Vò ThÞ Duyªn Thñy * háp luật quản lí chất thải nguy hại là bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lí điều chỉnh những mối quan hệ nảy sinh
Trang 1ThS Vò ThÞ Duyªn Thñy * háp luật quản lí chất thải nguy hại là bộ
phận của pháp luật môi trường, bao gồm
các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc
pháp lí điều chỉnh những mối quan hệ nảy
sinh trong quá trình con người làm phát sinh,
thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử
lí và tiêu hủy chất thải nguy hại nhằm hạn
chế phát thải, phòng ngừa, giảm thiểu những
ảnh hưởng xấu của chúng, bảo vệ chất lượng
môi trường sống của con người Giống như
các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật quản
lí chất thải nguy hại cũng có vai trò hết sức
quan trọng trong đời sống xã hội Ở Việt
Nam, vai trò đó được thể hiện cụ thể ở các
khía cạnh cơ bản sau:
1 Pháp luật quản lí chất thải nguy hại
là công cụ phòng ngừa, khắc phục ô
nhiễm môi trường, sự cố môi trường, góp
phần đảm bảo quyền được sống trong môi
trường trong lành của con người
Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi theo
chiều hướng xấu của môi trường, có thể gây
tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khoẻ
con người, các loài động, thực vật và các
điều kiện sống khác Đó là “sự xuất hiện các
chất lạ trong một hợp phần nào đó của môi
trường gây phương hại đến con người và các
sinh vật khác”.(1) Ô nhiễm môi trường có thể
xảy ra bởi nhiều nguyên nhân, trong đó chủ
yếu là do các chất gây ô nhiễm Thông
thường, các chất gây ô nhiễm là các chất
thải Vì vậy, có thể hiểu việc xả các chất thải
ra môi trường, đặc biệt là chất thải nguy hại
là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường, làm suy giảm chất lượng môi trường,
đe doạ quyền được đảm bảo chất lượng môi trường sống của con người
“Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi
ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi
nguyên nhân do những biến đổi thất thường của tự nhiên, sự cố môi trường còn có thể xảy
ra trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, bao gồm cả các hoạt động có liên quan đến chất thải nguy hại Điều đó có nghĩa các
sự cố môi trường nảy sinh tại các cơ sở có phát sinh chất thải nguy hại hay các sự cố trong quá trình thu gom, vận chuyển, xử lí, tiêu hủy chất thải nguy hại là hoàn toàn có thể xảy ra Nếu không được phòng ngừa và ứng phó kịp thời, hậu quả của các sự cố này cho môi trường và sức khỏe con người sẽ rất lớn Nguy cơ này cũng đồng nghĩa với khả năng quyền được đảm bảo về chất lượng môi trường sống của con người có thể bị xâm hại Quyền được đảm bảo về chất lượng môi trường sống là một trong những quyền cơ bản của con người đã được ghi nhận trong
P
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2pháp luật quốc tế và pháp luật của hầu hết
các quốc gia trên thế giới Tuyên bố của Hội
nghị thượng đỉnh lần thứ nhất về môi trường
năm 1972 tại Stockholm (Thụy Điển) đã ghi
nhận: “Con người có quyền cơ bản được
sống trong một môi trường có chất lượng,
cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi
mà con người có trách nhiệm long trọng bảo
vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay và mai
sau”.(3) Sau đó 20 năm, tuyên bố RIO tại
Hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai về môi
trường tiếp tục khẳng định quyền cơ bản này
của con người là: “Con người là trung tâm
của các mối quan tâm về sự phát triển lâu
dài Con người có quyền được hưởng một
cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hoà với
