ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC CAO THỊ NGUYỆT CON NGƯỜI TRONG PHÓNG SỰ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1932 1945 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số 60 22[.]
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
CAO THỊ NGUYỆT
CON NGƯỜI TRONG PHÓNG SỰ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1932 - 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 02 21
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Thanh Minh
Trang 2Thái Nguyên – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Cao Thị Nguyệt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Văn – Xã hội, Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp
đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn TS Vũ Thị Thanh Minh đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Cao Thị Nguyệt
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 12
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 13
5 Phạm vi nghiên cứu 14
6 Cấu trúc của luận văn 14
7 Đóng góp của luận văn 14
NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 15
1.1 Điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội hình thành con người trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 15
1.2 Vài nét quan niệm về con người trong văn học hiện đại Việt Nam (từ đầu thế kỉ XX đến 1945) 20
1.2.1 Khái niệm quan niệm về con người trong văn học 20
1.2.2 Con người trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 22
CHƯƠNG 2: CÁC TẦNG LỚP CON NGƯỜI TRONG PHÓNG SỰ 34
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1932 – 1945 34
2.1 Một số tầng lớp dưới đáy xã hội 35
2.1.1 Người lao động nghèo lương thiện 35
2.2.1 Quan lại 72
2.2.2 Phụ nữ tân thời 75
2.2.3 Nhà văn, nhà báo 78
CHƯƠNG 3: CÁC HÌNH THỨC THỂ HIỆN CON NGƯỜI TRONG PHÓNG SỰVIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1932 – 1945 81
3.1 Phương thức lựa chọn, tiếp cận con người của phóng sự 1932 - 1945 81
3.1.1 Phương thức lựa chọn con người làm đối tượng phản ánh của phóng sự 81
3.1.2 Phương thức tiếp cận và khai thác thông tin ở những con người cụ thể 83
3.2 Bút pháp tả chân khi phản ánh con người của phóng sự 1932 – 1945 89
Trang 63.2.1 Bút pháp tả chân khi miêu tả con người 89
3.2.2 Bút pháp tả chân khi kể sự việc, tả cảnh 94
3.3 Ngôn ngữ thể hiện con người trong phóng sự 1932 – 1945 96
3.3.1 Sử dụng khẩu ngữ và tiếng “lóng” đặc thù của từng tầng lớp con người 96
3.3.2 Ngôn ngữ châm biếm 100
3.3.3 Hệ thống ngữ liệu dân gian và ngôn ngữ đậm chất “Âu hóa” 102
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học là tấm gương phản chiếu cuộc sống Qua con người trong văn học,
ta có thể hiểu cuộc sống của con người trong một giai đoạn lịch sử nhất định Là nhân vật chính trong văn học, nên qua con người trong văn học ta có thể hiểu
một thời đại hay một giai đoạn văn học cụ thể Tìm hiểu vấn đề Con người trong
phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 có thể giúp nhận thức sâu sắc thêm
về văn học và xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này
Phóng sự là một thể loại giữa văn học và báo chí, có nguồn gốc Tây phương, chính thức xuất hiện ở thế kỉ XIX Là một thể loại khó viết nhưng phóng sự
nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn Sau Tôi kéo xe - đứa
con tinh thần đầu tiên của Tam Lang là hàng loạt các thiên phóng sự - kết quả của những cuộc điều tra, lăn lộn với hiện thực của những cây bút tâm huyết như:
Đĩa mứt gừng (1937), Lọng cụt cán (1939), Tập ảnh (1936), Người …ngợm (1940) của Tam Lang, Thanh niên trụy lạc (1938), Từ ái tình đến hôn nhân (1938), Ngoại ô (1941), Ngõ hẻm (1942) của Nguyễn Đình Lạp; Hà Nội ban đêm (1933) Hà Nội băm sáu phố phường (1943) của Thạch Lam; Làm no (1938), Tập
