cấu thành tội phạm của tội nhận hối lộ Điều 279 BLHS Theo quy định hiện hành, hành vi của tội nhận hối lộ được mô tả là: Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, t
Trang 1
ưa và nhận hối lộ là hai mặt gắn bó
mật thiết, hữu cơ của một trong những
hiện tượng xã hội tiêu cực là hiện tượng
tham nhũng Trong mối quan hệ “đưa”,
“nhận” này, hành vi đưa hối lộ mang tính
chủ động, thể hiện ở hành vi đưa lợi ích nên
gọi là phía chủ động Ngược lại, hành vi
nhận hối lộ mang tính thụ động, là phía thụ
động nhận lợi ích Tuy nhiên, hành vi khách
quan của người đưa hối lộ bao gồm không
chỉ trường hợp chủ động đưa hối lộ mà cả
trường hợp thụ động đưa hối lộ (chủ thể đưa
hối lộ bị ép buộc phải đưa hối lộ) Tương tự
như vậy, hành vi khách quan của người
nhận hối lộ cũng bao gồm trường hợp thụ
động nhận hối lộ (được đề nghị nhận hối lộ)
và trường hợp chủ động đòi đưa hối lộ Như
vậy “đưa” và “nhận” hối lộ luôn là sự phản
chiếu của nhau, là hai mặt tương thích của
cùng hiện tượng Điều đó đòi hỏi các dấu
hiệu mô tả hai cấu thành tội phạm (CTTP) này cần được xây dựng trong mối quan hệ tương thích nhằm đảm bảo tính thống nhất,
rõ ràng không chỉ trong nhận thức mà cả trong áp dụng các quy định của các tội phạm này.(1)
Nghiên cứu quy định hiện hành về các tội đưa và nhận hối lộ chúng ta nhận thấy còn nhiều điểm cần trao đổi
cấu thành tội phạm của tội nhận hối lộ (Điều
279 BLHS) Theo quy định hiện hành, hành vi của tội nhận hối lộ được mô tả là: Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ
Hành vi khách quan của tội nhận hối lộ
có thể được mô tả bằng sơ đồ sau:
Theo nội dung của điều luật, giữa hai
chủ thể “đưa” và “nhận” lợi ích vật chất luôn
tồn tại thoả thuận trái pháp luật với nội dung:
Đ
làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ
đã nhận lợi ích vật chất
sẽ nhận lợi ích vật chất
lợi dụng chức
vụ, quyền hạn
trực tiếp
qua trung gian
* Giảng viên Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2chủ thể bên “nhận lợi ích vật chất” lợi dụng
chức vụ quyền hạn, nhận lợi ích vật chất để
làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc
theo yêu cầu của người đưa lợi ích vật chất
Ngược lại, bên “đưa lợi ích vật chất” có
“nghĩa vụ” đưa lợi ích vật chất cho người có
chức vụ, quyền hạn để đổi lấy lợi ích hay yêu
cầu nào đó của mình do người có chức vụ,
quyền hạn thực hiện Thoả thuận trái pháp
luật này thông thường là sự bàn bạc, thống
nhất giữa các bên Tuy nhiên, trong nhiều
trường hợp, thoả thuận này hình thành không
dựa trên cơ sở sự tự nguyện bàn bạc của hai
bên mà có sự áp đặt ý chí của một bên Điển
hình là trường hợp “đòi hối lộ, sách nhiễu”
“Đòi hối lộ” là trường hợp người có chức
vụ, quyền hạn chủ động đưa ra yêu cầu về
lợi ích vật chất đối với những người liên
quan đến việc giải quyết thủ tục pháp lí
Trong trường hợp này, người có chức vụ,
quyền hạn (bên nhận hối lộ) và người có liên
quan (bên đưa hối lộ) cũng hình thành thoả
thuận trái pháp luật Nội dung thoả thuận trái
pháp luật này cũng tương tự như nội dung
của thoả thuận tự nguyện của các bên Đó là
người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức
vụ quyền hạn, nhận hoặc sẽ nhận lợi ích vật