thiên nhiên”.(4) Tuy nhiên, thực trạng ô
nhiễm môi trường ngày càng gia tăng tại
nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt
Nam lại đang là thách thức không nhỏ cho
việc đảm bảo quyền được đảm bảo về chất
lượng môi trường sống
Là nước đang phát triển, khi nguồn lực
tài chính đầu tư cho bảo vệ môi trường còn
hạn chế, khi nguy cơ ô nhiễm môi trường do
ảnh hưởng của các loại chất thải nguy hại ngày
càng gia tăng, việc đảm bảo chất lượng môi
trường sống cho con người ở Việt Nam càng
trở nên quan trọng nhưng khó khăn hơn bao
giờ hết, trong đó pháp luật quản lí chất thải
nguy hại giữ vai trò không thể thiếu Điều đó
được thể hiện ở các khía cạnh cụ thể sau:
Thứ nhất, pháp luật quản lí chất thải
nguy hại phòng ngừa ô nhiễm môi trường
thông qua các quy định về quy hoạch quản lí
chất thải nguy hại
Quy hoạch quản lí chất thải nguy hại là yếu tố hết sức quan trọng để phòng ngừa ô nhiễm môi trường từ các hoạt động có liên quan đến chất thải nguy hại Quy hoạch nói chung là công cụ có tính chiến lược trong phát triển Đó là tất cả những công việc hoặc khả năng kiểm soát tương lai bằng hoạt động hiện tại nhờ vào sự ứng dụng các kiến thức
về nhân quả.(5) Theo cách hiểu đó, quy hoạch quản lí chất thải nguy hại là công cụ định hướng cho các hoạt động thu gom, xử lí, chôn lấp chất thải nguy hại được thực hiện thống nhất theo mục tiêu định trước nhằm kiểm soát những tác động đến môi trường của chúng trong tương lai Thực hiện được điều đó cũng có nghĩa là khả năng gây ô nhiễm môi trường của các loại chất thải nguy hại đã được dự tính và phòng ngừa trước Thông qua việc xác định rõ trách nhiệm xây dựng quy hoạch của các cơ quan nhà nước, nội dung của quy hoạch cũng như việc bố trí mặt bằng để thực hiện quy hoạch, pháp luật quản lí chất thải nguy hại đã dự liệu trước khả năng gây ô nhiễm môi trường từ các hoạt động thu gom, xử lí chất thải nguy hại, phòng ngừa chúng bằng việc xác định công nghệ xử lí phù hợp và thực hiện trên những địa điểm an toàn nhất cho môi trường cũng như con người Vì thế, chất lượng môi trường sống của con người sẽ được đảm bảo
độ trong lành cần thiết, tránh khỏi những tác động xấu của các loại chất thải nguy hại
Thứ hai, pháp luật quản lí chất thải nguy hại quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi tiến hành các hoạt động có liên quan đến chất thải nguy hại trong từng
Trang 3công đoạn cụ thể của quá trình quản lí, cùng
các chế tài cần thiết để đảm bảo cho việc thực
hiện theo những quy tắc xử sự ấy Theo đó,
khi tiến hành các hoạt động có sản sinh chất
thải nguy hại hay thu gom, vận chuyển, lưu
giữ, quá cảnh, xử lí, tiêu huỷ chất thải nguy
hại, các tổ chức, cá nhân phải tuyệt đối tuân
thủ theo định hướng xử sự trong các quy
phạm pháp luật để phòng ngừa ô nhiễm, sự
cố môi trường cũng như các biện pháp khắc
phục, ứng phó với những tình trạng xấu đó,
đảm bảo an toàn sức khoẻ con người Chẳng
hạn, việc vận chuyển chất thải nguy hại phải
được thực hiện bằng các thiết bị, phương
tiện chuyên dụng, đi theo tuyến đường và
thời gian quy định; phải có thiết bị phòng,
chống rò rỉ, rơi vãi chất thải nguy hại Quy
định như thế, pháp luật quản lí chất thải nguy
hại có thể phòng ngừa được tình trạng ô
nhiễm môi trường không khí, môi trường
đất… do chất thải nguy hại gây ra trong quá
trình vận chuyển Cùng với đó, các cơ sở vận
chuyển chất thải nguy hại còn phải chuẩn bị
trước và thực hiện các biện pháp phòng ngừa,
ứng phó sự cố môi trường Phương án này sẽ
