1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Luật bảo vệ người tiêu dùng của Malaysia " pptx

6 321 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật bảo vệ người tiêu dùng của Malaysia
Tác giả TS. Nguyễn Thị Vân Anh
Người hướng dẫn Giảng Viên Chính Khoa Pháp Luật Kinh Tế
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Pháp luật thương mại
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 138,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình thực thi, các văn bản pháp luật này đã bộc lộ hạn chế lớn nhất là không đủ cơ sở pháp lí để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng như: thiếu chế tài phù hợp đối với hành v

Trang 1

TS NguyÔn ThÞ V©n Anh *

1 Sự ra đời của Luật bảo vệ người tiêu

dùng năm 1999 của Malaysia

Trong suốt những năm cuối thế kỉ XVIII

và thế kỉ XIX, Malaysia là thuộc địa dưới sự

bảo hộ của Anh quốc.(1) Bởi vậy, giống như

đa số các lãnh thổ thuộc địa cũ của Anh,

Malaysia chịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp

luật Anh với những quy định sao chép nguyên

văn, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật thương

mại Mục 3 và 5 Luật dân sự năm 1956 đã

thừa nhận luật án lệ và luật thành văn của

Anh được áp dụng trong lĩnh vực thương mại

khi pháp luật Malaysia chưa có quy định

Hai đạo luật rất quan trọng đối với người

tiêu dùng là Luật hợp đồng năm 1950 và

Luật bán hàng năm 1957 đều thuộc lĩnh vực

luật tư Hai luật này đều chịu ảnh hưởng bởi

nguyên tắc tự do hợp đồng xuất hiện trong

pháp luật Anh từ thế kỉ XIX Luật hợp đồng

năm 1950 đã pháp điển hoá luật án lệ của

Anh liên quan đến hợp đồng và áp dụng đối

với tất cả các hợp đồng giữa người sản xuất

và người tiêu dùng Luật bán hàng của

Malaysia được xây dựng trên cơ sở Luật bán

hàng của Anh năm 1893 Sau đó, Anh ban

hành Luật bán hàng năm 1979 thay cho Luật

bán hàng 1893 với một số sửa đổi, bổ sung

về bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên, việc

mở rộng quyền của người tiêu dùng trong

Luật bán hàng của Anh năm 1979 và những

sửa đổi, bổ sung sau đó chưa được được ghi

nhận trong Luật bán hàng của Malaysia

Ngoài Luật hợp đồng năm 1950 và Luật bán hàng năm 1957, việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng còn được quy định trong một số đạo luật khác, đó là:

- Luật thông tin về hàng hoá năm 1972 Đây là luật quan trọng quy định việc giới thiệu thông tin về hàng hoá và quảng cáo thương mại Luật này không áp dụng đối với bất động sản Luật cũng quy định chế tài hình sự nhằm ngăn cản những hành vi đưa thông tin sai lệch về hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, Luật không cho phép nạn nhân được quyền đòi bồi thường từ người phạm tội đưa thông tin sai lệch

- Trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, tài chính và bảo hiểm, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có một số quy định về quảng cáo nhưng trong thực tế những quy định này không được thực thi

- Đối với hoạt động tín dụng, có một vài luật đã được ban hành như Luật vay tiền năm 1951, Luật thuê mua năm 1967, Luật môi giới cầm cố năm 1972… Các luật này bao gồm những quy định liên quan tới: li-xăng, kiểm soát quảng cáo, thông tin tới người tiêu dùng; thông tin liên quan tới lãi suất và các khoản phí khác Tuy nhiên, nhiều giao dịch tín dụng với người tiêu dùng chưa

rõ do luật nào điều chỉnh

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

- Một số luật về an toàn sản phẩm cho

những sản phẩm đặc biệt như: Luật buôn bán

và kiểm soát thuốc gây nghiện năm 1952;

Các quy định quản lí mĩ phẩm năm 1984;