chất dưới hình thức nào đó để làm hoặc
không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu
cầu của người đưa hối lộ Đổi lại, người
“đưa” phải đưa lợi ích vật chất theo thoả
thuận cho người có chức vụ, quyền hạn Tuy
nhiên, trong thoả thuận này, người có chức
vụ, quyền hạn là người chủ động đưa ra yêu
cầu, thậm chí đưa ra giá trị cụ thể của lợi ích
vật chất cũng như thời gian, phương thức
đưa lợi ích vật chất Họ chính là người áp
đặt ý chí của mình trong mối quan hệ thoả thuận giữa các bên Người có liên quan (người đưa hối lộ) là người thụ động, là người phải miễn cưỡng chấp nhận các yêu cầu, đòi hỏi của người đòi hối lộ vì lợi ích của mình hay lợi ích của người có liên quan (ví dụ của cha, mẹ, vợ, chồng, con, bạn bè )
“Sách nhiễu” được hiểu là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyết các vấn đề về thủ tục pháp lí cố tình gây ra những khó khăn phiền phức không đáng có cho các chủ thể tham gia các quan
hệ pháp luật nhằm mục đích vụ lợi Những người có chức vụ quyền hạn trong những trường hợp này thường lợi dụng sự thiếu hiểu biết hoặc tâm lí ngại mất thời gian, ngại các thủ tục rườm rà… của chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật để cố ý tạo ra hàng loạt các khó khăn phiền phức mà trên thực tế, những khó khăn này là không có Trường hợp này về mặt bản chất cũng tương tự như trường hợp đòi hối lộ Tuy nhiên, trong trường hợp sách nhiễu, người có chức vụ, quyền hạn có thể không trực tiếp đặt vấn đề đòi hối lộ mà chỉ thông qua việc “gây khó khăn phiền phức” để gợi ý hoặc mong muốn chủ thể có liên quan phải đưa hối lộ Có thể nói sách nhiễu là thủ đoạn của việc đòi hối lộ Trường hợp đòi hối lộ và sách nhiễu, người có chức vụ, quyền hạn có thể trực tiếp hoặc qua trung gian đưa ra đòi hỏi, gợi ý về vật chất Cũng có thể có trường hợp, các chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn không trực tiếp hoặc qua trung gian đưa ra các đòi hỏi, gợi ý mà chỉ cố tình tạo ra các khó khăn, phiền phức không đáng có để buộc các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật có liên quan phải tìm hiểu và miễn cưỡng đưa lợi
Trang 3ích vật chất cho mình nếu muốn công việc
được giải quyết nhanh chóng, thuận lợi
Các trường hợp “đòi hối lộ” và “sách
nhiễu” có thể gọi là các trường hợp “chủ
động” của phía thụ động (phía nhận hối lộ)
Trong các trường hợp này, người có chức
vụ, quyền hạn là người tạo ra mầm mống,
nguồn gốc làm phát sinh tội phạm; là người
khởi nguồn cho sự xuất hiện các thoả thuận
trái pháp luật giữa các bên, thậm chí là người
áp đặt ý chí của mình cho các thoả thuận trái
pháp luật này Rõ ràng các trường hợp này,
tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội sẽ cao hơn nhiều so với trường hợp người
đưa hối lộ tự nguyện hoặc đề nghị đưa lợi
ích vật chất cho người có chức vụ, quyền
hạn (gọi là trường hợp thụ động của phía thụ
động) Bởi vì trong các trường hợp này,
người có chức vụ, quyền hạn không phải là
người tạo ra mầm mống, nguồn gốc làm phát
sinh tội phạm mà điều này là do người đưa
hối lộ tạo ra Chính vì xác định các trường
hợp đòi hối lộ, sách nhiễu là các trường hợp
phạm tội có tính nguy hiểm cao nên các nhà