được cơ quan quản lí nhà nước về môi trường
phê duyệt nhằm ngăn ngừa nguy cơ xảy ra sự
cố cũng như tạo sự chủ động cho cơ sở trong
việc khắc phục sự cố khi nó xảy ra, giảm
thiểu hậu quả của sự cố và nguy cơ gây ảnh
hưởng xấu đến chất lượng môi trường cũng
như sức khỏe con người
Bên cạnh đó, pháp luật quản lí chất thải
nguy hại còn quy định các chế tài hình sự,
dân sự, hành chính, buộc các tổ chức, cá
nhân phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của
pháp luật trong phòng ngừa ô nhiễm môi trường do chất thải nguy hại Bằng các chế tài này, pháp luật quản lí chất thải nguy hại tác động tới các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, không chỉ để trừng phạt họ mà còn có thể ngăn chặn các hành vi không thực hiện phòng ngừa ô nhiễm môi trường khi tiến hành các hoạt động có liên quan đến chất thải nguy hại, thông qua đó đảm bảo sự trong lành cần thiết cho chất lượng môi trường sống của con người
hại quy định cụ thể về thiết chế thực thi việc quản lí chất thải nguy hại bằng pháp luật Theo đó, chức năng, nhiệm vụ cơ bản của các
cơ quan quản lí nhà nước về chất thải được xác lập Đây là hệ thống cơ quan giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng chính sách, pháp luật cũng như tổ chức triển khai các hoạt động quản lí chất thải nguy hại trên thực tế Vì vậy, việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ cho các cơ quan này sẽ giúp cho hoạt động phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong quá trình thu gom, lưu giữ, vận chuyển… chất thải nguy hại đạt được hiệu quả cao Nói cách khác, thông qua quy định
về chức năng của các cơ quan quản lí nhà nước đối với chất thải nguy hại, pháp luật quản lí chất thải nguy hại đã đảm bảo việc phòng ngừa ô nhiễm môi trường từ ảnh hưởng của các loại chất thải nguy hại được thực hiện một cách có định hướng và triệt để
Ở nước ta, hệ thống cơ quan này chính là
hệ thống cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường được thiết lập và hoạt động thống nhất từ trung ương đến địa phương
Trang 4Cơ quan đầu mối chuyên môn trong lĩnh vực
này là Bộ tài nguyên và môi trường Còn tại
các địa phương, hoạt động này sẽ được thực
hiện bởi các sở tài nguyên và môi trường
(cấp tỉnh), phòng tài nguyên và môi trường
(cấp huyện) và cán bộ tài nguyên và môi
trường (cấp xã) Các cơ quan này thực hiện
quản lí chuyên môn về bảo vệ môi trường,
trong đó bao gồm cả việc quản lí chất thải
nói chung và chất thải nguy hại nói riêng
Thông qua hoạt động của hệ thống cơ quan
này, những tác động bất lợi đối với môi
trường và sức khoẻ con người từ các cơ sở
làm phát sinh chất thải nguy hại hay từ các
cơ sở vận chuyển, xử lí, tiêu hủy chất thải
nguy hại đều có thể được kiểm soát
Như vậy, bằng các quy định về quy
hoạch quản lí, về các công đoạn của quá
trình quản lí, về xử lí các hành vi vi phạm
cũng như chức năng của các cơ quan nhà
nước, pháp luật quản lí chất thải nguy hại đã
đảm nhiệm được vai trò hết sức quan trọng
Pháp luật quản lí chất thải nguy hại thực sự
là công cụ hữu hiệu để phòng ngừa, khắc
phục ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường,
góp phần đảm bảo quyền được sống trong
môi trường trong lành của con người
2 Pháp luật quản lí chất thải nguy hại
tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành
và phát triển ngành công nghiệp môi
trường, qua đó góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế đất nước
Hình thành và phát triển ngành công
nghiệp môi trường là một trong những chính
sách mới của Nhà nước ta trong bảo vệ môi