án cái đình (1939), Lều chõng (1939), Việc làng (1940) của Ngô Tất Tố; Một chuyến đi (1938), Ngọn đèn dầu lạc (1941), Tàn đèn dầu lạc (1941) của Nguyễn Tuân; Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936), Lục xì (1937), Một huyện ăn Tết (1938) của Vũ Trọng Phụng, Hà Nội lầm than (1937), Làm dân (1938) của Trọng Lang…
Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết, phóng sự mang đến cho người đọc những thông tin cụ thể, số liệu chính xác và thời sự về các vấn đề của cuộc sống,
xoay quanh một tâm điểm là con người Nhà nghiên cứu, phê bình Vũ Ngọc Phan
cho rằng: “Phóng sự là ký sự, là có lời thẩm bình, phóng sự ghi những điều mắt thấy tai nghe, có tính cách thời sự và có chỉ trích… Không có lối văn nào giúp
Trang 8ích cho việc cải cách, cho nhà đương chức, nhà pháp luật và nhà xã hội học bằng các thiên phóng sự” [30; tr 504,505] Vì lẽ trên, nghiên cứu con người trong phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 chính là tìm hiểu những mảng
hiện thực đời sống muôn màu của xã hội Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 - một giai đoạn lịch sử đầy biến động từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội
Phóng sự không chỉ phản ánh hiện thực mà với tư cách “là một thể loại đứng giữa văn học và báo chí” [3; tr 83], phóng sự còn có “cái chất chủ quan của chủ thể cầm bút…, ý thức xã hội - công dân chi phối mạnh mẽ đến từng sự kiện, từng vấn đề của đời sống” [45; tr 5,6] Tác phẩm phóng sự thể hiện được
những quan điểm cá nhân, cách kiến giải hoặc những đề xuất giải pháp của tác giả trước một vấn đề nóng hổi đang diễn ra trong hiện thực xã hội Vấn đề con người trong xã hội Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 đã được phản ánh sâu sắc
từ nhiều góc độ trong phóng sự giai đoạn này Các tầng lớp con người, từ tầng lớp trên như quan Ta, quan Tây, me Tây, cường hào, chức dịch làng xã đến những tầng lớp dưới như nông dân, phu xe, gái bán dâm, vợ lẽ nàng hầu, thầy lang, trộm cắp, cờ bạc bịp, thanh niên trụy lạc… đều được các nhà phóng sự điều tra và đưa lên trang giấy Ở mỗi tầng lớp, các nhà văn không chỉ đơn thuần ghi lại những điều tai nghe mắt thấy mà còn tìm hiểu những góc khuất, những căn nguyên của hiện tượng, đưa ra quan điểm riêng, thậm chí có những kiến nghị, giải pháp cụ thể, có ý nghĩa lịch sử, xã hội nhất định
Một số tác phẩm văn học thuộc giai đoạn 1930 – 1945 được đưa vào
chương trình sách giáo khoa phổ thông như Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Hạnh phúc của một tang gia (Trích “Số đỏ” của
Vũ Trọng Phụng), Chí Phèo (Nam Cao), Đọc thêm Nghệ thuật băm thịt gà (Trích “Việc làng” của Ngô Tất Tố) Do vậy, việc nghiên cứu “Con người
trong phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945” sẽ cung cấp những tư liệu
hữu ích về xã hội – con người giai đoạn này cho giáo viên và học sinh trong việc tiếp cận các tác phẩm văn học
Trang 9Vì những lí do cấp thiết trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề Con người trong
phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
của mình
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về con người trong văn học
Vấn đề con người trong văn học được rất nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm Trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (Nxb Giáo
dục, 2008) GS TS Trần Nho Thìn đã đề cập đến sự thể hiện con người trong văn chương thời cổ Tác giả đã chỉ ra con người trong văn học nhà nho gồm con người được thể hiện ở cấp độ nhân vật văn học (trong các truyện thơ, khúc ngâm) và con người không được thể hiện ở cấp độ nhân vật văn học (trong thơ
vịnh sử) Chuyên luận Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (Nxb