lập pháp đã quy định tình tiết “đòi hối lộ,
sách nhiễu” là tình tiết định khung tăng nặng
thuộc điểm đ khoản 2 Điều 279 BLHS
Tuy nhiên, việc quy định tình tiết “đòi
hối lộ, sách nhiễu” là tình tiết định khung
tăng nặng tại điểm đ khoản 2 Điều 279
BLHS sẽ dẫn đến một số bất cập sau đây:
- Chưa đáp ứng được mục đích, yêu cầu của
việc xây dựng CTTP cơ bản, đặc biệt là yêu
cầu “tính khái quát cao” và “rõ ràng” của CTTP.(2)
Tình tiết “đòi hối lộ” là tình tiết định
khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 279
BLHS Điều đó có nghĩa là: Hành vi nhận
hối lộ muốn thoả mãn trường hợp này trước
hết phải thoả mãn CTTP cơ bản Tức là trước hết chủ thể phải có hành vi “đã nhận” hoặc “sẽ nhận lợi ích vật chất” để làm hay không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ Sau đó cần chứng minh rằng người này ngoài hành vi “đã nhận” hoặc “sẽ nhận lợi ích vật chất” còn có hành vi
“đòi hối lộ” (đòi lợi ích vật chất) Chúng ta thấy người có hành vi “đòi hối lộ” là người đã chủ động đưa ra yêu cầu “đòi” người có liên quan đến các thủ tục pháp lí phải đưa hối lộ Tuỳ theo nội dung thoả thuận trái pháp luật giữa người nhận với người đưa hối lộ mà người này sẽ nhận lợi ích vật chất rồi mới làm hay không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ (thuộc trường hợp “đã nhận lợi ích vật chất”) hoặc người này sẽ làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ trước rồi sau đó mới nhận lợi ích vật chất (thuộc trường hợp “sẽ nhận lợi ích vật chất”) Rõ ràng ở đây hành vi “đòi hối lộ” thực chất đã bao hàm cả hai trường hợp “đã nhận hoặc
“sẽ nhận lợi ích vật chất” Hành vi “đã nhận lợi ích vật chất” hay “sẽ nhận lợi ích vật chất” thực ra chỉ là diễn biến tiếp theo của hành vi “đòi hối lộ” Như vậy, việc quy định tình tiết “đòi hối lộ” là tình tiết định khung tăng nặng sẽ tạo ra sự bất hợp lí (tạo ra quá trình ngược) trong quá trình định tội danh Điều đó chứng tỏ rằng các yếu tố được lựa chọn trong việc xây dựng CTTP cơ bản của điều luật chưa đáp ứng được các yêu cầu, mục đích của các tiêu chí xây dựng CTTP
- Chưa thể hiện rõ nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự (TNHS)
Điều 279 BLHS được xây dựng thành bốn cấu thành tội phạm bao gồm CTTP cơ
Trang 4bản tại khoản 1 và các CTTP tăng nặng tại
các khoản 2, 3 và 4 Các CTTP được xây
dựng dựa trên nhiều nội dung đặc trưng khác
nhau của các yếu tố CTTP trong đó có yếu tố
“giá trị tài sản nhận hối lộ” Giá trị tài sản
nhận hối lộ quy định tại CTTP cơ bản
(khoản 1) là dưới mười triệu đồng Giá trị tài
sản nhận hối lộ quy định tại CTTP tăng nặng
ở khoản 2 là từ mười triệu đồng đến dưới
năm mươi triệu đồng; tại CTTP tăng nặng ở
khoản 3 là từ năm mươi triệu đến dưới ba
trăm triệu đồng và tại CTTP tăng nặng ở
khoản 4 là từ ba trăm triệu đồng trở lên
Cùng với yếu tố “giá trị tài sản nhận hối lộ”,
yếu tố “đòi hối lộ” được xác định là tình tiết
định khung của CTTP tăng nặng tại khoản 2
Theo quy định này, các trường hợp “đòi hối
lộ” có giá trị dưới năm mươi triệu đồng đều
thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản
2 Điều 279 BLHS
Chúng ta thấy tuy cùng thoả mãn tình
tiết “đòi hối lộ” nhưng rõ ràng những trường