trường Dưới góc độ pháp lí, chính sách này
lần đầu tiên được đề cập tại Điều 5 Luật bảo
vệ môi trường năm 2005 Công nghiệp môi trường được hiểu là ngành kinh tế sản xuất
và cung cấp các hàng hoá và dịch vụ bảo vệ môi trường đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế quốc dân Ngành công nghiệp này bao gồm rất nhiều các hàng hoá và dịch vụ
đa dạng, tập trung vào xử lí chất thải nguy hại; xử lí nước và chất thải rắn; kiểm soát ô nhiễm không khí và giảm tiếng ồn Nó cũng
có thể bao gồm việc quản lí chất thải; công nghệ tái chế và các dịch vụ thu hồi chất thải cho việc tái sử dụng, giảm nguy cơ tác hại tới môi trường
Về bản chất, ngành công nghiệp môi trường là ngành công nghiệp có xu hướng dịch vụ gồm nhiều lĩnh vực và sản phẩm Tại Việt Nam, công nghiệp môi trường bước đầu được phân nhóm thành bảy lĩnh vực hoạt động hay nhóm sản phẩm chính, đó là: xử lí chất thải; tái chế chất thải; kiểm soát và phòng ngừa ô nhiễm; dịch vụ tư vấn, xây lắp
và hỗ trợ kĩ thuật khác; sản xuất công nghệ thiết bị bảo vệ môi trường, sản phẩm thân thiện môi trường; khôi phục tài nguyên và làm sạch môi trường; hoạt động hiệp hội và đoàn thể, tổ chức phi chính phủ Hiện tại, công nghiệp môi trường ở Việt Nam có tỉ trọng hoạt động dịch vụ xử lí cao hơn song vẫn còn nhiều lĩnh vực xử lí môi trường như
xử lí chất thải nguy hại, xử lí chất thải rắn đô thị, làm sạch môi trường các vùng ô nhiễm hóa chất, kim loại nặng chưa có những công nghệ thích hợp nên hiệu quả xử lí chưa cao Pháp luật quản lí chất thải nguy hại giữ vai trò khá quan trọng trong việc giải quyết tình
Trang 5trạng này đồng thời thúc đẩy sự phát triển
của các dịch vụ xử lí và tái chế chất thải
Thông qua việc quy định những điều kiện
hoạt động đối với các cơ sở xử lí chất thải
nguy hại về cơ sở vật chất, trình độ công
nghệ… pháp luật quản lí chất thải nguy hại
không chỉ giải quyết tình trạng gây ô nhiễm
môi trường từ chính hoạt động xử lí chất thải
nguy hại mà còn thúc đẩy sự phát triển của
các dịch vụ môi trường này theo hướng hiện
đại hơn về công nghệ, an toàn hơn trong hoạt
động từ đó đạt hiệu quả cao hơn về kinh tế
Điều đó cũng có nghĩa là pháp luật quản lí
chất thải nguy hại sẽ tạo hành lang pháp lí
thuận lợi cho sự phát triển của các dịch vụ
xử lí và tái chế chất thải, một trong những
lĩnh vực hoạt động khá quan trọng của ngành
công nghiệp môi trường
3 Pháp luật quản lí chất thải nguy hại
góp phần thúc đẩy nghiên cứu và ứng
dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến để bảo vệ
môi trường trong sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, bảo vệ sức khỏe người lao động
Trong bảo vệ môi trường nói chung và
quản lí chất thải nói riêng, kĩ thuật công
nghệ là một trong những yếu tố hết sức quan
trọng Trong số các biện pháp bảo vệ môi
trường đang được áp dụng trên thế giới hiện
nay, biện pháp công nghệ được coi là biện
pháp hữu hiệu giải quyết tận gốc vấn đề ô
nhiễm môi trường Thông qua việc ứng dụng
các quy trình công nghệ tiên tiến, quy trình
công nghệ sạch, quy trình công nghệ ít chất
thải, con người có thể loại bỏ được chất gây
ô nhiễm, nguyên nhân cơ bản nhất gây ô
nhiễm môi trường Tuy nhiên, nghiên cứu và
ứng dụng các quy trình công nghệ này lại không phải là đơn giản, đặc biệt trong điều kiện về trình độ công nghệ cũng như khả năng tài chính còn hạn chế như Việt Nam Giải quyết một phần khó khăn đó, không thể không kể đến vai trò của pháp luật quản lí chất thải nguy hại