Luật quản lí thuốc trừ sâu năm 1974; Luật

quản lí thuốc độc năm 1952; Luật quản lí

chất phóng xạ năm 1968

Trong quá trình thực thi, các văn bản

pháp luật này đã bộc lộ hạn chế lớn nhất là

không đủ cơ sở pháp lí để bảo vệ quyền lợi

của người tiêu dùng như: thiếu chế tài phù

hợp đối với hành vi vi phạm; quyền lợi của

bên thứ 3 và người bảo lãnh không được

quy định một cách thoả đáng và không

đảm bảo sự công bằng; thiếu quy định về

việc phê chuẩn hoặc đăng kí của chính

quyền địa phương đối với những sản phẩm

bị hạn chế sử dụng khi chắc chắn chúng

đạt được tiêu chuẩn chất lượng Mặt khác,

những luật này cũng không được thực thi

bởi cùng một cơ quan nên dẫn đến có sự

mâu thuẫn trong áp dụng luật

Có thể thấy trước khi Luật bảo vệ người

tiêu dùng năm 1999 được ban hành, Malaysia

không có văn bản luật riêng điều chỉnh về

trách nhiệm sản phẩm Vấn đề này được quy

định trong luật hợp đồng, trong luật án lệ về

bồi thường thiệt hại do cẩu thả và quan trọng

nhất là trong Luật bán hàng 1957 Cả luật án

lệ và luật thành văn đều quy định quyền

khác nhau đối với việc đòi bồi thường những

thiệt hại hoặc tổn thất về hàng hoá cho các

đối tượng khác nhau Đối với những yêu cầu

trên cơ sở hợp đồng hoặc trách nhiệm pháp

lí, chỉ có bên trực tiếp tham gia hợp đồng có

thể đòi bồi thường, còn những người có quan

hệ khác như bạn bè, thành viên gia đình,

những người sử dụng hoặc được tặng cho sản phẩm thì không có quyền khiếu nại Vì thế, những người không có quan hệ hợp đồng thì sẽ không có trách nhiệm pháp lí nảy sinh Những người này được đòi bồi thường trên cơ sở bị vi phạm do tắc trách Dù sao trong trường hợp khó chứng minh được những sai phạm, yêu cầu bồi thường chắc chắn sẽ gặp phải nhiều khó khăn, phức tạp

Do những bất cập nêu trên của hệ thống pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng nên từ những năm cuối những năm 80 của thế kỉ

XX, Malaysia đã quan tâm tới sự cần thiết phải ban hành đạo luật riêng về bảo vệ người tiêu dùng Sau 10 năm nghiên cứu và sau 5 năm dự thảo, Luật bảo vệ người tiêu dùng được ban hành ngày 15/11/1999 quy định những vấn đề mà trước đây chưa được

đề cập trong các văn bản pháp luật nhưng nó cũng không bãi bỏ hoặc thay thế những đạo luật đang tồn tại Tuy nhiên, với mục đích chỉ bảo vệ người tiêu dùng, Luật này chắc chắn ảnh hưởng tới quy định của các đạo luật khác nhất là Luật hợp đồng và Luật bán hàng Luật bảo vệ người tiêu dùng được xem như là đạo luật chung về an toàn sản phẩm

và điều chỉnh những vấn đề liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng chưa được quy định trong các đạo luật khác

2 Nội dung cơ bản của Luật bảo vệ người tiêu dùng ở Malaysia

Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 của Malaysia gồm 14 chương, 150 điều Chương I quy định về đối tượng áp dụng, giải thích một số thuật ngữ được hiểu theo Luật này và việc áp dụng các luật khác

có liên quan

Trang 3

Luật được áp dụng đối với hàng hoá và

dịch vụ được bán hoặc cung cấp cho một hoặc

một số người tiêu dùng và không áp dụng đối

với: 1) Chứng khoán được quy định trong

Luật kinh doanh chứng khoán 1983; 2) Hợp

đồng trong tương lai quy định trong Luật mua

bán hàng hoá giao sau 1993; 3) Các giao dịch

thương mại thông qua phương tiện điện tử;