hợp “đòi hối lộ” với giá trị tài sản ít (dưới
mười triệu đồng) sẽ có tính nguy hiểm thấp
hơn nhiều so với những trường hợp “đòi hối
lộ” với giá trị tài sản lớn (từ mười triệu đồng
đến dưới năm mươi triệu đồng) Vì vậy,
những trường hợp “đòi hối lộ” với giá trị tài
sản ít nên được xếp vào khoản 1 Điều 279
BLHS và các trường hợp “đòi hối lộ” với giá
trị tài sản lớn nên được xếp vào khoản 2
Điều 279 BLHS Như vậy sẽ đảm bảo tốt
hơn nguyên tắc phân hoá TNHS
Mặt khác, trường hợp “đòi hối lộ” có giá
trị tài sản từ năm mươi triệu đồng trở lên sẽ
không thuộc khoản 2 mà căn cứ vào dấu hiệu
“giá trị tài sản nhận hối lộ” sẽ thuộc khoản 3
(nếu tài sản nhận hối lộ có giá trị từ năm
mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng) hoặc khoản 4 (nếu giá trị tài sản nhận hối lộ
có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên) Tuy nhiên, các khoản 3 và 4 lại không có tình tiết tăng nặng “đòi hối lộ” Rõ ràng trong các trường hợp này, các CTTP tăng nặng tại khoản
3 và khoản 4 Điều 279 BLHS sẽ không phản ánh được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội vì các CTTP này không phản ánh hết các dấu hiệu của hành vi khách quan bao gồm dấu hiệu “đòi hối lộ” và dấu hiệu “giá trị tài sản nhận hối lộ”
Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng tình tiết “đòi hối lộ” nên được lựa chọn là một trong các tình tiết của CTTP cơ bản bên cạnh các tình tiết “đã nhận” hoặc “sẽ nhận lợi ích vật chất” Cách xây dựng như vậy vừa tránh được các bất cập kể trên, vừa đảm bảo tính logic trong nội dung của CTTP cơ bản Các hành vi “đòi hỏi”, “đã nhận” và “sẽ nhận tiền, tài sản hay các lợi ích vật chất khác” vừa mang tính khái quát cao, vừa đảm bảo sự sắp xếp hợp lí của các hành vi theo thứ tự tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi giảm dần Hành vi “đòi hỏi lợi ích vật chất” (đòi hối lộ) sẽ có tính nguy hiểm cho xã hội cao nhất sau đó đến hành vi “đã nhận lợi ích vật chất” và cuối cùng là hành
vi “sẽ nhận lợi ích vật chất”
“Đòi hỏi lợi ích vật chất” như trên đã đề cập, là trường hợp người có chức vụ, quyền hạn chủ động đòi hỏi lợi ích vật chất cho việc thực hiện nhiệm vụ công của mình Hành vi của người có chức vụ, quyền hạn là mầm mống, là nguyên nhân, là nguồn gốc làm phát sinh tội phạm Người đòi hỏi lợi ích có thể đã nhận hoặc có thể sẽ nhận lợi ích sau khi đã làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc
Trang 5theo yêu cầu của người đưa hối lộ Điều này
không có ý nghĩa trong việc định tội mà chỉ
có ý nghĩa trong việc lượng hình
Khác với trường hợp trên, trong các
trường hợp “đã nhận” hay “sẽ nhận lợi ích
vật chất” thì chủ thể - người có chức vụ,
quyền hạn không phải là người chủ động tạo
ra mầm mống làm phát sinh hành vi phạm
tội Trái lại họ là người hoàn toàn bị động
trong việc nhận lợi ích Trong các trường
hợp này, sự thoả thuận trái pháp luật là do
người đưa lợi ích chủ động khởi xướng
Người đưa lợi ích chính là người đã chủ
động hoàn toàn trong việc tạo ra mầm mống,
nguồn gốc làm phát sinh tội phạm Những
trường hợp này được gọi là các trường hợp
thụ động của phía thụ động Tính nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội của người