Thứ nhất, pháp luật quản lí chất thải nguy hại góp phần khuyến khích các chủ nguồn thải nghiên cứu, ứng dụng kĩ thuật tiên tiến để giảm thiểu chất thải nguy hại Một trong những nguyên tắc quản lí mà hệ thống pháp luật này đưa ra là buộc mọi chủ thể có sản sinh chất thải phải áp dụng các biện pháp để giảm thiểu chúng đến mức tối
đa Để thực hiện được điều đó, các chủ nguồn thải buộc phải tiến hành nghiên cứu
và ứng dụng các quy trình công nghệ sản xuất cũng như quy trình xử lí chất thải phù hợp Việc áp dụng các quy trình này không chỉ làm giảm lượng và độ độc hại của chất thải nguy hại, giảm lượng chất thải nguy hại phát sinh mà còn gián tiếp bảo đảm độ trong lành cần thiết của môi trường lao động cho người lao động tại chính các cơ sở có phát sinh chất thải nguy hại
Thứ hai, pháp luật quản lí chất thải nguy hại góp phần khuyến khích các chủ thể tiến hành những hoạt động có liên quan đến chất thải nguy hại nghiên cứu, ứng dụng kĩ thuật tiên tiến để đảm bảo an toàn cho môi trường
và sức khoẻ con người nói chung, sức khỏe của người lao động tại cơ sở nói riêng Bằng việc quy định các vấn đề liên quan đến điều kiện an toàn khi tiến hành các hoạt động lưu giữ, thu gom, vận chuyển, xử lí chất thải
Trang 6nguy hại, pháp luật quản lí chất thải nguy hại
đã buộc chủ thu gom, vận chuyển, xử lí chất
thải nguy hại phải tìm hiểu, áp dụng các biện
pháp kĩ thuật an toàn nhằm phòng ngừa, hạn
chế những ảnh hưởng xấu đến môi trường và
sức khoẻ con người trong quá trình tiến hành
các hoạt động của họ Thực hiện được điều
này, pháp luật quản lí chất thải nguy hại
không chỉ khuyến khích chủ cơ sở nghiên
cứu, ứng dụng kĩ thuật tiên tiến trong quá
trình hoạt động mà còn thực sự là công cụ
không thể thiếu để đảm bảo chất lượng môi
trường lao động cho người lao động tại
chính các cơ sở đó, những người mà do đặc
thù công việc phải thường xuyên tiếp xúc
với chất thải nguy hại
Thứ ba, pháp luật quản lí chất thải tạo
điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân
trong việc nghiên cứu và ứng dụng kĩ thuật
công nghệ tiên tiến để giảm thiểu chất thải
và đảm bảo an toàn môi trường khi tiến hành
các hoạt động liên quan đến chất thải nguy
hại Điều này được thể hiện rất rõ thông qua
việc cụ thể hoá các chính sách ưu đãi của
Nhà nước trong lĩnh vực này như chính sách
ưu đãi về thuế, về đất đai, hỗ trợ vốn…
4 Pháp luật quản lí chất thải nguy hại
gắn kết các lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội
và lợi ích môi trường, góp phần đảm bảo
cho sự phát triển bền vững của đất nước
Lợi ích kinh tế luôn là mối quan tâm
hàng đầu của hầu hết các cơ sở sản xuất kinh
doanh, dịch vụ Điều này càng trở nên quan
trọng trong nền kinh tế thị trường, khi mà tất
cả các hoạt động của nó đều chịu sự chi phối
của quy luật giá trị Chính vì thế, mục tiêu
lợi nhuận có thể làm các nhà sản xuất lờ đi những lợi ích chung của cả cộng đồng về môi trường, đặc biệt trong điều kiện nhận thức về bảo vệ môi trường của đại bộ phận dân chúng còn hạn chế như ở Việt Nam hiện nay Riêng trong lĩnh vực quản lí chất thải nguy hại, vì lợi ích kinh tế của mình, các nhà sản xuất sẵn sàng bỏ qua những chi phí cần thiết cho việc giảm thiểu và xử lí chất thải nguy hại từ quá trình hoạt động để tiết kiệm kinh phí, đạt được mục tiêu lợi nhuận ở mức cao nhất Rõ ràng, trong trường hợp này, các lợi ích xã hội và lợi ích môi trường đã bị xâm phạm
Nó đòi hỏi sự can thiệp cần thiết của Nhà nước để điều hòa các xung đột về lợi ích mà pháp luật quản lí chất thải nguy hại chính là giải pháp quan trọng cho vấn đề đó