4) Các dịch vụ được điều chỉnh bởi văn bản

luật khác Phần mở đầu của Luật cũng khẳng

định: Các quy định trong Luật này không làm

mất hiệu lực hay ngăn cản hiệu lực của bất kì

văn bản luật nào quy định nghĩa vụ của thương

nhân nghiêm khắc hơn quy định của Luật này

hoặc đưa ra các biện pháp có lợi cho người

tiêu dùng hơn so với quy định của Luật này

Chương II của Luật quy định về các

hành vi sai lệch, dối trá, tuyên bố dối trá có

thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng cũng

như các hành vi không lành mạnh và được

xây dựng tương tự các quy định của Luật

hoạt động thương mại năm 1974 của Australia

và Luật thương mại công bằng của NewZealand

năm 1986.(2) Luật này đã có các quy định cụ

thể ngăn cản các hành vi sai lệch, dối trá liên

quan đến hàng hoá, dịch vụ và sử dụng lao

động Chương này cũng quy định về hành vi

chỉ dẫn sai về giá, quảng cáo mang tính quấy

nhiễu, chào hàng với quà tặng, giải thưởng

hoặc các sản phẩm miễn phí khác

Chương III quy định về tính an toàn của

hàng hoá, dịch vụ Luật quy định về tiêu

chuẩn an toàn và việc tuân thủ chúng cũng

như yêu cầu an toàn chung cho sản phẩm

Điều 20 quy định rõ: Không người nào được

cung cấp hàng hoá, chào hàng hoặc quảng

cáo hàng hoá, dịch vụ không tuân thủ tiêu

chuẩn an toàn quy định trong Luật hoặc các tiêu chuẩn được xác định phù hợp với Luật Chương III cũng trao cho bộ trưởng(3) có trách nhiệm xác định tiêu chuẩn hàng hoá và

có quyền ra các chỉ thị tuyên bố hàng hoá hoặc nhóm hàng hoá bị cấm do có thể gây nguy hiểm cho người hoặc tài sản hoặc các nguyên nhân không an toàn khác Khi có chỉ thị như vậy, thương nhân phải thực hiện các biện pháp thu hồi lại hàng hoá thiếu an toàn

và phải chịu mọi chi phí phát sinh Các quy định ở Chương III của Luật này học tập theo Luật hoạt động thương mại năm 1974 của Australia, Luật thương mại công bằng năm

1986 của NewZealand và Luật bảo vệ người tiêu dùng của Vương quốc Anh 1987 Tuy nhiên, đáng tiếc là những quy định ở Chương này không áp dụng đối với hàng hoá và thực phẩm chăm sóc sức khoẻ

Trong thực tế, Viện nghiên cứu tiêu chuẩn

và công nghiệp Malaysia (SIRIM) là cơ quan quốc gia thực hiện việc kiểm tra, cấp giấy chứng nhận cho các sản phẩm và phát triển các tiêu chuẩn sản phẩm SIRIM có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nhà máy sản xuất các sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn quốc tế Nó kiểm tra sản phẩm do các nhà sản xuất tự nguyện yêu cầu để hưởng thù lao Khi được dán nhãn mác đạt tiêu chuẩn này, các nhà sản xuất sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn các đối thủ của mình SITRIM không thu thập các dữ liệu về sự cố liên quan đến sản phẩm tiêu dùng hoặc không có trách nhiệm phát triển tiêu chuẩn cho tất cả các nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu để áp dụng hoặc để kiểm tra sản phẩm trước khi chúng được đem bán

