nhiên, bên cạnh việc có nghĩa vụ đối ứng, pháp luật hợp đồng của Singapore cũng công nhận hiệu lực của cam kết nếu cam kết đó được thể hiện bằng văn bản có chứng thực của các bên
Trang 5Nghĩa vụ đối ứng phải có giá trị tương
ứng với lời cam kết và phải được thực hiện
trước, là nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện
lời cam kết Nghĩa vụ đối ứng có cần phải
tương xứng với lời hứa bên kia đưa ra hay
không? Theo nguyên tắc chung của toà án
thì nghĩa vụ đối ứng cần tương xứng với giá
trị của cam kết Tuy nhiên trên thực tế, nhiều
trường hợp các bên giao kết hợp đồng thoả
thuận đưa ra nghĩa vụ đối ứng có giá trị thấp,
mang tính tượng trưng cũng có thể được Toà
án chấp thuận Bên cạnh đó, việc trao đổi
cần có đi có lại nên cần phải có mối quan hệ
nhân quả giữa nghĩa vụ đối ứng và lời cam
kết Nghĩa vụ đối ứng không thể bao gồm
những nghĩa vụ đã được thực hiện trước khi
lời cam kết được đưa ra Mặc dù vậy, toà án
cũng không quá chú trọng đến trình tự thời
gian như đã phân tích
3) Pháp luật Singapore quy định bắt buộc
các bên phải có ý định giao kết hợp đồng thì
hợp đồng mới phát sinh hiệu lực ràng buộc
các bên Nếu không có ý định giao kết hợp
đồng, sự thoả thuận dù có nghĩa vụ đối ứng
cũng không thể có hiệu lực Việc các bên
trong thoả thuận có ý định tạo lập quan hệ
pháp lí ràng buộc họ hay không được toà án
xác định rõ khi đánh giá thực tế khách quan
Đối với những thoả thuận trong thương
mại, toà án thường suy đoán là các bên có ý
định thiết lập mối quan hệ ràng buộc Tuy
nhiên sự suy đoán đó có thể bị thay đổi khi
các bên tuyên bố chắc chắn không có ý định
giao kết hợp đồng
3 Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng quy định quyền
và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ
hợp đồng và được thể hiện trong các điều khoản cụ thể của hợp đồng Quyền và nghĩa
vụ của các bên tham gia quan hệ hợp đồng được quy định tại các điều khoản của hợp đồng và phụ thuộc vào việc giải thích các điều khoản đó Việc xác định và giải thích điều khoản của hợp đồng đôi khi rất cần thiết (đặc biệt trong trường hợp hợp đồng không buộc phải lập bằng văn bản) để quyết định một tuyên bố có phải là một điều khoản của hợp đồng hay không
Sau khi các điều khoản của hợp đồng được xác định, toà án sẽ áp dụng phương pháp khách quan để phân tích, giải thích các quy định đó Nội dung của điều khoản không phải là nội dung mà mỗi bên hướng tới khi
sử dụng ngôn ngữ mà chính là cách một người có hiểu biết hiểu những điều khoản đó như thế nào Các toà án của Singapore coi trọng cách một người có hiểu biết hiểu ngôn ngữ của hợp đồng như thế nào trong việc xác định các yếu tố của hợp đồng
Trong trường hợp các bên thể hiện thoả thuận hợp đồng dưới hình thức văn bản thì một tuyên bố (dưới hình thức lời nói hoặc văn bản) có được xác định là một phần của hợp đồng đó hay không phụ thuộc vào việc
áp dụng nguyên tắc chứng cứ bằng lời nói (parol evidence rule).(7) Trong quy định của pháp luật Singapore, nguyên tắc trên và cùng với các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc được quy định tại Điều 93 và Điều 94 của Luật về chứng cứ năm 1997 (Evidence Act 1997) Điều 93 quy định rằng nếu hợp đồng