Thông qua các quy phạm pháp luật cụ thể, pháp luật quản lí chất thải nguy hại sẽ gắn kết lợi ích của các nhà sản xuất với lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng trong việc cùng sử dụng chung những giá trị của môi trường Điều đó được thể hiện bằng việc pháp luật quản lí chất thải nguy hại không chỉ ràng buộc nghĩa vụ bảo vệ các lợi ích xã hội, lợi ích môi trường của nhà sản xuất mà còn tạo những điều kiện thuận lợi cho họ thực hiện nghĩa vụ đó Những khuyến khích kinh tế cụ thể như miễn, giảm thuế hay những ưu đãi khi thuê đất, những hỗ trợ tài chính cần thiết khi nhà sản xuất thực hiện tái chế, tái sử dụng chất thải nguy hại, thực hiện tốt việc giảm thiểu chất thải nguy hại, đảm bảo chất lượng môi trường… sẽ cho các nhà sản xuất thấy rõ lợi ích của họ khi thực hiện hoạt động này Điều đó sẽ thúc đẩy họ tích
Trang 7cực hơn trong việc đảm bảo các lợi ích xã
hội, lợi ích môi trường trong quá trình thực
hiện mục tiêu lợi nhuận của mình. Đây cũng
là những yếu tố hết sức quan trọng cho sự
phát triển bền vững của đất nước.
5 Pháp luật quản lí chất thải nguy hại
góp phần thay đổi và nâng cao nhận thức
của cộng đồng theo hướng có lợi cho bảo
vệ môi trường
Môi trường là không gian sống của mỗi
cá nhân trong xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp
mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của họ Chính vì lẽ đó, bảo vệ môi trường
không còn là trách nhiệm của Nhà nước mà
phải được thực hiện bởi mỗi cá nhân Tuy
nhiên, con người chỉ có thể làm được điều đó
khi có nhận thức đúng đắn về bảo vệ môi
trường Nói cách khác, trong bảo vệ môi
trường, trình độ nhận thức của cồng đồng là
yếu tố giữ vai trò hết sức quan trọng, nó quyết
định không nhỏ đến hiệu quả của công tác
này Pháp luật quản lí chất thải nguy hại,
thông qua các định hướng xử sự và chế tài
của mình đã góp phần làm thay đổi và nâng
cao nhận thức của cộng đồng, nâng cao hiệu
quả bảo vệ môi trường ở nước ta Cụ thể là:
Thứ nhất, pháp luật quản lí chất thải định
hướng cho cộng đồng về cách xử sự có lợi
cho môi trường khi tiến hành các hoạt động
có liên quan đến chất thải nguy hại Sự định
hướng này góp nâng cao nhận thức của cộng
đồng trong bảo vệ môi trường Thông qua
các quy phạm pháp luật cụ thể, pháp luật
quản lí chất thải nguy hại giúp các tổ chức,
cá nhân hiểu và áp dụng những cách thức
phù hợp khi sản sinh hay vận chuyển, xử lí
chất thải nguy hại, sao cho những tác hại của chúng với sức khoẻ con người và với môi trường được giảm thiểu nhất, an toàn nhất Bên cạnh đó, các quy phạm này còn giúp con người nhận thức được mức độ nguy hại của chúng và tự giác áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế việc phát thải chúng
Thứ hai, pháp luật quản lí chất thải nguy hại góp phần làm thay đổi những thói quen
cũ, gây hại cho môi trường khi tiến hành các hoạt động của mình Pháp luật quản lí chất thải nguy hại buộc con người không được thực hiện những hành vi gây hại cho môi trường trong quá trình sản sinh hay xử lí, tiêu huỷ chất thải nguy hại Việc phải tuân thủ những quy định này dần dần làm thay đổi những thói quen xấu của con người đối với môi trường Chẳng hạn, nông dân Việt Nam thường có thói quen vứt bừa bãi vỏ chai thuốc trừ sâu sau khi sử dụng trên cánh đồng hoặc bờ sông Đây có thể là nguy cơ gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường nông thôn và sức khoẻ con người Tuy nhiên, thói quen này của người nông dân sẽ được thay đổi khi pháp luật quản lí chất thải nguy hại có quy định chặt chẽ về trách nhiệm thu gom chất thải nguy hại của người làm phát sinh chúng và những chế tài nghiêm ngặt khi họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng trách nhiệm đó