Trang 4

Chương IV của Luật quy định về sự vi

phạm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm pháp lí

và biện pháp khắc phục liên quan đến

Chương II và Chương III Người vi phạm là

tổ chức kinh doanh sẽ bị phạt không quá

250.000 ringgit và đối với lần thứ hai hoặc

lần tiếp theo là không quá 500.000 ringgit,

người vi phạm là cá nhân sẽ bị phạt không

quá 100.000 ringgit hoặc bị phạt tù không

quá ba năm hoặc phối hợp cả hai chế tài trên

Đối với lần thứ hai hoặc lần tiếp theo sẽ bị

phạt không quá 250.000 ringgit hoặc bị phạt

tù không quá 6 năm hoặc cả hai chế tài trên

Trường hợp tiếp tục vi phạm, ngoài các hình

phạt nói trên, người vi phạm sẽ bị phạt

không quá 1000 ringgit cho mỗi ngày có

hành vi vi phạm tiếp diễn sau khi bị buộc tội

Tuy nhiên, người vi phạm có thể được giảm

trách nhiệm pháp lí trong một số trường hợp

như: do hành vi hoặc lỗi của người khác, do

tai nạn, do nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát

của người vi phạm hoặc người vi phạm đã

tiến hành các biện pháp phòng ngừa có thể

chấp nhận được để tránh sự vi phạm đó

Chương IV cũng cho phép toà án tuyên bố

toàn bộ hoặc một phần hợp đồng bị vô hiệu

và yêu cầu người có hành vi vi phạm phải trả

lại tiền hoặc tài sản, bồi thường cho thiệt hại

hoặc mất mát và sửa chữa những hàng hoá bị

khiếm khuyết

Chương V quy định về bảo đảm, bảo

hành hàng hoá được cung cấp tới người tiêu

dùng (áp dụng cho hàng hoá cung cấp kèm

theo hay không kèm theo dịch vụ), bao gồm:

bảo đảm về quyền của người tiêu dùng, bảo

hành về chất lượng hàng hoá, bảo hành hàng

hoá phù hợp với mục đích nhất định, bảo

hành hàng hoá đúng như mô tả, bảo hành hàng hoá đúng theo mẫu Ngoài ra, phần này còn quy định bảo hành về giá hàng hoá, bảo hành sửa chữa và phụ tùng thay thế, bảo hành đặc biệt từ nhà sản xuất “Bảo hành đặc biệt” liên quan đến hàng hoá là sự bảo đảm, xác nhận hoặc thông báo của nhà sản xuất đưa ra trong các tài liệu do nhà sản xuất soạn thảo liên quan đến: chất lượng, sự vận hành

và đặc tính của hàng hoá; việc cung cấp các dịch vụ được hoặc có thể được yêu cầu cho hàng hoá; việc cung cấp các bộ phận được hoặc có thể được yêu cầu cho hàng hoá; hoàn trả tiền mặt hoặc bồi thường trong trường hợp hàng hoá không đáp ứng đúng điều kiện bảo hành mà người bảo hành đưa

ra khi cung cấp hàng hoá

Chương VI quy định về quyền của người tiêu dùng đối với nhà cung cấp và Chương VII quy định về quyền của người tiêu dùng đối với nhà sản xuất liên quan đến bảo hành hàng hoá Hai phần này quy định quyền đòi đền bù của người tiêu dùng đối với nhà cung cấp hoặc nhà sản xuất khi hàng hoá không tuân thủ điều khoản bảo hành quy định tại phần V Người tiêu dùng có thể được đền bù cho những thiệt hại từ nhà cung cấp hoặc nhà sản xuất trong các trường hợp như: có sự giảm giá trị hàng hoá do không tuân theo điều khoản bảo hành, hàng hoá trong thực tế

có mức giá thấp hơn mức giá mà người tiêu dùng đã trả hoặc phải trả

Chương VIII và Chương IX quy định điều khoản bảo hành về dịch vụ và quyền của người tiêu dùng đối với nhà cung cấp dịch vụ về điều khoản bảo hành Khi cung ứng dịch vụ tới người tiêu dùng, nhà cung