đã được chuyển thành hình thức văn bản thì không chứng cứ nào có thể đưa ra để chứng minh một điều khoản thuộc hợp đồng, ngoại
Trang 6trừ chính văn bản đó Như vậy, nếu hợp
đồng có hình thức văn bản thì không có thoả
thuận miệng nào được thừa nhận là chứng cứ
để phủ nhận, làm thay đổi hoặc loại trừ quy
định của hợp đồng bằng văn bản
Bên cạnh các điều khoản do các bên tự
thoả thuận, toà án có thể gợi ý một số điều
khoản của hợp đồng Thông thường, những
điều khoản gợi ý không được mâu thuẫn với
bất kì điều khoản đã có nào của hợp đồng
Điều khoản gợi ý được đưa vào để tăng hiệu
lực cho hợp đồng trong trường hợp hợp đồng
có những vấn đề mà các bên chưa thoả
thuận Điều khoản gợi ý được đưa ra trên cơ
sở thực tiễn và có sự cân nhắc đến ngôn ngữ
của hợp đồng và tuỳ trường hợp cụ thể, khi
điều đó là cần thiết đến mức các bên giao kết
hợp đồng phải có trong hợp đồng Điều
khoản gợi ý cũng có thể đưa ra theo yêu cầu
của pháp luật hoặc của chính sách chung
cộng đồng Toà án của Singapore cũng giống
như toà án của Anh, có thể gợi ý điều khoản
chưa có vào một phần riêng của hợp đồng để
tạo hiệu lực cho hợp đồng, giúp xác định
quan hệ hợp đồng phát sinh
Trong hợp đồng có thể có điều khoản
miễn trừ Điều khoản miễn trừ thường quy
định việc miễn trừ hoặc hạn chế trách nhiệm
pháp lí Luật của Singapore về cơ bản theo
quy định của pháp luật của Anh về loại điều
khoản này Luật về điều khoản không công
bằng của hợp đồng Anh năm 1977 làm mất
hiệu lực của điều khoản miễn trừ hoặc hạn
chế hiệu lực của những điều khoản này bằng
cách áp đặt yêu cầu về tính hợp lí Luật về
điều khoản hợp đồng không công bằng của
Anh đã được tái ban hành tại Singapore với tên gọi Luật về điều khoản hợp đồng không công bằng năm 1994 (Unfair Contract Terms Act 1994) Luật về điều khoản hợp đồng không công bằng điều chỉnh những điều khoản có ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lí do vi phạm nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh nhằm bảo vệ những người tham gia hợp đồng với tư cách người tiêu dùng Theo quy định của Luật này, điều khoản miễn trừ bị phế bỏ toàn bộ hiệu lực trừ khi thể hiện được rằng có thể đáp ứng quy định về tính hợp lí
Yêu cầu đầu tiên của điều khoản miễn trừ là điều khoản đó phải gắn kết chặt chẽ với nội dung của hợp đồng Trường hợp một bên đã kí hợp đồng chứa đựng điều khoản miễn trừ thì bên đã kí bị ràng buộc bởi điều khoản đó, dù họ không đọc hoặc không nhận thức được điều khoản này Tuy nhiên, điều khoản miễn trừ có thể coi là có liên kết với hợp đồng cho dù không được nêu trong hợp đồng, nếu một bên tham gia hợp đồng chứng minh được việc mình đã tạo được sự chú ý của bên còn lại đối với sự tồn tại của thoả thuận Trong trường hợp này, việc xác định phụ thuộc rất nhiều vào thực tế từng vụ việc
cụ thể Điều khoản miễn trừ có thể được coi
là có liên kết khi giữa các bên đã có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và mối quan hệ đó
có liên kết với điều khoản miễn trừ
Yêu cầu thứ hai đối với điều khoản miễn trừ là về cấu trúc điều khoản và cách giải thích từ ngữ Toà án sẽ giải thích điều khoản miễn trừ một cách nghiêm khắc và hướng tới việc giới hạn trách nhiệm pháp lí của các bên hơn là hoàn toàn loại trừ trách nhiệm pháp lí của các bên