Giáo dục, 2010), nhóm tác giả Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vượng, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân đã nghiên cứu con người
cá nhân trong văn học cổ Việt Nam Các tác giả đã chỉ ra hoàn cảnh lịch sử, xã hội dẫn đến sự xuất hiện và đề cao con người cá nhân trong văn học, những biểu hiện của con người cá nhân trong những tác phẩm tiêu biểu của thời đại
và ý nghĩa của bước tiến này trong dòng chảy phát triển của văn học
Con người trong văn học hiện đại được đề cập đến trong nhiều công trình
nghiên cứu Gần gũi với đề tài là bài viết Con người trong văn học Việt Nam hiện đại (1987) của GS Trần Đình Sử, các luận văn, luận án: Quan niệm về con người trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn qua ba tác giả Nhất Linh – Khái Hưng – Hoàng Đạo (LATS, 1994, Lê Thị Dục Tú); Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975 (bộ phận văn học cách mạng) (LATS, 1996, Phùng Ngọc Kiếm); Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới (LATS,
2012, Nguyễn Thị Kim Tiến) Các tác giả đã lí giải quan niệm về con người, biểu hiện của nó trong tư duy nghệ thuật và trong tác phẩm cụ thể Tác giả Lê Thị Dục Tú nghiên cứu hình tượng con người trong tiểu thuyết từ góc nhìn bản
Trang 10chất xã hội và loại hình văn học Tác giả Phùng Ngọc Kiếm chỉ ra con người sử thi và con người cá nhân trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 Tác giả Nguyễn Thị Kim Tiến lại triển khai theo hướng tìm hiểu con người cá nhân, thế giới nội tâm và vẻ đẹp thể chất của con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới Các công trình trên đã nghiên cứu về con người trong văn học theo các giai đoạn lịch sử văn học hoặc theo thể loại, có những nhận định bao quát, sâu sắc về sự thể hiện con người trong văn học Tuy vậy, con người trong thể loại phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932-1945 vẫn chưa được các nhà nghiên cứu đề cập đến một cách toàn diện và sâu sắc
Kế thừa và phát triển thành tựu của những người đi trước, chúng tôi triển
khai vấn đề con người trong phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 theo
hướng chỉ ra môi trường sống và làm việc, đời sống vật chất, đời sống tinh thần của từng tầng lớp con người cụ thể được phản ánh trong phóng sự giai đoạn này
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Con người trong phóng sự Việt Nam giai
đoạn 1932 – 1945
Vấn đề Con người trong phóng sự Việt Nam 1932 – 1945 thực chất đã
được các nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu phê bình quan tâm từ khi thể loại phóng sự Việt Nam chính thức ra đời (1932), bởi con người là tâm điểm của văn học và thể loại phóng sự cũng không ngoại lệ Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Con người trong phóng sự Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 có thể chia thành
ba thời kì: Thời kì 1932 – 1945; thời kì 1945 – 1985; thời kì sau 1986
a Thời kì 1932 – 1945
Ở thời kì 1932 – 1945, con người trong phóng sự đã được một số nhà phê
bình đề cập đến Năm 1932, Tôi kéo xe ra đời như một phát súng lệnh khẳng định
sự xuất hiện của thể loại phóng sự và vấn đề hiện thực đời sống, quyền sống, quyền làm người của tầng lớp phu kéo xe mà Tam Lang đặt ra trong thiên phóng sự này
Trang 11đã tìm được sự thấu hiểu, đồng tình của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Trên tạp
chí Tiểu thuyết thứ bảy, số ra ngày 26/10/1935, nhà nghiên cứu Hoài Thanh đã nhấn mạnh ý nghĩa của phóng sự Tôi kéo xe trong việc đánh thức thái độ trân trọng đối với tầng lớp “dưới đáy” của xã hội lúc bấy giờ:“Nếu trong bao nhiêu người xem thiên phóng sự này, mà có một người nhân đó, mà để ý đến cái thế giới u ám của người kéo xe, biết động lòng trắc ẩn vì người kéo xe, biết nới tay ra một tí trong lúc đi xe thì cái việc ông Tam Lang đã làm là việc có ích rồi” [32; tr 83]