Trang 5

ứng cần có điều khoản bảo đảm về các vấn

đề: bảo đảm dịch vụ được thực hiện với sự

chăm sóc khách hàng và kĩ năng hợp lí; bảo

đảm dịch vụ cung ứng tương thích với mục

đích nhất định; bảo đảm về thời điểm hoàn

thành dịch vụ; bảo đảm về giá cung ứng

dịch vụ Trong trường hợp nhà cung ứng

dịch vụ không tuân thủ điều khoản bảo hành

về dịch vụ quy định ở Chương VIII, người

tiêu dùng có quyền đòi đền bù Chương VIII

và Chương IX được quy định trên cơ sở học

tập Luật bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng

năm 1993 của NewZealand

Chương X quy định trách nhiệm pháp lí

đối với sản phẩm bị khiếm khuyết Người

sản xuất hoặc người cung ứng sản phẩm phải

bồi thường cho người tiêu dùng đối với các

thiệt hại phát sinh do lỗi hoàn toàn hay một

phần lỗi của mình Phần này cũng xác định

trách nhiệm pháp lí của nhà cung ứng đối

với sản phẩm bị khiếm khuyết còn được áp

dụng bởi các quy định trong Luật dân sự

năm 1956

Chương XI quy định về Hội đồng tư vấn

tiêu dùng quốc gia Hội đồng này do Bộ

trưởng Bộ nội thương và bảo vệ người tiêu

dùng thành lập để tư vấn cho Bộ trưởng các

vấn đề về người tiêu dùng, thúc đẩy công tác

bảo vệ người tiêu dùng, nâng cao nhận thức

về công tác người tiêu dùng và các vấn đề

khác mà Bộ trưởng đưa ra nhằm thực thi

Luật này và công tác bảo vệ người tiêu dùng

một cách hiệu quả Hội đồng gồm: Tổng thư

kí của Bộ trưởng và không quá 16 thành viên

khác đại diện cho lợi ích người tiêu dùng,

nhà sản xuất, nhà cung cấp, các tổ chức phi

chính phủ và viện sĩ hàn lâm Bộ trưởng sẽ

bổ nhiệm Chủ tịch và Phó chủ tịch Hội đồng trong số các thành viên Hội đồng

Chương XII quy định về phương thức giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan chuyên giải quyết những vụ việc liên quan đến người tiêu dùng Cơ quan này hoạt động dưới sự chỉ đạo của Bộ nội thương và bảo vệ người tiêu dùng (có thể gọi cơ quan này là Hội đồng giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng).(4) Hội đồng này gồm có một chủ tịch, một phó chủ tịch và một số thành viên khác do Bộ trưởng bổ nhiệm Chương này cũng quy định về thẩm quyền,

về thủ tục giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng, về quyết định giải quyết và các vấn đề khác của Hội đồng giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng Điều 97 quy định:

“Người tiêu dùng có thể cùng nhau gửi khiếu nại với phí khởi kiện về những thiệt hại của mình đến Hội đồng đối với bất kì vấn đề gì liên quan đến lợi ích người tiêu dùng theo Luật này” Một điểm đặc biệt đối với quyết định của Hội đồng là quyết định này là quyết định cuối cùng và ràng buộc tất

cả các bên (Điều 116)

Chương XIII bao gồm một số điều khoản

về thi hành luật, Chương XIV là những quy định chung và các điều khoản khác Để thi hành Luật này, Chương XIII quy định về: thẩm quyền điều tra hành vi vi phạm Luật này, cách thức điều tra Việc điều tra được giao cho trợ lí thủ trưởng của cơ quan giám sát về vấn đề người tiêu dùng Cơ quan này chịu sự quản lí của Bộ nội thương và bảo vệ người tiêu dùng Chương XIV bao gồm các quy định áp dụng chung để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng mà không thuộc nội