Trang 74 Hình thức của hợp đồng
Cũng giống như quy định của BLDS
năm 2005 của Việt Nam, pháp luật hợp đồng
của Singapore quy định hợp đồng có thể được
giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ
thể, trừ trường hợp pháp luật có quy định
riêng đối với một số loại hợp đồng cụ thể
Trong hợp đồng bán hàng hoá, các bên có thể
giao kết hợp đồng bằng văn bản (có hoặc
không có đóng dấu) hoặc bằng lời nói hoặc
có thể ngụ ý từ việc tiến hành hành vi của
các bên.(8) Trong trường hợp pháp luật có
quy định, hợp đồng của các bên phải được
lập dưới hình thức văn bản Ví dụ hợp đồng
mua bán hoặc định đoạt khác về bất động
sản phải lập dưới hình thức văn bản(9)…
Hợp đồng bằng văn bản theo quy định
của pháp luật hợp đồng Singapore được chia
thành hai loại là hợp đồng được kí thông
thường và hợp đồng được đóng dấu của hai
bên Theo quan niệm chung của các nước theo
truyền thống common law thì một hợp đồng
không nhất thiết phải được kí bởi cả hai bên
mà có thể chỉ cần một bên kí (bên mà sau này
sẽ trở thành bị đơn) cũng có hiệu lực.(10) Toà
án có thể coi văn bản viết có chữ kí của một bên
là chứng cứ chứng minh quan hệ hợp đồng
5 Chấm dứt quan hệ hợp đồng
Pháp luật Singapore quy định quan hệ
hợp đồng được chấm dứt trong các trường
hợp sau:
- Khi các bên đã hoàn thành việc thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng: Về nguyên tắc, việc
thực hiện hợp đồng phải được hoàn thành
một cách đầy đủ, chính xác Tuy nhiên, trên
thực tế những khiếm khuyết ít quan trọng
trong quá trình thực hiện hợp đồng có thể
được coi như không đáng kể Ngoài ra, việc thực hiện đầy đủ hợp đồng của một bên chỉ
có thể diễn ra nếu được sự hợp tác của bên kia (điển hình là đối với nghĩa vụ thanh toán
và vận chuyển hàng hoá) Trong trường hợp nghĩa vụ hợp đồng không được thực hiện hoặc được thực hiện theo cách không phù hợp, pháp luật Singapore quy định một số hậu quả pháp lí và biện pháp khắc phục tuỳ theo mức độ vi phạm việc thực hiện hợp đồng
- Trong các trường hợp việc chấm dứt thực hiện hợp đồng được miễn trách nhiệm Hợp đồng chấm dứt mà các bên được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây: 1) Chấm dứt hợp đồng theo sự thoả thuận của các bên: Các bên được quyền tự
do thiết lập quan hệ hợp đồng và họ cũng được quyền tự do thương lượng với nhau để xoá bỏ quan hệ hợp đồng ban đầu Thoả thuận này có thể được các bên dự liệu và đưa vào hợp đồng ngay từ khi mới xây dựng dự thảo, ví dụ các bên có thể thoả thuận ngay từ đầu rằng hợp đồng của họ sẽ chấm dứt sau khoảng thời gian nhất định hoặc sau khi một bên đưa ra thông báo chấm dứt quan hệ hợp đồng Ngoài ra, các bên trong hợp đồng cũng
có thể chấm dứt sự ràng buộc với các quyền
và nghĩa vụ của hợp đồng bằng cách thiết lập thoả thuận (hợp đồng) mới về việc chấm dứt hợp đồng cũ, theo đó, các bên trong quan hệ hợp đồng mới chính là các bên của quan hệ hợp đồng mà nghĩa vụ hợp đồng vẫn chưa được thực hiện, họ được giải phóng khỏi các nghĩa vụ hợp đồng (ban đầu) mà không cần bất kì thủ tục đặc biệt nào Tuy nhiên, nếu một trong các bên có nghĩa vụ mà chưa thực hiện, khi họ chấm dứt quan hệ hợp đồng sẽ
Trang 8không phải thực hiện bất kì nghĩa vụ nào
theo hợp đồng ban đầu nhưng bù lại, họ phải