hại góp phần nâng cao nhận thức của người tiêu dùng trong việc sử dụng những sản phẩm thân thiện với môi trường, an toàn cho sức khoẻ con người Thực tiễn áp dụng các
Trang 8biện pháp xử lí đối với những hành vi vi
phạm pháp luật quản lí chất thải nguy hại ở
nước ta trong thời gian gần đây đã cho thấy
rất rõ điều đó Việc mua bán chất thải y tế
nguy hại từ một số bệnh viện lớn ở Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng để tái chế
thành đồ gia dụng trong năm 2007 là một ví
dụ thực tiễn minh chứng cho vấn đề này
Mặc dù còn nghèo song người tiêu dùng
chắc chắn sẽ không hoặc hạn chế sử dụng
những sản phẩm nhựa rẻ tiền, nếu biết chúng
được tái chế từ các loại chất thải nguy hại
nhưng không tuân theo đúng quy trình kĩ
thuật cần thiết để đảm bảo loại bỏ hoàn toàn
các đặc tính gây nguy hại của chúng
Tóm lại, pháp luật quản lí chất thải nguy
hại giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã
hội, trong phát triển bền vững ở nước ta hiện
nay Nó không chỉ là công cụ quan trọng để
điều hòa lợi ích của từng tổ chức, cá nhân
với lợi ích chung về môi trường của cộng
đồng, đảm bảo chất lượng môi trường sống
cho con người nói chung, người lao động nói
riêng, đảm bảo phát triển bền vững mà còn
là yếu tố không thể thiếu góp phần làm thay
đổi nhận thức chung của cộng đồng theo
hướng có lợi và ngày càng thân thiện hơn
với môi trường./
(1).Xem: Lê Văn Khoa, Môi trường và ô nhiễm, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1995, tr.27
(2).Xem: Điều 3 Luật bảo vệ môi trường (2005)
(3).Xem: Các công ước quốc tế về môi trường, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.11
(4).Xem: Các công ước quốc tế về môi trường, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.31
(5).Xem: Vũ Quyết Thắng, Quy hoạch môi trường,
Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.36
CHẤT LƯỢNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP
LUẬT THỰC ĐỊNH (tiếp theo trang 30)
thẩm quyền tham gia soạn thảo, thẩm định, thẩm tra hay ban hành văn bản quy phạm pháp luật có lỗi do hành vi của mình dẫn đến việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng cho Nhà nước và xã hội thì phải chịu trách nhiệm pháp lí theo hướng hậu quả pháp lí bất lợi Nếu có thể nên quy định trách nhiệm pháp lí đối với từng cá nhân hoặc từng bộ phận tham gia soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, ban hành văn bản quy phạm pháp luật + Tăng cường kinh phí cho các hoạt động xây dựng pháp luật Theo quy định pháp luật thì kinh phí xây dựng pháp luật
do ngân sách nhà nước cấp song số kinh phí này thường không đủ nên hầu hết các
cơ quan hay các ngành khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đều phải bổ sung thêm kinh phí của cơ quan hay ngành mình
để hỗ trợ Điều này dẫn đến kinh phí dành cho hội thảo khoa học hoặc mời chuyên gia phục vụ công tác soạn thảo văn bản không đảm bảo
Tóm lại, chất lượng của hệ thống pháp luật là một trong những cơ sở để bảo đảm cho việc thực hiện và áp dụng pháp luật đạt được kết quả cao trong thực tiễn, đồng thời cho phép dự báo được khả năng hiện thực hoá các quy định pháp luật trong đời sống
xã hội Nếu chất lượng của pháp luật thấp, tính khả thi kém thì việc thực hiện chúng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí có những quy định pháp luật nhiều khi không thể thực hiện được trên thực tế./