Trang 6

dung cụ thể của các chương trước Đó là

những quy định về hoá đơn mua hàng, sử

dụng dịch vụ; về việc bảo vệ người thi hành

công vụ; xử lí hành vi vi phạm của tổ chức,

cá nhân mà không quy định trong các chương

trước Chương này cũng quy định Bộ trưởng

Bộ nội thương và bảo vệ người tiêu dùng sẽ

ban hành văn bản hướng dẫn để thực hiện

các quy định của Luật này

Qua phần trình bày những điểm cơ bản

của Luật bảo vệ người tiêu dùng của Malaysia

cho thấy pháp luật của Malaysia quy định

khá đầy đủ cơ chế bảo vệ người tiêu dùng

như: trách nhiệm của thương nhân đối với

hàng hoá, dịch vụ mình cung ứng, chế tài áp

dụng đối với thương nhân không tuân thủ

trách nhiệm của mình đối với người tiêu

dùng, phương thức giải quyết tranh chấp

giữa thương nhân và người tiêu dùng… Đó

là những vấn đề mà Việt Nam có thể xem

xét học tập khi xây dựng Luật bảo vệ người

tiêu dùng (Quốc hội Việt Nam dự kiến thông

qua Luật này vào năm 2010)./

(1) Năm 1963, Malaysia mới trở thành một nước độc lập

(2) Dr.S Sothi Rachagan Susheela Nair, Consumer

Protection Law in Malaysia, www.ciroap.org/apcl/article

content.php?aid=8&id=37

(3) Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 của Malaysia

không quy định rõ bộ trưởng bộ nào có trách nhiệm

này nhưng theo bài viết của TS Sothi Rachagan

Sushee Nair (sđd) thì đó là Bộ trưởng Bộ nội thương

và bảo vệ người tiêu dùng

(4) Theo Luật bảo vệ người tiêu dùng của Malaysia

năm 1999 (bản tiếng Anh), cơ quan này được quy

định là: Tribunal for Consumer Claims Một số người

dịch là Toà án bảo vệ người tiêu dùng nhưng theo

chúng tôi, căn cứ vào quy định về bản chất của cơ

quan này trong các điều tiếp theo của Luật thì nên gọi

là Hội đồng giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng

PHÁP LUẬT CHỐNG GIAO DỊCH NỘI

GIÁN… (tiếp theo trang 76)

người thực hiện hành vi giao dịch nội gián với mức phạt tiền tới 250.000 dollar và phạt

tù tối đa 7 năm.(21) Cơ quan quản lí tiền tệ của Singapore (Monetary Authority of Singapore)

có quyền thu hồi từ bên thực hiện hành vi giao dịch nội gián số tiền bồi thường gấp ba lần số lãi thu được từ giao dịch.(22) Thêm vào

đó, Luật sửa đổi năm 2009 còn cho phép toà

án được thu hồi một phần hoặc toàn bộ số lãi người thực hiện giao dịch nội gián thu được nếu có đơn đề nghị của cơ quan quản lí tiền

tệ của Singapore hoặc của bên bị thiệt hại trong giao dịch

Như vậy, mặc dù hai quốc gia Singapore

và Malaysia cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á, gần gũi nhau về mặt địa lí và đều có

hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi hệ thống pháp luật của Anh cùng thuộc truyền thống Common law đồng thời thị trường chứng khoán của hai nước đều có chung cội nguồn và xuất phát điểm nhưng pháp luật chống giao dịch nội gián ở hai quốc gia không hoàn toàn giống nhau Bên cạnh những nét tương đồng trong pháp luật điều chỉnh hành vi giao dịch nội gián ở hai nước, vẫn có thể tìm thấy những điểm khác biệt khá lớn Điều đó hoàn toàn có thể lí giải bởi sự khác nhau về cấu trúc tôn giáo, sắc tộc

và kĩ thuật lập pháp ở mỗi nước cũng như về

sự tác động của những yếu tố khách quan khác tới mỗi hệ thống pháp luật trong suốt tiến trình phát triển./

(21).Xem: Section: 221 & 333, Securities and Future Act of 2001 (as revised in 2009)

(22).Xem: Section 232, Securities and Future Act

of 2001

Ngày đăng: 01/04/2014, 11:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w