cam kết nghĩa vụ đối ứng để đổi lấy việc giải
phóng khỏi nghĩa vụ hợp đồng ban đầu
Trong trường hợp này, việc chấm dứt quan
hệ hợp đồng phải được lập thành văn bản có
công chứng, đóng dấu mới có hiệu lực
2) Chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng theo quy định của pháp luật hoặc do có
một hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật mâu
thuẫn với việc thực hiện hợp đồng của một
bên trong quan hệ hợp đồng.(11)
3) Chấm dứt thực hiện hợp đồng do sự
kiện bất khả kháng (chấm dứt do không thể
thực hiện được hợp đồng) Hợp đồng có thể
không thực hiện được vì những lí do khách
quan ngoài tầm kiểm soát của các bên trong
quan hệ hợp đồng mà không bên nào có thể
dự kiến được Đó là trường hợp bất khả
kháng và trong trường hợp này, các bên
được miễn trách nhiệm Pháp luật có quy
định việc thanh toán các khoản tạm ứng hoặc
các khoản chi phí chuẩn bị thực hiện hợp
đồng trước khi xảy ra sự kiện bất khả kháng
có thể được hoàn trả lại
Trong trường hợp việc không thực hiện
được hợp đồng không thuộc diện được miễn
trách nhiệm, hợp đồng được coi là đã bị vi
phạm Các bên trong quan hệ hợp đồng có thể
thoả thuận những trường hợp được miễn trách
nhiệm do không thực hiện hợp đồng để chấm
dứt quan hệ hợp đồng Các bên có thể thoả
thuận điều khoản miễn trách nhiệm và những
vấn đề có liên quan đến việc chấm dứt hợp
đồng trong trường hợp miễn trách nhiệm
như: vấn đề hoàn lại tiền tạm ứng hoặc bồi
hoàn chi phí chuẩn bị thực hiện hợp đồng…
Như vậy, có thể thấy pháp luật về hợp đồng của Singapore bên cạnh những điểm tương đồng cũng có nhiều điểm khác biệt so với pháp luật về hợp đồng của Việt Nam Trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, tăng cường hợp tác giữa các nước ASEAN là việc làm quan trọng giúp Việt Nam có cơ hội phát triển, hội nhập quốc tế Một yêu cầu cần thiết để có thể thúc đẩy quan
hệ hợp tác, cùng phát triển là hoàn thiện pháp luật Việt Nam để hài hoà hoá với pháp luật của các nước trong khu vực Để xây dựng được khung pháp luật hoàn thiện và linh hoạt điều chỉnh các quan hệ xã hội, đặc biệt các quan hệ hợp đồng - là loại quan hệ phổ biến trong đời sống xã hội, Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới, trong
đó có pháp luật hợp đồng của Singapore với nền tảng là các quy định về hợp đồng của hệ thống pháp luật Anh, có nhiều quy định chặt chẽ nhưng cũng không kém phần mềm dẻo./
(1).Xem:http://legal-dictionary.thefreedictionary.com/ contract
(2).Xem: Lee Pey Woan, Pearlie Koh, Tham Chee Ho, School of Law - Singapore Management University, http://www.singaporelaw.sg/content/ContractLaw.html (3).Xem: [NZ, 1993, s 16] và Điều 124 Hiến pháp nước Cộng hoà Singapore (sửa đổi lần 2 năm 1998) (4).Xem: [Vic CCA 1991, s 82]
(5).Xem: Cap 389, 1994 Rev Ed
(6).Xem: http://www.singaporelaw.sg/content/ContractLaw.html (7) Từ điển pháp luật Anh - Việt, Nxb Khoa học-xã hội
Hà Nội 2000, tr 286
(8) Luật bán hàng hoá năm 1996 (Luật số 393) (9) Luật về bất động sản - Law of Property Act 1925, s 40 (10).Xem: Viện nghiên cúu nhà nước và pháp luật - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia,
B ước đầu tìm hiểu pháp luật thương mại Mỹ, Hà Nội,
2002, tr 200
(11).Xem: Cap 115, 1985 Rev Ed