có chức vụ, quyền hạn trong các trường hợp
này rõ ràng ít nguy hiểm hơn so với trường
hợp người có chức vụ, quyền hạn đòi hỏi lợi
ích cho việc giải quyết vấn đề liên quan đến
các thủ tục pháp lí
Trong trường hợp người có chức vụ,
quyền hạn “đã nhận lợi ích vật chất”, thoả
thuận trái pháp luật giữa bên đưa và bên
nhận lợi ích đã được hiện thực hoá một
phần Người đưa lợi ích đã thực hiện xong
nghĩa vụ của mình: họ đã đưa lợi ích vật chất
theo thoả thuận cho người có chức vụ, quyền
hạn Người có chức vụ, quyền hạn đã nhận
được phần lợi ích vật chất của mình trong
khuôn khổ thoả thuận trái pháp luật giữa hai
bên và người này phải thực hiện nghĩa vụ
của mình theo thoả thuận là: lợi dụng chức
vụ, quyền hạn để làm hoặc không làm một
việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người
đưa hối lộ Như vậy, để thực hiện thoả thuận trái pháp luật giữa hai bên, người nhận hối lộ trong trường hợp này bắt buộc phải làm hay không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ
Trong trường hợp “sẽ nhận lợi ích vật chất”, sự thoả thuận trái pháp luật giữa bên đưa và nhận lợi ích có nội dung: Người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ Đổi lại, người có liên quan đến một thủ tục pháp lí (người đưa hối lộ) sẽ phải đưa cho người có chức vụ, quyền hạn lợi ích vật chất sau khi yêu cầu của mình được thoả mãn Lợi ích vật chất chính là sự trao đổi với công việc mà người có chức vụ, quyền hạn làm cho người đưa hối lộ Ở trường hợp này, hành vi nhận lợi ích vật chất chỉ diễn ra sau khi hành vi liên quan đến thủ tục pháp lí vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ đã được thực hiện
Hành vi “sẽ nhận lợi ích vật chất” trong mối quan hệ so sánh với hành vi “đã nhận lợi ích vật chất” sẽ có tính nguy hiểm ít hơn vì trong trường hợp này, lợi ích mà người có chức vụ, quyền hạn nhận được mới chỉ dừng lại ở sự thoả thuận giữa các bên mà chưa được hiện thực hoá (chưa trở thành lợi ích của người đó trên thực tế) Do đó vẫn còn tồn tại sự rủi ro trong việc biến thoả thuận giữa các bên trở thành hiện thực và như vậy yếu tố kích thích việc thực hiện hành vi phạm tội của người có chức vụ, quyền hạn ở mức độ nào đó bị hạn chế (không mãnh liệt như trong trường hợp “đã nhận lợi ích vật chất”) Thoả thuận trái pháp luật giữa các bên chưa được thực hiện chừng nào người có chức vụ, quyền
Trang 6hạn chưa “làm hay không làm một việc vì lợi
ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ”
Điều 289 BLHS
Điều 289 BLHS không mô tả các hành vi
khách quan của tội đưa hối lộ mà chỉ nêu tên
hành vi kèm theo các điều kiện phải chịu
TNHS của hành vi này Cách xây dựng này
vừa thiếu sự rõ ràng trong việc nhận thức
vừa thiếu các căn cứ trong thực tiễn áp dụng
quy định của Điều luật này
“Đưa hối lộ” và “nhận hối lộ” là tấm
gương phản chiếu, là hai mặt tương xứng
của nhau, vì vậy chúng tôi cho rằng cần xây
dựng Điều 289 BLHS (tội đưa hối lộ) thành
các CTTP với việc mô tả hành vi khách quan
tương xứng với hành vi khách quan được mô
tả trong Điều 279 BLHS (tội nhận hối lộ)
Cách xây dựng này trước hết đảm bảo tính
thống nhất, tính logic của các điều luật Mặt
khác xây dựng như vậy sẽ tạo điều kiện