Cũng vì đã phản ánh hiện thực cuộc sống của những kiếp phu xe, mạnh dạn đưa
ra những giải pháp để phu xe được làm Người chứ không phải làm ngựa mà Tôi kéo xe của Tam Lang được nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại (Nxb Tân Dân, năm 1942) đã khẳng định “Tôi kéo xe là một quyển phóng
sự có giá trị” [30; tr 562] Không chỉ nhìn ra những vấn đề bức thiết về tầng lớp phu xe trong Tôi kéo xe, Vũ Ngọc Phan còn nhấn mạnh đến giá trị hiện thực của Đêm sông Hương trong việc phản ánh chân xác đời sống của những người hành
nghề mãi dâm
Vấn đề con người trong các thiên phóng sự của Vũ Trọng Phụng được giới nghiên cứu phê bình đề cập đến trong nhiều bài báo, chuyên luận Trong
lời tựa cuốn Kĩ nghệ lấy Tây, nhà phê bình Phùng Tất Đắc đã khẳng định tác phẩm
là một cuộc khảo cứu về một tầng lớp con người (me Tây) trong xã hội đương thời,
nên “có thể vạch phương hướng cho văn nghệ… giúp được tài liệu cho đời sau khảo xét về buổi này” [37; tr 132] Tác giả Lê Thanh trên tờ Tin văn (in lại trên Hà Nội báo số 34 ra ngày thứ tư 26/08/1936) thì cho rằng trong Kĩ nghệ lấy Tây, Vũ Trọng Phụng đã phản ánh “một tấn bi kịch hiện đang diễn ra ở xứ ta, do sự gặp
gỡ của hai làn sóng, của hai thế giới gây nên”[37; tr 137] Đó là bi kịch về sự xuất
hiện của tầng lớp me Tây – kết quả của sự gặp gỡ của hai làn sóng Tây và Ta trong
xã hội đương thời Bằng cách khảo cứu chi tiết về cả nội dung và nghệ thuật các phóng sự của Vũ Trọng Phụng, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã nhận thấy mỗi tác phẩm của Vũ Trọng Phụng chính là một thiên điều tra giá trị về một tầng lớp
Trang 12người trong xã hội đương thời Cơm thầy cơm cô được nhà nghiên cứu nhận xét là
“tập hay nhất của Vũ Trọng Phụng Ngòi bút tả chân của ông thật là tuyệt xảo khi ông tả những cảnh nghèo khổ”[30; tr 577], còn Lục xì thì được đánh già “là một thiên nghị luận về nghề mại dâm” [30; tr 580]
Cũng trong giai đoạn này, một số nhà phê bình như Thái Phỉ, Nhất Chi Mai lại phê phán Vũ Trọng Phụng khi ông viết về những me Tây, những phụ
nữ làm nghề mãi dâm, những tay cờ bạc bịp, những kẻ ăn cắp, “làm tiền” trong
xã hội đương thời, vì họ cho rằng Vũ Trọng Phụng đã “nhìn thế gian qua cặp kính đen, có một bộ óc đen và một nguồn văn càng đen nữa”[37; tr 139] Vũ Trọng
Phụng đã miêu tả các tầng lớp con người là nạn nhân của đồng tiền, hoặc là “làm
tiền”, hoặc là “bán trôn nuôi miệng”, đến mức Nhất Chi Mai thấy rằng “Đọc xong,
ta phải tưởng tượng nhân gian là một nơi địa ngục và chung quanh toàn những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục nói càn, một thế giới khốn nạn vô cùng”[37; tr 139] Đáp
trả lời phê bình của Thái Phỉ, Nhất Chi Mai, Vũ Trọng Phụng đã có hai bài bút chiến
để bày tỏ nhân sinh quan, quan niệm viết văn của mình Họ Vũ đã không ngần ngại
khẳng định quan điểm: “Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời” [4; tr 919], coi mình không chỉ là một nhà văn mà còn là
một nhà báo nên có trách nhiệm miêu tả hiện thực xã hội với các tầng lớp người, với những mặt trái để người đọc biết mà ghê tởm, mà tránh xa Như vậy, khi nói về con người trong phóng sự 1932 – 1945, các nhà phê bình giai đoạn này chủ yếu đi sâu phân tích bút pháp tả chân, quan niệm nghệ thuật khi phản ánh hiện thực của nhà văn Những góc khuất trong cuộc sống của các tầng lớp con người cụ thể chưa được phân tích sâu sắc Bên cạnh Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, các phóng sự của Ngô Tất Tố, Trọng Lang, Nguyễn Đình Lạp, Thạch Lam… cũng được giới phê bình quan tâm Tuy nhiên, những vấn đề nhức nhối về hiện thực đời sống của những con người “dưới đáy” trong xã hội đương thời chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và đánh giá một cách toàn diện