thuận lợi, dễ dàng không chỉ trong nhận thức
mà cả trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử
các hành vi phạm tội này
Là tấm gương phản chiếu của tội nhận
hối lộ, hành vi khách quan của tội đưa hối lộ
cũng bao gồm ba nhóm hành vi: “đề nghị”,
“đã đưa” và “sẽ đưa lợi ích vật chất”
“Đề nghị đưa lợi ích vật chất” là trường
hợp người đưa hối lộ chủ động đưa ra đề nghị
về lợi ích vật chất cho người có chức vụ,
quyền hạn để đổi lấy việc người có chức vụ,
quyền hạn sẽ làm hay không làm một việc vì
lợi ích hoặc theo yêu cầu của mình Trường
hợp này, người đưa hối lộ là người hoàn toàn
chủ động Người nhận hối lộ, ngược lại là
người hoàn toàn thụ động Bên đưa và bên
nhận cũng hình thành thoả thuận trái pháp luật, trong đó người đưa hối lộ chủ động đưa
ra đề nghị về việc đưa tiền, tài sản hay những lợi ích vật chất khác Đề nghị về giá trị của lợi ích, về phương thức, thời gian đưa lợi ích Lợi ích này được trao đổi với việc người
có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối
lộ Lợi ích vật chất có thể được đưa trước hay sau khi người có chức vụ, quyền hạn làm hay không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ Điều này phụ thuộc vào nội dung thoả thuận trái pháp luật giữa các bên Bên nhận hối lộ thường là bên thụ động chấp nhận những đề nghị của phía bên kia Trường hợp này được gọi là trường hợp chủ động của phía chủ động
“Đã đưa lợi ích vật chất” và “sẽ đưa lợi ích vật chất” là những trường hợp trong đó, người có liên quan đến các thủ tục pháp lí bị đòi hỏi lợi ích cho việc giải quyết những vấn
đề có liên quan Họ là người mà vì lợi ích của mình hoặc của người thân hay bạn bè mà phải miễn cưỡng chấp nhận đòi hỏi của người có chức vụ, quyền hạn Họ phải đưa lợi ích vật chất cho người có chức vụ, quyền hạn trước hoặc sau khi người đó làm hay không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của mình Các trường hợp này được gọi là các trường hợp thụ động của phía chủ động Cũng tương tự như các trường hợp “đòi hỏi”, “đã nhận” và “sẽ nhận lợi ích vật chất”, các trường hợp “đề nghị”, đã đưa” và “sẽ đưa lợi ích vật chất” cũng sắp xếp theo thứ
tự tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội giảm dần
Trang 7làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ
đã nhận lợi ích vật chất
sẽ nhận lợi ích vật chất
lợi dụng
chức vụ,
quyền hạn
đòi hỏi lợi ích
mình
cho người khác
trực tiếp
qua trung gian
ích vật chất cho người thứ ba
Điều 279 và Điều 289 BLHS chưa đề
cập vấn đề nhận và đưa lợi ích vật chất cho
người thứ ba Đây là các trường hợp người
có chức vụ, quyền hạn đòi hỏi, đã nhận hay
sẽ nhận lợi ích vật chất nhưng không phải
cho chính mình mà cho người khác (cho cha,
mẹ, vợ, con, thậm chí cho bạn bè, cấp trên
của họ) Ngược lại, người đưa hối lộ không
trực tiếp đưa lợi ích vật chất cho chính người
có chức vụ, quyền hạn mà đưa cho người
khác có quan hệ nhất định với người có chức
vụ, quyền hạn Những trường hợp này được
gọi là các trường hợp đưa hoặc nhận lợi ích
vật chất cho người thứ ba
Ở những trường hợp này, tương tự các
trường hợp trên, giữa người có chức vụ,
quyền hạn và bên đưa lợi ích vật chất cũng
tồn tại sự thoả thuận trái pháp luật: Người có
chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một
việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người
đưa hối lộ Ngược lại, người có liên quan
đến thủ tục pháp lí sẽ phải đưa lợi ích vật
chất để đổi lấy việc người có chức vụ, quyền
hạn thực hiện một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của mình Tuy nhiên, lợi ích vật chất không được đưa cho chính bản thân của người có chức vụ, quyền hạn mà vì lí do nào
đó, theo sự thoả thuận của hai bên, lợi ích vật chất sẽ được đưa cho người thứ ba mà người này có quan hệ nhất định đối với người có chức vụ, quyền hạn
Hiện nay, lợi dụng việc điều luật chưa quy định rõ ràng trường hợp này nên rất nhiều trường hợp, người nhận hối lộ và người đưa hối lộ thoả thuận đưa lợi ích vật chất cho người thứ ba chứ không đưa trực tiếp cho người có chức vụ, quyền hạn Điều
đó gây ra rất nhiều khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các trường hợp phạm tội này Theo chúng tôi, để ngăn chặn các trường hợp này và để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tố tụng cần quy định rõ trường hợp đưa hoặc nhận lợi ích vật chất cho người thứ ba trong cấu thành tội phạm các tội đưa
và nhận hối lộ quy định tại Điều 289 và Điều
279 BLHS hiện hành
Hành vi khách quan của tội nhận hối lộ theo
sự phân tích trên có thể mô tả bằng sơ đồ sau:
Trang 8Hành vi khách quan của tội đưa hối lộ có thể mô tả bằng sơ đồ sau:
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi,
quy định về các tội nhận và đưa hối lộ cần
được hoàn thiện theo hướng sau:
Điều Tội nhận hối lộ:
1 Người nào lợi dụng chức vụ, quyền
hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đòi hỏi,
đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi
ích vật chất khác dưới bất kì hình thức nào
có giá trị [ ] cho mình hoặc cho người khác
để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích
hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì
bị phạt tù [ ]
[ ]
Điều Tội đưa hối lộ
1 Người nào trực tiếp hoặc qua trung
gian đề nghị, đã đưa hoặc hứa hẹn sẽ đưa
tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới
bất kì hình thức nào có giá trị [ ] cho người
có chức vụ, quyền hạn hoặc cho người khác
để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của mình thì bị phạt tù [ ]
[ ]
(1) Cũng có quan điểm cho rằng thực tiễn xét xử không phải trường hợp nào cứ có người nhận thì phải
có người đưa hối lộ mà tuỳ từng trường hợp có thể có người nhận hối lộ nhưng không có người đưa, ngược lại có trường hợp có người đưa hối lộ nhưng lại
không có nhận hối lộ (xem: Đinh Văn Quế, Bình luận
khoa học Bộ luật hình sự - Phần các tội phạm - Tập
V, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 2006, tr 307) (2) Về mục đích và yêu cầu trong việc xây dựng
CTTP, Xem: GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà, “Kĩ thuật
xây dựng cấu thành tội phạm và việc hoàn thiện Bộ luật hình sự”, Tạp chí luật học số 4/2006, tr 15
để người có chức
vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa
đã đưa lợi ích vật chất
sẽ đưa lợi ích vật chất
đề nghị lợi ích
vụ, quyền hạn
cho người khác trực tiếp
qua trung gian